Thursday, January 27, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Paganini’s Caprice No. 24 in A Minor

Posted: 27 Jan 2011 01:08 PM PST

 
Caprice số. 24 gam La thứ là Caprice cuối cùng trong số 24 Caprice của Niccolò Paganini. Bản này có một đoạn chính,11 đoạn biến đổi, và một đoạn kết. Đây là bản nhạc được xem là khó khăn nhất cho các nhạc sĩ vĩ cầm, với rất nhiều kỹ thuật cao độ. Nhiều nhạc sĩ vĩ cầm đã học nhiều năm vẫn không đủ khả năng chơi bản này.

Sau đây chúng ta có 2 videos: (1) nhạc sĩ vĩ cầm người Luthiania, Jascha Heifetz (1901-1987), được xem là nhạc sĩ vĩ cầm số 1 của mọi thời đại,v à (2) Shlomo Mintz, sinh 1957, nhạc sĩ vĩ cầm và là nhạc trưởng người Do Thái, rất quen thuộc với thế giới trong các buổi hòa nhạc thính phòng.

Jascha Heifetz

 
Shlomo Mintz



Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Cờ đến tay thì phất

Posted: 27 Jan 2011 01:06 PM PST

Chào các bạn,

Ai lại không biết cờ đến tay thì phất. Nhưng vấn đề là, rất thường khi ta không biết cờ đã đến tay ta. Có người đưa cờ đến, nhưng ta không nhận ra đó là cờ, cho nên ta không phất. Đôi khi quý nhân đưa cơ hội đến cho ta, ta hoặc không nhận ra cơ hội, hoặc không nhận ra quý nhân, hoặc không nhận ra cả hai, cho nên cơ hội đi mất, như nước trong lòng bàn tay chảy qua kẻ tay.

Sau đây là một vài ví dụ "không nhận ra cờ" thường xảy ra:

1. Một người hàng thầy của mình nhờ mình làm một research nhỏ về một vấn đề nào đó. Mình lấy cớ bận việc từ chối hay chỉ làm cho có lệ. Rất có thể là người đó muốn biết khả năng và nhiệt tình của mình về vấn đề đó thế nào, để có thể giới thiệu mình cho ai đó.

2. Một người bạn mời mình đến nhà ăn cơm, trong buổi ăn có một ông chú là một đại gia thương mãi nào đó. Trong buổi ăn mình nói chuyện kiểu không lấy được cảm tình của ai cả, trong khi bạn mình cố tình giúp mình làm quen với ông chú của bạn.

3. Một người quen hỏi ‎ ý kiến mình về một vấn đề nào đó, và mình không cẩn thận trong việc trả lời—không nghiên cứu và suy nghĩ về vấn đề tử tế, không hỏi thêm thông tin cần thiết để có thể trả lời sâu sắc. Mình đã không biết là mình vừa làm mất một hợp đồng làm ăn rất lớn chỉ vì cách trả lời thiếu chiều sâu của mình.

4. Trong một buổi họp mặt của các chuyên gia, thấy một ông ăn mặc xập xệ, mình đứng nói chuyện với ông ta mà mắt cứ láo liên nhìn người khác, chẳng quan tâm gì đến điều ông ta nói. Và mình không biết đó là một tổng giám đốc một công ty rất lớn, luôn luôn mở mắt tìm nhân tài.

5. Trong một diễn đàn Internet có một số đại gia tham dự, mình đã không nói năng theo kiểu các đại gia đều muốn mình làm việc chung với họ. Ngược lại mình nói năng theo kiểu các đại gia đều nhủ thầm "Tên này thì không thể cho vào hãng mình được."

6. Bố của bạn mình là tổng giám đốc của công ty lớn, nhưng bạn mình lại không dám tin mình cho nên không dám giới thiệu mình cho bố, dù là rất muốn giúp mình.

Các bạn, cờ đến tay ta rất nhiều cách, vì khi đến thì thường đến thầm lặng, không kèn không trống. Nếu ta không nhậy cảm với đời ta chẳng bao giờ thấy cờ cả. Nếu ta nhậy cảm với đời, ta sẽ sống kiểu ai quanh ta cũng có thể là quý nhân trá hình, và điều gì quanh ta cũng có thể là ngọn cờ trá hình. Xử với mọi người như qu‎ý nhân, xử mọi công việc như ngọn cờ, thì ta sẽ thấy ta có rất nhiều cờ, và ta sẽ chẳng mất cơ hội phất.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Khúc giao mùa

Posted: 27 Jan 2011 01:05 PM PST


Mùa xuân luôn là đề tài và cảm hứng sáng tạo cho các loại hình nghệ thuật. Với Bùi Thị Bình – một người yêu thơ đang sống tại Thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình, mùa xuân trong thơ chị mang một nét riêng, trong trẻo, đầy sức sống, vui tươi và đằm lắng. Bài thơ như bước đi trẻ trung của nàng xuân, rộn ràng rạo rực của vạn vật, như một khúc giao mùa!

