Đọt Chuối Non |
- Morning – Edvard Grieg
- Tạo năng lượng hòa bình cho thế giới của bạn
- Ca bình minh
- We Are Witnessing An Arab People’s Revolution
- Vị Bộ trưởng khuyến khích sinh viên cãi thầy
- BCH quân sự trở thành Bộ Tư lệnh TPHCM
- Việt Nam nhập siêu khổng lồ từ Trung Quốc
| Posted: 31 Jan 2011 01:07 PM PST Edvard Hagerup Grieg (1843 – 1907) là nghệ sĩ piano và nhà soạn nhạc người Na Uy, nổi tiếng với bài Piano Concerto gam La thứ, các nhạc bản nền cho nhạc kịch Peer Gynt của Henrik Ibsen’s (trong số đó Morning và In the Hall of the Mountain King rất phổ thông), và collection các đoản khúc piano Lyric Pieces. Bài Morning mô tả một buổi sáng rất đẹp: từ khi trời còn tờ mờ, rồi sáng dần, và trong veo …. Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa | |||||||||
| Tạo năng lượng hòa bình cho thế giới của bạn Posted: 31 Jan 2011 01:05 PM PST Chào các bạn, Rất tiếc là, dù chúng ta biết như thế nhưng chúng ta vẫn tranh chấp và gây lộn thường xuyên, dưới đủ mọi hình thức—phê phán nhau, chửi bới nhau, nói xấu nhau, tuyên bố thù địch với nhau, từ bỏ nhau, từ chối nhau… Chúng ta luôn luôn có lý do chính đáng để "chinh chiến" như thế hàng ngày, đối với anh em, bè bạn, người quen, tôn giáo, đảng phái chính trị, phe nhóm xã hội… Và khi ta đang "lâm chiến" thì chẳng ai có thể cản ta được, vì ta luôn luôn làm đúng, luôn luôn có lý do đúng để lâm chiến—"Nó xấc xược như vậy mà không cho nó một bài học sao?"… "Không dạy nó một bài học thì sẽ còn nhiều người bị hại"… " Không chỉnh nó một trận làm sao có công lý cho được"… Nhưng vấn đề chính là ở chỗ đó. Vấn đề là mỗi chúng ta luôn luôn có lý do chính đáng để đánh nhau, để đấu tranh chống nhau… Nói rằng ta làm thế là sai tức là nói sai. Nhưng… đây là vấn đề: Nếu đêm nào đàn chó trong khu xóm của bạn cũng cắn nhau inh ỏi, đó là vì mỗi con chó đều có lý do chính đáng để cắn nhau. Chúng không cắn nhau chỉ vì chúng nó điên. Mỗi con chó đều có lý do chính đáng để lâm chiến—hoặc để dạy thằng kia, hoặc cứu bạn, hoặc giữ trật tự, hoặc để bảo vệ công lý… Hoặc các teen côn đồ đánh nhau hàng ngày trên đường phố, họ cũng luôn luôn có lý do chính đáng. Không ai tự nhiên mà đánh nhau không có lý do. Vấn đề chính của chúng ta ở đây là: Sống với chiến tranh là cách sống ở mức thấp. Ở mức độ cao hơn, chúng ta sống hòa bình. Không gây hấn, không đấu tranh chống nhau, không đánh nhau, không thù hằn nhau. Đó là mức độ của các Phật đang thành, của những người con của Thượng đế. Đây là vấn đề chọn lựa: Ta có thế sống bằng chiến tranh thường xuyên với các lý do chính đáng và đúng để đấu tranh. Hoặc ta có thể bước lên sống ở tầng cao hơn của Phật tính trong ta, của Thượng đế trong ta. Các bạn, người si mê, không thể hiểu hết nghĩa lý sâu sắc, nghĩ rằng đây chỉ là các lời nói văn hoa quá xa xôi với con người. Nhưng người có trí tuệ, thấy được chiều sâu của trái tim con người, thì biết rằng đây là điều rất thật—con người chúng ta có Phật tính rất mạnh và ta có thể sống với Phật tính đó để chuyển hóa thế giới của chúng ta. Nếu bạn là một trong thiểu số người có căn cơ có thể hiểu được điều này, thì đương nhiên là bạn đã có thể nhận ra và trực nghiệm được năng lượng mạnh mẽ của hòa bình. Nếu bạn chỉ sống hòa bình, luôn luôn hiền dịu và thân thiện với mọi người dù họ làm gì đúng hay sai với bạn, thì thế giới của bạn sẽ được chuyển hóa và hòa bình hơn—dù đó là gia đình bạn, trường