Sunday, June 5, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Ơi cuộc sống mến thương

Posted: 05 Jun 2011 01:07 PM PDT

Chào các bạn,

Nhạc Xanh hôm nay giới thiệu với các bạn một bài hát rất quen thuộc và dễ thương “Ơi cuộc sống mến thương”. 

Khi nghe bài hát này bạn có nhận ra bài hát dành cho lứa tuổi nào không? Có thể một số bạn rành về âm nhạc sẽ nói ngay đây là bài hát dành cho thiếu nhi, nhưng nếu như bạn không biết điều đó và cũng không nhận ra đây là bài hát dành cho thiếu nhi, thì có nghĩa bạn có một tâm hồn rất trẻ thơ rồi đấy :)  

Chẳng phải những “người lớn” chúng ta, sau bao vật lộn của cuộc sống, lại chỉ mơ một giấc mơ nhỏ bé là trở lại với thời thơ ấu, khi cuộc sống trong mắt mình thật đẹp và tươi hồng biết bao. Nhưng chẳng phải là cuộc sống của chúng ta vẫn đẹp phải không các bạn? Hãy nhìn chú chim non bay lượn tự do trên bầu trời, hãy ngắm những bông hoa mới nở sớm mai, hãy dành cho mình một phút bình yên tĩnh lặng. Hẳn bạn sẽ thấy cuộc sống này “tuy vất vả, nhưng cuộc đời ta mến thương”. 

Ơi cuộc sống mến thương

Sáng tác: Nguyễn Ngọc Thiện

Có chú chim non nho nhỏ
Cất tiếng líu lo như muốn ngỏ
Cuộc sống quanh ta tuy xao động
Như bầu trời xanh ươm ước mơ

Này chú chim ơi cho nhắn gửi
Lời hát tin yêu trong trái tim mọi người
Cuộc sống hôm nay tuy vất vả
Nhưng cuộc đời ơi ta mến thương

Ta đã nghe trong tim mình
Lời yêu thương đang rực rỡ
Ta đã nghe trong tim mình
Lời yêu thương của con người

Nếu mỗi chúng ta đối xử với nhau bằng tình yêu thay vì thù hận, ghen ghét, nếu mỗi chúng ta nhìn cuộc đời bằng ánh mắt trẻ thơ, trong sáng và vô tư thay vì những toan tính cá nhân, thì cuộc sống này sẽ trở nên đáng yêu và đáng sống hơn rất nhiều phải không bạn?

Chúc các bạn một ngày mến thương.

Hoàng Khánh Hòa 


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Tích cực trong tình huống căng thẳng

Posted: 05 Jun 2011 01:05 PM PDT

Chào các bạn,

Những tình huống căng thẳng bức xúc, như là tình huống hiện tại với Trung quốc tăng cường các hành động gây hấn tại Biển Đông, là lúc mà những vị thầy tư duy tích cực cần tích cực hướng dẫn mọi người để biến những căng thẳng tiêu cực thành lợi tích tích cực, và tạo năng lượng tích cực cho đất nước và thế giới. Như là:

- Mọi công dân cùng đoàn kết, làm việc nhịp nhàng cùng nhau và cùng với các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, để cùng giải quyết vấn đề một cách đồng bộ.

- Mọi công dân cần tăng cường ‎ý thức yêu nước.

- Muốn biểu tình bày tỏ thái độ bức xúc đối với các hành vi gây hấn thì biểu tình bày tỏ điều đó, nhưng đừng chửi bới dân Tàu. Ví dụ: "Phản đối Trung quốc vi phạm chủ quyền VN", "Phản đối Hải quân Trung quốc tấn công tàu bè và ngư dân Việt Nam"… Và đừng nói, "Dân Trung quốc chó má", "Dân Trung quốc là ăn cướp"…

Chửi bới là tiêu cực. Lời tiêu cực luôn luôn hủy hoại trước hết là trái tim và sự khôn ngoan của người nói. Chúng ta không thể quên được quy luật hết sức căn bản này.

- Mọi hành vi công cộng như viết báo hay biểu tình, luôn luôn bày tỏ thái độ đoàn kết trong chiến lược chung. Đừng cho người ta thấy chúng ta có một chút chia rẽ nào.

- Tích cực sử dụng các diễn đàn và định chế quốc tế để thế giới thấy Việt Nam hiếu hòa và tôn trọng công pháp quốc tế, đồng thời tạo đoàn kết giữa các quốc gia ASEAN: Liên Hợp Quốc, ASEAN, APEC (Asia Pacific Economic Cooperation forum), Diễn Đàn An Ninh Á Châu (Shangri-La Dialogue), ADMM Plus (ASEAN Defence Ministers Meeting Plus)…

- Tích cực gia tăng quan hệ và tìm đồng minh ngoài khối ASEAN nhưng ở trong vùng Thái Bình Dương, như Mỹ, Úc, Canada, Nhật, Nam Hàn, Ấn độ.

- Gia tăng quan tâm đến an ninh quốc phòng, nhất là Biển Đông.

- Chuẩn bị ứng phó với những tình huống có thể xảy ra tại Biển Đông về mọi mặt—quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao.

- Bảo vệ hàng hóa và kỹ nghệ nội địa, và giảm bất quân bình cán cân ngoại thương với Trung quốc, bằng cách không mua và không dùng hàng Trung quốc. (Đây cũng như là tẩy chay hàng Trung quốc, nhưng động lực chính là bảo vệ hàng hóa và kỹ nghệ của mình trước sức tấn công của hàng Trung quốc).

- Gia tăng trao đổi văn hóa và nghệ thuật với nhân dân Trung quốc, để nhân dân Trung quốc hiểu người Việt rõ hơn là các kênh TV của nhà nước Trung quốc.

- Gia tăng các đàm thoại quốc phòng với Trung quốc, để giảm thiểu các hiểu lầm có thể xảy ra.

Nói chung là chuẩn bị đứng vững để bảo vệ thành trì nhưng chẳng phải tiêu cực về điều gì cả, kể cả đối với nhân dân và chính phủ Trung quốc.

Bất kỳ năng lượng tiêu cực nào cũng có hại. Chúng ta có thể làm mọi việc cần làm, với tư duy tích cực. Những tình huống căng thẳng tự chính chúng có khả năng tạo ra năng lượng tiêu cực. Nhưng lãnh đạo phải biết biến những vấn đề tiêu cực thành cơ hội tạo năng lượng tích cực để năng lượng tích cực sinh ra mọi điều tích cực cho ta.

Chúng ta không thể để chúng ta trở thành tiêu cực trong tư duy và hành động mỗi khi đụng chuyện căng thẳng. Tĩnh lặng, tính toán, và luôn tích cực trong mọi tính toán, như thế thì ta đã thắng trận đánh quan trọng nhất trong cuộc chiến–năng lượng tiêu cực của chính ta đã không có cơ hội trỗi dậy để đánh ta gục ngay từ đầu.

Và năng lượng tích cực ta tạo ra sẽ tự nó đưa đến các điều tích cực.

Trong những tình huống căng thẳng của đất nước, mỗi hành giả thực hành tư duy tích cực như chúng ta có nhiệm vụ truyền giảng tư duy tích cực đến tất cả mọi người, để toàn dân đều có được một thái độ tích cực nhịp nhàng và đồng bộ trong việc giải quyết những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Chúc các bạn một ngày chiến thắng.