MÙA XUÂN ! 

Bụi mưa
nhẹ nhàng âu yếm
Bay bay
vương tà áo em
Bồng bềnh
long lanh chồi biếc
Ngập ngừng
mấy giọt sương đêm …

Ngoài kia
mùa xuân đang đến
Lao xao
đôi cánh chim trời
Cây đào
hiên nhà hàng xóm
Rộn ràng
khoe nụ hồng tươi …

Phố phường
đông như trẩy hội
Trong veo
tiếng cười vang xa
Chiếc áo
nâu non thoắt vội
Nghiêng nghiêng
vành nón kiêu sa …

Em chở
mùa xuân đi đâu
Muôn màu
đỏ, xanh, vàng, tím
Em cùng
hoa khoe sắc thắm

Mùa Xuân …
Mùa Xuân …
Mùa Xuân …

Tôi biết chị đã có nhiều tác phẩm được in trên nhiều trang văn nghệ của các báo trung ương và địa phương như:

"Hoa không tên" – Thơ – Nhà xuất bản CAND – 2008
"Điều giản dị" – Thơ – Nhà xuất bản Văn học – 2010

Và có nhiều tác phẩm in chung:

"Những trang sách này viết cho các con của mẹ" ( Chuyện đời tôi ) Nhà xuất bản CAND – 2007
"Tuyển tập Lộc phát Kỷ Sửu" – Thơ – Nhà xuất bản CAND – 2009
"Tuyển tập Lục bát mỗi ngày" – Thơ – Nhà xuất bản CAND- 2009
"Tuyển tập Lục bát tự chọn" – Thơ – Nhà xuất bản CAND – 2009
Tuyển tập: "Lộc phát Canh Dần"- Thơ – Nhà XBCAN

Bài "Mùa xuân" là một trong 100 bài thơ của Chị ở tập thơ "Điều giản dị". Tác giả đã sử dụng nhuần nhị thể thơ tự do với nhịp thơ linh hoạt, lúc thì 2/4 như bước đi rạo rực của mùa xuân, lúc lại nhịp 3/4 nhẹ nhàng, bay bướm và tình tứ như một điệu val trữ tình. Những ẩn dụ tinh tế và chất nhạc trong bài thơ làm cho không gian, thời gian, con người và vạn vật như giao hòa trong sự đồng điệu trước giây phút tuyệt vời nhất của tạo hóa. "Bụi mưa" kia bỗng hóa tâm hồn, "nhẹ nhàng âu yếm", để rồi như một phép mầu gọi những mầm xanh "long lanh chồi biếc". Và tiếng "lao xao" của cánh chim cùng sắc hoa đào "khoe nụ hồng tươi" như một tín sứ của mùa xuân:

Lao xao
đôi cánh chim trời

Cây đào
hiên nhà hàng xóm
Rộn ràng
khoe nụ hồng tươi …

Tiếng chim vỗ cánh cùng sắc đào ấy chỉ điểm xuyết thôi nhưng đã làm cho bài thơ sáng hẳn lên, rộn ràng âm thanh và sắc mầu rộn rã, cái đẹp đến đơn sơ không dễ nhận thấy lại là "cây đào hàng xóm" – xuân của mọi nhà chứ đâu của riêng ai.

Mùa xuân đem đến cho lòng người những cảm xúc kỳ diệu. Bao lần đón xuân mà lần nào cũng háo hức, lạ lẫm, nguyên sơ như mối tình đầu. Hình ảnh:

Chiếc áo
nâu non thoắt vội
Nghiêng nghiêng
vành nón kiêu sa …

thật độc đáo, cái hồn quê sao mà tinh tế đến thế, để rồi khi đứng trước câu hỏi tu từ:

Em chở
mùa xuân đi đâu
Em cùng
hoa khoe sắc thắm

Người đọc được hòa đồng trong sắc xuân và Em như một thiên sứ. Hỏi để có cái cớ, hỏi để làm duyên, còn Em và Xuân đã hòa làm một rồi, hiện diện trong cuộc sống, ngân lên trong ta cung bậc diệu kỳ của xuân mới. Để rồi khi bắt gặp điệp ngữ với những dấu chấm lửng

Mùa Xuân …
Mùa Xuân …
Mùa Xuân …

Ta như nghe thấy bước chân nhẹ nhàng của nàng xuân rón rén trên cỏ biếc, tạo nên một khúc giao mùa với bao cung bậc tuyệt diệu, làm cho lòng ta bỗng hồi hộp, mong đợi những điều tốt lành sẽ đến cùng xuân!