học bạn, hay công sở của bạn. Năng lượng hòa bình do cách sống hòa bình tạo ra, và tự nó có sức mạnh biến đổi thế giới của nó thành hòa bình hơn. Cho nên, muốn cho thế giới của chúng ta văn minh hơn và hòa bình hơn, bạn cần tạo năng lượng hòa bình cho thế giới: Sống hòa bình, luôn luôn. Đây chỉ là vấn đề lựa chọn: (1) Bạn có thể chọn lựa đấu tranh, chiến đấu, tranh cãi hàng ngày, và bạn sẽ luôn luôn có các lý do đúng để làm thế. Và đừng lo là bạn không có lý do đúng, vì nếu bạn có lý do thì lý do sẽ đúng với bạn. Hoặc (2) bạn bước lên một tầng cao hơn và chỉ sống hòa bình. Hãy tự chọn lựa con đường cho bạn, rồi nghiệm chỉnh trên đường bạn chọn. Mến, Hoành © copyright 2011 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | |||||||||
| Posted: 31 Jan 2011 01:04 PM PST
Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần lời nói đầu với cái tên giản dị: "Lý Phương Liên mở lòng". Có ai ngờ được cuộc sống của anh chị lại lắm thác ghềnh đến thế, chị tâm sự: "Năm 1971 thơ xuôi dòng thơ bỗng dưng gặp thác thơ, thác thơ dữ quá, vợ ôm con, chồng ôm vợ, khóc nhìn trăng mà vùng quẫy, mà chiến tranh cùng sóng gió, mà thề rằng: chết thì cả nhà cùng chết, bằng sống thì nhất định không để đắm thuyền thơ". Ôi! Có mấy ai trên đời này yêu thơ, yêu cuộc sống đến như vậy không? và có mấy ai người tri âm tri kỷ cùng sống chết có nhau vì cuộc sống và vì thơ như vậy chăng? Thế rồi người thơ ấy vượt lên tất cả: "Chúng tôi Lý Phương liên và Nguyễn Nguyên Bảy lại bồng con xuống thuyền thơ xuôi sông trẩy hội đời". Lời tâm sự tưởng nhẹ như không ấy lại là cả một quá trình vật vã đấu tranh với sóng gió để giữ vững tay chèo cho con thuyền đời và con thuyền thơ vững vàng trong vòng xoáy bể khổ. Với anh chị, thơ là đời và đời không thể thiếu được thơ, như linh hồn không thể tách rời thể xác. Anh chị nhận thức rất rõ qui luật của tạo hóa, cái nghiệt ngã tất yếu của cuộc sống nên nương tựa vào nhau vượt lên số phận. Chị dành cho anh những lời đầy ân tình mà bất kỳ người đàn ông chân chính nào cũng khao khát được người vợ yêu quí của mình bộc bạch: "Người liên quan đến thơ tôi và chịu nhiều cay đắng oan ức vì thơ tôi, là Nguyễn Nguyên Bảy, tình yêu của tôi, chồng tôi, người thầy duy nhất dạy tôi làm thơ và cùng tôi tu thân làm người tử tế… nếu trời cho em sống cùng lúc hai cuộc đời em cũng chưa đủ trả cái nghĩa yêu và cái ơn tình mà anh đã dành cho đời em và cho thơ em". Tôi biết anh chưa lâu nhưng cũng đủ hiểu về anh chị, hôm nay mới được gặp chị và cháu nhưng bằng nhiều nguồn thông tin, tôi biết chắc rằng anh chị và các con cháu là những người tử tế, chưa nói rằng là người tử tế hơn nhiều người tử tế. Chỉ riêng chuyện chị không hề than trách số phận, không hề trách ai đã làm cho con thuyền thơ của anh chị "gặp thác thơ": "Tôi nín lặng với thơ suốt bốn mươi năm nay vì lời nguyền bỏ thơ của chính tôi, không vì bất cứ sự đe dọa, trù dập hay bất cứ áp lực nào khác. Mọi hệ lụy xô đẩy chúng tôi đến bần hàn và cơ cực không liên quan đến bất kỳ cá nhân nào, quyền lực nào. Mọi ảo thực, tốt xấu tôi tự mình chịu trách nhiệm, không than oán bất kỳ ai, về bất cứ điều gì" đã nói lên đầy đủ điều đó rồi. Tôi ngẫu nhiên tìm đọc bài thơ: "Ca bình minh", bởi bài được đặt tên cho cả tập nhiều khi mang cái hồn cốt của cả tập thơ. Thật bất ngờ vì bài thơ chị làm cách đây bốn mươi năm mà ý tứ mới lạ, cách thể hiện đầy sáng tạo. Đề tài tưởng chừng không mới kia "đi làm ca ba" ngày ấy có gì mà lạ, đất nước đang còn khó khăn, làm ca ba để hoàn thành công việc, để có nhiều sản phẩm hơn cho đất nước, đặc biệt lúc đó miền Bắc là hậu phương lớn của miền Nam, lại chuyên chở những ý tưởng mới lạ, đầy sáng tạo và lạc quan chắp cánh cho tứ thơ bay lên.
