Thursday, March 19, 2009

Tam đoạn luận và giới hạn của luận lý

meeting

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta sẽ khảo sát hai lý luận căn bản nhất trong luận lý học, mà ta dùng hằng ngày, để hiểu rõ và nắm vững chúng trong đời sống và công việc hằng ngày. Đó là tam đoạn luận suy diễn và tam đoạn luận quy nạp. Đồng thời ta sẽ cảnh báo về các giới hạn tự nhiên của ngôn ngữ và lý luận.

• Tam đoạn luận hầu như là nền tảng của phần lớn, nếu không nói là tất cả, suy tư của con người. Tam đoạn luận là lý luận ba câu. Ví dụ: (1) Mọi người đều chết. (2) Ông Xuân là người. (3) Vì vậy, ông Xuân sẽ chết. Hai câu đầu (1) và (2) của tam đoạn luận nầy là 2 tiền đề--tiền đề 1 và tiền đề 2. “Tiền” là trước (không phải là “money”, nhưng nếu bạn hiểu là money cho dễ nhớ thì cũng tốt, vì money thường đi trước mọi sự :-)), tiền đề là mệnh đề đi trước; câu (3) là kết đề, tức là kết luận rút ra từ hai tiền đề.
Tam đoạn luận trên đây là tam đoạn luận suy diễn, nó vì nó “suy” từ cái chung (mọi người) đến cái riêng (ông Xuân).

• Lý luận theo chiều ngược lại, từ VÀI cái riêng đến cái chung, goi là quy nạp. Và quy nạp thì dựa vào quan sát các trường hợp cá nhân, mà “quy” về một định luật chung cho tất cả. Ví dụ: (1) Hùng Vương chết, Hai Bà Trưng chết, Trần Hưng Đạo chết, Quang Trung chết, ông tôi chết, bà tôi chết, v.v.. (2) Các vị đó là người. (3) Vì vậy, mọi người đều phải chết.

• Hai tam đoạn luận này ta dùng rất thường xuyên trong ngày, nhưng gọn gàng hơn. Ví dụ, suy diễn kiểu các bà :-): “Ông này làm gì mà ôm điện thoại đi ra xa, nói nhỏ xíu. Chắc là liên hệ bất chính với cô nào rồi.” Đây là rút ngắn của môt tam đoạn luận: (1) Đàn ông nói điện thoại cách bí mật là có liên hệ bất chính với đàn bà. (2) Ông này đang bí mật. (3) Vì vậy, ông này có liên hệ bất chính.

argument1

• Lỗi lầm thường thấy nhất trong tam đoạn luận suy diễn là tiền đề đầu tiên thường quá rộng, theo kiểu vơ đũa cả nắm. Trong ví dụ trên, ở tiền đề 1, ta thấy ngay là nói chuyện bí mật đâu nhất thiết có nghĩa là có liên hệ bất chính, giả sử đó là bí mật quốc phòng hay bí mật nghề nghiệp thì sao?

Muốn cho chính xác hơn thì ta phải “thu nhỏ” lại một tí,và nói theo kiểu xác suất. Ví dụ: (1) Đàn ông, không thuộc diện có bí mật nghề nghiệp, mà nói chuyện bí mật thì có khả năng cao là có liên hệ bất chính. (2) Ông này không thuộc diện có bí mật nghề nghiệp mà cứ nói chuyện kiểu bí mật trước mặt mình, (3) thì có khả năng cao là có liên hệ bất chính.

“Khả năng cao” thì khá chính xác trên phương diện lý luận, nhưng không mạnh như trăm-phần-trăm. Vì vậy, các quí vị thiếu kinh nghiệm thuyết phục thường cứ cố ăn nói viết lách kiểu trăm-phần-trăm cho mạnh mẽ, nhưng làm người nghe và người đọc nhận ra ngay là mình lớ ngớ và không thành thật.