Chị từng tâm sự trên trang blog "Hoa không tên" của mình: "Qua nhiều năm công tác, tôi về bên mái ấm gia đình với thiên chức giản dị của người Phụ nữ. Cám ơn Ông Trời đã cho tôi một bến đậu bình yên với cuộc đời sau những tháng năm đã trải. Đi qua chiến tranh, tôi là người vợ lính nuôi con chờ chồng, là dâu con hiếu thảo gánh vác bổn phận để chồng yên tâm chiến đấu. Tôi tự ví mình như một loài Hoa không tên – bông hoa đồng nội khiêm nhường giữa cuộc đời rộng lớn…". Có lẽ vì vậy thơ chị dung dị, tươi sáng, yêu đời và yêu người!

***************************

Với tác giả Nguyễn Thị Thúy Ngoan của thành phố Hải Phòng lại cảm nhận phút giao thừa dưới góc tiếp nhận khác. Đó là nỗi nhớ cháy bỏng và những ước mong giản dị của đấng sinh thành và người chồng yêu quí dành cho mình. Dẫu cha, mẹ, chồng đều khuất núi nhưng những điều ước ấy vẫn còn đây, như ngọn lửa tiếp sức cho chị sống và nuôi con nên người.

GIAO THỪA 

Lại thêm một tuổi nữa rồi
Nhớ xưa bên mẹ quanh nồi bánh chưng
Gộc tre ngọn lửa bập bùng
Ổ rơm ấm áp đêm bưng mắt người
Đì đùng pháo nổ xa xôi
Thắp hương bố đứng giữa trời chắp tay
Mưa xuân như bụi phấn bay
Mẹ cười mẹ bảo xuân này sẽ hơn
Nhà mình ấm áo no cơm
Hai con đến lớp đường trơn có giầy
Giản đơn điều ước còn đây
Bao nhiêu năm tháng dâng đầy trong con.

Cha khuất núi, mẹ về non
Đời con ghềnh thác khuyết tròn ngổn ngang
Ra phố mà chẳng quên làng
Bờ tre ngọn lúa, họ hàng ở quê
Giao thừa gió bấc tái tê
Nhang thơm như gọi con về ngày xưa

Chồng con theo bóng gió mưa
Sang canh trống trải như thừa con ra.

Thúy Ngoan Hiện đang sống và viết tại Hải Phòng, chị là Hội viên Hội Nhà văn HP, chị mới được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam, chị đã được:

* Giải thưởng UBTQ liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2008
*Giải ba không có giải nhất cuộc thi “Thơ viết về Tình chồng vợ” Tạp chí Thế giới trong ta năm 2010
Và có nhiều tác phẩm đã in: – Bão Mùa thu - NXB Hải Phòng 1998
- Trăng Góa – NXB Hải Phòng 2006
- Nón không quai – NXB HNV 2008
- Ngôi nhà không bình yên - NXB HNV 2010

Bài thơ Giao thừa được viết theo thể thơ lục bát truyền thống khá điêu luyện, tự nhiên như hơi thở, đầy tâm trạng. Giao thừa chị nhớ lại điều ước giản dị của mẹ, cha năm nao:

Mẹ cười mẹ bảo xuân này sẽ hơn
Nhà mình ấm áo no cơm
Hai con đến lớp đường trơn có giầy

Người mẹ Việt Nam như thế đấy, suốt đời chắt chiu tần tảo nuôi con và mong con nên người. Có ai không nhớ cái cảnh quanh nồi bánh chưng, chờ chín, lắng nghe những câu chuyện cổ và thầm ước bao điều. Nụ cười tươi rói của mẹ đồng hành với chị trong suốt cuộc đời và mỗi xuân về ấm lòng người con hiếu thảo. Cái từ "lại" ấy có chút gì tiếc nuối nhưng trân quí vô cùng khoảng thời gian đã qua không bao giờ trở lại.

Cuộc đời chị gặp bao thăng trầm sóng gió:

Cha khuất núi, mẹ về non
Đời con ghềnh thác khuyết tròn ngổn ngang

Nhưng chị vẫn vững vàng bởi như cây xanh bén rễ trên đất quê hương, mạch nguồn trong lành bất tận ấy luôn nâng chị dậy, tiếp sức cho chị, chắp cánh cho thơ:

Ra phố mà chẳng quên làng
Bờ tre ngọn lúa, họ hàng ở quê

Những ai "ra phố" đã vội "quên làng" với những "Bờ tre ngọn lúa, họ hàng ở quê", liệu có được những rung cảm thánh thiện và chân thật hướng về quê hương, nguồn cội như vậy được chăng?

Khổ thơ cuối như chắt ra từ bao sóng gió cuộc đời:

Chồng con theo bóng gió mưa
Sang canh trống trải như thừa con ra.