CA BÌNH MINH Em đi làm ca ba Bạn bè em có nhiều ý lạ Ai cũng muốn mỗi ngày là một ngày sống đẹp Khổ thơ đầu mới đọc chỉ như một lời tự sự nhưng khi gặp đảo ngữ: "Hà Nội vào giấc say trẻ nhỏ" thì đã thấy cái chất thơ đích thực, hứa hẹn gợi mở những điều mới lạ. Lúc đó chị cùng các bạn còn trẻ lắm, vô tư, yêu đời nên mới: "Em đi giữa lòng đường/ Hát khẽ…". Hát bởi tin yêu vào cuộc sống, hát bởi sức trẻ phơi phới tin yêu. Câu thơ trẻ trung và trong sáng sưởi ấm cho các chị trong đêm. Hai câu thơ "Tuổi ca ba rất trẻ/ Đêm ca ba lại dài" như hai vế của một câu đối rất hiện thực và cái cách thay đổi kết cấu ấy làm cho khổ thơ chở đầy suy tư với câu hỏi: tại sao "tuổi ca ba thì rất trẻ", còn "đêm ca ba lại dài". Những ai đã từng đi ca ba trong điều kiện đất nước mới có thể hiểu được ý tứ sâu xa qua câu thơ tưởng chừng đơn sơ ấy. Bài thơ đưa người đọc đến với những ý tưởng lạ lẫm, vô tư, bay bổng của tuổi trẻ, các bạn của chị coi đấy là: "Ca của những đêm hè trời đầy sao hoa/ Ca của những đêm đông bập bùng ánh lửa". Tuổi trẻ đầy mơ mộng và viễn cảnh về cuộc sống mới tốt đẹp làm sao. Còn chị: "Em gọi là ca bình minh". Từ hiện thực mỗi khi tan ca về gặp bình minh mai sớm đã được thi vị hóa thành một hình tượng thơ đắc địa. "Ca bình minh", của một ngày mới, của một chân trời mới của mỗi người và đất nước. Chị ý tứ: "Ý nghĩ ấy gặp em như một sự vô tình" nhưng đâu có "vô tình" mà có được hình tượng thơ đẹp đến như vậy, chị đã từng bao đêm đi ca ba, bao lần: Tay vẫy chào những đoàn tàu rời ga Hàng Cỏ Ngày ấy đất nước còn bị chia cắt, "tất cả vì miền Nam thân yêu". Các chị đi ca ba hay các anh bộ đội "thẳng tới chiến trường" để một ngày không xa được: "Đón bình minh đất nước". Trong bài thơ cất lên một âm thanh rất lạ, dù lúc đó chị còn rất trẻ nhưng có lẽ cái thiên chức của người phụ nữ và sự nhậy cảm của một hồn thơ dẫn cho mạch thơ của chị đến được âm thanh tuyệt diệu của cuộc sống ấy: "Chị hàng xóm đón em tiếng oa oa con khóc.” Cuộc sống vốn như thế đấy, mãi sinh sôi bất tận. Cái tiếng oa oa của đứa trẻ mới chào đời trong "gió cao trời xanh" ấy hứa hẹn một mùa xanh cho tương lai. Khổ thơ cuối như một phương châm sống của chị, của những người tử tế: "Ai cũng muốn mỗi ngày là một ngày sống đẹp". Nên chị tin: Ơi ca ba! Ca ba em đi vào hôm nay Mấy chục năm rồi, niềm tin vào ca ba ấy đã thành hiện thực. Đất nước hòa bình thống nhất và gia đình chị hôm nay cùng bao gia đình khác luôn có: "bình minh trước mặt". Cái ẩn dụ tinh tế "ca bình minh" xuyên suốt bài thơ chợt tỏa sáng tươi hồng như ngọn lửa ấm mãi trong mỗi con người. Đọc bài thơ của chị Lý Phương Liên sáng tác từ bốn mươi năm trước mà vẫn tươi mới trong cuộc sống hôm nay. Ca ba – cái sự phấn đấu ngoài cái thông thường: đêm – ngày, thức – ngủ… kia sẽ đem lại bao điều tốt đẹp. Bởi vậy dù trong: "Lý Phương Liên mở lòng", chị có khiêm nhường tự nhận thơ mình là: "những bài thơ học trò bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường" thì đó là bản chất của chị, chưa nói đó là bản lĩnh của một người thơ luôn chung thủy với thơ, chắt ra từ cuộc sống những bài như thế. Và tôi tin "Ca bình minh" sẽ sống mãi trong lòng những người tử tế! Hà Nội chiều 31.1.2011 Filed under: Thơ, Văn Hóa Tagged: Thơ, Văn Hóa | |||||||||