Mến,
Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Speech of US Secretary of Defense Robert Gates, June 4, 2011 – Chính sách an ninh của Mỹ ở châu Á Thái Bình dương

Posted: 05 Jun 2011 01:04 PM PDT

(Phần tiếng Việt theo sau)

International Institute for Security Studies (Shangri-La Dialogue)

As Delivered by Secretary of Defense Robert M. Gates, Shangri-La Hotel, Singapore, Saturday, June 04, 2011


Thank you, John, for that kind introduction.

And congratulations to the International Institute for Strategic Studies on reaching this important milestone with the tenth Shangri-La Security Dialogue.  This conference, in that relatively short span of time, has become a vital forum for encouraging dialogue and understanding among the participant countries.

I'd also like to extend my thanks to the government of Singapore for hosting us once again, and to the Shangri-La hotel staff for all their hard work as well.  Although the mix of weighty topics and senior governmental officials is clearly the main draw for attendees, I've long suspected that one of the key reasons people keep coming back to this event is the wonderful hospitality of this hotel and this city.

Indeed, this is the fifth consecutive year I've participated in this dialogue as Secretary of Defense, and as you know, it will be my last.  The opportunity to lead the United States Department of Defense for four and a half years has been an extraordinary honor, for which I thank both President Bush and President Obama.  It has also given me perspective on the principal subject I want to discuss today: the enduring and consistent nature of America's commitments in Asia, even in times of transition and change.

As someone who will leave government having served eight presidents, I know something about the uncertainty that transitions can cause.  In fact, I've touched on this subject in my remarks here before.  At the 2008 session, not knowing what the outcome of the United States presidential election would be – and certainly not thinking that I would be a member of the new administration – I said that the next American president would be almost certain to sustain our engagement and our presence in this region.  As the record shows, and my speech I hope will make clear, under President Obama that engagement has not only been sustained, it has been broadened and enhanced in a variety of ways.  And I believe the same will hold true with respect to U.S. defense policy under Leon Panetta, the distinguished statesman nominated as my successor.

Nonetheless, we meet today at a time when the United States faces a daunting set of challenges at home and abroad.  When questions are being raised about the sustainability and credibility of our commitments around the world.  These questions are serious and legitimate.

No doubt, fighting two protracted and costly wars in Iraq and Afghanistan has strained the U.S. military's ground forces, and worn out the patience and appetite of the American people for similar interventions in the future.   On the domestic front, the United States is emerging slowly from a serious recession with huge budget deficits and growing debt that is putting new scrutiny and downward pressure on the U.S. defense budget.

These are some of the stark realities we face, to be sure.  But at the same time, it is important, in this place, before this audience, to recognize an equally compelling set of facts with respect to America's position in Asia.  A record demonstrating that, irrespective of the tough times the U.S. faces today, or the tough budget choices we confront in the years to come, that America's interests as a Pacific nation – as a country that conducts much of its trade in the region – will endure.  And the United States and Asia will only become more inextricably linked over the course of this Century.  As I hope my presentation today will show, these realities, and this understanding – shared by U.S. leaders and policy makers across the political spectrum – argue strongly for sustaining our commitments to allies while maintaining a robust military engagement and deterrence posture across the Pacific Rim.

This statement is underscored by the significant growth in the breadth and intensity of U.S. engagement in Asia in recent years – even at a time of economic distress at home and two major military campaigns ongoing in Iraq and Afghanistan.  Three years ago, I spoke at this gathering and touted the fact that I was on my fourth major trip to Asia-Pacific in the previous 18 months.  Now, I can report that this is my fourteenth Asia trip over the last four and a half years.    Next month, Secretary of State Clinton will embark on her eighth trip to Asia, and President Obama has made a major Asia trip each year he has been in office.

Indeed, one of the most striking – and surprising – changes I've observed during my travels to Asia is the widespread desire across the region for stronger military-to-military relationships with the United States – much more so than during my last time in government 20 years ago.

Our engagement in Asia has been guided by a set of enduring principles that have fostered the economic growth and stability of the region.  I spoke about these principles last year, but I think it is worth reiterating our commitment to them once more today:

  • Free and open commerce;
  • A just international order that emphasizes rights and responsibilities of nations and fidelity to the rule of law;
  • Open access by all to the global commons of sea, air, space, and now, cyberspace; and
  • The principle of resolving conflict without the use of force.

The commitment and presence of the United States as a Pacific nation has been one of relatively few constants amidst the furious changes in this region over the past half-century.  But as this region has changed, America has always shown the flexibility not only maintain our presence in the Asia-Pacific, but to enhance it – by updating relationships, developing new capabilities, and transforming our defense posture to meet the challenges of the day.

For example, after fighting a devastating war, the United States and Japan built an alliance that has weathered innumerable tests and proven to be a cornerstone of stability in the region.  The most recent and compelling display of the value of our alliance was the sight of the U.S. and Japanese troops working together to bring aid and sustenance to the survivors of the horrific earthquake and tsunami in March.

Consider that within 24 hours of the earthquake, the United States initiated Operation TOMODACHI to deliver assistance to the affected areas in support of the Japanese Self-Defense Forces – more than 100,000 of whom had been mobilized by the Japanese government.  At the peak of these closely coordinated joint relief efforts, the United States had more than 24,000 personnel, 190 aircraft, and 24 ships supporting Japan's response.  The U.S. military and Japanese Self-Defense Forces delivered relief supplies to affected communities, repaired transportation infrastructure, and searched for survivors along the affected coast line.  This effort demonstrated the high-level of interoperability between the U.S and Japanese defense forces and served to validate years of investments by both nations in combined training and capabilities.  Today it is clear that the alliance not only has survived this tragedy, but emerged even stronger and even more vital.

The U.S. alliance with the Republic of Korea remains another pillar of our Asia-Pacific security strategy – one that has emerged out of its Cold War origins to confront a new array of security challenges in the region and globally as well.  Our two militaries continue to develop our combined capabilities to deter and defeat, if necessary, North Korean aggression.  But the U.S.-ROK alliance is not designed to simply stand against another nation.  It must also stand for something, in order to be meaningful and to endure.  In this respect, our efforts to build a truly "global" alliance and to work with others in response to crisis situations around the world, such as in Haiti or Afghanistan, demonstrate our collective commitment to promote stability and prosperity beyond Korea's shores as well.

Not only in Korea, but in nations across Asia, Cold War turbulence has given way to new partnerships and cooperation.  Out of an era of conflict that left an indelible imprint on both our peoples, the United States and Vietnam have forged ahead and built a strong and vibrant bilateral relationship.  Together, the United States and Vietnam have demonstrated how to build upon the past without being bound to repeat it.  This commitment to overcome seemingly insurmountable obstacles led us to where we are today: partnership on a range of issues including trade and investment, education and health, and security and defense.

We are also now working together with China to build a positive, cooperative, and comprehensive relationship.  In that effort, we are seeing the fruits of bold decisions by three American presidents in the 1970s, Republicans and Democrats, to build a rapport between the two nations that ultimately resulted in the normalization of relations in 1979.  It was one of the highlights of my professional career to serve as a young staff assistant in the White House when that process unfolded.

Thirty years later, as Secretary of Defense, I have made it a priority to build military-to-military ties with China, which have steadily improved in recent months.  Last January, I had a very positive visit to China, and just a few weeks ago our Chairman of the Joint Chiefs of Staff, Admiral Mullen, hosted General Chen, Chief of the PLA General Staff, for a week-long visit to the United States, where General Chen was shown a number of different U.S. military installations.  It's always my pleasure to meet again with pleasure dialogue, and we are very pleased to see him here at the Shangri-La dialogue.