Ta cảm thông và chia sẻ cùng chị! Bài thơ dẫu vương chút buồn nhưng không bi lụy, le lói một nghị lực kiên định, khát sống, khát yêu:

Hai bài thơ của hai người phụ nữ đã vào tuổi có cháu gọi là bà. Mỗi bài có một vẻ đẹp riêng. Các chị không chỉ viết bằng cảm xúc, mà mỗi câu, mổi chữ được viết bằng bao trải nghiệm cuộc đời. Những vần thơ của các chị gieo và lòng người những nốt nhạc tuyệt diệu của mùa xuân!

Xuân 2011
Trần Vân Hạc


Filed under: Thơ, Văn Hóa Tagged: Thơ, Văn Hóa

Vietnam’s own ‘great wall’ uncovered – CNN ca ngợi “Vạn lý trường thành Việt Nam”

Posted: 27 Jan 2011 01:04 PM PST


Vietnam’s own ‘great wall’ uncovered

By Adam Bray, Special for CNN
January 26, 2011 3:44 p.m. EST
It's not on the same scale of China's Great Wall but is still significant for Vietnam's past and future.

It’s not on the same scale of China’s Great Wall but is still significant for Vietnam’s past and future.

STORY HIGHLIGHTS
  • Team uncovers what it calls the “longest monument in Southeast Asia”
  • The Long Wall stretches for 127km and was used to regulate trade and travel
  • It could help redefine tourism in Vietnam
  • It’s nicknamed Vietnam’s Great Wall, by locals although it is not on the same scale as China’s

Editor’s note: Adam Bray has written extensively on Vietnam and is the first journalist to have visited the Long Wall.

Quang Ngai, Vietnam (CNN) — Nestled in the mountain foothills of a remote province in central Vietnam, one of the country’s most important archaeological discoveries in a century has recently come to light.

After five years of exploration and excavation, a team of archaeologists has uncovered a 127-kilometer (79-mile) wall — which locals have called “Vietnam’s Great Wall.”

Professor Phan Huy Lê, president of the Vietnam Association of Historians, said: “This is the longest monument in Southeast Asia.”

The wall is built of alternating sections of stone and earth, with some sections reaching a height of up to four meters.

In 2005, Dr. Andrew Hardy, associate professor and head of the Hanoi branch of École Française d’Extrême-Orient (French School of Asian Studies), found an odd reference to a “Long Wall of Quang Ngai” in an 1885 document compiled by the Nguyen Dynasty court entitled, “Descriptive Geography of the Emperor Dong Khanh.”

It sparked his imagination and a major exploration and excavation project for a team led by Hardy and Dr. Nguyen Tien Dong, an archaeologist at the Institute of Archaeology (Vietnam Academy of Social Sciences). The wall was discovered after some five years of work.

It stretches from northern Quang Ngai Province south into the province of Binh Dinh and is arguably the greatest engineering feat of the Nguyen Dynasty.

Construction of the Long Wall started in 1819 under the direction of Le Van Duyet, a high-ranking mandarin serving Emperor Gia Long.

Despite the locals’ nickname referencing the Great Wall of China, the Vietnam Wall is more like Hadrian’s Wall — a Roman-era wall on the border of England and Scotland.

Like Hadrian’s Wall, the Quang Ngai wall was built along a pre-existing road. More than 50 ancient forts have been identified along its length, established to maintain security and levy taxes.

There is evidence to suggest that many of the forts, markets and temples built along the road are much older than the wall itself.

It served to demarcate territory and regulate trade and travel between the Viet in the plains and the Hrê tribes in the mountain valleys.

Research suggests it may have been built in cooperation between both the Viet and the Hrê.

According to experts, the wall’s construction was in the interests of both communities, and inhabitants in both zones tell stories about how their respective ancestors built the wall to protect their territory from incursions by the other side.

An application for National Heritage status is now being processed with the ambition of turning the Long Wall into an international tourist attraction.

During a visit to Quang Ngai by international experts in 2010, Christopher Young, Head of International Advice at English Heritage, said: “The Long Wall presents an enormous opportunity for research, careful conservation and sustainable use.”

Quang Ngai’s Long Wall is not the province’s only potential resource for tourism. The area also boasts a lush, mountainous countryside, hot springs, an offshore volcanic island, coral reefs and miles of pristine beaches.

Spread across the province, there are also sites of cultural interest, including vestiges of more than a dozen ancient Cham temples, citadels and Sa Huynh burial grounds dating as far back as 1000 BC.

Most notable among them is the well-preserved Chau Sa Citadel, built in the ninth century.

But the development of the wall for tourism is not without hurdles, given the history of the region.

Quang Ngai is the province where the infamous My Lai massacre occurred in 1968 when U.S. servicemen killed more than 300 apparently unarmed civilians.

Although a museum memorializing the tragedy was built in cooperation with U.S. specialists, the area has remained politically sensitive and under tight government control.

Until recently, the government has been reluctant to allow foreigners to visit some minority communities.