| We Are Witnessing An Arab People’s Revolution Posted: 31 Jan 2011 01:04 PM PST January 28, 2011 — We are in the midst of a brave new world.The uprisings raging from Tunisia to Egypt to Yemen are heralding a new Arab, post-Islamist revolution. Protesters shout anti-goverment slogans during a demonstration in Cairo January 29, 2011
President Hosni Mubarak’s days, like those of deposed Tunisian President Zine El-Abidine Ben Ali, are numbered. The effects on the region were, until today, unthinkable. Today’s Arab revolution is no less significant than those that preceded it in recent decades in Eastern Europe and Latin America. This time, Arabs are not being led by their leaders — from colonialism to pan-Arabism or Islamism or any other “ism” — as was the case in the past. Instead, they have turned on those leaders who have failed to provide them their dignity, justice and a better life. Make no mistake, we are witnessing today an Arab people’s revolution. Like those before them, today’s Arab revolution will transform the region’s politics. What is happening today is nothing short of what the respected Arab commentator, Rami Khouri, prophetically described late last year as the birth of Arab politics. He was right. Politics in the region will never be the same again. Propelled by the young and the digital revolution, citizens will demand nothing less than the right to choose and change their representatives in the future. To glimpse the nature of what can emerge, we should understand the rapidly changing social structure of Arab societies. Those societies are more educated, urban and connected than ever before. Due to the phenomenal growth of secondary and university-level education, literacy rates among the region’s youths have skyrocketed in the past 40 years. The percentage of people living in Arab cities has risen by 50% in the same period. The number of mobile phone users and internet users has proliferated to hundreds of thousands since the technology was introduced to the region 10 or 15 years ago. No wonder, then, that the people have finally snapped at the lack of opportunity and representation and the high levels of corruption and control that characterize their lives. Most tellingly, more has united the protesting people than divided them. Notable has been the absence of a clear, emerging leader of the protests, particularly from Islamist party leadership. The call for dignity, justice and a better life has been a universal value — not the domain of any one particular opposing party or movement. Instead, the national movements, which these conditions have spawned, will continue to demand a political system that is more pluralistic, democratic and produces effective and competent governments sensitive to the legitimate aspirations of all the society’s people. Crucially, the unfolding events will also require a new set of calculations from the old regimes’ main backers: the United States and its allies. The long-term changes for Western policy in the region should be profound. Gone should be the reflex to side with those who willfully subvert the democratic and constitutional process out of fear of the Islamist boogeyman. The binary calculation between supporting stability on the one hand and the risks of unprecedented regime change, particularly the rise to power of Islamist parties, no longer holds. The people of the region are deciding. The irony is that while U.S. policymakers have been playing catch-up, it has largely been U.S.