• Điểm yếu của tiền đề 1 của tam đoạn luận suy diễn cũng chính là điểm yếu của kết đề của tam đoạn luận quy nạp. (1) Tôi thấy ông A nói điện thoại bí mật và có liên hệ bất chính. (2) Tôi cũng thấy ông B cũng vây; ông C cũng vậy.… (3) Vì vậy, hễ đàn ông nói chuyện điện thoại bí mật là có liên hệ bất chính.

Kết luận này quá rộng, theo kiểu vơ đũa cả nắm, cho nên không tin được. Nếu giảm lại một tí theo cách nói xác suất thì dễ tin hơn: “Vì vậy, hễ đàn ông nói điện thoại bí mật là có khả năng có liên hệ bất chính.”

• Cả suy diễn và quy nạp (cũng như mọi luận lý khác của con người) đều có môt điểm rất yếu nữa, đó là các từ ngữ của con người luôn luôn có tính cách mù mờ, dùng tạm qua ngày thôi, chứ không giải quyết điều gì rốt ráo được. Ví du: (1) Hồng nhan thì đa truân. (2) Cô ấy đẹp quá. (3) Thành ra đời cô ấy khổ.

Phản biện: “Trời, con nhỏ đó, cái mặt mẹt như vậy mà chị nói là đẹp. Nó cực vì chuyên môn nói xạo, chớ hồng nhan cái gì!”

Ở đây ta thấy, từ “đẹp” rất mù mờ. Đẹp xấu tùy người đối diện, tùy say hay tĩnh. Bất cứ từ nào trong ngôn ngữ con người cũng đều mù mờ như thế. Cho nên, những người tin rằng có thể dùng ngôn ngữ và lý luận để giải quyết mọi thắc mắc ở đời, tìm ra mọi chân lý ở đời, là những người rất thiếu kinh nghiệm về lý luận.

argument

• Một điểm yếu rất lớn khác nữa là tất cả mọi phương thức lý luận (kể cả tam đoạn luận) chỉ do con người tìm ra được trong cuộc sống mắt thấy tai nghe. Ví dụ: Tiền đề “Mọi người đều chết”. Ta biết được điều này là do thấy trong lịch sử (qua sách vở) và chung quanh ta ai cũng có lúc chết, cho nên ta “qui nạp” thành kết luận “Mọi người đều chết.” Rồi ta lại mang kết luận quy nạp này làm tiền đề cho một suy diễn mới, “Mọi người đều chết, hắn là người, cho hắn tha hồ ba hoa chích chòe đi rồi cũng có lúc phải chầu chúa thôi!”

Tức là quy nạp, suy diễn, hay bất kỳ lý luận nào ta sẽ học sau này, cũng chỉ là do kinh nghiệm quan sát của con người mà ra. Cho nên, các lý luận này khi gặp điều gì vượt quá vòng kinh nghiệm thường ngày của con người thì hoàn toàn không sử dụng được. Ví dụ: Tự nhiên có một cô gái rất trẻ, nhìn mới hai mươi mấy, đến gặp bạn và nói: “Tôi nói cho cậu bé hay nhé, cậu năm nay cở bốn mấy, thế thì cậu phải gọi tôi là ‘bà tiên tổ’ mới đúng, vì tôi năm nay 3.125 tuổi rồi.” Nếu cô bé này cứ nhất định như thế, và nếu chúng ta không thể chứng minh được tông tích cô này, toàn hệ thống công an cảnh sát của thế giới không có cách nào chứng minh được cô này từ đâu mà có, thì lúc đó ta có thể thấy lời cô ta nói có một cái gì đó có thể có giá trị, chứ chưa chắc là cô ta điên, và qui luật “Mọi người đều phải chết” có thể không dùng được, tối thiểu là trong trường hợp cô bé này.