Also remarkable is the transformation in the U.S.-India relationship over the past decade – from an uneasy coexistence during the Cold War to a partnership based on shared democratic values and vital economic and security interests.  A partnership that will be an indispensable pillar of stability in South Asia and beyond.  Whether countering piracy, increasing participation in multilateral venues, or aiding the development of Afghanistan, our partnership is playing a vital role.

Although bolstering our bilateral relationships in the region has been a key priority in the Asia-Pacific area, the United States has also made a major commitment to help foster new multilateral cooperation.  One of the critical challenges of the Asian security environment has long been the lack of strong mechanisms for cooperation between nations in the region.  Over the past few years, I have made it a personal priority to support efforts underway to remedy this problem.  This is the reason that last year the United States was the first non-ASEAN nation to accept the invitation to join the ASEAN Defense Ministers Plus forum.  It was an honor to attend the inaugural meeting of the ADMM-Plus in Hanoi last October, and I am optimistic that it will be a key body for making progress on a number of issues of shared interest – including maritime security, humanitarian assistance and disaster relief, and peacekeeping operations.

Maritime security remains an issue of particular importance for the region, with questions about territorial claims and the appropriate use of the maritime domain presenting on-going challenges to regional stability and prosperity.  The U.S. position on maritime security remains clear: we have a national interest in freedom of navigation; in unimpeded economic development and commerce; and in respect for international law.  We also believe that customary international law, as reflected in the UN Convention on the Law of the Sea, provides clear guidance on the appropriate use of the maritime domain, and rights of access to it.  By working together in appropriate regional and multilateral fora, and adhering to principles that we believe are of benefit to all in the region, we can ensure that all share equal and open access to international waterways.

Experience consistently shows that pursuing our common interests together increases our common security.  As I have stated before, providing for security and upholding the principles I mentioned earlier is not the task of any one nation alone, but the shared responsibility of all nations.  This is the one reason we have placed a premium on building the partner capacity of friends in the region and enhancing the role of multilateral cooperation and organizations in Asia-Pacific security affairs.

Even so, we recognize that the American defense engagement – from our forward deployed forces to exercises with regional partners – will continue to play an indispensable role in the stability of the region.   Although much of the press in both the United States and the region has been focused in recent years on our efforts to modernize our basing arrangements with traditional allies in Northeast Asia – and our commitment to those efforts is absolute – we've taken a number of steps towards establishing a defense posture across the Asia Pacific that is more geographically distributed, operationally resilient, and politically sustainable.  A posture that maintains our presence in Northeast Asia while enhancing our presence in Southeast Asia and into the Indian Ocean.

For example, this past November, the U.S. and Australia established a force posture working group tasked with expanding opportunities for our two militaries to train and operate together – to include alliance arrangements that would allow for more combined defense activities and shared use of facilities.

Together, we are evaluating a range of options, including:

  • Increasing our combined naval presence and capabilities to respond more readily to humanitarian disasters;
  • Improving Indian Ocean facilities – a region of growing international importance;  and
  • Expanding training exercises for amphibious and land operations, activities that could involve other partners in the region.

In Singapore, we are strengthening our bi-lateral defense relationship within the context of the Strategic Framework Agreement and pursuing more operational engagement – most notably, by deploying U.S. Littoral Combat Ships to Singapore.  We are examining other ways to increase opportunities for our two militaries to train and operate together, to include:

  • Prepositioning supplies to improve disaster response;
  • Improving command and control capabilities; and
  • Expanding training opportunities to help prepare our forces for the challenges both militaries face operating in the Pacific.

Although we will continue to maintain and enhance our traditional presence in the Asia-Pacific region through efforts such as these, we believe that U.S. presence, and the associated impact and influences should not solely be measured in terms of conventional metrics, or "boots on the ground."   In the coming years, the U.S. military is going to be increasing its port calls, naval engagements, and multilateral training efforts with multiple countries throughout the region.  These types of activities not only broaden and deepen our relationships with friends and allies, they help build partner capacity to address regional challenges.

Taken together, all of these developments demonstrate the commitment of the United States to sustaining a robust military presence in Asia – one that underwrites stability by supporting and reassuring allies while deterring, and if necessary defeating, potential adversaries.

No doubt, sustaining this forward military presence and commitments is costly, and cannot be disentangled from the wider discussions of the U.S. fiscal predicament in general, and the pressures on our defense budget in particular.  I know this topic is top of the mind at this conference and around the region.

As I noted at the beginning of my remarks, the U.S. faces some serious fiscal challenges at home, and the defense budget – even if not the cause of America's fiscal woes – must be at least part of the solution.  Anticipating this scenario, I have spent that last two years carving out as much budget space as possible by cancelling troubled or unneeded weapons programs and culling excess overhead.

As I said at a speech last week, having removed the most troubled and questionable weapons programs from the budget, we are left with modernization efforts that our defense leaders have deemed absolutely critical to the future – relating to air superiority and mobility, long-range strike, nuclear deterrence, maritime access, space and cyber, and intelligence, surveillance and reconnaissance.  Though the review is not complete, I am confident that these key remaining modernization programs – systems that are of particular importance to our military strategy in Asia – will rank at or near the top of our defense budget priorities in the future.

Many of those key modernization programs would address one of the principal security challenges we see growing over the horizon:  The prospect that new and disruptive technologies and weapons could be employed to deny U.S. forces access to key sea routes and lines of communication.

The U.S. Navy and Air Force have been concerned about anti-access and area denial scenarios for some time.  These two military services are working together to develop a new concept of operations – called "Air-Sea Battle" – to ensure that America's military will continue to be able to deploy, move, and strike over great distances in defense of our allies and vital interests.

The record of growing U.S. engagement in Asia, combined with the investments being made in capabilities most relevant to preserving the security, sovereignty, and freedom of our allies and partners in the region, show that America is, as the expression goes, putting "our money where our mouth is" with respect to this part of the world – and will continue to do so.  These programs are on track to grow and evolve further into the future, even in the face of new threats abroad and fiscal challenges at home, ensuring that that we will continue to meet our commitments as a 21st century Asia-Pacific nation – with appropriate forces, posture, and presence.

Now, I acknowledge that are still some myopic souls who will argue that we cannot sustain our role in Asia-Pacific.  That there are some voices of gloom and doom who would also argue that the best days of the United States are behind it.  No doubt the challenges America faces as a nation are daunting.  But as I end my career in government, I remain completely optimistic about the prospects of the United States because I have seen first-hand the staying power and adaptability of America over the course of my life.  Indeed, history's dustbin is littered with dictators and aggressors who underestimated America's resilience, will, and underlying power.

It was forty-five years ago this summer that I first went to Washington to begin my career at the height of the U.S. buildup in Vietnam.   What lay ahead during my first decade in government were:

  • Two assassinations at home of historic consequence, with violent domestic turmoil;
  • The resignation of a president in disgrace;
  • A costly and hasty withdrawal of U.S. forces from Vietnam;  and
  • An economy battered by high inflation and high interest rates.

As I ended my first decade in government in the mid 1970s, the United States faced even more pointed questions about its place in the world, its place in Asia, and its ultimate prospects for success than it does today.  But it was during that discouraging period that the groundwork was being laid – through policies pursued by administrations of both American political parties – for the remarkable turn of events of the following decades: victory in the Cold War and the dissolution of the Soviet Union, the liberation of hundreds of millions of people behind the iron curtain and around the world, and a period of renewed global prosperity – with Asia leading the way.  And despite predictions to the contrary, America's setback in Vietnam did not spell the end of our engagement in Asia – in fact, as I mentioned earlier, we pursued a new relationship in China and have been expanding our defense partnerships in the region, including Vietnam, ever since.