If the endeavor to develop the wall for tourism is successful, it will require the government to promote adventure trekking and cycling through previously isolated highland communities on an unprecedented scale.

That would open Vietnam up to a new kind of tourism — historical ecotourism — which goes beyond the Ministry of Tourism’s preference for packaged tours in coastal beach resorts.

It may also create the greatest trek in Southeast Asia.

 

CNN ca ngợi "Vạn lý trường thành Việt Nam"

(Dân trí) – Trường lũy Quảng Ngãi – Bình Định, di tích lịch sử, di sản của miền trung Việt Nam và cũng là thành lũy dài nhất Đông Nam Á, đã được hãng thông tấn CNN của Mỹ ngợi ca với tư cách là "Vạn lý trường thành" của riêng Việt Nam.
Một đoạn còn khá nguyên vẹn của Trường lũy Quảng Ngãi – Bình Định.

Adam Bray là phóng viên nước ngoài đầu tiên tới thăm Trường lỹ Quảng Ngãi – Bình Định ở miền Trung Việt Nam.Với anh, Trường lũy là một trong những công trình khảo cổ quan trọng nhất được phát hiện một thế kỷ qua tại Việt Nam.

 

Trường lũy Quảng Ngãi được các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước bắt đầu nghiên cứu từ năm 2005. Sau 5 năm khám phá và khai quật, các nhà khảo cổ đã phát hiện được đoạn thành dài tới 127km (riêng địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là 111km), kéo dài từ huyện Trà Bồng (tỉnh Quảng Ngãi) đến huyện An Lão (tỉnh Bình Định). Nó đi qua địa phận 9 huyện, gồm: Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Ba Tơ, Đức Phổ (Quảng Ngãi) và Hoài Nhơn, An Lão (Bình Định), chạy dọc theo dãy Trường Sơn.

 

Trường Luỹ bắt đầu được xây dựng vào năm 1819, dưới sự chỉ đạo của  Lê Văn Duyệt, một vị quan cấp cao dưới thời Hoàng đế Gia Long.

 

Tác giả dẫn lời Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho rằng: "Đây là trường thành dài nhất Đông Nam Á".

 

Trường lũy được được xây dựng bằng đá và đất đan xen, với một số đoạn cao tới 4m.

 

Năm 2002, Tiến sỹ Andrew Hardy, người đứng đầu Trường nghiên cứu châu Á Pháp, chi nhánh tại Hà Nội, đã tìm thấy thông tin về "Long thành ở Quảng Ngãi" trong cuốn "Mô tả địa thế của Hoàng Đế Đồng Khánh" được một quan triều Nguyễn biên soạn vào năm 1885.

 

Sau đó, nhóm của tiến sĩ Hardy đã tiến hành dự án thăm dò với tiến sĩ Nguyễn Tiến Đông (một nhà khảo cổ thuộc Viện Khảo cổ học). Bức tường thành đã được phát hiện sau 5 năm miệt  mài làm việc của cả nhóm.

 

Mặc dù cái tên "Trường lũy Quảng Ngãi" khiến người ta nghĩ đến Vạn lý Trường thành của Trung Quốc, nhưng "Vạn lý trường thành Việt Nam" giống với bức tường Hadrian hơn, bức tường thành dưới thời La Mã ở biên giới Anh và Scotland.

 

Giống như Bức tường Hadrian, Trường lũy Quảng Ngãi được xây dựng dọc một tuyến đường đã có sẵn. Hơn 50 đồn (pháo đài) đã được tìm thấy dọc chiều dài bức tường, nhằm đảm bảo an ninh và để thu thuế.

 

Có bằng chứng cho thấy nhiều đồn, chợ, đền thờ dọc tuyến đường có "tuổi đời" lớn hơn cả trường lũy. Bức lũy nhằm phân định ranh giới và điều hòa giao thương, đi lại giữa người Việt ở đồng bằng và người Hrê ở các thung lũng dưới núi. Các nhà nghiên cứu cho rằng Trường lũy là mồ hôi công sức hợp tác giữa người Việt và người Hrê, nhằm phục vụ lợi ích cho cả hai cộng đồng người này.

 

Nằm dọc tỉnh Quảng Ngãi, Trường luỹ đi qua nhiều địa hình khác nhau. Cũng vì thế, việc xây dựng nó cũng rất đa dạng. Ở địa hình bằng phẳng, luỹ đơn giản chỉ được đắp bằng đất, nơi sườn núi có độ dốc vừa phải, luỹ được đắp cốt đất ở trong và ốp đá ở ngoài.

Đây là cách mà người xưa chống lại hiện tượng trôi trượt của luỹ trên sườn đồi, núi. Những địa hình có độ dốc lớn, hoặc trên đỉnh những ngọn núi cao thì Trường luỹ được xây hoàn toàn bằng đá. Với kỹ thuật xếp đá khéo léo của người xưa, khiến cho luỹ có độ bền cao, không bị sạt lở, trôi trượt, dù đã hàng trăm năm qua đi.