• Nhận xét trên đây có hậu quả rất lớn cho đời sống con người trên thế giới ngày nay: Trong những lãnh vực xa hơn kinh nghiệm mắt thấy tai nghe (cộng thêm các máy móc phụ mắt và phụ tai), thì toàn hệ thống suy luận của con người không sử dụng được, và đó là lý do tại sao mà tôn giáo và các truyền thông tâm linh luôn luôn sống mạnh cho đến ngày nay, dù là tôn giáo và các truyền thống tâm kinh nói nhiều điều rất khác với kinh nghiệm hằng ngày và lý luận hằng ngày của ta. Các tôn giáo và truyền thống tâm tinh thường nhấn mạnh đến những kinh nghiệm vượt xa kinh nghiệm hằng ngày—Ví dụ: Nói chuyện với Chúa hiện ra trước mặt, nói chuyện với Quan âm Bồ tát hiện ra trước mặt… Ở đây ta không bàn đúng sai, ta chỉ cần hiểu rằng các kinh nghiệm cá nhân siêu hình, dù thật hay không thật, là các kinh nghiệm không thuộc trong lĩnh vực hoạt dộng của ngôn ngữ và lý luận thông thường. Cho nên nếu ta cố gắng tranh biện về các vấn đề này tức là ta rất thiếu kinh nghiệm về ngôn ngữ và lý luận.

• Một điểm quan trọng khác trong việc sử dụng và hiểu biết ngôn ngữ là: Ngôn ngữ, vì giới hạn rất lớn của nó, thường được sử dụng như là “hé cánh cửa” để mời ta vào bên trong và thấy rõ hơn. Nếu ta không chịu mở cửa bước vào, thì không thể thấy bên trong. Ví dụ: Bạn thường ngày về nhà 6 giờ chiều. Hôm nay không hẹn nhưng lại về 11 giờ đêm, vào nhà thấy nàng còn ngồi đó bên mâm cơm và nói “Em đợi anh từ chiều đến giờ.” Bạn thực sự thấy được gì, thấy được bao nhiêu, trong câu nói đơn sơ nhẹ nhàng đó, hay là chỉ lý luận: “Đến giờ thì đi ngủ đi chứ, tại sao đợi làm gì?”

• Luận lý học là khoa học về sử dụng ngôn ngữ và lý luận chính xác. Nó rất cần cho chúng ta trong công việc và đời sống hằng ngày. Cho nên ta phải nắm vững. Và khi đã nắm vững, ta cũng phải biết ngôn ngữ và lý luận có rất nhiều giới hạn. Khi đọc hay nghe một câu nói, có nghĩa là chúng ta nhận được cái bánh ít bọc lá chuối. Ngôn ngữ lý luận là lớp lá bọc, tư tưởng tâm tình là bánh bên trong. Ta ăn bánh bỏ vỏ, hay ăn vỏ bỏ bánh?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

11 comments:

  1. Cám ơn anh Hoành. Anh viết về một chủ đề nặng rất hay và duyên. - Hiển

    ReplyDelete
  2. Cám ơn anh Hoành đã đưa ra thảo luận này.