There is no way we can predict the future, nor can we predict the effect that decisions made today will have a decade or two from now.  But I believe our work in Asia is laying the groundwork for continued prosperity and security for the United States and for all in the region.  It has been enormously gratifying through the course of my career to see the profound good that has come about from American engagement in Asia.  And as I leave the United States government, I have no doubt that future generations will have a similar story to tell about the benefits of American power, presence and commitment in this region.

For when America is willing to lead the way; when we meet our commitments and stand with our allies, even in troubling times; when we prepare for threats that are on the ground and on the horizon, and even beyond the horizon; and when we make the necessary sacrifices and take the necessary risks to defend our values and our interests – then great things are possible, and even probable for our country, this region, and the world.

Thank you.

Chính sách an ninh của Mỹ ở châu Á Thái Bình dương

Tại hội nghị an ninh châu Á, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert Gates nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng tăng của khu vực này, tái khẳng định cam kết hiện diện lâu dài ở Đông Á.

Bài phát biểu hôm qua của ông đề cao mối quan hệ đồng minh giữa Mỹ với Nhật Bản, Hàn Quốc; ca ngợi những bước phát triển trong quan hệ quân sự với Việt Nam; nhấn mạnh nhu cầu tiếp tục đối thoại và hiểu biết lẫn nhau hơn nữa giữa Mỹ với Trung Quốc; tái khẳng định cam kết với các bạn bè của Mỹ ở Đông Nam Á như Singapore, Philippines cũng như ở Nam Thái Bình dương và Ấn Độ Dương.

Phát biểu được đưa ra trước sự hiện diện của các phái đoàn chính phủ và quân sự cấp cao của 28 nước, cũng đề cập các nguy cơ an ninh mới, trong đó có tranh chấp chủ quyền và an ninh hàng hải trong khu vực. Ông Gates đánh giá an ninh hàng hải là một trong các chủ đề đặc biệt quan trọng trong khu vực

Tàu sân bay USS George Washington - ngôi sao của hạm đội 7 của Mỹ hoạt động ở Thái Bình Dương. Ảnh: US Navy.
Tàu sân bay USS George Washington – ngôi sao của hạm đội 7 của Mỹ. Ảnh: US Navy.

Dưới đây là trích phát biểu của ông:

…Đây là lần thứ 5 liên tiếp tôi được tham gia đối thoại quốc phòng ở diễn đàn này, và đây là lần cuối cùng. Những cơ hội đó cho tôi một góc nhìn về chủ đề chính mà tôi sẽ nói hôm nay: Cam kết lâu dài và vững chắc của Mỹ ở châu Á trong một bối cảnh đang thay đổi.

Là một người sắp rời chính phủ sau khi đã phục vụ 8 đời tổng thống, tôi hiểu phần nào sự bất định mà thời đổi thay mang đến. Trên thực tế, tôi đã đề cập chủ đề này cách đây hai năm, năm 2008, khi chúng ta chưa biết được kết quả bầu cử tổng thống Mỹ. Khi đó tôi nói rằng bất cứ tổng thống Mỹ mới nào lên cũng sẽ duy trì cam kết và sự hiện diện của Mỹ ở khu vực này.

Với những gì đã qua và với bài phát biểu của mình, tôi hy vọng có thể nói rõ rằng, dưới thời Tổng thống Barack Obama, cam kết kể trên không những được duy trì, mà còn được mở rộng và tăng cường bằng nhiều cách khác nhau. Và tôi tin tưởng rằng điều này sẽ vẫn đúng với chính sách quốc phòng Mỹ dưới thời ông Leon Panetta, một chính khách xuất sắc được bổ nhiệm là người tiếp quản vị trí của tôi.

Tuy nhiên, chúng ta gặp nhau hôm nay vào thời điểm mà nước Mỹ phải đối mặt với nhiều thách thức cả trong và ngoài nước. Khi những câu hỏi về tính bền vững và sự đáng tin cậy trong những cam kết của chúng tôi đang được đặt ra trên khắp thế giới. Đây là những câu hỏi nghiêm túc và chính đáng.

Rõ ràng, việc tham gia vào hai cuộc chiến kéo dài và tốn kém tại Iraq cũng như Afghanistan đã ảnh hưởng nhiều tới các lực lượng mặt đất của quân đội Mỹ, tác động tới sự kiên nhẫn và chờ đợi của nhân dân Mỹ đối với những sự can thiệp tương tự trong tương lai. Ở trong nước, Mỹ đang hồi phục dần sau sự suy thoái nghiêm trọng với thâm hụt ngân sách lớn và nợ gia tăng, và điều này đang khiến cho ngân sách quốc phòng của Mỹ được xét một cách kỹ lưỡng hơn và dưới sức ép hơn.

Rõ ràng là chúng tôi đang phải đối mặt với thực tế khó khăn. Nhưng vào thời điểm này, tại nơi đây và trước tất cả các vị, việc nhìn nhận một cách thực tế và công bằng vai trò của Mỹ tại châu Á là rất quan trọng. Lịch sử chỉ ra rằng, cho dù trong bất kỳ giai đoạn khó khăn hay những lựa chọn nào về ngân sách mà chúng tôi phải đương đầu, sự quan tâm của Mỹ với tư cách là một quốc gia Thái Bình Dương, một quốc gia có nhiều trao đổi thương mại tại khu vực này, vẫn sẽ được duy trì dài lâu. Mỹ cùng với châu Á sẽ tiếp tục duy trì mối quan hệ gắn bó chặt chẽ trong thế kỷ này.

Vì thế, tôi hy vọng bài thuyết trình của tôi hôm nay sẽ cho thấy những thực tế này cũng như sự nhận thức chung, được chia sẻ bởi các nhà lãnh đạo Mỹ và những người làm chính sách trong toàn chính giới, là minh chứng mạnh mẽ cho cam kết lâu bền của chúng tôi đối với các đồng minh, cũng như duy trì sự can dự mạnh mẽ và thế răn đe trong toàn vành đai Thái Bình dương.

Tuyên bố này được minh chứng bởi sự tăng trưởng đáng kể về quy mô và cường độ trong những cam kết của Mỹ tại châu Á những năm gần đây, thậm chí ngay ở thời điểm nền kinh tế Mỹ đi xuống và hai chiến dịch quân sự lớn đang diễn ra tại Iraq và Afghanistan. Ba năm trước, tôi đã nói rằng cam kết của Mỹ được thể hiện bằng thực tế là tôi đã có bốn chuyến công du quan trọng tại châu Á – Thái Bình Dương trong vòng 18 tháng. Giờ đây, tôi có thể thông báo rằng đây là chuyến đi thứ 14 của tôi tới châu Á trong vòng 4 năm rưỡi vừa qua. Tháng tới, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton sẽ có chuyến công du thứ 8 tại châu Á. Còn Tổng thống Obama sẽ có một chuyến thăm châu Á quan trọng trong năm nay, nghĩa là mỗi năm một lần kể từ khi ông lên nắm quyền.

Quả thực, một trong những thay đổi nổi bật và bất ngờ mà tôi thấy trong những chuyến thăm châu Á là mong muốn ngày một lớn tại khu vực này về mối quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Mỹ, lớn hơn rất nhiều so với 20 năm trước đây.

Cam kết của chúng tôi tại châu Á được dẫn dắt bởi những nguyên tắc lâu dài, điều khiến duy trì sự phát triển kinh tế và bền vững ở khu vực này. Tôi đã nói về những nguyên tắc này năm ngoái, nhưng tôi cho rằng vẫn cần phải nhắc lại một lần nữa hôm nay để tái khẳng định cam kết của chúng tôi:

- Thương mại tự do và công khai

- Địa vị quốc tế ngang bằng, đề cao quyền và trách nhiệm của các quốc gia, cũng như sự tuân thủ đối với nguyên tắc luật pháp

- Việc tiếp cận không hạn chế trên toàn cầu đối với biển, không gian, khoảng không và giờ đây là cả không gian ảo trên mạng Internet

- Nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn không dùng tới vũ lực.

Mỹ luôn thể hiện sự linh hoạt không chỉ ở việc duy trì sự hiện diện ở châu Á-Thái Bình Dương, mà còn ở việc tăng cường sự hiện diện này, bằng cách làm mới các mối quan hệ, phát triển những khả năng mới, và thay đổi quan điểm quân sự của chúng tôi để đối phó với những thách thức.

Ví dụ, sau một cuộc chiến với nhiều thương đau, Mỹ và Nhật Bản đã trở thành đồng minh, một mối quan hệ đã trải qua nhiều thử thách và được minh chứng là nền móng cho sự ổn định tại khu vực này. Ví dụ mới nhất và thuyết phục nhất cho mối quan hệ đồng minh của chúng tôi là sự sát cánh của binh sĩ hai nước trong việc cứu trợ và giúp đỡ những người sống sót sau thảm họa động đất sóng thần hồi tháng 3 vừa qua.

Mối quan hệ đồng minh giữa Mỹ và Hàn Quốc là một cột trụ khác trong chiến lược an ninh châu Á – Thái Bình Dương của chúng tôi. Quân đội hai nước tiếp tục phát triển những khả năng phối hợp để ngăn chặn và đánh bại đối phương. Nhưng mối quan hệ đồng minh Mỹ – Hàn không chỉ được thiết lập vì điều đó, nó còn được duy trì vì những điều khác có ý nghĩa và lâu dài.

Thoát ra khỏi một thời kỳ vốn gây nhiều ảnh hưởng sâu đậm tới người dân hai nước, Mỹ và Việt Nam đã tiến lên và xây dựng một mối quan hệ song phương vững chắc và sống động. Cùng với nhau, Mỹ và Việt Nam đã tìm ra cách để xây dựng mối quan hệ trên một quá khứ nhưng không để bị quá khứ ảnh hưởng. Cam kết giữa hai nước nhằm vượt qua những trở ngại tưởng chừng như không thể hóa giải đã đưa chúng tôi tới mối quan hệ như ngày hôm nay: đối tác trong nhiều lĩnh vực, bao gồm thương mại và đầu tư, giáo dục và y tế, an ninh và quốc phòng.

Chúng tôi giờ đây cũng hợp tác với Trung Quốc để xây dựng một mối quan hệ toàn diện, hợp tác và tích cực. Với nỗ lực ấy, chúng tôi đang được thấy những kết quả từ những quyết định táo bạo của ba tổng thống Mỹ trong những năm 1970, những người thuộc đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa, để xây dựng một mối quan hệ hòa hợp giữa hai quốc gia mà cuối cùng dẫn tới việc bình thường hóa quan hệ vào năm 1979.

Sự chuyển hóa trong mối quan hệ Mỹ – Ấn Độ cũng là một điểm nhấn đáng chú ý trong vòng một thập kỷ qua, từ chỗ là còn nhiều bất đồng tới việc trở thành đối tác dự trên việc chia sẻ những giá trị dân chủ và những lợi ích an ninh, kinh tế sống còn. Một sự hợp tác được coi là một cột trụ không thể thiếu được đối với sự ổn định của khu vực Nam Á và hơn thế nữa.

Dù việc thúc đẩy các mối quan hệ song phương trong khu vực này là một ưu tiên hàng đầu tại châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ cũng cam kết mạnh mẽ trong việc giúp phát triển những mối hợp tác đa phương. Một trong những thách thức nghiêm trọng của môi trường an ninh châu Á là việc thiếu cơ chế chặt chẽ trong việc hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực này. Trong vài năm qua, tôi đã ưu tiên hỗ trợ những nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề này. Đó là lý do vì sao Mỹ năm ngoái là thành viên không thuộc ASEAN đầu tiên chấp nhận lời mời tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). Tôi đã rất vinh dự được tham dự lễ khai mạc của hội nghị này tại Hà Nội tháng 10/2010, và tôi lạc quan rằng đó sẽ là một cơ chế quan trọng để mang lại nhiều tiến triển đối với những vấn đề cùng được quan tâm, bao gồm an ninh hàng hải, viện trợ nhân đạo và giảm nhẹ thiên tai, cũng như các hoạt động gìn giữ hòa bình.

An ninh hàng hải là một vấn đề đặc biệt quan trọng đối với khu vực này, bởi các tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ và việc sử dụng các vùng nước sao cho thích hợp đang đặt ra những thách thức hàng ngày cho an ninh và thịnh vượng của khu vực.

Quan điểm của Mỹ về an ninh hàng hải là rất rõ ràng: chúng tôi có lợi ích quốc gia trong việc duy trì tự do lưu thông; tự do phát triển kinh tế và thương mại; tôn trọng luật lệ quốc tế. Chúng tôi cũng tin rằng các thông lệ quốc tế được phản ánh trong Công ước về luật biển năm 1982, đã hướng dẫn rõ ràng để (các bên) có thể sử dụng thích hợp các vùng nước cũng như quyền tiếp cận các vùng nước. Bằng việc hợp tác cùng nhau trong các diễn đàn khu vực và đa phương, tuân thủ các nguyên tắc cùng có lợi cho tất cả các bên trong khu vwch, chúng ta có thể đảm bảo rằng tất cả các bên đều có được quyền tiếp cận bình đẳng và cởi mở đối với các tuyến giao thông thủy quốc tế.

Phan Lê


Filed under: Bang giao quốc tế, Biển Đông, Trang tiếng Anh Tagged: Bang giao quốc tế, Biển Đông, trang tiếng Anh

Việt Nam đưa vụ tàu bị cắt cáp ra diễn đàn an ninh châu Á – ‘Đoàn kết là phải tôn trọng lẫn nhau’

Posted: 05 Jun 2011 01:03 PM PDT


Việt Nam đưa vụ tàu bị cắt cáp ra diễn đàn an ninh châu Á

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh hôm nay nhắc đến việc tàu Bình Minh 02 khi đang thăm dò tại khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam bị cắt cáp, trong bài phát biểu tại diễn đàn an ninh ở Singapore.
> Toàn văn bài phát biểu của đại tướng Phùng Quang Thanh

Đại tướng Phùng Quang Thanh cho rằng vụ việc tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam bị cắt cáp hôm 26/5 gây ra lo ngại về việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, trong khu vực cũng như toàn thế giới.

 

Đại tướng Phùng Quang Thanh phát biểu tại Đối thoại Shangri-La trưa nay. Ảnh: AFP.
Đại tướng Phùng Quang Thanh phát biểu tại Đối thoại Shangri-La trưa nay. Ảnh: AFP.

 

Phát biểu của tướng Phùng Quang Thanh được đưa ra trong phiên thảo luận toàn thể “Các nguy cơ mới về an ninh biển” tại Đối thoại Shangri-La.

“Như chúng ta thấy trên Biển Đông, các vụ va chạm đã xảy ra nhiều lần, khiến các quốc gia ven biển thêm lo ngại”, bài phát biểu của tướng Thanh có đoạn.

“Vụ việc mới đây nhất diễn ra hôm 26/5, khi Bình Minh 02 – một tàu khảo sát của Việt Nam – đang tiến hành các hoạt động thăm dò dầu khí bình thường trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam thì bị cản trở bởi cáp của tàu bị cắt”.

 

Tướng Thanh khẳng định, Việt Nam đã kiên nhẫn xử lý tình huống này bằng giải pháp hòa bình, theo đúng luật pháp quốc tế và nguyên tắc kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trong khi vẫn giữ gìn hòa bình và ổn định ở Biển Đông cũng như duy trì quan hệ thân thiện với các nước láng giềng.

 

“Chúng tôi hy vọng sự việc tương tự như vậy không tái diễn”, ông nói thêm.

 

Đại tướng Phùng Quang Thanh kêu gọi các bên củng cố cơ sở pháp lý cho các hoạt động trên biển. Ông cũng đề nghị các bên tuân thủ triệt để Công ước về luật biển 1982 của Liên Hợp Quốc.

 

Ông kêu gọi các bên liên quan trong các tranh chấp trên Biển Đông tuân thủ các cam kết đã đề ra, và sớm đưa ra bản quy tắc nhằm duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

 

“Các bên cần thực thi nghiêm túc Tuyên bố về ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC) và nỗ lực hoàn thành một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) giữa ASEAN và Trung Quốc”, ông nói.

 

Nói về phương thức giải quyết các tranh chấp, tướng Thanh nhấn mạnh sự cần thiết có các cơ chế linh hoạt: “Chúng ta cần đẩy mạnh hợp tác thông qua các kênh cả song phương và đa phương, nhằm đảm bảo sự tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau”.

 

Trước đó, vào chiều qua, đại tướng Phùng Quang Thanh đã gặp gỡ với người đồng nhiệm Trung Quốc Lương Quang Liệt bên lề hội nghị Shangri-La. Tướng Thanh đã đề cập việc tàu Trung Quốc cắt cáp của tàu khảo sát Việt Nam trong phạm vi thềm lục địa Việt Nam. Tướng Thanh cho biết việc làm đó là vi phạm, gây bức xúc cho nhân dân và nhà nước Việt Nam; yêu cầu các bên kiềm chế không để tái diễn vi phạm.

 

Sáng 26/5, ba tàu hải giám của Trung Quốc bất ngờ xuất hiện và tấn công tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 02 đang làm việc trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Các tàu hải giám Trung Quốc đã chạy thẳng vào khu vực khảo sát của tàu Bình Minh 02 mà không hề có cảnh báo và cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02.

 

Sự việc này cùng những lời phản đối của Philippines đối với Trung Quốc, do Manila cho rằng các tàu của Trung Quốc vi phạm vùng nước mà Manila tuyên bố chủ quyền trên biển Đông – khiến khu vực này trở thành tâm điểm chú ý ở Đông Nam Á và trên diễn đàn của hội nghị an ninh Shangri-La.

Xây dựng lòng tin

Trong khi đó, bài phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin nhắc tới những thách thức từ các quốc gia và thực thể phi quốc gia. Trong bối cảnh đó, quân đội cần phát triển tiềm lực để đối phó với những thách thức này.

“Các lực lượng vũ trang nên hợp tác với nhau để đối phó một cách hữu hiệu với các thách thức về an ninh trên biển. Mối quan hệ chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang sẽ đảm bảo môi trường biển ổn định và hòa bình của chúng ta không bị ảnh hưởng”, ông Gazmin nói đồng thời nhấn mạnh hợp tác quốc tế là một phần không thể thiếu trong các nỗ lực của Philippines.

Cũng trong phiên thảo luận nói trên, Bộ trưởng Quốc phòng Malayssia Ahmad Zahid Hamidi đề cao tầm quan trọng của Biển Đông, xét về khai thác tài nguyên và hàng hải, và yêu cầu giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp.

 

Bộ trưởng Ahmad bình luận rằng trong những năm qua, DOC đã đóng góp phần quan trọng trong việc giảm căng thẳng, giúp duy trì ổn định trên Biển Đông. Tuy nhiên, ông nói đó chỉ là một “công cụ mang tính tạm thời” trong khi các bên liên quan hướng tới việc đề ra một “giải pháp hòa bình và lâu dài” cho vấn đề tranh chấp.

 

Để giải quyết tranh chấp Biển Đông, Malaysia đề nghị các bên xác định rõ và thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin một cách thiết thực nhằm loại trừ căng thẳng và tránh chạy đua vũ trang trong khu vực.

“Xây dựng lòng tin là bước đi quan trọng đầu tiên trên con đường nghìn dặm nhằm bảo đảm an ninh biển cho khu vực này”, Ahmad nói. “Phát triển kinh tế xã hội cần được chú trọng hơn là phát triển vũ trang, đặc biệt là trong một khu vực như của chúng ta”.

Thanh Mai – Hải Ninh


‘Đoàn kết là phải tôn trọng lẫn nhau’

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh

Vụ tàu hải giám Trung Quốc gây hấn với tàu khảo sát địa chấn của PetroVietnam, mà Việt Nam gọi là “vi phạm lãnh hải” của mình đang thu hút sự chú ý tột bậc của dư luận người Việt trong và ngoài nước.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã đề cập tới sự kiện này trong cuộc tiếp xúc song phương hôm thứ Sáu 03/06 với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt bên lề diễn đàn an ninh khu vực Đối thoại Shangri-La 10 tại Singapore.

BBC đã có cuộc phỏng vấn Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng, tại nơi diễn ra hội nghị.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Cuộc gặp giữa hai bộ trưởng Việt Nam và Trung Quốc diễn ra rất ngắn. Thoạt tiên Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt đã ngỏ lời cảm ơn Bộ trưởng Phùng Quang Thanh vì sự đón tiếp và tổ chức rất tốt hội nghị ADMM+ hồi năm ngoái.

Sau đó hai bộ trưởng đã bàn phương cách thúc đẩy hợp tác quốc phòng, đặc biệt là hợp tác hải quân: những công việc như tuần tra chung, diễn tập tìm kiếm cứu nạn, thiết lập đường dây nóng, giao lưu, thăm viếng của tàu hải quân… Mục đích chính là tăng cường hiểu biết, tạo sự thông cảm, tin cậy để giảm thiểu các vấn đề trên Biển Đông.

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cũng có nêu vấn đề liên quan tàu Bình Minh 02 với mong muốn quốc phòng hai bên tăng cường hợp tác, không để những việc như vậy tái diễn.

BBC: Thưa ông, trong bài phát biểu mới của mình, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates có nhận xét là tiến trình thực hiện Công ước LHQ về Luật biển tiến bộ rất chậm chạp. Năm ngoái, với tư cách chủ tịch Asean, Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc thúc đẩy việc thực hiện luật pháp quốc tế tại Biển Đông. Năm nay, công việc này sẽ được tiến hành như thế nào?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Dù là chủ tịch khối hay không thì Việt Nam vẫn cứ tiếp tục tham gia, tiếp tục thúc đẩy.

Việt Nam phải thực hiện nghiêm luật biển, đồng thời yêu cầu các nước cũng thực hiện nghiêm điều này, trước hết là trong các vùng biển của Việt Nam.

Việt Nam rất tích cực tham gia các diễn đàn, như Bộ trưởng Phùng Quang Thanh dự Đối thoại Shangri-La này và có bài diễn văn về an ninh biển. Những điều đó đều là đóng góp của Việt Nam cho quá trình tuân thủ Công ước LHQ về Luật biển.

Tất nhiên quá trình thực hiện điều này không phải dễ dàng, đặc biệt là khi có những quốc gia không coi trọng luật pháp thì lại càng khó nữa.

Chúng tôi mong muốn các diễn đàn quốc tế như Đối thoại Shangri-La sẽ làm cho các nước nhận thức được lợi ích của mình khi thực hiện đầy đủ luật pháp quốc tế và được quốc tế nhìn nhận với hình ảnh tốt đẹp. Đó mới chính là động lực phát triển của các quốc gia trong thế giới hiện đại, chứ không phải cứ mạnh (về quân sự) là phát triển tốt.

Điều quan trọng là phải tạo ra được một hình ảnh tốt đẹp của đất nước mình.

An ninh Biển Đông

BBC: Thưa ông, gần đây trên các diễn đàn của người Việt có nhiều ý kiến chỉ trích rằng Chính phủ Việt Nam chưa có được phản ứng mạnh mẽ tương thích với các hành động gây hấn tàu bè, ngư dân và hoạt động dầu khí của Việt Nam. Ông nghĩ thế nào về các chỉ trích này?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Tôi cho là các chỉ trích ấy xuất phát từ tấm lòng đối với đất nước, nhưng cũng có một phần vì thiếu thông tin.

Việt Nam sẽ cố gắng hết sức để những sự việc như vừa rồi không leo thang, không tái diễn. Tuy nhiên, nếu như một bên nào đó muốn leo thang thì Việt Nam cũng sẽ có hành động để bảo vệ chủ quyền của mình, không thể ngồi im được.

Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh

Vấn đề là có đạt được mục đích của mình hay không chứ không phải cứng rắn như thế nào.

Mục đích chính của Việt Nam là hòa bình, ổn định và chủ quyền lãnh thổ. Chỉ cần làm đủ để đạt được những điều đó.

Thí dụ vụ tàu Bình Minh 02, sự việc hết sức nghiêm trọng, nhưng Việt Nam xử lý rất ôn hòa, bình tĩnh, phát biểu rất cương quyết nhưng thái độ rất xây dựng.

Đây là vụ việc Trung Quốc sử dụng bạo lực đối với tàu của Việt Nam. Việt Nam không sử dụng bạo lực để đáp trả, nhưng kết quả là như thế nào? Tàu Bình Minh 02 vẫn tiếp tục hoạt động như cũ trong vùng biển của Việt Nam.

Tiếp đến, Việt Nam đã trình bày với thế giới là có những sự việc như vậy, để quốc tế phân định ai đúng ai sai.

Thứ ba, Việt Nam đã chứng tỏ với Trung Quốc rằng Việt Nam tuân thủ nghiêm nhận thức chung của lãnh đạo hai nước là giải quyết song phương vụ việc nảy sinh, nhưng một cách công khai, minh bạch và bằng biện pháp hòa bình.

Chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam là để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thì quan trọng nhất là xây dựng được sự đoàn kết với các nước có tranh chấp. Nhưng đoàn kết là phải tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng luật pháp quốc tế. Các mối quan hệ cũng phải công khai minh bạch.

Tôi nghĩ đây là chủ trương đúng đắn.

BBC: Liệu có quan ngại các tranh chấp sẽ leo thang thành xung đột vũ trang trong bối cảnh hiện thời hay không, thưa ông?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Việt Nam sẽ cố gắng hết sức để những sự việc như vừa rồi không leo thang, không tái diễn. Và Việt Nam cũng sẽ cố gắng hết sức để không có các sự việc nghiêm trọng hơn xảy ra.

Đó là phần của Việt Nam, và tôi tin là sẽ đạt được điều này.

Tuy nhiên, nếu như một bên nào đó muốn leo thang thì Việt Nam cũng sẽ có hành động để bảo vệ chủ quyền của mình, không thể ngồi im được.

Không ai có thể nói trước được tương lai, nhưng tôi tin trong tình hình quốc tế hiện nay, với chính sách hòa bình của Việt Nam thì khả năng leo thang sẽ dần dần giảm bớt. Tất nhiên đây là quá trình khó khăn, lâu dài, đòi hỏi kiên trì.


Filed under: Bang giao quốc tế, Biển Đông, Quốc phòng Tagged: Bang giao quốc tế, Biển Đông, Quốc phòng

Biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam

Posted: 05 Jun 2011 01:02 PM PDT

BBC

Các cuộc biểu tình chống chính sách của Trung Quốc tại Biển Đông đã diễn ra sáng Chủ nhật 05/06 tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

Các nhân chứng cho hay con số người tham gia cuộc biểu tình hiếm khi xảy ra ở Hà Nội là ‘hàng trăm người’, trong khi con số ở TP Hồ Chí Minh được biết là đông đảo hơn.

Người biểu tình mang cờ Việt Nam và các biểu ngữ phản đối hoạt động của Trung Quốc tại vùng biển chủ quyền của Việt Nam cũng như yêu sách đường chín đoạn của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Đã nhiều lần kế hoạch biểu tình chống Trung Quốc bị ngăn cản, nhưng lần này các cuộc tuần hành đã diễn ra tại cả hai đô thị lớn nhất nước, dường như đã có sự nhân nhượng ngầm của chính quyền.


Người biểu tình mang cờ Việt Nam và các biểu ngữ phản đối hoạt động của Trung Quốc tại vùng biển chủ quyền của Việt Nam cũng như yêu sách đường chín đoạn của Bắc Kinh tại Biển Đông.
Một nhân chứng

Tại Hà Nội, nhân chứng nói đám đông đa phần là thanh niên đã tụ tập từ sáng sớm trước cửa Đại sứ quán Trung Quốc trên phố Hoàng Diệu.

Nhiều người mặc áo T-shirt màu đỏ có sao vàng, mang theo các khẩu hiệu ‘Phản đối Trung Quốc gây hấn’ và ‘Trung Quốc gãy chấm dứt việc xâm lược biển đảo của Việt Nam’.

Một số người mang cờ Trung Quốc có hình sọ người của hải tặc.

Đám đông tụ họp chừng nửa tiếng, tới khoảng 8:45 phút sáng thì bị công an giải tán.

Từ vị trí trên đường Hoàng Diệu , đoàn người đã tiến về hướng Hồ Hoàn Kiếm, hát vang quốc ca Việt Nam và kêu gọi phản đối Trung Quốc.

Tại TP Hồ Chí Minh, đám đông tiến về Lãnh sự quán Trung Quốc qua các ngả Chợ Bến Thành, Nhà thờ Đức Bà, với con số người đông đảo hơn Hà Nội, mà nhân chứng nói cao điểm có thể hàng nghìn.

Nhiều người mang khẩu hiệu đòi Trung Quốc phải bồi thường thiệt hại cho Việt Nam trong các vụ gây hấn và sách nhiễu.

Bên ngoài tòa lãnh sự quán Trung Quốc trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, thanh niên cũng hát quốc ca và một số bài hát cách mạng.

Phản ứng chính quyền

Hai cuộc tuần hành tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh được biết đã kết thúc trong buổi sáng.

Lời kêu gọi tổ chức biểu tình ôn hòa chống chính sách của Trung Quốc đối với lãnh thổ Việt Nam đã được lưu truyền nhiều ngày nay trên internet và các diễn đàn cũng như mạng liên kết xã hội.

Cuộc tuần hành theo tôi được biết đã diễn ra bình tĩnh, trật tự, không cản trở giao thông và cũng không mang các biểu ngữ mang tính kích động.
Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh

Lúc đó đã có nhận xét rằng cuộc tuần hành có thể sẽ được phép diễn ra, vì sức ép của sự bức xúc lớn trong xã hội sau việc ngày 26/05 tàu hải giám Trung Quốc gây hấn với tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam chưa có phản ứng gì trước hoạt động biểu tình và báo chí chính thống cũng chưa có tường thuật về sự việc này.

Tuy nhiên, bên lề diễn đàn an ninh khu vực Đối thoại Shangri-La tại Singapore, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh nói với BBC rằng ông “được biết đã có nhiều người dân tụ tập phản đối” chính sách của Trung Quốc tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

Ông Vịnh nói: “Đây là hành động tự phát của người dân”.

Ông thứ trưởng cho hay ông được thông báo qua điện thoại rằng sau khi các địa phương vận động giải thích, đám đông đã tự động giải tán.

“Cuộc tuần hành theo tôi được biết đã diễn ra bình tĩnh, trật tự, không cản trở giao thông và cũng không mang các biểu ngữ mang tính kích động.”

Thế nhưng Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nói quan điểm của riêng ông đối với các hoạt động biểu tình như trên là “không nên, dù đây là bắt nguồn từ lòng yêu nước”.

“Người dân phải tin rằng Nhà nước sẽ có giải pháp, có đủ trách nhiệm để vừa giữ chủ quyền lãnh thổ, vừa duy trì hòa khí và quan hệ với Trung Quốc.”

Dư luận bức xúc

Năm 2007-2008 đã có một số cuộc biểu tình chống Trung Quốc cũng tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh.

Sau đó hoạt động này bị chính quyền ngăn cản, vì không muốn quan hệ với nước lớn láng giềng bị ảnh hưởng, cũng như ngăn chặn việc “các thế lực xấu” lợi dụng lòng yêu nước của người dân.

Đã có cáo buộc đảng Việt Tân tại hải ngoại có thể tham gia kích động chống chính quyền trong nước, khiến tổ chức này phải lên tiếng giải thích.

Việt Tân hôm thứ Bảy ra thông cáo nói họ “tôn trọng vị trí độc lập … của mọi đoàn thể, tập hợp người Việt yêu nước khác” và bác bỏ ‘sự hiểu lầm’ nói trên.

Trước cuộc tuần hành nhiều cá nhân, tổ chức của Việt Nam bằng cách này hay cách khác cũng đang tìm cách bày tỏ thái độ của mình trước hành xử “ngang ngược” của Trung Quốc.

Từ nhiều ngày nay, liên tục có các cáo buộc tàu Trung Quốc vi phạm lãnh hải của Việt Nam, uy hiếp ngư dân và các tàu thuyền của Việt Nam.

Sinh viên Việt Nam tại Australia và c̣ông đồng người Việt ở Los Angeles cũng đã có các cuộc biểu tình trước cơ quan đại diện ngoại giao của Trung Quốc trước các cuộc tuần hành ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội.


Filed under: Biển Đông, Phát triển chính trị Tagged: Biển Đông, Phát triển chính trị

Ngư dân Quảng Ngãi cứu sống 10 thuyền viên nước ngoài

Posted: 05 Jun 2011 01:01 PM PDT

Các thuyền viên nước ngoài bị cướp biển tấn công đã được tàu cá ngư dân Quảng Ngãi cứu thoát và đưa đến cảng Nha Trang an toàn sáng 5/6.

Chỉ sau mấy ngày sống cùng nhau, giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ “cơ thể”, tới lúc chia tay, bàn giao 10 thuyền viên nước ngoài cho Bộ đội Biên phòng tỉnh Khánh Hòa, họ đã ôm nhau khóc…

Các thủy thủ nước ngoài cảm động ôm chủ tàu Việt Nam (áo sọc). Ảnh: Mỹ Giang.

Tại nhà khách Biên phòng tỉnh Khánh Hòa, ông Khin Maung Kyi (người Myanmar), máy trưởng xà lan Solit 8 xúc động nói: “Ngư dân Việt Nam đã cứu chúng tôi”.

Thuyền trưởng Maung Maung Htwe chia sẻ: “Dù đã bị cướp biển lấy hết tài sản, nhưng chúng tôi thấy vẫn còn may mắn vì gặp được những ngư dân tốt bụng”.

Theo lời kể của các thuyền viên nước ngoài vừa thoát chết, xà lan Solit rời cảng Ku Ching (Malaysia) sáng 24/5. Tối hôm sau bỗng xuất hiện khoảng 15 người bịt kín mặt gí dao vào cổ thuyền trưởng, lột sạch tư trang, tiền bạc, rồi nhốt toàn bộ 10 thuyền viên vào một phòng trong 5 ngày.

Thuyền trưởng xà lan Solit 8 bị thương do cướp biển dí dao vào cổ và tê liệt chân phải nằm trên cáng
Thuyền trưởng xà lan Solit 8 bị thương do cướp biển dí dao vào cổ và tê liệt chân phải nằm trên cáng

Ngày 30/5, bọn cướp biển đã bắt 10 người xuống một phao cưu sinh đã bị xì bớt hơi. Chỉ 2 người yếu nhất nằm trên phao, 8 người còn lại bám vào phao, phải dầm mình dưới nước. Họ đã rất tuyệt vọng. Tới ngày 2/6, khi thấy tàu xuất hiện, họ đã dùng gương soi để ra hiệu cầu cứu.

Ông Bùi Quang Mông, chủ tàu QNg 98676 cho biết: “Dù chỉ mới đánh được một tấn cá các loại nhưng thấy người bị nạn không thể không cứu. Tôi đã mượn 2 tàu bạn 600 lít dầu và 2 bì gạo, thức ăn để chở họ về đất liền”.

Trên tàu, con thuyền 90CV đã phải chứa đến 24 người. Ngư dân Việt Nam đã nhường gối, thức ăn, nước uống cho thủy thủ nước ngoài, họ trở nên thân thiết như những người bạn lúc chia tay.

Chủ tàu cho biết, xà lan Solit 8 thuộc Công ty Soncrete teamwoork SDN tropical ray SDN BHD (Maylaysia) do ông Solomon Tan làm Giám đốc, chở quặng sắt, khởi hành ngày 24/5, mất liên lạc từ 26/5 sau khi gặp cướp biển.

Danh sách thuyền viên nước ngoài bị nạn đã được cứu sống:
1. Maung Maung Htwe, SN 1965, Thuyền trưởng
2. Aye Than, SN 1957, thuyền viên
3.Khin Maung, SN 1958, máy trưởng
4.Mary Anto SN 1960, máy phó
5.Yudnis Benal Bawotong SN 1974, thuyền viên
6. La Ode Adjiki, SN 1983, thuyền viên
7. Edy Pra Noto, SN 1974, thuyền viên
8. Suyadi, SN 1977, thuyền viên
9. Gunawan, SN 1980, thuyền viên
10. Uzik Yuni Atro, SN 1979, thuyền viên.

Mỹ Giang


Filed under: Biển Đông, Tin Sáng Tagged: Biển Đông, Tin sáng

No comments:

Post a Comment