 

Theo các nhà nghiên cứu, khảo cổ thì hiện tại di tích Trường Lũy còn nguyên vẹn, đặc biệt là vùng núi, lũy và đồn xây dựng bằng đá. Còn ở những nơi địa hình thấp bằng phẳng, lũy được đắp bằng đất đang bị xâm hại bởi việc canh tác nông nghiệp của người dân địa phương, nhiều nơi bị phá để làm đường giao thông và cũng có không ít nơi bị tàn phá do thời gian và thiên tai…

 

Hiện Trường lũy đang trong quá trình xét duyệt để được công nhận là Di sản quốc gia, nhằm biến Trường lũy thành một địa điểm du lịch quốc tế.

 

Ngoài ấn tượng về "Vạn lý trường thành Việt Nam", tác giả Adam Bray còn ấn tượng về tiềm năng du lịch của Quảng Ngãi. Tỉnh tự hào với những miền quê trập trùng đồi núi, suối nước nóng, đảo núi lửa ngoài khơi, thềm san hô và những bãi biển nguyên sơ dài bất tận.

 

Trải rộng khắp tỉnh là những địa điểm văn hóa độc đáo, với di tích của hơn chục tháp Chàm cổ, những thành lũy và những khu lăng mộ Sa Huỳnh có từ năm 1000 trước Công nguyên.

 

Ngoài ra, tác giả Mỹ cũng không quên nhắc đến Quảng Ngãi là nơi xảy ra vụ thảm sát Mỹ Lai đau lòng vào năm 1968, khi lính Mỹ giết hại hơn 300 thường dân.

 

Phan Anh

Tổng hợp


Filed under: Thảo luận bằng tiếng Anh, Văn Hóa Tagged: Thảo luận bằng tiếng Anh, Văn Hóa

Mô hình phát triển nông nghiệp bền vững của Malaysia

Posted: 27 Jan 2011 01:03 PM PST

 

Ấn tượng sâu sắc nhất trong cuộc đời khoa học của tôi có lẽ là buổi gặp gỡ với Thủ tướng Tunku Abdul Rahman của Malaysia vào tháng 6-1968 khi ngài tiếp đoàn thanh niên châu Á đang viếng đất nước cựu thuộc địa Anh sản xuất nhiều cao su và kẽm nhất thế giới này. Ông Tunku say sưa giảng cho bọn thanh niên chúng tôi rằng trong vòng 20 năm nữa Malaysia sẽ là nước chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu dầu cọ.

Nhóm thanh niên chúng tôi rất ngạc nhiên với sự quả quyết đó, nhất là khi chúng tôi không hiểu rõ cây cọ dầu là thứ gì mà được chú ý hơn cây lúa như vậy. Ông Tunku giải thích: chọn cây cọ dầu làm cây chiến lược, vì đó là nguyên liệu cần thiết cho bữa ăn hằng ngày của người nào muốn giữ cho chất cholesterol trong máu không tăng, chắc chắn mọi người – nhất là những người giàu- sẽ là khách hàng thường xuyên.

Thị trường là mắt xích được xác định đầu tiên trong kế hoạch phát triển nông thôn tổng hợp. Các khâu kế tiếp được tổ chức một cách đồng bộ nhắm vào đích chiếm lĩnh thị trường bằng một loạt biện pháp chính sách. Chiến lược của Thủ tướng Tunku nhằm vào hai đối tượng: các doanh nghiệp có vốn sản xuất và hàng vạn người dân nghèo ở thành phố và nông thôn không đất đai canh tác.

Đối với doanh nghiệp đang sản xuất, Ông Tunku đặt ra chính sách khuyến khích họ hưởng ứng kế hoạch trồng cọ dầu, cụ thể là Chính phủ đầu tư nghiên cứu giống cọ dầu tốt nhất, phương pháp canh tác thích hợp nhất cho các vùng đất cọ dầu khác nhau của Malaysia. Những kỹ thuật này được đưa cho ngành khuyến nông để sẵn sàng hướng dẫn nông dân. Đồng thời Chính phủ công bố chính sách miễn thuế 10 năm đầu cho những ai đầu tư trồng cọ dầu trên đất mới khai phá, và miễn thuế năm năm đầu cho những trang trại cao su già cỗi chuyển sang trồng cọ dầu. Đối với những người dân khai khẩn đất mới để trồng cọ dầu, Nhà nước cho vay ưu đãi để họ hăng hái bỏ công sức lập trang trại cọ dầu.