    Cách nay khoảng 2500, Aristotle đã giới thiệu môn luận lý học, mà nhiều khoa học dựa vào đó để phát triển thành các phương pháp tiếp cận. Trong luận lý học có đưa ra lý thuyết về tam đoạn luận như anh Hoành giới thiệu với chúng ta. Tuy nhiên dường như phương pháp lập luận này đúng nhiều hơn với toán học theo cách hiểu đơn giản nhất là A=B, B=C suy ra A=C (cũng nói thêm là triết học Hy Lạp suy tôn toán học như là "thượng đế" của mọi khoa học. Platon còn cho rằng ai muốn nghiên cứu triết học phải học toán ít nhất 8 năm). Thế còn đối với các diễn dịch khác thì sao, đúng như anh Hoành nói, khi tiền đề 1 đã sai thì tiền đề 2 cũng chỉ là ngộ nhận mà thôi (điều này cũng đã được Aristotle công nhận là yếu điểm của thuyết tam đoạn luận). Khó mà có thể lấy sự chính xác trong tóan học làm thước đo cho các hiện tượng, sự vật mang tính xã hội. Chẳng hạn trong giáo dục, liệu chúng ta có thể diễn giải như sau: Việt Nam có số giải thưởng Olympic xếp thứ 5 trên thế giới, suy ra Việt Nam đứng thứ 5 trên thế giới về giáo dục, hay VN có tỉ lệ TS/số dân cao hơn Thái Lan, suy ra nền học vấn của VN cao hơn. Nhưng bây giờ, ai cũng biết rằng để đưa ra 1 kết luận cần có sự tham gia của rất nhiều tham số (và dường như đánh giá về giáo dục lại cần sự tham gia của nhiều tham số hơn hết thảy các vấn đề khác). Vậy thì vấn đề xét tương quan các tham số có liên quan đến tam đoạn luận không?
    Phải 1500 năm sau khi văn minh Hy Lạp đã mất đi sức sống lung linh của nó, dường như nó lại quay trở lại châu Âu vào thời kỳ Phục Hưng. Ở thời kỳ Khai sáng người ta tin rằng chỉ cần dựa vào phép lý luận là có thể nắm vững mọi vấn đề. Nhưng điều này lại đẩy con người vào siêu hình với tất cả sự rắc rối của nó. Người ta nghĩ rằng chỉ cần có sự hoạt động của trí óc, con người có thể tính toán được mọi thứ từ vận tốc của trái đất cho tới giới hạn vũ trụ.
    Nhưng I. Kant đã cười mà cho rằng con người không phải là thần linh, do đó con người không thể biết được tất cả. Nhận định này một lần nữa khiến người ta hoang mang và hoài nghi. Schopenhauer, một triết gia bi quan của thế kỷ 19, dường như cảm thấy sự bất lực của luận lý.

    "không gì làm ta tức bực hơn, khi ta dùng lý luận và giải thích để cãi với một người nào, mất công thuyết phục y, mà cuối cùng ta lại khám phá rằng y nhất định không muốn hiểu, rằng chúng ta đang đương đầu với ý chí của y. Do đó, luận lý thật vô dụng: không ai từng thuyết phục ai được nhờ luận lý; và ngay những nhà luận lý cũng chỉ sử dụng luận lý như một nguồn lợi. Để thuyết phục người nào ta phải lôi cuốn lòng tư lợi của y, dục vọng của y"

    Luận lý, dưới hình thức đơn giản của nó là tam đoạn luận, chỉ có thể dùng để huyễn hoặc chính bản thân cá nhân sử dụng nó, chứ không khiến người ta tin được. Phải chăng chỉ có thể chiếm niềm tin của con người bằng khơi gợi lợi ích, tham vọng (dục vọng) của họ?

    ReplyDelete
  3. Cám ơn chị Phương Hoa đã trình bày vấn đề rất rõ ràng. Đúng là trong truyền thống triết lý Tây phương, con người đã có những thời kỳ quá nô lệ vào ngôn ngữ, luận lý và toán học, và tin là những thứ này có thể tìm ra mọi chân lý của cuộc sống và vũ trụ. Ngày nay thì bớt đi một tí, nhưng truyền thống tôn thờ luận lý (điển hình là tôn thờ IQs) vẫn rất cao trong giới trí thức. Ở Đông Phương, từ ngàn xưa chúng ta đã nhận biết giới hạn của ngôn ngữ. Lão tử bắt đầu Đạo Đức Kinh bằng, "Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh" (tạm dịch, đạo có thể gọi là đạo thì không là đạo vĩnh cửu, tên có thể gọi là tên thì không là tên vĩnh cửu." Phật Thích Ca nói, "Lời ta giảng là ngón tay chỉ lên mặt trăng, chứ không phải mặt trăng." Đức Giê-su (vùng Palestine là vùng trung đông, tức là Đông phương, chứ không phải văn hóa tây phương như người ta hay lầm nghĩ) nói, "Bạn nhìn nhưng không bao giờ thấy, nghe nhưng không bao giờ hiểu, vì con tim của bạn đã thành chai đá." Ngày nay, khoảng năm 1920 Thorndike đã nói đến "thông minh xã hội" (social intelligence), một loại thông minh trong việc cư xử và quản lí người khác, bên cạnh thông minh luận lý và toán học (biểu hiện bằng IQs). Đến thập niên 80s, người ta nói đến nhiều loại thông minh (multiple intelligence)--bên cạnh IQs, và thông minh xã hội, còn có thông minh về hiểu biết chính mình (intrapersonal intelligence) và thông minh về hiểu biết và cư xử với người khác (interpersonal intelligence, đây có lẽ là mức sâu hơn của social intelligence của Thorndike). Đến thập niên 90s, Daniel Goleman với quyển Emotional Intelligence, thông minh tình cảm, đã nâng EQs lên ngang hàng với IQs ngày nay.