-created technology — the internet, particularly Facebook and Twitter — that has sustained the spread of the Arab revolution. Now is the time for policymakers to suggest an appropriate response to support a peaceful political transition in each country. Western policymakers must strike a careful balance between ensuring key interests (including support for a comprehensive peace in the Arab-Israeli conflict and Israel’s security) and respecting the wishes of the region’s people. In this regard, support for the peace process and Israel’s interests will best be ensured by real and tangible progress over the next year. In the case of Egypt, the most populated Arab nation and symbol of Arab leadership, the transition will be particularly important. If managed well, it will provide a useful example for all in the days and weeks ahead. The U.S. in particular has a role in persuading Mubarak to outline a peaceful transition of power to an interim administration that will manage the process to a new democratic constitution and elections. There should also be a role for international and regional organizations such as the United Nations, the European Union, the Gulf Council and the Organization of the Islamic Conference to lend technical and material support to the transition. It has not been lost on many that the U.S. and other Western governments have been trying to catch up to the unfolding events — attempting to balance support for old friends and allies with a call for restraint and urgent economic and political reforms. This will not do. It is time to break through the past fears that have guided Western policy with fresh hope for a better future for the people of the region. It is time to choose change. Filed under: Thế giới, Trang tiếng Anh Tagged: Thế giới, trang tiếng Anh | |||||||||
| Vị Bộ trưởng khuyến khích sinh viên cãi thầy Posted: 31 Jan 2011 01:03 PM PST
Để tưởng nhớ Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên vừa từ trần ở tuổi 100 (ngày 29/1), VietNamNet giới thiệu bài phát biểu của ông, về “tinh thần ĐH” với những nội dung cho đến nay vẫn mang nhiều giá trị thời sự.
Mở ĐH có “lạc điệu” không? Tôi khâm phục cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên khi từ năm 1969 ông đề ra vấn đề nghiên cứu vai trò của các ông đồ Nho trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước của dân tộc ta. Cách mạng là Nhân nghĩa Ông Đồ là Thi thư Bút tuôn dòng Nhân ái Từ ngón tay Ông Đồ Sau nhiều năm mầy mò tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh, tôi mạo muội khẳng định: Hồ Chủ tịch hơn ai hết hiểu rõ chân lý trên đây. Liên minh Công – Nông – Trí làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc – động lực vô địch của cách mạng Việt Nam – mới đích thực là Tư tưởng Hồ Chí Minh. Mà trí thức, xưa thì từ cửa các trường Đại tập, nay từ cửa các trường ĐH mà ra. Cho nên chỉ 20 ngày sau Tuyên ngôn Độc lập Hội đồng Chính phủ trong phiên họp dưới sự chủ toạ của Hồ Chủ tịch ngày 22/9/1945, đã “quyết nghị đến 15/11/1945, trường ĐH sẽ mở cửa”.