Đối với dân nghèo, không đất canh tác, Ông Tunku giao cho Bộ Nông nghiệp và Bộ Kế hoạch qui hoạch vùng sản xuất trên đất rừng đang khai thác, giao cho FELDA (Cơ quan phát triển đất đai Liên bang Malaysia, thành lập năm 1956) là một tổ chức phát triển nông nghiệp bền vững rất thành công của Malaysia, lập dự án vay vốn Ngân hàng Thế giới để xây dựng những nông trường cọ dầu (dân Malaysia quen gọi là nông trường FELDA) trên các vùng qui hoạch ấy. Vốn Ngân hàng Thế giới được dùng vào việc kiến thiết mặt bằng, phân lô đất, xây nhà ở cho nông trường viên, xây đường giao thông trong nông trường, xây chợ, trạm xá, nhà trẻ, trường học, bưu điện và nhà máy sơ chế dầu cọ. Người dân được chọn vào FELDA ký nhận nợ để lãnh một nhà ở, một lô đất, giống cây và phân bón. Nợ này phải trả trong vòng 20 năm theo qui định của Ngân hàng Thế giới. Chủ hộ được ngành nông nghiệp hướng dẫn trồng cây cọ dầu, nhận phân bón và các vật liệu khác. Khi cây cọ có trái, chủ hộ thu hoạch trái cọ dầu, giao cho nhà máy sơ chế trong nông trường, và bắt đầu được trừ nợ. Phần lớn họ trả xong nợ trong vòng 15 năm, cái nhà và lô đất hoàn toàn thuộc quyền sở hửu của chủ hộ. Song song với hoạt động nghiên cứu nông nghiệp, Nhà nước lập Viện Nghiên cứu chế biến các loại thực phẩm từ dầu cọ, và khuyến khích xây dựng các nhà máy tinh chế dầu cọ xuất khẩu. Chính phủ đồng thời cũng lập thêm Cục Xúc tiến tiêu thụ dầu cọ đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu các mặt hàng từ dầu cọ. Tố chất "đồng bộ" trong thực hiện kế hoạch phát triển nông công nghiệp và thương mại dầu cọ trên đây đã bảo đảm ngôi vị quốc gia xuất khẩu dầu cọ số 1 thế giới từ năm 1988, đúng như đường hướng vạch ra 20 năm trước của vị lãnh tụ chiến lược tài giỏi của Malaysia. Con đường dẫn đến thành công của mô hình này rất đáng để những nhà lãnh đạo Việt Nam áp dụng sớm hầu có thể chấm dứt nạn nông dân mất đất không nơi làm ăn sinh sống như hiện nay.

Từ cơ sở này, trong bối cảnh đất chật, người đông, chúng tôi đề xuất: chúng ta nên mạnh dạn dẹp bỏ tâm lý "lấn rừng" để tổ chức trồng mới một số cây đặc sản của từng vùng sinh thái trên đất nước ta, thí dụ như vùng sinh thái Phú Quốc có cây tiêu, cây sim; vùng sinh thái đồng bằng bắc bộ có cây vải thiều, khoai tây, v.v. Những người dân bị thu hồi đất và dân không đất đai nhà cửa sẽ được nhận vào thực hiện các dự án phát triển công nông nghiệp và du lịch sinh thái. Quỹ tiền thay vì dung để đền bù cho dân bị thu hồi đất sẽ dùng cho xây dựng khu trang trại, còn thiếu sẽ vay Ngân hàng Đầu tư Phát triển. Người dân được di dời về đây, không chỉ thu hoạch và bán nông sản chất lượng cao và thuần nhất, và nhiều nông sản khác cho doanh nghiệp xuất khẩu mà còn kinh doanh thông qua hình thức "du lịch nhà vườn, thưởng thức đặc sản" vừa tăng thêm mô hình hấp dẫn du khách, vừa góp phần tăng thu nhập cho nông dân. Khi đó, người dân sẽ dồn sức chăm sóc vườn cây của mình làm tốt chức năng che phủ hơn cả nền rừng nghèo trước đó. Còn Nhà nước cũng không phải nơm nớp canh người dân nghèo khai thác tài nguyên rừng kiếm sống với những hệ lụy khó lường.


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Việt Nam tìm biểu tượng du lịch mới

Posted: 27 Jan 2011 01:02 PM PST

BBC

Biểu tượng đoạt giải nhất của cuộc thi
Biểu tượng đoạt giải nhất của cuộc thi

Tổng cục Du lịch Việt Nam vừa có cuộc thi tiêu đề và biểu tượng cho chương trình xúc tiến du lịch mới 2011-2015.

Kết thúc cuộc thi, ban tổ chức chọn lọc được ba biểu tượng cùng ba tiêu đề đi kèm, nhằm tiến tới lấy một làm biểu trưng chính thức cho du lịch Việt Nam những năm tới.

Đoạt giải nhất là biểu tượng hình ngôi sao năm cánh có sọc chéo bốn màu đỏ, xanh lá cây, xanh nước biển và vàng, đi cùng tiêu đề Việt Nam – Sự khác biệt Á Đông (Vietnam – A different Orient).

Biểu tượng này được nhận xét là sống động và độc đáo.

Giải hai được trao cho biểu tượng với ba hình trăng khuyết, tượng trưng cho cánh diều, và tiêu đề Việt Nam – Đất nước của những nụ cười.

Giải ba là tiêu đề Việt Nam – Niềm tự hào châu Á với chữ châu Á viết bằng tiếng Anh là Asia được cách điệu.

Biểu tượng giải nhất sẽ được sử dụng chính thức trong các hoạt động khuyếch trương du lịch Việt Nam, thay cho biểu tượng bông sen cách điệu và tiêu đề cũ Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn (Vietnam – the hidden charm).

Tiêu đề Vẻ đẹp tiềm ẩn, sử dụng từ năm 2006, nhất là khi dịch sang tiếng Anh, đã bị nhiều người chỉ trích là tối nghĩa.

Thông thường các quốc gia đều có biểu tượng và tiêu đề cho các chiến dịch marketing du lịch của mình.

Ngân sách marketing của Việt Nam khá nhỏ bé so với các quốc gia khu vực như Thái Lan, Malaysia… tuy những năm gần đây ngành du lịch Việt Nam đã bắt đầu sử dụng quảng cáo trên các đài báo nước ngoài.

Năm 2010, Việt Nam đón trên 5 triệu khách quốc tế, vượt chỉ tiêu 4,2 triệu đề ra. Tuy nhiên con số này chưa thấm tháp vào đâu so với nước láng giềng Thái Lan với gần 16 triệu lượt khách, cho dù năm qua nước này xảy ra nhiều biến động.


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

VN phản đối bản đồ trực tuyến của TQ

Posted: 27 Jan 2011 01:01 PM PST

BBC

Đường đỏ đánh dấu yêu sách chủ quyền của Trung Quốc

Việt Nam lại lên tiếng phản đối Trung Quốc chính thức công bố bản đồ trực tuyến với đường yêu sách chín đoạn, gọi đây là việc làm ‘vi phạm chủ quyền’.

Đây là lần thứ hai Việt Nam phản đối bản đồ gây tranh cãi này.

Hôm 18/01, Cục Đo đạc Bản đồ Quốc gia Trung Quốc đã đã chính thức cung cấp dịch vụ bản đồ trực tuyến Map World, trong đó thể hiện đường yêu sách chín đoạn, bao trùm lên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền.

Tháng 11 năm ngoái, bản đồ trực tuyến này ra mắt người sử dụng và lúc đó người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng đã lập tức lên tiếng.

Tuy nhiên lần này, phản đối của phía Việt Nam được đưa ra hơi chậm trễ.

Người phát ngôn Nguyễn Phương Nga tuyên bố hôm 26/01 với nội dung đã nói từ lần trước: “Việc Cục Đo đạc Bản đồ quốc gia Trung Quốc chính thức cung cấp dịch vụ bản đồ trực tuyến … là vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam và của các nước ven biển Đông, hoàn toàn trái với các quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

“Việt Nam phản đối việc làm này của Trung Quốc và yêu cầu Trung Quốc gỡ bỏ ngay những nội dung sai trái trong các bản đồ nói trên.”

Phía Trung Quốc trước tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam cuối năm ngoái đã không phản ứng gì, nhưng cũng không sửa đổi chi tiết.

Xuất bản sách về đường biên giới Việt-Trung

Trong khi đó, cuốn sách đầu tiên về đường biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc vừa ra mắt tại Hà Nội.

Sách ‘Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc’ có năm chương nói về quá trình đàm phán dẫn đến việc ký kết Hiệp ước Biên giới đất liền năm 1999, rồi công việc phân giới cắm mốc trên thực địa, kết thúc cuối năm 2009…

Sách cũng kèm theo 100 trang phụ lục bao gồm các sơ đồ, hình ảnh và văn bản liên quan tới đường biên giới đất liền Việt-Trung.

Giáo sư Vũ Dương Ninh từ Đại học Quốc gia Hà Nội, chủ biên cuốn sách, nói với BBC đây là “công trình tập thể” giữa các nhà sử học, luật học và ngoại giao, những người từng “theo dõi và tham gia vào quá trình đàm phán” biên giới đất liền Việt-Trung.

Theo Giáo sư Ninh, cuốn sách sẽ giúp giải tỏa các thắc mắc của người quan tâm tới chủ đề đường biên giữa hai quốc gia Việt Nam-Trung Quốc, và cho thấy chi tiết quá trình đàm phán mà ông đánh giá là “rất kiên trì” và “đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết”.

Theo kế hoạch, sách ‘Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc’ sẽ được dịch sang tiếng Anh và đưa lên mạng internet để phổ biến rộng rãi.


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

No comments:

Post a Comment