    Rất mong chị Phương Hoa và các anh chị chuyên gia về giáo dục và tâm lý cho thêm ý tưởng.

    ReplyDelete
  4. Sao hom nay khong the go co dau duoc. Dinh "thao luan" tiep nhung go khong dau thi chan lam. Chu nha xem ho sao lai the voi.
    Thanks

    ReplyDelete
  5. Chị Phương Hoa ơi, có ai làm gì đâu. Mình chẳng hiểu được. Sorry!

    ReplyDelete
  6. Chi oi, ma'y cua em cung ko go~ duoc tieng Viet truc tiep vao dday (em nghi~: ko phai lo^i~ trang web, ma la do loi^~ configure cua computer). Co' 1 ca'ch: chi. co' the go~ tieng Viet vao file MS.Word, roi cut & paste vao dday! Chi? co ddieu hoi ma^'t thoi gian 1 chut thoi! :-)

    ReplyDelete
  7. Theo như a Hoành thì ngôn ngữ rất quan trọng trong việc chuyển tải thông tin, thuyết phục người ta. Người Việt ta hay nói “Tâm phục, khẩu phục” (hic, ai dịch giúp cái saying này với). Xin bàn cái vế sau trước- “khẩu phục”. Ngày xưa các cụ bảo “lập đức, lập công” rồi mới đến “lập ngôn”. Thiển ý tôi hiểu, trước hết phải trau dồi đạo đức, sau nữa chịu khó lao động để đóng góp được cái gì đấy cho xã hội, rồi nữa mới học cách nói sao cho hay, cho thấu tình đạt lý để mà phô bày cái kiến thức của mình, để mà thuyết phục người khác. Ngôn từ có sức mạnh ghê gớm lắm “một lời nói bằng một đạo quân” cơ mà. Trước các cụ nhà mình đã lấy ví dụ về uy quyền của ông Tolstoy. Ông ấy chỉ sử dụng mỗi ngòi bút mà khiến Nga hoàng phải run sợ. Nhưng tôi ngờ rằng người ta sợ là sợ cái đức, cái công của ông, chứ đâu có lẽ chỉ sợ mỗi cái văn của ông. Cụ Phan Bội Châu đã kể về bài học “lập ngôn” bị thất bại. Năm cụ 17 tuổi cũng là năm Bắc Kỳ rơi vào tay Pháp, trong lòng cụ chất chứa căm hờn, vậy là tức tốc trong một đêm thảo ngay “Bình Tây Thu Bắc”, rồi đem dán đầy đường, hy vọng thu phục được lòng người. Vậy mà nào ai để ý đến, cụ than “thân còn ty tiện, hơi tiếng hèn bé, một tờ giấy suông chẳng có ảnh hưởng gì”. Và cụ giành gần 60 năm còn lại của cuộc đời để “lập ngôn”.
    Còn cái vế đầu tiên, cái chữ “tâm” ấy, mới thật là rầy rà. Người Việt chắc là sùng bái chữ tâm hơn mọi người nào trên thế giới, vào nhà nào, cứ hơi có học một chút là thấy có chữ tâm treo rồi. Người Việt tôn sùng chữ tâm cũng như người Tây tôn sùng “intelligence” hay “rationality” vậy. Chữ tâm này người ta thường viết bằng chữ Nho, không hiểu các cụ Khổng Mạnh giải thích nó nghĩa ra làm sao. Theo cái sự học kém cỏi về Nho của tôi, hình như các cụ có giải thích các chữ “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”…, còn chữ tâm này các cụ bàn thế nào?
    Chữ tâm này, trong tiếng Anh có từ nào tương đương không ạ?

    ReplyDelete
  8. Cám ơn chị Phương Hoa. Ngôn ngữ dĩ nhiên là cần thiết và quan trọng, vì nó là cách truyền thông thông dụng nhất của con người. Nhưng ta phải biết giới hạn của ngôn ngữ. Mọi khí cụ đều có giới hạn, dùng búa tạ để thái thịt đương nhiên là không được rồi. Anh chị mới làm quen thì phải nói hơi nhiều, đến một lúc nào đó thì bốn mắt (hay tám mắt, tùy theo trường hợp) nhìn nhau chẳng nói một câu, nhưng lại hiểu nhau hơn tất cả mọi người trong thiên hạ.

    Chị Phương Hoa nói rất phải, là khi ta nghe một câu, không phải là ta nghe những từ đó, nhưng là nghe cái đức, hay ít ra là cái uy tín của người nói. Cùng một câu nói, mọi người nói với nhau cả ngày thì không ai thèm để ý, đến lúc đóng ngoặc mở ngoặc rồi có tên Trần Hưng Đạo hay Abraham Lincohn ở sau thì mọi người bắt đầu để ý. Tương tự như vậy, nếu ta có cái gì đó làm cho người khác yêu và phục, thì lời nói mới có hiệu lực được.

    "Đức" từ tâm mà ra. Và “tâm” là danh từ của nhà Phật. Tất cả giáo lý của nhà Phật cũng chỉ nhằm vào một chữ “tâm.” Kinh Pháp Cú, kinh căn bản nhất trong Phật giáo Nguyên thủy, và là một trong những kinh căn bản nhất trong Phật giáo Đại thừa, mở đầu bằng:

    Tâm dẫn đầu tất cả
    Tâm làm chủ; tâm tạo hành động.
    Nếu tâm ô nhiễm,
    Lời nói, việc làm, đâu thể khác?

    Nói chung, tâm là chủ của mọi tư tưởng và hành động của ta, cũng như hiểu biết của ta về vũ trụ bên ngoài. “Tâm dẫn đầu tất cả.”

    Ở đây mình dùng chữ tâm, và nhiều bản Kinh Pháp Cú dùng chữ tâm, nhưng trong bài dịch của TT Thích Minh Châu chẳng hạn, chữ “tâm” lại được viết là chữ “ý”. Tâm và ý đều là một. Đối với người phương đông, “tâm” bao gồm con tim và khối óc. Chúng không rời nhau như mind và heart của tây phương. Cho nên khi dịch chữ “tâm”, người tây phương dịch là mind, hoặc heart, tùy theo trường hợp, hoặc viết luôn là mind-heart hay heart-mind. Trong triết lý nhà Phật, tức là môt loại meta-psychology (siêu tâm lý), thì tất cả mọi hoạt động tâm thức của con người đều có cả tim và óc, cảm xúc và suy tưởng. Không có chuyện khối óc làm việc độc lập đối với con tim. Dĩ nhiên, bất kỳ tâm lý gia nào ngày nay cũng đều thấy như vậy.

    Và mình nghĩ “tâm phục khẩu phục” có thể dịch là “To admire in words and in heart.” :-)

    ReplyDelete
  9. Hi chi Phuong Hoa. Hôm qua overloaded, nên viết nhầm tên chị mà cũng không kịp thấy. Hôm nay mới biết. Xin lỗi chị nhiều lắm nha. I feel REALLY bad. I will not do it again. Sorry, ma'am. :-)

    ReplyDelete
  10. Không sao đâu anh Hoành ạ, cái tên chỉ là vỏ bọc bên ngòai, gọi lên bao cái tên chẳng được, tôi vẫn cứ là tôi mà (hic).
    Đọc qua một lượt các bài viết ở web này thấy các anh các chị cổ vũ nhiệt tình cho triết lý của Phật. Sống giữa không khí duy lý của Mỹ, thỉnh thoảng dân ta rủ nhau đi nhà hàng chay, âu cũng là một cách giải tỏa tâm lý. Triết lý phương Tây dạy cho người ta tiến lên, triết lý phương Đông dạy cho người ta biết lùi, biết dừng, biết nghỉ, biết rằng 1 ngày không làm việc cũng có ý nghĩa bằng 2 ngày đi làm. Nhưng phương Tây bây giờ người ta cũng ngấm “phương Đông” lắm rồi, người ta còn học nhanh hơn nữa kia.
    Theo cách hiểu rất hạn chế của tôi về Phật pháp, Phật chỉ cho chúng ta một “nirvana”, một cõi niết bàn rồi nói “đấy, đó là chỗ hoàn thiện hoàn mỹ, cố mà tu nhân tích đức rồi lên đấy”. Than ôi, nhưng lời Phật dạy cao siêu quá, kẻ tầm thường như tôi đây, làm sao thấu hiểu hết lời của Người. Cứ như từ khi mới bắt đầu đi học ta phải biết cách cầm bút, rồi biết đánh vần, rồi viết ra chữ, ra từ, ra câu. Chứ đâu có mới học mà thụ đắc được ngay cả một cuốn sách, cho dù nó hay.
    Các anh các chị bàn rằng “phải suy nghĩ tích cực, tránh tư duy tiêu cực”, vâng, thế nhưng thế nào là tích cực, thế nào là tiêu cực. Bực bội, đố kị, ghen tuông hẳn là tiêu cực, sung sướng, hạnh phúc hẳn là tích cực. Thế nhưng nếu không có buồn khổ thì làm sao chúng ta biết được thế nào là vui mừng, nếu không có ghen tuông thì biết sao được yêu thương.

    Đúng như anh Hoành nói là phương Tây dựa vào “intelligence”, vào “quantitative”. Một công trình khoa học dựa vào “định lượng” vẫn được đánh giá cao và thuyết phục hơn thuần túy “định tính” (mặc dù bao giờ cũng phải có sự kết hợp của cả hai). Một trong những đặc điểm của triết lý này là sự phân loại định lượng, phân loại về thời gian, không gian, tính chất, ….Chúng ta nhờ đó được chỉ dẫn cụ thể, biết bắt đầu từ đâu, biết đặt ra mục tiêu nhỏ, mục tiêu lớn. Nhờ đó ta có thể biết ta đang nằm ở đâu, còn thiếu cái gì, phải bổ sung gì, cập nhật gì. Thế rồi người ta giúp chúng ta gọi tên các sự vật hiện tượng. Trong khi đó nhà Phật nói rằng chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được bao giờ chúng ta sẽ “giác ngộ”, có thể được mà cũng có thể không bao giờ được. Và có biết bao câu chuyện của nhà Phật về quá trình “đắc đạo”, tưởng sắp “tới nơi”, nhưng lại không phải. Vậy phải chăng con người sẽ càng vô vọng hơn?

    ReplyDelete
  11. Cám ơn chị Phương Hoa. Thực ra nói là cổ vũ triết lý nhà Phật thì đúng, nhưng chỉ đúng một nửa thôi chị Phương Hoa à. Âu Mỹ trong vòng mấy thập niên, từ sau thế chiến thứ 2, phát triển kinh tế rất nhanh với consumerism, trong đó tiêu thụ cá nhân đóng vai đầu tàu, kích thích mọi công ty và mọi cá nhân cạnh tranh dữ dội để phục vụ. Mấy mươi năm chạy đua với nhau và chạy đua với cái đồng hồ, đến đầu thiên niên kỷ mới đa số người mệt mỏi và tìm cái gì đó có chiều sâu. Và Âu Mỹ khám phá Phật học như là môt triết lý sống có căn bản luận lý sâu xa, cho người ta chậm lại, nhưng không phải là ngủ, mà là tĩnh thức để biết mình, biết người và biết đời sâu xa hơn. Tất cả những điều này rất hợp với bản tánh người Âu Mỹ cho nên Phật học trở thành nhu cầu của trí thức Âu Mỹ.

    Nhưng thực ra, thanh lặng con tim để hiểu chiều sâu của chính mình và của cuộc đời đã có trong bất kỳ truyền thống tâm linh nào. Ví dụ, trong Thánh kinh thiên chúa giáo, thanh lặng cầu nguyện một mình mỗi ngày, tịnh tâm, suy gẫm, là truyền thống thánh kinh đã mấy ngàn năm. Và nếu Phật giáo có thiền vô ngôn, thì Thiên chúa giáo cũng có những dòng tu kín, trong đó người ta hầu như chẳng mở miệng nói bao giờ. Và nếu đọc Kinh Koran của Hồi giáo, ta cũng sẽ thấy truyền thống con tim thanh lặng trong đó.

    Tất cả những truyền thống sống nhằm đào sâu vào trái tim con người, hơn là chỉ nhà xe bên ngoài, ngày nay trở thành nhu cầu trong giới trí thức Âu Mỹ, và Phật giáo rất logic, cho nên được trí thức Âu Mỹ ưa thích, thế thôi. Còn chúng ta thì khác Âu Mỹ, ta đâu có cần học cái gì mới đâu. Phật học đã có từ trong nhà ta mấy ngàn năm nay, vì ta lớ ngớ cho nên không biết được giá trị của nó, bên giờ chỉ cần lấy ra, phủi bụi, và dùng mà thôi. Và vì Phật học rất là logic và rất tâm lý, cho nên dùng Phật học để giải thích chiều sâu con tim thì dễ hơn là các truyền thống thần quyền như Thiên chúa giáo và Hồi giáo lệ thuộc hầu như 100% vào thực nghiệm.

    Nhưng mà, nhiều truyền thống khác nhau, đâu có nghĩa là cái này đúng, cái kia sai, bỏ một chọn một đâu. Nói đàn bà dễ thương đâu có nghĩa là đàn ông đáng ghét :-) Logic khoa học thương mãi Âu Mỹ và logic Phật học cho con tim chỉ là những khí cụ. Mỗi thứ có những công năng và giới hạn riêng. Nhà kho của ta đâu phải chỉ chứa một khí cụ đâu. Muốn làm việc cho mạnh, cho dữ dội, phải biết khi nào nghỉ và nghỉ thế nào. Nghỉ và tĩnh lặng không làm cho người ta chậm lại như nhiều người hiểu lầm, mà nó là recharge (sạc điện). Ngày nay ta có 2 ngày nghỉ cuối tuần cũng là lý do đó. Rất tiếc là nhiều người không biết dùng 2 ngày đó để làm cho mình mạnh lại, mà lại làm cho mình bận thêm và stress thêm.

    Còn nói về "cái biết" hay giác ngộ, thì theo mình, đời là một cuộc hành trình và đích điểm luôn luôn ở trước mình vài sải tay, ngay cả khi thấy như sắp tới cũng không với tới. Cuộc hành trình đó chỉ chấm dứt khi ta chết--chết chứ chưa hẳn là đến đích. Nhưng, who cares? Mình vẫn thích miệt mài trên cuộc hành trình hơn là đến đích. Mình nhớ ai đó nói: "When you are through with changing, you are through." Và Kinh Kim Cang nói, "Bồ tát mà nghĩ là mình giác ngộ thì đó không phải là Bồ tát."

    Chị Phương Hoa có một ngày vui nhé. :-)

    ReplyDelete