Việc làm ấy đáp ứng rất trúng ý nguyện của SV, thanh niên. Họ đến dự khai giảng rất đông. Và ĐH Quốc gia Việt Nam không chỉ khai giảng lại các trường, khoa sẵn có, mà còn mở khoa mới. Đó là các lớp xã hội – chính trị đặc biệt, với những giảng viên lỗi lạc như GS Võ Nguyên Giáp, GS Phạm Văn Đồng, GS Trần Văn Giàu, GS Hồ Hữu Tường v.v…, với các môn triết học, sử học cũng như các môn chuyên nghiệp về kinh tế, tài chính, về luật học cùng hai môn ngoại ngữ Anh văn và Nga văn. Tôi trộm nghĩ Lớp xã hội – chính trị ấy mang đầy đủ tinh thần ĐH, hơn nữa bắt đầu xây đắp nền tảng triết lý giáo dục cho toàn bộ hệ thống giáo dục của nước Việt Nam mới trên cơ sở hoà hợp văn minh Đông và Tây. Văn minh Đông phương là châm ngôn từ ngàn đời nay lại toả sáng: Ngọc bất trác bất thành khí Nhân bất học bất tri lý Học phải đến nơi đến chốn thì mới tri được Lý. Lý đây chính là Đạo lý, là Đạo “ở đời”, Đạo “làm Người”. Đạo làm Người tới tuyệt đỉnh là Đại Nghĩa và Chí Nhân. Đại Nghĩa dân tộc là “không có gì quý hơn Độc lập Tự do”. Chí Nhân là “thương người như thể thương thân”, “tứ hải giai huynh đệ”. Rồi từ “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, “bầu ơi thương lấy bí cùng” ta sẽ góp sức làm nên “Thế giới đại đồng”. Nếu rèn được cho họ một nhân cách, một bản lĩnh vững vàng thì dẫu có thất nghiệp nhất thời, họ vẫn tìm ra cách sống có ích cho mình và cho xã hội.
Văn minh Tây phương là các khoa học chuyên môn, kỹ thuật, rất cần cho cuộc sống thời nay. Nhưng cái nền vẫn luôn luôn phải là tinh thần đại học xưa (tức Đại tập), không thì thế giới đại loạn. Tôi nhấn mạnh lại: Tinh thần đại học. Những điều tôi vừa trình bày trên đây, đó là cái bất biến của nền giáo dục mới, vì mục đích nhân sinh và xây dựng trên các nguyên tắc dân tộc, khoa học, đại chúng. Còn hệ thống và phương thức tổ chức đào tạo, nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, kế hoạch thực hiện thì có thể phải thay đổi, theo các điều kiện khách quan và chủ quan của từng địa điểm và từng thời gian hoạt động. Nay Đảng lãnh đạo đã đề xuất và đang thực thi đường lối Đổi mới, mở cửa và hội nhập với khu vực và thế giới; một nền kinh tế thị trường năng động và luôn biến động đang hình thành mà hệ thống giáo dục không thay đổi, tiếp tục chú trọng một mớ kiến thức kinh điển và kinh viện, thì SV ra trường bị thất nghiệp cả loạt là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên có điều an tâm là nếu rèn được cho họ một nhân cách, một bản lĩnh vững vàng thì dẫu có thất nghiệp nhất thời, họ vẫn tìm ra cách sống có ích cho mình và cho xã hội. Giật bằng để leo cao: viện sĩ cũng chỉ là kẻ cơ hội Nếu giật bằng cao chỉ cốt để leo cao cho dễ dàng mưu lợi riêng thì dẫu có danh viện sĩ cũng chỉ là kẻ cơ hội có mảnh văn bằng, chứ quyết không phải là trí thức. Các em là ngày hôm nay của nền ĐH VN, ngày mai của kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật nước nhà. Vậy các em phải tập (theo tinh thần đại tập nói trên) và học như thế nào?
Về tập, tức về rèn luyện, các em hãy cố gắng: “Sống, học tập và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại”.
Người trí thức trước hết phải có nhân cách. Tôi được biết, các em đang có các phong trào thanh niên tình nguyện về phục vụ đồng bào các vùng sâu vùng xa, thanh niên tự rèn tập sáng tạo khoa học, tuổi trẻ kinh doanh, lập nghiệp. Các em đang nối tiếp truyền thống ý thức trách nhiệm trước dân của các thế hệ trí thức Việt Nam: các nhà Nho từng hô hào nhau “dũng thoái” (“dũng cảm thoái lui” từ bỏ quan trường cùng bổng lộc triều đình) lui về “vi hương quân tử, vi xã tiên sinh” (làm người quân tử trong làng, làm thầy đồ trong xã). Tiếp bước ông cha, lớp trí thức “Tây học” chúng tôi từng kêu gọi nhau: “Anh em thanh niên! Đã đến lúc chúng ta về làm việc làng”, “lập tiểu doanh điền”. Tất nhiên, do điều kiện thực tế dưới chế độ phong kiến và chế độ thuộc địa, lớp ông cha, cũng như lớp chúng tôi, làm được ít lắm. Cung kính tiếp thu điều thầy cô dạy chưa phải là học ĐH Tiếng Việt ta nói “học hỏi”. Vậy chưa hỏi là chưa học, đặc biệt ở ĐH. Hãy tham gia vào bài giảng bằng các câu hỏi của mình, thậm chí – hãy “cãi lại” (tôi để trong ngoặc kép) thầy cô, đương nhiên một cách lễ độ và có lý lẽ.
Hãy tham gia vào bài giảng bằng các câu hỏi của mình, thậm chí – hãy “cãi lại” (tôi để trong ngoặc kép) thầy cô, đương nhiên một cách lễ độ và có lý lẽ. Tôi đã trải qua những tình huống đó trong đời dạy học của mình, lại là dạy ở các lớp trường tư, nhiều học sinh cùng tuổi với thầy nên dám “ngang bướng” lắm (ngang bướng hợp lý).
Filed under: Giáo dục Tagged: Giáo dục | |||||||||
| BCH quân sự trở thành Bộ Tư lệnh TPHCM Posted: 31 Jan 2011 01:02 PM PST Bộ chỉ huy Quân sự TP Hồ Chí Minh vừa được đổi tên thành Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh nhằm “tăng cường sức mạnh vũ trang” để đối phó với các “lực lượng thù địch”. Lễ đổi tên theo quyết định của Bộ Quốc phòng vừa được tổ chức hôm thứ Sáu tuần trước (28/01). Báo Người Lao động dẫn lời Tư lệnh, Đại tá Trương Văn Hai, nói: “Trong bối cảnh các phần tử cực đoan, phản động trong và ngoài nước được sự hỗ trợ của các lực lượng thù địch đã liên kết với nhau tìm mọi cách xây dựng lực lượng chống đối Đảng, Nhà nước, yêu cầu cấp thiết cần phải có một tổ chức tương xứng nhằm tăng cường sức mạnh cho lực lượng vũ trang của TPHCM”. Lãnh đạo thành phố tham gia lễ đổi tên cũng được dẫn lời yêu cầu lực lượng vũ trang TP Hồ Chí Minh “tăng cường sức mạnh quốc phòng, làm thất bại âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, góp phần giữ ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn thành phố”. Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh trực thuộc Quân khu 7. Việc đổi tên thực chất là quay lại tên gọi cũ có từ sau năm 1975. Năm 1978, Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh đổi tên thành Bộ Chỉ huy Quân sự TP Hồ Chí Minh. Sự kiện mới này cho thấy ổn định an ninh chính trị-xã hội trở nên một tiêu chí hàng đầu, trong khi đang có nhiều quan ngại về bàn tay của các thế lực thù địch nước ngoài trong bối cảnh tình hình thế giới xảy ra nhiều biến động. Bảo vệ chính trịTư lệnh Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh là Đại tá Trương Văn Hai, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng là Đại tá Nguyễn Văn Nam. Chính ủy là Đại tá Nguyễn Văn Hưng. Hai đô thị lớn nhất Việt Nam như vậy đang được bảo vệ bằng hai bộ tư lệnh. Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội được tổ chức lại từ Quân khu Thủ đô hồi tháng 7/2008. Về tổ chức cơ cấu, bộ tư lệnh ngang tầm quân đoàn. Mỗi quân đoàn ở Việt Nam hiện có ba đến bốn sư đoàn với khoảng 20.000 quân trong mỗi sư đoàn. Trong một diễn biến khác, Việt Nam khẳng định không chạy đua vũ trang, nhưng nói “mua sắm vũ khí là chuyện hết sức bình thường” và sẽ tiếp tục được thực hiện tùy theo nhu cầu và khả năng kinh tế. Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng quốc phòng, trong một phỏng vấn mới đây với báo Thanh Niên, nói: “Việc hiện đại hóa quân đội nhằm đáp ứng các nhu cầu phòng thủ theo lộ trình phù hợp với nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, thể hiện tinh thần hòa bình, tự vệ trong chính sách quốc phòng”. Ông Vịnh cũng bình luận về việc các “nước lớn quan tâm và muốn can dự vào khu vực”. Ông thứ trưởng nói Việt Nam, với vị thế một nước nhỏ, có thể tận dụng cơ hội này để bảo vệ độc lập, chủ quyền. Tuy nhiên ông cũng cảnh báo “các nước nhỏ phải tỉnh táo trong quan hệ với các đối tác nhất là các cường quốc trên những vấn đề mà các bên có quyền lợi mâu thuẫn nhau”. Trung tướng Vịnh khẳng định: “Độc lập tự chủ là quan trọng nhất, Việt Nam không ngả về bên nào, không cùng với nước này để chống nước kia, không tham gia vào những ‘trò chơi quyền lực’ của các nước lớn”. Filed under: Quốc phòng Tagged: Quóc phòng | |||||||||
| Việt Nam nhập siêu khổng lồ từ Trung Quốc Posted: 31 Jan 2011 01:01 PM PST Hàng hóa Trung Quốc đang tràn ngập thị trường Việt Nam Tin cho hay năm 2010 Việt Nam nhập tới trên 20 tỷ đôla hàng hóa từ Trung Quốc, khiến cán cân thương mại càng chênh lệch. Hiện chưa có thống kê đầy đủ, nhưng một số nguồn tin ước tính lượng nhập siêu từ Trung Quốc sang Việt Nam năm vừa qua có thể lên tới 12,6 tỷ đôla. Báo Tuổi Trẻ dẫn nguồn Tổng cục Hải quan cho hay kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc năm 2010 là 20,01 tỷ đôla Mỹ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị (5,47 tỷ đôla), sắt thép (gần 5,12 tỷ), vải may mặc (2,13 tỷ), máy vi tính và sản phẩm điện tử (1,68 tỷ); và xă ng dầu (khoảng 1,06 tỷ đôla). Cũng theo tờ báo này, Việt Nam nhập nhiều mặt hàng thực phẩm và hàng tiêu dùng với kim ngạch cao như thủy hải sản, nông sản, quần áo và giày dép… Trong khi đó, lượng hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc dù đã hết sức cố gắng vẫn chỉ đạt chừng 6,5 tỷ đôla. Theo thống kê đăng trên trang Diễn đàn Kinh tế Việt Nam của báo điện tử VietnamNet, sự mất thăng bằng cán cân thương mại Việt Nam – Trung Quốc ngày càng trầm trọng và gia tăng với tốc độ “chóng mặt”. Báo này cho hay năm 2000, nhập siêu từ Trung Quốc vào Việt Nam mới ở mức 135 triệu đôla, tăng lên 200 triệu vào năm 2001. Năm 2007, lượng nhập siêu là 9,1 tỷ đôla nhưng năm 2009 đã là 11,5 tỷ đôla. Quá phụ thuộcCác nhà kinh tế tỏ ra quan ngại về điều mà họ gọi là “phụ thuộc quá lớn” vào một thị trường Trung Quốc. Tỷ trọng hàng hóa Trung Quốc trong kim ngạch nhập khẩu toàn năm ngoái của Việt Nam đã vượt qua các thị trường lớn khác như EU và Asean. Đó là còn chưa tính tới lượng hàng hóa vào Việt Nam theo đường tiểu ngạch. Ngược lại, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là nguyên liệu, nhiên liệu và khoáng sản sơ chế. Báo VietnamNet dẫn nguồn Bộ Công thương nói danh sách các mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc năm 2011-2012 bao gồm cả alumin khai thác và sơ chế tại các dự án bauxite ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, với chính sách giảm xuất khẩu than đá và dầu thô để bảo đảm an ninh năng lượng của Việt Nam, theo VietnamNet, việc cân bằng lại cán cân thương mại với nước láng giềng khổng lồ khó mà thực hiện được. Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |