Monday, June 27, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Tôi đi giữa hoàng hôn – Văn Phụng

Posted: 27 Jun 2011 01:07 PM PDT

 

Văn Phụng - Châu Hà (1959)

Một mối tình quá thủy chung, đáng được thông cảm hay đáng bị phê phán là tùy bạn đọc, nhưng dù khen hay chê, chúng ta cũng phải công nhận rằng những mối tình như thế này không có nhiều trong cuộc sống…

Không chỉ được công chúng yêu thích qua những bài hát dân dã như “Bức họa đồng quê”, “Trăng sơn cước”, “Vui bên ánh lửa”…, ông còn có hàng loạt ca khúc lãng mạn, rất tình tứ. Đặc biệt, những tình khúc của Văn Phụng đều xuất phát từ chuyện tình của ông với một ca sĩ vang bóng một thời.

Văn Phụng sinh năm 1930 tại Hà Nội, trong một gia đình có 8 người con mà ông là thứ hai. Thuở ấy, phong trào âm nhạc cải cách (tân nhạc) mới du nhập vào Việt Nam và được giới trẻ nhiệt tình hưởng ứng. Văn Phụng đặc biệt có năng khiếu về tân nhạc nên được các giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng dìu dắt rất tận tình. 15 tuổi, ông đã nổi đình đám khi đoạt giải nhất độc tấu dương cầm với bản La Pirière d’une Viege tại Nhà hát Lớn Hà Nội, 16 tuổi ông đã thi đậu tú tài. Ngặt nỗi ông bố (vốn là thông phán) lại quá nghiêm khắc, ông cấm không cho cậu con trai đi theo phường “xướng ca vô loài” mà chỉ muốn con mình làm… bác sĩ, nhưng Văn Phụng theo học ngành y chỉ được một năm rồi bỏ học đi theo tiếng gọi của âm nhạc.

Năm 1948, Văn Phụng cho ra đời tác phẩm đầu tay Ô mê ly với tiết tấu sôi động, phấn chấn yêu đời Ô mê ly đời sống với cây đàn tình tình tang… Ô mê ly, mê ly đời ta. Ông thường cùng các bạn bè nam, nữ tụ
tập đàn hát với nhau. Nếu như trong đám bạn trai, Văn Phụng như là một “chủ súy” bởi ngón đàn tài hoa thì trong đám bạn nữ vút lên một giọng hát rất đỗi “liêu trai” của Châu Hà, người thiếu nữ Hà Nội có mái tóc dài vẫn thường thả lỏng như một dòng suối. “Trai tài, gái sắc” cứ quấn quýt bên nhau, thế nhưng ông thông phán lại rất ác cảm với nghề xướng ca vô loài nên tìm đủ cách để ly gián tình yêu của con trai mình. Biết rằng gia đình Văn Phụng không chấp nhận mình, Châu Hà phẫn uất đi lấy chồng và theo chồng vào Sài Gòn để xa hẳn một quá khứ đẹp mà… buồn..

Châu Hà đi rồi, một thời gian sau Văn Phụng cũng được bố mẹ cưới vợ. Ông chấp nhận như là để khỏa lấp những trống vắng mà Châu Hà đã để lại cho mình. Vợ ông cũng là người Hà Nội nổi tiếng “đẹp người, đẹp nết” rất được bố mẹ chồng thương quý. Đến khoảng đầu thập niên 1950, vợ chồng Văn Phụng đã có 2 người con gái. Những tưởng mọi sự đã an bài, nhưng tình xưa đâu dễ quên… Tất cả những nỗi nhớ thương đều được ông đưa vào các ca khúc của mình

Tìm đâu thấy liễu xanh xanh lả lơi.
Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai.
Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai.
Tôi thấy em một đêm thu êm ái…
Người em gái đứng im trong hồi lâu.
Tôi ngập ngừng lòng muốn nói đôi câu.
Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau.
Như chúng ta đôi đời hàn gắn thương yêu…
(Suối tóc – 1954)

Rồi không ngăn được tiếng gọi của con tim, Văn Phụng vào Nam. Châu Hà lúc này đã trở thành ca sĩ chuyên hát ở đài phát thanh và các phòng trà cùng thời với những Mộc Lan, Linh Sơn, Ánh Tuyết… Văn Phụng cũng mau chóng hòa nhập vào làng ca nhạc miền Nam. Không chỉ sáng tác ca khúc, ông còn thành lập ban tam ca nam đầu tiên ở Việt Nam với Văn Phụng – Anh Ngọc – Nhật Bằng (1953-1954). “Tình cũ không rủ cũng tới” nhưng… không phải dễ dàng gì bởi còn đó những trói buộc gia đình, còn những lời đàm tiếu, dị nghị chung quanh. Chính những lúc buồn nản nhất, Văn Phụng đã viết Tôi đi giữa hoàng hôn (1962) với điệu slow rock:

Tôi đi giữa hoàng hôn, khi ánh chiều buông, khi nắng còn vương.
Một mình tôi ngắm cánh chim lạc loài mà lòng thấy u hoài…
Tôi thương nhớ ngày qua, trên bến Hoàng Hoa, trên những đường xa,
thường thường hai đứa nắm tay nhau tươi cười, như thầm hẹn nhau mùa sau….

Tôi đi giữa hoàng hôn không hề có sự yếm thế, bi thảm mà là một nỗi buồn lâng lâng, siêu thoát. nhẹ nhàng và trầm ấm đầy chất phương Đông:

“…Dù cho mưa gió bên mái tranh nghèo. Dù cho nắng, dù cho sương khói mịt mờ, niềm tin yêu hằng xin mãi mãi không hề phai. Nhớ… Nhớ… Nhớ đêm nao trên bến tìm sao, hai đứa nhìn nhau, không nói một câu…”

Chính tình yêu đó, cuối cùng, vượt qua mọi trở ngại, “Kim – Kiều” đã lại tái hợp, tạo nên một đôi uyên ương nổi tiếng trong làng ca nhạc Sài Gòn một thời. Văn Phụng – Châu Hà có với nhau 2 người con gái (với người vợ trước ông có 5 gái, 1 trai). Văn Phụng mất ngày 17/12/1999, để lại khoảng 60 ca khúc.
 

Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn – Tuấn Ngọc


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Sống với đời

Posted: 27 Jun 2011 01:05 PM PDT

Chào các bạn,

Nói về cách sống với những người quanh ta, có một đoạn trong Thánh Kinh Thiên chúa giáo có sức diễn tả rất mạnh. Các bạn không cần phải đọc đoạn Thánh Kinh dưới đây như là một đoạn kinh tôn giáo, mà chỉ cần đọc các biểu tượng triết lý bạn có thể thấy trong đó.

31 “Khi Con Người đến trong vinh quang với tất cả thiên sứ, Ngài sẽ ngự trên ngai vinh quang. 32 Mọi dân tộc sẽ được triệu tập trước mặt Ngài; Ngài sẽ phân chia họ ra như người chăn chiên tách chiên ra khỏi dê. 33 Ngài sẽ để chiên bên phải và dê bên trái.

34 Bấy giờ vua phán với những người ở bên phải: “Hỡi những người được phước của Cha Ta, hãy đến thừa hưởng vương quốc đã được sắm sẵn cho các con từ khi sáng tạo thế giới. 35 Vì khi Ta đói, các con cho Ta ăn; Ta khát, các con cho uống. Khi Ta là khách lạ, các con đến thăm Ta. 36 Ta trần truồng, các con mặc cho Ta; Ta đau ốm, các con chăm sóc Ta; Ta bị tù, các con đến thăm viếng Ta'.

37 Bấy giờ những người công chính thưa: “Lạy Chúa, chúng con khi nào thấy Chúa đói mà cho ăn, hay khát mà cho uống đâu? 38 Chúng con khi nào có thấy Chúa là khách lạ mà tiếp đãi, hoặc trần truồng mà mặc cho đâu? 39 Hay chúng con khi nào có thấy Chúa đau ốm hay bị tù đày mà thăm viếng đâu?'

40 Vua phán cùng họ: “Thật, Ta bảo cùng các con, hễ các con làm điều đó cho một trong những anh em hèn mọn nhất của Ta, tức là đã làm cho Ta vậy.'

41 Bấy giờ Ngài phán với những người ở bên trái: “Hỡi những kẻ bị rủa sả, hãy lui ra khỏi Ta mà vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho quỷ vương và quỷ sứ nó. 42 Vì khi Ta đói, các người không cho Ta ăn; Ta khát, các người không cho Ta uống. 43 Ta là khách lạ, các người không tiếp đãi; Ta trần truồng, các người không mặc cho; Ta đau ốm, tù đày các người không thăm viếng.'

44 Bấy giờ họ đáp: “Lạy Chúa, chúng con có bao giờ thấy Ngài đói khát hay là khách lạ, trần truồng, đau ốm hay tù tội mà không chăm sóc đâu?'

45 Vua bèn phán với họ: “Thật, Ta bảo cùng các người, hễ các người không làm điều đó cho một trong những người hèn mọn nhất này, tức là không làm cho Ta.' 46 Vậy, những kẻ này sẽ đi vào hình phạt đời đời còn những người công chính đi vào sự sống vĩnh phúc.” (Matthew 25:31-46, http://www.vietchristian.com/cgi-bin/bibrowse2.exe?39&25&bn=bdm)

Biểu tượng rất rõ: Làm điều gì cho một người hèn mọn nhất trên thế giới này, chính là làm cho Thượng đế. Không làm điều gì cho một người hèn mọn nhất trên thế giới này, chính là không làm cho Thượng đế.

Còn gì rõ ràng và mạnh mẽ hơn thế?

Chúc các bạn một ngày phụng vụ.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Triệu Xuân – Bút Lực Của Quẻ Tiệm

Posted: 27 Jun 2011 01:04 PM PDT

&nbsp

Nguyễn Nguyên Bảy đò đưa 

 

1. Tôi lên đò lần này có mang theo hành lý gồm ba khúc thức và một khúc hưởng lợi, nên cần khai báo hải quan cho chuyến đưa này qua biên giới nào cũng được hanh thông.

Khúc thức một. Bà Vaxia người Nga, lớn hơn tôi ba chục tuổi, hồi ấy tôi đôi mươi, tôi gọi bà là Mẹ, bà gọi tôi là xưnôchếch (út cưng), chúng tôi mẹ con qua thư từ, nhưng ruột thịt với nhau nhiều năm lắm. Thư qua thư lại, mẹ Vaxia đã thức tôi cách nhận mặt văn chương. Bà dạy tôi, theo cách mà bà cho là đơn giản nhất, là dịch văn chương từ ngữ này sang ngữ khác, nếu ở thứ ngữ dịch đó, văn chương còn có văn chương thì đó là văn chương, nếu chẳng may văn chương ấy là thứ hô hào rỗng tuyếch, là thứ khuôn sáo của mệnh lệnh, là thứ gia vị của thời trang… thì bao giờ cũng chỉ nên mỉm cười tiếp nhận. Lời sau đây, bà bảo bà chỉ viết cho "xưn" (con trai) của bà đọc, đọc xong rồi bỏ, đứng nói lại với ai mà hệ lụy tâm hồn, rằng Êsênhin, Lécmantốp là những nhà thơ đích thực, còn Maia thì không. Bà còn viết thêm, một câu ngắn, ở Liên Xô và ở Việt Nam chắc cũng vậy, các nhà thơ kiểu Maia một rừng. Con chưa tin cứ dịch thơ của họ ra tiếng Việt thì biết. Tôi đã dịch Maia, Êsênhin, Lécmantốp ra tiếng Việt và dịch ngược thơ các nhà thơ Việt kiểu Maia ra tiếng Nga và ngẫm nghĩ mãi lời dạy của Mẹ Vaxia trên suốt con đường tìm mặt văn chương cho đến tận bây giờ.

Khúc thức hai. Lạy bác Hoàng Tùng giờ đã ở trên mây trắng cùng với cha mẹ con, chứng giám cho những lời con nói dưới đây. Năm ấy, 1970, Lý Phương Liên bỗng hót lên một thanh âm thơ lạ, bác Hoàng Tùng thích giọng thơ Liên và thương cảm cảnh đời côi cực nhà họ Lý, mới cho đăng nguyên một trang báo Nhân Dân thơ Lý Phương Liên, rồi cho thợ đến lợp lại mái nhà giột nát của 5 chị em côi và cho Lý việc làm ở nhà in báo Nhân Dân. Nói ơn cao xanh thì lời ơn mơ hồ quá, chúng con ghi lòng tạc dạ tấm lòng bác Hoàng Tùng đã đưa bàn tay Bồ tát nâng dậy một cảnh đời cay đắng thực. Vài tháng sau, Lý Phương Liên bị "án thơ Nghĩ về Thúy Kiều" đánh cho một búa, gục hẳn. Bác Hoàng Tùng cho gọi hai đứa (chữ HT) lên Báo, cho ăn bữa cơm gia đình, và trong bữa cơm gia đình ấy bác bảo: "Con Liên (chữ HT) viết gì như Ca Bình Minh là tốt, là hay, viết như Nghĩ về Thúy Kiều thì Nó (không biết bác ám chỉ ai, điều gì trong chữ Nó) dìm mày phải chết. Còn thằng Bảy (bác nhấn mạnh) nghe cho kỹ ba điều sau đây: Một là đưa tao đọc tất cả thơ văn chưa đăng, in. Hai là không muốn cho bất kỳ ai đọc thì đốt sạch đi. Ba là tìm chỗ chôn giấu, chờ cho tới khi nào những người như tao chết đi hãy nghĩ tới việc đào lên mà in ấn. Từ nay trở đi, viết một câu một chữ nào cũng phải nhớ lời tao dặn, con sông văn nghệ thời chúng ta chỉ một dòng Hiện thực Xã Hội Chủ Nghĩa Hồng Chuyên". Nghe bác Hoàng Tùng dậy dọa tôi thực sự xón. Ít ngày sau, tôi được bác Trần Lâm, Tổng biên tập  Đài TNVN, nơi tôi làm việc, gọi lên. Vừa thấy tôi, bác Lâm bắt tay tươi cười và bảo: Tụi mày (ý chỉ tôi và LPL) làm cách nào mà được ông Hoàng Tùng tin vậy? Tôi đâu có làm gì. Thơ đã viết tôi cũng đâu có đưa ông đọc, tôi cũng đâu có đốt, mà tôi nghe lời ông nhờ cha tôi giấu dùm, thật may mắn bốn chục năm sau, những sáng tác đó vẫn còn nguyên vẹn chỉ ải mục đôi phần. Cảm ơn bác Hoàng Tùng đã tin thương chúng tôi, sau này lòng tin thương ấy cũng đầy lòng bác Trần Lâm nên chúng tôi đã nhiều lần thoát hiểm mà có được ngày hôm nay. Duy có điều lời dậy của bác về Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa Hồng Chuyên thì tuy khắc trong tâm, quẩy trên vai đi trên đường nhận mặt văn chương, nhưng rồi ngẫm mãi, ngẫm có đến ngày thấy trong lời dậy ấy nhiều mơ hồ, tầm phào nếu không muốn nói là bức hại văn chương.

Khúc thức ba. Anh Nguyễn Khải là nhà văn lớn, được coi là một trong không nhiều cột cái dựng ngôi nhà văn chương Việt Nam thế kỷ thứ XX, vậy mà tôi, kẻ vô danh tiểu tốt, cứ tranh cãi nhem nhẻm với anh. Lạy anh trên trời thứ tội cho em. Trong những tranh cãi ấy, bữa tranh cãi tạm gọi là lớn nhất xẩy ra ở nhà Thế Ngữ, anh đến tặng Ngữ sách, còn tôi đến Ngữ bàn dựng kịch, Ngữ là đạo diễn kịch trong Ban Văn Nghệ Đài Tuyền Hình cùng tôi. Nhân lúc anh Khải và Ngữ trao đổi với nhau khoái lạc văn chương gì đó, tôi cầm sách mới của anh, tia đọc, tôi lướt nhanh ba trang đầu, lướt nhanh ba trang cuối và mở bụng sách, chính giữa đọc thêm ba trang và đặt sách trả lại Ngữ. Hẳn vì chứng kiến tận mắt cảnh tôi trân trọng nâng lên đặt xuống sách của mình, nên anh Khải mới nói với tôi an ủi: Mình sẽ tặng sách cho Bẩy sau… Tôi cúi đầu cảm ơn anh và buột miệng: Em đọc rồi, anh dành sách tặng người khác cho đỡ phí. Anh Khải sậm mặt. Bẩy đọc khi nào. Thì mới đó. Tôi đáp. Và để anh tin, tôi kể lại sách của anh với ba trang đầu, ba trang cuối và ba trang giữa vừa đọc. Anh thoáng ngạc nhiên, nhưng chưa hết giận, hỏi thêm: Em có lối đọc sách gì lạ vậy? Tôi đáp: Chữ nghĩa của anh cực chuẩn, văn của anh cực sáng, bố cục truyện cực lý, đó là thương hiệu Nguyễn Khải không cần bàn, còn nội dung thì… Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa Hồng Chuyên… Tôi chỉ mới nói có vậy, anh Khải đã đứng dậy cáo về và kể từ đó không nhìn mặt tôi nữa. Nghe nói, trước khi về trời, anh có viết cuốn hồi ký gì đó, tôi chưa được đọc, tất nhiên là anh viết cho anh, nhưng tôi tin là nhiều dòng tuy không cụ thể cho tôi, nhưng cứ xin vơ vào là cho tôi, anh chẳng những bỏ lỗi cho tôi bệnh nói nhiều đau răng  mà còn bảo tôi bỏ lỗi cho anh tật không đủ lực nghe ngược. Thức thứ ba này tôi coi là giải pháp ứng xử trên đường văn chương, vì thế, thu hoạch về bất cứ sách nào, tác giả nào, tôi cũng chỉ coi là khúc đò đưa mình nói trước hết cho mình nghe, thu hoạch nào cũng hàm nghĩa tu thân học làm văn chương.

Khúc hưởng lợi. Tôi nhớ không chính xác, nhưng có lẽ là năm 1985, tôi đang rất "oách" ở truyền hình, hết tung kịch lại hoành phim, nổi lắm. Bữa kia vớ được cuốn tiểu thuyết Giấy Trắng của Triệu Xuân, tôi ngốn vội và ngốn xong chạy vội (cũng là vội) tới ông Phạm Quang Hưng, Tổng giám đốc Liksin – nguyên mẫu nhân vật chính của tiểu thuyết Giấy Trắng – bàn với ông đưa Giấy Trắng lên truyền hình. Ông Hưng OK và qua ông tôi gặp Triệu Xuân, để thông báo việc tôi viết kịch bản phim truyền hình với tên gọi Người Mở Đường. Sau đó, phim truyền hình Người Mở Đường công chiếu và hầu như lâu lắm lắm sau đó, tôi và Triệu Xuân không dịp gặp nhau. Lại nói, trong suốt thời gian (ngắn) làm phim Người Mở Đường, được Giấy Trắng hướng dẫn, tôi gần như đã thuộc nằm lòng bối cảnh và con người miêu tả trong Giấy Trắng, và thu hoạch hưởng lợi đầu tiên từ tiểu thuyết này là tôi đã viết được hẳn một cuốn tiểu thuyết 300 trang tựa đề Ma Trận Tình, với một cách nhìn khác Giấy Trắng, tôi có đưa cho nhà văn Nguyễn Văn Đồng hỏi ý kiến, Đồng bảo tôi không in được vì chưa đúng điểm rơi và anh khuyên tôi nên viết như Giấy Trắng, bán chạy lắm. (Đồng nhấn mạnh chữ bán chạy lắm). Lúc ấy, đang thời mở cửa, sách được in và bán chạy (tức là bạn đọc thích) thì người viết văn nào chẳng mừng. Tôi lập tức cắm rễ nơi bàn viết của mình, trước mặt đặt trân trọng cuốn tiểu thuyết Giấy Trắng làm tượng đài, và bắt đầu mổ cò máy chữ. Mổ suốt ngày đêm, lúc nghỉ tay lại cầm Giấy Trắng của Triệu Xuân mở xòe một đôi trang như cầu xin chữ nghĩa bay sang mình. Hai năm dòng dã, 1986-1987, tôi viết và xuất bản 6 cuốn tiểu thuyết, cuốn in ít nhất cũng 20.000 bản và nói dối chẳng hại ai, đây là hai năm tôi nuôi được thân mình bằng văn chương. Sau này tôi vẫn tiếp tục viết tiểu thuyết, không hỏa tốc như trước, vài năm một cuốn, nhưng chưa in, vì như Nguyễn Văn Đồng bạn tôi đã nói: Chưa đúng điểm rơi. Chuyện huênh hoang này, khi nào có dịp sẽ nói tiếp, còn bây giờ trở lại với Triệu Xuân, bài thu hoạch xin là lời cảm ơn muộn của kẻ hưởng lợi từ bạn mà không thưa lời ân tạ, thật đáng trách!

2. Hai mươi sáu năm sau, năm 2011, nhân việc tôi in sách tại NXB Văn Học Hà Nội (không phải chi nhánh NXB Văn Học ở Sài Gòn nơi Triệu Xuân làm giám đốc), tôi và Triệu Xuân mới thực sự gặp lại nhau. Tôi tặng Xuân sách thơ mới in và Xuân tặng tôi cuốn tiểu thuyết Trả Giá, tái bản lần thứ 10, NXB Văn học, năm 2009, và ít ngày sau tặng thêm tiểu thuyết Cõi Mê, NXB Hội Nhà văn, in lần tư, còn thơm mùi mực.

Tôi có thói quen không thể trì hoãn cái sướng đọc sách của bạn tặng, nhất là với Triệu Xuân, người tôi đã nói những lời hưởng lợi ở trên. Nhưng vì là người đang trị bệnh dữ tôi biết mình không thể dành một hơi thời gian cho nó, nhưng lại thích đọc nó một hơi, nên tôi đành xin bác sĩ một mũi moóc, và tôi đã không hối hận vì quyết định ấy của mình sau 6 giờ đồng hồ ăn chậm nhai kỹ 460 trang Trả Giá. Khi tôi vừa gấp sách thả hồn theo " Chiếc vỏ lãi lao vun vút xuyên rừng đước" (chữ trong thuyết của TX) , tôi bỗng như nghe vu vang tiếng dòng sông hỏi: Cảm tưởng thế nào? Tôi đáp: Thích. Sông hỏi thêm: Triệu Xuân thế nào? Tôi buột miệng: Đáng yêu… rồi hình như cả tôi và dòng sông đều chìm vào giấc ngủ; khi tỉnh lại chỉ còn nhớ từ thích và hai chữ đáng yêu bèn ghi ngay vào sổ thu hoạch quẻ dịch Phong trên/ Sơn dưới là quẻ Tiệm. Ngẫm nghĩ quẻ dịch quá hay, quá ứng với con đường văn chương của Triệu Xuân, con đường dịch biến, thức thời, tả xung hữu phá.

Về quẻ Tiệm: Tiệm là tiến dần dần tương nghĩa với hai từ tiệm tiến? Nghĩa đen, Phong trên thuộc quẻ Tốn, hình là gió, tượng là cây. Sơn dưới thuộc quẻ Cấn, tượng là núi hay còn gọi là thổ nhỏ. Gió dưới núi thổi dần lên cao trời hoặc là cây dưới thấp vươn dần lên đỉnh núi, cây không thể cao trong một nhật, mà phải lớn từ từ theo tháng theo năm. Chưa hết, Tiệm còn mượn chim hồng giảng hành trình bay bổng. Chim hồng là chim gì thực tôi không biết, dịch học bảo rằng đó là loài chim vừa biết bơi trong nước, vừa biết bay trên trời, không phải bay gần mà là bay xa, rất xa, cùng bầy đàn di cư từ phương Bắc lạnh giá về phương Nam ấm áp. Vậy nên dù là gió thổi, là cây lớn hay là chim bay thì sự vươn lên đều phải từ từ theo năng lực tu luyện, theo sinh dưỡng mà trưởng thành. Đức tu thân phải bền gan vững chí, phải thuận đạo chính trung, phải tương thích giữa cá thể với môi trường. Chỉ có vậy con đường lớn lên của cây, bay lên của chim mới thành tựu.

Quẻ Tiệm hào 1: Hồng Tiệm Vu Can (Chim hồng  tiến đến bờ nước). Không là khập khiễng nếu ví Triệu Xuân là con chim hồng non thơ kỳ lạ ấy, anh đã chọn nghiệp văn chương ngay từ thời chăn trâu cắt cỏ, trốn mẹ vùi mình vào cây rơm đọc sách, rồi nhất quyết theo vào đại học văn chương, rồi đi B tay súng tay bút. Con chim hồng non thơ ấy khao khát văn chương và chỉ nguyện dâng mình cho văn chương, cái nghiệp gian nan ấy nhiều chướng lắm, nhưng lòng Triệu Xuân khẳm đức tự tin. May thay, Triệu Xuân đã thành tựu vụng về với Những Người Mở Đất, Truyện vừa in năm 1983, NXB Văn nghệ TPHCM ấn hành, có thể nói đây là cuốn sách đầu tay đúng nghĩa nhất với văn cách Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa Hồng Chuyên. Con chim hồng mới ra bờ nước còn non dại, còn chưa trưởng thành, làm việc gì cũng còn phải ngẫm ngợi nghĩ suy, viết được cuốn Những Người Mở Đất, khoái đấy, nhưng nhìn ngang dọc biết là chưa mùi mẽ gì, nhưng tự tin là sẽ làm được lớn hơn, cao vời hơn. Khao khát ấy nơi Triệu Xuân chẳng những không có lỗi mà còn đáng khen.

Quẻ Tiệm hào 2: Hồng Tiệm Vu Bàn ( Chim hồng tiến đến phiến đá lớn). Nếu hào 1, chỉ mới nói cái chí cái muốn của chim hồng, thì hào hai, tức là chim hồng đã từ bờ nước đến được phiến đá lớn, vẫy cánh ba lần rũ sạch nước và nhởn nhơ hong cánh, nhấm nháp hạt mầm và ca hót. Sau năm 1975, đất nước thanh bình, người có bằng cấp, có công trạng như Triệu Xuân, ngồi "oách" một chiếc ghế địa vị nào đó và cứ thế mà thăng tiến thì thực cũng chẳng có gì đáng trách. Nhưng anh đã không thế, anh vẫn chọn văn chương làm nghiệp của mình. Tiểu thuyết Giấy Trắng đã ra đời trong giai đoạn này. Đây là cuốn tiểu thuyết khá nổi trong chùm chùm các tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới, có bề dầy của trang viết, có cấu trúc của tiểu thuyết, có chữ nghĩa của người được đào tạo bài bản, có trải nghiệm hỉ nộ của  đời sống. Với cây bút tuổi đời mới vừa ba chục mà đã dụng được chữ ngàn câu thì thực không thể đòi hòi gì hơn trước tài hoa trẻ.

Chim Hồng Tiến Đến Phiến Đá Lớn. Hào hai đắc trung, đắc chính, âm nhu (còn gọi là hào Hậu) tương ứng với hào 5 dương cương ở trên (còn gọi là hào Vương), đó là sự tương ứng vua tôi đòi hỏi tấm lòng kiên trinh, trung thành. Đây là hào quan trọng thể hiện bản chất tính cách người tử tế, trung thành với mục đích, lý tưởng và nguyện một lòng một dạ hiến dâng thân mình cho mục đích lý tưởng ấy. Tiểu thuyết Giấy Trắng của Triệu Xuân ra đời trong bối cảnh đất nước mở đầu thời kỳ Đổi mới, như một tuyên ngôn vững vàng về sự theo đuổi đến cùng con đường văn học Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa. Và thật may mắn, nhận thức và tài hoa đã giúp anh thoát khỏi bảo thủ, trở nên vượt trội hơn một số nhà văn khác cùng trường phái, là anh đã kịp dịch biến hai chữ chuyên hồng vào hai chữ đổi mới để có được Giấy Trắng trôi vào dòng tiểu thuyết thời kỳ đổi mới hay còn gọi là tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa đổi mới. Giấy Trắng là đức trung, chính của nhà văn với lý tưởng phụng sự.

Quẻ Tiệm hào 3: Hồng Tiệm Vu Lục (Chim hồng tiến đến đất bằng). Đất bằng tất nhiên lớn rộng hơn phiến đá? Con thuyền hái hoa, cắt rau muống trong hồ làm sao nói chuyện sóng gió với con thuyền trên sông, con tầu trên biển cả? Hào ba quẻ Tiệm dương cương, muốn tiến lên nữa, nhưng sát phía trên là hào 4 âm nhu, nó muốn kết thân, muốn phá phách như ngoại tình. Đó cũng chính là bối cảnh văn đàn Việt những năm nửa tám mươi chín mươi. Một số nhà văn vừa "đổi mới" thành công với đôi ba tiểu thuyết đã vội rẽ sang phim đàn, video đàn, đôi phần muốn nhanh nổi tiếng, nhiều phần muốn sướng ấm tấm thân. Số nhà văn khác thấy "đổi mới" này chưa là đổi mới, muốn phủ nhận, thậm chí xóa sạch, tìm một đổi mới cho là đích thực, nhưng tiếc thay 90% trong số này chỉ nói, chẳng thấy làm gì, thật tiếc! Và đa phần các nhà văn (định không nói ở đây) thì hoặc lực bất tòng tâm (sức khỏe, tuổi trời), hoặc viên mãn (bổng lộc chức quyền), hoặc số không là ít bị "ép" hay do "cánh hẩu" mà thành nhà văn thì đánh võng hát hưu, thỉnh thoảng có ai gọi thì dụng cái âm vang của thời oai lực tọa đình, ngồi miếu mà quát, dậy. Ở nơi văn đàn đất bằng ấy, lung lạc là chuyện thường tình, chẳng biết nhà văn Triệu Xuân đã bao giờ lung lạc?

Tác phẩm của Triệu Xuân thay câu trả lời:

Những Người Mở Đất, NXB Văn Nghệ TPHCM, 1983 (tái bản 2 lần)

Giấy Trắng, NXB Văn Nghệ TPHCM, 1985 (tái bản 12 lần)

Đâu Là Lời Phán Xét Cuối Cùng, NXB Văn Nghệ TPHCM, 1987 (tái bản 2 lần)

Nổi Chìm Trong Dòng Xoáy, NXB Giao thông vận tải, 1987 (tái bản 2 lần)

Trả Giá, NXB Văn Nghệ TPHCM, 1988 (tái bản 11 lần)

Bụi Đời, NXB Thanh Niên 1990 (tái bản 11 lần)

Sóng Lừng, NXB Giao thông vận tải, 1991 (nước ngoài in không xin phép tác giả 18 lần)

Cõi Mê, NXB Hội Nhà Văn, 2004. (tái bản 4 lần)

Lấp Lánh Tình Đời, NXB Văn học, 2007.

Tôi hứa với Triệu Xuân sẽ đọc hết tám cuốn tiểu thuyết, một tập truyện ký chọn lọc này của anh, nghĩ đến số lượng thời gian đọc chúng, tôi thực sự lo lắng về quỹ thời gian của mình, nhưng dù sao tôi cũng đã hứa. Để làm gì? Có bạn đọc hỏi thế. Trộm nghĩ, muốn vững tin đi vào tương lai, ắt phải đọc lại hôm qua mà tìm bài học, khối lượng "khủng" tiểu thuyết của Triệu Xuân đầy ắp hiện thực và sự kiện, hẳn là kho tư liệu quí báu? Đọc một trang viết, nhanh là một phút, chậm là năm phút, nhưng hoàn thành một trang viết nhanh nhất cũng phải nửa giờ, còn trang văn có lẽ phải mất cả ngày. Vậy mà Triệu Xuân đã viết một hơi hơn bốn ngàn trang sách, bằng say mê, kiên trì, bền bỉ, liên tục, thực là một lao động đáng nể trọng. Nể trọng tôi có căn cứ. Tám cuốn tiểu tuyết của Triệu Xuân, ngoại trừ ba cuốn   tái bản hai lần, những cuốn còn lại, cuốn nào cũng tái bản nhiều lần. Điều này chứng tỏ tiểu thuyết của Triệu Xuân có bạn đọc, nếu không muốn nói là có nhu cầu tìm đọc. Trong bối cảnh văn hóa đọc văn học Việt đang xuống thấp đến mức không thể thấp hơn, mà tiểu thuyết của Xuân vẫn được tái bản, quả là một lạ mừng, lạ mừng ấy chính là những ban thưởng của bạn đọc, những đánh giá xứng đáng, công bằng của đồng nghiệp. Vượt qua hào 3, chim hồng đến nơi đất bằng, không ngả nghiêng lung lạc, trung thành với con đường đi tới của mình. Bạn đọc tôn trọng lòng trung thành ấy của Triệu Xuân.

.

Quẻ Tiệm hào 4: Hồng Tiệm Vu Mộc (Chim hồng nhảy lên cây). Từ đất bằng (hào 3) chim hồng nhảy lên cây.

Nhấn mạnh 1: Chim hồng là loại chim sở trường bơi giỏi, bay cừ, nhưng đậu lại là sở đoản, vì vậy lời quẻ bảo là nhẩy lên cây không phải bay lên cây, tất nhiên là để đậu, may mà gặp cành thẳng nên chim hồng đậu yên mà không có lỗi.

Nhấn mạnh 2: Nói hào 4 (cũng là hào 1 của ngoại quái) là quẻ đã sang ngoại quái. Ngoại quái Tốn thuộc mộc âm, cây cái, gió mềm, bản tính nhu thuận, phục tùng. May thay hào 4 cũng âm nhu, tuy ở trên hào 3 dương cương, chịu áp lực ganh ghét đố kỵ, nhưng biết thuận theo thời, thời đây là cành thẳng, nên mọi việc được cát lợi.

.

Có thể đọc được Triệu Xuân đã ứng xử thế nào với hào hai nhấn mạnh này. Trước hết, đó là đức trung thành, chỉ thẳng chứ không cong, có nghĩa là nhà văn đã không viết, hoặc viết thoáng qua rồi tránh né, hoặc tránh né toàn phần khi đụng chạm tới  cái "đậu", là sở đoản của mình, dù cái sở đoản ấy là "huyệt" của danh vọng, khiến anh có thể nổi tiếng nhanh hơn, vĩ đại hơn theo cách nhìn nhận đánh giá nào đó, hay theo nhu cầu thời thượng của người đọc. Nói theo dịch học thì đó là giải pháp phản sinh hay phản khắc, nghịch ngược để thành tựu. Triệu Xuân đã không làm thế, anh vẫn chọn một cành thẳng để đậu, để viết, viết với một ý thức trách nhiệm cao, với lý tưởng viết mà anh trung thành, đó là văn cách Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa, dù có gắn thêm cái đuôi Hồng Chuyên, hay Đổi Mới, hay Phê Phán thì tựu trung cũng văn cách Triệu Xuân cả thôi.

Và thế đã sao? Tôi tin là Triệu Xuân đã hơn một lần hỏi mình như thế, và tôi nghe trong âm thanh câu hỏi ấy có tiếng hát. Tiếng hát ấy chính là sự nhu thuận, tự tin mà nhu thuận, tự tin mà vượt qua mọi ganh ghét tỵ hiềm, tự tin mà cần mẫn đổ mồ hôi cầy bừa trên cánh đồng văn học.

Mạnh dạn cho rằng: Những nhà văn thế hệ Triệu Xuân đã cống hiến cho bạn đọc (cao hơn là cho nhân dân và đất nước) những tác phẩm văn học đúng chất, đúng tầm mà không phải canh cánh hối tiếc như các nhà văn thời chiến tranh dựng nước và giữ nước còn nợ non sông những tác phẩm văn học phúc dầy.

.

Quẻ Tiệm hào 5: Hồng Tiệm Vu Lăng (chim hồng lên gò cao hay chim hồng đã lên tới miệng vực). Hào này ở ngôi cao, hào 5, là hào Vương lại dương cương, đắc trung đắc chính. Hào 5 (Vương) với hào 2 (Hậu) nói ở trên là cặp hào âm dương thuận lý hoàn hảo. Cuộc phối ngẫu của âm dương này bị hào 4 (cũng âm nhu như hào 2), ghen với hào 2 về mối lương duyên này. Dù vậy, do đắc trung, đắc chính lương duyên của hào 5 và hào 2 vẫn thành tựu tốt đẹp và sự ghen tuông buộc phải thừa nhận sự chính đáng ấy với tâm phục, khẩu phục.

.

Lên đến hào 5, nhà văn Triệu Xuân đã thành tựu chói lói, thành tựu không thể phản bác, thành tựu được thừa nhận với sự ra đời bền bỉ, liên tục, thành tựu sau cao hơn thành tựu trước của 8 pho tiểu thuyết dẫn ở trên. Và theo tôi hai cuốn Trả GiáCõi Mê là đỉnh cao hơn cả của Triệu Xuân.

Và đó cũng chính là sự trung chính không mệt mỏi của Triệu Xuân với văn cách Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa dù là thuần túy hồng chuyên, hay đổi mới, hay phê phán. Triệu Xuân có vẻ thích được đánh giá và xếp định tiểu thuyết của mình vào dòng Hiện Thực Phê Phán. Anh thích vậy thì là vậy, chắc cũng chẳng ai bận tâm tranh cãi, nhưng thành thực mà nói, văn anh chỉ mới bước đến lằn ranh giữa đổi mới và phê phán. Mượn Trả Giá dẫn chứng: Khi nhà văn đã dám mở sách viết những trang hiện thực đúng bản chất của cảnh tù ngục, dù đó là kẻ lương thiện bị tù oan hay của kẻ bất lương đang chịu tội, dù đó kẻ cai tù hay kẻ bị cầm tù thì tính người và tính vật đều hiện nguyên hình, và đã là nhà tù thì nhà tù nào cũng đều tàn độc. Những trang viết này trăm phần trăm là hiện thực, nhưng vẫn là hiện thực phạm vi hồng chuyên, hoặc cao hơn là đổi mới. Người đọc vẫn thấy nhà văn đứng bên ngoài hiện thực, tìm những lý lẽ biện hộ theo đường lối Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa Hồng Chuyên qua nhiều năm được giáo dưỡng đã ăn vào máu thịt nhà văn. Đặc tính phê phán của Triệu Xuân chỉ mới dừng lại ở ngoài da, chưa vào thẳng lục phủ ngũ tạng, mổ xẻ những ung nhọt. Các nhân vật dù Đước, hay Phái, hay Bẩy Tụ tốt xấu thế nào như đã có khuôn với bàn tay tài khéo của tác giả mà nên hình nên bóng. Nên các nhân vật chưa thật, tức là còn giả, còn do người viết sinh nở, chứ thực ra hiếm có ngoài đời. Một nhân vật như Bảy Tụ vừa chào sách đã được ngay là "mụ", thì người đọc biết tỏng nhân vật này phản diện, cái hứng thú của đọc vì thế giảm đi phần đáng kể. Dẫn chứng trên chỉ mang tính chi tiết, tính bắt bẻ và sự mong đợi của người đọc. Nói cách khác chỉ là để bài đò đưa đầy đủ khen chê. Vì vậy, xin không dẫn thêm.

Thời nào bộ máy cai trị cũng không ưa nhà văn. Những năm 1960, miền Bắc với vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, là vết nhơ của Văn đàn Việt, mà mãi đến thập niên 1990 mới được gột rửa, các nhà văn bị oan sai mới được khôi phục lại phẩm hạnh và tài năng. Với lịch sử, sửa sai ấy được coi là nhanh, là văn đàn Việt còn phúc. Và ở miền Nam, những năm 1970 là những cuộc xuống đường của người cầm bút, với tuyên hiệu "Nhà văn đi xin cháo, nhà báo đi ăn mày", tuyên hiệu ấy đủ nói lên sự tàn độc của cai trị và sự khốn cùng của bị trị. May thay mâu thuẫn ấy đã kết thúc sau 1975, đất nước thống nhất. Nhắc điều này chỉ muốn nói: Viết văn thời nào cũng khó!  Nhà văn Triệu Xuân đã không bị chìm vào bị kịch của khó ấy. Bởi anh là một nhà văn "tư duy tích cực" (chữ của Trần Đình Hoành) tức là anh biết thể tất cái khó của cai trị và cái nhẫn tài của bị trị để dung hòa mà viết. Đó là bản lĩnh của chân tài. Tôi biết Triệu Xuân không ngừng đi, sống, học, tích lũy vốn sống, làm giàu tri thức, đam mê học hỏi nhằm đạt tới sự sâu sắc, lịch lãm, thông tuệ. Triệu Xuân luôn thực hiện phương châm: Phải biết mười để chỉ viết một!". Nội lực của anh xem ra rất dồi dào! Lên đến hào 5 của sự nghiệp văn chương, nhà văn Triệu Xuân với 8 cuốn tiểu thuyết xứng đáng là đỉnh của thành tựu Triệu Xuân. Tâm phục, khẩu phục!

.

Quẻ Tiệm hào 6: Hồng Tiệm Vu qui (học giả Nguyễn Hiến Lê dịch là chim Hồng bay bổng ở đường mây)

Trong 64 quẻ dịch, hầu như không có hào 6 nào tàng ẩn sự cát lợi tam tài (phúc, lộc, thọ), mà chỉ hàm cái ý tu thân hưu nhàn của thời khắc tuổi quẻ (60 tuổi) xế chiếu. Duy có quẻ Tiệm, hào 6, cho ta một cảm giác bay bổng thăng hoa, một cái gì đó thoát tục, không phải ở ẩn, không phải cam chịu hưu nhàn, mà như chim hồng kia bay vút trời xanh, bay lên trời xanh dù có gặp gió to, bão lớn thì cùng lắm cũng chỉ rớt rụng đôi ba sợi lông, mà không gặp lâm nguy gì khác, và ngay cả những sợi lông bị rơi rụng ấy vẫn có thể dụng làm đồ trang sức, nghĩa rằng vẫn giúp ích làm đẹp cho đời.

Nghe nói tháng 9 năm 2012, nhà văn Triệu Xuân nghỉ hưu, nghĩa là anh bước vào thời kỳ của hào 6 quẻ Tiệm. Những tác phẩm sẽ ra đời sau 8 pho tiểu thuyết nói trên, hẳn sẽ như chim hồng bay vút trời xanh?

.

3. Lời riêng với Triệu Xuân. Sau khi đại phẫu căn bệnh dữ bình phục, tôi chống gậy lên núi, đến một ngôi chùa cổ (Trung Quốc), do một nhà sư được tôn là Phật sống trụ trì, xin nghe Phật pháp. Bữa kia, tôi may mắn được trò truyện cùng Ngài Phật. Tôi chép được cuộc trò truyện ấy, đoạn sau đây ghi lại tặng Triệu Xuân.

Ngài Phật: Con muốn hỏi ta điều riêng tư?

Tôi: Bạch Ngài Phật, lòng con băn khoăn về lẽ sống chết.

Ngài Phật: Con muốn hỏi ta về tuổi thọ? -Ngài tươi cười và đột ngột hỏi-  Thế theo con ta thọ bao nhiêu tuổi?

Tôi, e ngại chút, nhưng được nụ cười Ngài khích lệ mà trở nên mạnh dạn: Bạch Ngài, Ngài đắc Phật nên Ngài thọ vĩnh hằng, thọ cùng trời đất, thọ cho đến khi còn Đạo còn Người.

Ngài Phật (cười vang): Khéo lắm, khéo lắm. -Đột ngột: Còn con, con thọ ít nhất trăm tuổi, dù có thể ngay ngày mai con chết, việc làm của con, sự tử tế của con bảo ta như thế.

Ngẫm lời Ngài Phật tôi cứ thể hồn nhiên mà sống. Thưa Triệu Xuân, tôi kính trọng lao động nhà văn của anh và tự đáy lòng khâm phục những thành tựu đạt được từ lao động ấy. Lao động của anh, sự tử tế của anh như cũng bảo rằng anh sống thọ trăm năm. Vậy là nhà văn Triệu Xuân còn những 40 năm đời sống? Anh sẽ còn viết những gì cho bạn đọc, cho đời, cho đất nước, cho mai sau? Tin là anh đã có lời đáp cho câu hỏi ấy? Tôi kết bài đò đưa này với lời khảng: Triệu Xuân bút lực của quẻ Tiệm, bay vút lên đi, hỡi con chim hồng dũng cảm!

 

Sài Gòn, 5/5/2011

Nguyễn Nguyên Bảy đò đưa


Filed under: Văn, Văn Hóa Tagged: Văn, Văn Hóa

Tuyên Cáo Về Việc Nhà Cầm Quyền Trung Quốc Liên Tục Có Những Hành Động Gây Hấn, Xâm Phạm Nghiêm Trọng Chủ Quyền Và Toàn Vẹn Lãnh Thổ Việt Nam Trên Biển Đông

Posted: 27 Jun 2011 01:03 PM PDT

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

— o0o —

TUYÊN CÁO

VỀ VIỆC NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC LIÊN TỤC CÓ NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN, XÂM PHẠM NGHIÊM TRỌNG CHỦ QUYỀN VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG

Chúng tôi, những người đồng ký tên dưới đây

Nhận định rằng :

1. Trong quá trình lịch sử, Trung Quốc đã nhiều lần tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Năm 1974 chiếm Hoàng Sa, năm 1979 xua quân đánh 9 tỉnh biên giới phía Bắc, tiếp sức cho bọn diệt chủng Pôn Pốt đánh vào các tỉnh Tây Nam Việt Nam, năm 1988 đánh chiếm đảo Đá chữ thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, cho đến nay mưu đồ lấn chiếm ngày càng tiếp diễn thô bạo hơn.

2. Mặc dù năm 1991, Việt Nam Trung Quốc đã ký Hiệp định Hoà Bình, tuyên bố láng giềng hữu nghị nhưng nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn tiếp tục ngang ngược cho tàu ngăn cản, bắn giết ngư dân Việt Nam trong cuộc mưu sinh trên vùng biển của mình ; bắt tàu đánh cá, phạt vạ, trấn lột, cướp bóc tài sản của ngư dân Việt Nam. Ngày 26 tháng 5 năm 2011, tàu hải giám Trung Quốc xông vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tấn công, cắt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh, tiếp đến ngày 9 tháng 6 năm 2011, tàu Trung Quốc lại hung hãn xông vào cắt cáp tàu Viking đang hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, với ý đồ xấu xa là biến vùng đặc quyền kinh tế, vùng biển của Việt Nam thành vùng đang tranh chấp để thực hiện cái gọi là gác bỏ tranh chấp để cùng nhau khai thác với ưu thế vượt trội của Trung Quốc; áp đặt thô bạo đường lưỡi bò 9 đoạn trên Biển Đông mà không có cơ sở lịch sử, pháp lý nào. Việc làm này đã ngăn cản tự do hàng hải, đang bị các nước lên tiếng phản đối. Các hành vi nêu trên của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng Luật Biển và Công ước về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 của Liên Hiệp Quốc mà Trung Quốc là thành viên Thường Trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, vi phạm tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc và ASEAN đã ký năm 2002.

3. Mới đây Trung Quốc lại điều tàu chiến Hải tuần 31 qua Biển Đông, tổ chức tập trận để đe dọa Việt Nam, Philippines và các nước khác ở Đông Nam Á. Những hành động ngang ngược, phô trương lực lượng này đã tạo nên không khí căng thẳng, phá hoại hoà bình, ổn định và an ninh trong toàn khu vực Châu Á Thái Bình Dương và trên toàn thế giới, ngăn cản công cuộc xây dựng hoà bình của các nước trong khu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương, trong đó có ASEAN và Việt Nam. Các hành vi nêu trên của Trung Quốc là trái ngược hoàn toàn với những gì mà Trung Quốc đã tuyên bố với thế giới và với xu thế phát triển hoà bình, tiến bộ của thời đại.

4. Những lời tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 08/06/2011 tại Nha Trang: " Tiếp tục khẳng định mạnh mẽ và thể hiện ý chí quyết tâm cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển và hải đảo của Tổ Quốc", đã đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam.

Chúng tôi long trọng tuyên bố:

1. Cực lực lên án và tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước: Nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục có những hành động gây hấn nhằm xâm chiếm Biển Đông với tuyên bố chủ quyền đường lưỡi bò 9 đoạn và Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam; bắt bớ cướp bóc, phá hoại tàu bè của ngư dân Việt Nam; cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam với ý đồ biến vùng đặc quyền kinh tế, vùng biển của Việt Nam thành vùng tranh chấp để Trung Quốc hưởng lợi; diễn tập quân sự, điều tàu chiến lớn đến Biển Đông, đe dọa hoà bình an ninh trong khu vực.

2. Chúng tôi ủng hộ những phát biểu mạnh mẽ, hợp lòng dân của những nhà lãnh đạo cao nhất của nhà nước Việt Nam và rất mong các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị và xã hội, các ban ngành đoàn thể Việt Nam nhanh chóng có những biện pháp tích cực và hữu hiệu hơn nữa nhằm bảo vệ ngư dân, bảo vệ các tàu thăm dò dầu khí. Chúng ta yêu chuộng hoà bình, nhưng kiên quyết không để một tấc đất, một vùng biển, đảo nào lọt vào tay bất cứ một nước ngoài nào như Chủ tịch Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết nhiều lần phát biểu khẳng định.

3. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân. Vì vậy bên cạnh biện pháp chính trị, quân sự và ngoại giao, biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc, của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước ở trong nước cũng như ở ngoài nước nhằm chống lại những hành động ngang ngược gây hấn, xâm lấn của nhà cầm quyền Trung Quốc, bảo vệ nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam mà bao đời ông cha đã gầy dựng, gìn giữ.

4. Chúng tôi nghĩ rằng không vì lý do gì ngăn chặn những hành động yêu nước của nhân dân bao gồm các cuộc biểu tình, mít tinh ôn hoà, trật tự của thanh niên, sinh viên học sinh và đồng bào Việt Nam trên toàn quốc.

Trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, nối tiếp biết bao thế hệ cha ông chúng ta đã khắc sâu lời thề: "Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh". Dựa vào sức mạnh của nhân dân là chính, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng. Chính nhờ vậy mà Tổ quốc Việt Nam chúng ta đã trường tồn và độc lập đến ngày hôm nay.

Làm tại TP.HCM, ngày 25 tháng 06 năm 2011

Đồng ký tên :


01

Ô.NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU

  • Nhà nghiên cứu sử địa học,

  • Chuyên gia về Biển Đông

02

Ô. NGUYỄN TRỌNG VĨNH

  • Thiếu tướng, lão thành Cách Mạng

  • Nguyên ủy viên Trung Ương Đảng Khóa 3

  • Nguyên Đại Sứ Đặc Mệnh Toàn Quyền Việt Nam tại Trung Quốc

03

Ô. NGUYỄN HUỆ CHI

  • Giáo sư Văn học, người sáng lập trang mạng BauxiteViệt Nam

04

Ô. NGUYỄN QUANG A

  • Tiến sĩ

05

Ô. PHẠM TOÀN

  • Nhà giáo, người sáng lập trang mạng Bauxite Việt Nam

06

Ô. CHU HẢO

  • Giáo sư Tiến sĩ Nguyên Thứ Trưởng Bộ Khoa Học Công Nghệ

07

Ô. NGUYỄN KHẮC MAI

  • Nguyên vụ trưởng Ban Dân Vận Trung Ương

  • Giám Đốc Trung Tâm Minh Triết

08

Ô. PHAN ĐÌNH DIỆU

  • Giáo sư Tiến sĩ

  • Ủy viên Đoàn Chủ Tịch ủy ban Trung ương MTTQ VN

09

Bà TRẦN THỊ BĂNG TÂM

  • Phó GSTS , Viện văn học Việt Nam

10

Ô. NGUYÊN NGỌC

  • Nhà văn

  • Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Đại Học Phan Chu Trinh – tỉnh Quảng Nam

11

Ô. HỒ NGỌC NHUẬN

  • Nhà báo

  • Nguyên Giám Đốc chính trị nhật báo Tin Sáng

  • Uỷ viên TW Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

  • Phó chủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc TP.HCM

12

Ô. LỮ PHƯƠNG

  • Viết văn

  • Nguyên thứ trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin Chính Phủ CM Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam VN

13

Ô. NGUYỄN XUÂN DIỆN

  • Tiến sĩ, phó GĐ Thư viện Viện Hán Nôm VN

14

Ni sư trưởng NGOẠT LIÊN

  • Trụ trì tịnh xá Ngọc Phương

  • Ủy viên Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo VN

  • Ủy viên Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc VN

15

Ô. HUỲNH TẤN MẪM

  • Bác sĩ Đại biểu Quốc Hội Khóa 6

  • Nguyên chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên SG trước 1975

16

Ô. TRẦN QUỐC THUẬN

  • Luật sư , Phó Ban Thường Trực Ban Liên Lạc Tù Chính Trị Việt Nam

  • Nguyên Phó chủ nhiệm thường trực văn phòng Quốc Hội Việt Nam .

17

Ô. TƯƠNG LAI

  • Giáo sư.

18

Ô. LÊ HIẾU ĐẰNG

  • Nguyên phó Tổng Thư Ký Uỷ Ban TW Liên Minh các lực lượng dân tộc, dân chủ & hoà bình Việt Nam

  • Nguyên phó chủ tịch UB MTTQ TP.HCM

  • Đại biểu HĐND TP.HCM khóa 4&5

19

Ô. LÊ CÔNG GIÀU

  • Cựu tù chính trị trước 1975

  • Nguyên Phó Bí Thư thường trực Thành Đoàn TP.HCM

  • Nguyên GĐ Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại & Đầu tư TP.HCM.

  • Nguyên Phó Tổng GĐ Saigontourist

20

Ô. ANDRÉ MENRAS- HỒ CƯƠNG QUYẾT

  • Cựu tù chính trị tại Việt Nam trước 1975

  • Nhà giáo về hưu

21

Ô. PHẠM VĂN ĐỈNH

  • Tiến sĩ quốc gia Pháp, chuyên ngành Vật Lí Khí Quyển

  • Chủ tịch hội văn hóa Trịnh Công Sơn

  • Thành viên hội đồng quản trị hội "Maison Vietnam" – Pháp

22

Ô. HÀ DƯƠNG TƯỜNG

  • Nguyên giáo sư Đại học Công nghệ Compiègne (UTC, France), tổng biên tập báo Diễn Đàn.

23

Ô. NGUYỄN NGỌC GIAO

  • Nhà giáo về hưu, dịch giả, chủ biên báo Diễn Đàn

24

Ô. HÀ SỸ PHU

  • Tiến sĩ Sinh Học ( Đà Lạt )

25

Ô. TRẦN VĂN LONG

  • Cựu tù Côn Đảo trước 1975,

  • Nguyên Phó Bí thư Thành Đoàn Tp.HCM

  • Nguyên Tổng thư kí UB Vận động cải thiện chế độ lao tù – MNVN (trước 1975), Nguyên phó Tổng GĐ Saigontourist

26

Ô. NGÔ ĐỨC THỌ

  • Phó GS TS ( Hà Nội )

27

Ô. HUỲNH NHẬT HẢI

  • Nguyên Phó Chủ tịch UBND Thành Phố Đà Lạt

28

Ô. HUỲNH NHẬT TẤN

  • Nguyên phó giám đốc Trường Đảng Tỉnh Lâm Đồng

29

Ô. BÙI MINH QUỐC

  • Nhà thơ, Nguyên chủ tịch Hội Văn Nghệ Lâm Đồng

30

Ô. TIÊU DAO BẢO CỰ

  • Nhà văn tự do (Đà Lạt )

31

Ô. MAI THÁI LĨNH

  • Nguyên phó chủ tịch HĐND Thành phố Đà Lạt

32

Ô. NGUYỄN QUANG NHÀN

  • Cán bộ công đoàn Đà Lạt (đã nghỉ hưu )

33

Bà ĐẶNG THỊ THANH BIÊN

  • Nhà giáo (đã nghỉ hưu )

34

Ô. KHA LƯƠNG NGÃI

  • Nguyên Phó Tổng Biên Tập báo Sài Gòn Giải Phóng thuộc Thành Uỷ TP.HCM

35

Ô. HỒ TỊNH TÌNH
( HỒ THANH)

  • Nguyên hiệu trưởng trường Phát Thanh Truyền Hình TW2

36

Ô. HUỲNH KIM BÁU

  • Nguyên Tổng Thư Ký Hội Trí Thức Yêu Nước TP.HCM (nay là Liên Hiệp các hội Khoa Học Kỹ Thuật TP.HCM )

37

Luật sư TRỊNH ĐÌNH BAN

  • Nguyên Chủ Tịch Phong Trào Tự Trị Đại Học Miền Nam Việt Nam
  • Nguyên thành viên Tổ Tư Vấn Chính Phủ nước CHXH Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Nguyên phó chủ tịch Hội Luật Gia TP.HCM
  • Nguyên Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân TPHCM Khóa 3

38

Ô.NGUYỄN XUÂN LẬP

  • Nguyên chủ tịch đoàn sinh viên Phật Tử Sài Gòn

  • Nguyên Giám Đốc Cty Dược TP.HCM ( SAPHARCO)

  • Nguyên chủ tịch Hội Dược Học TP.HCM

39

Ni sư TUẤN LIÊN

  • Phong trào đấu tranh trước 1975

40

Ni sư trưởng LIÊN HÀN LIÊN

  • Phong trào đấu tranh trước 1975

41

Thích nữ TÍN LIÊN

  • Uỷ viên TW Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

42

Ni sư THÍCH NỮ MINH LIÊN

  • Uỷ viên Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc, quận Gò Vấp

43

Ni sư Thích nữ LỆ LIÊN

  • Phong trào đấu tranh trước 1975

44

Thích nữ HOÀ LIÊN

  • Uỷ viên Hội Liên Hiệp Phụ Nữ , quận Gò Vấp

45

Thích nữ VIÊN LIÊN

  • Tịnh xá Ngọc Phương

46

Ô. HẠ ĐÌNH NGUYÊN

  • Nguyên Chủ Tịch Uỷ Ban Đấu Tranh thuộc Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn (trước 1975)

47

Ô. PHAN LONG CÔN

  • Nguyên Tổng Thư Ký Tổng Hội Sinh Viên Liên Viện Miền Nam VN (1967)

  • Nguyên Chủ tịch Liên Hiệp Các Tổ Chức Hữu Nghị Phú Yên

48

Bà VÕ THỊ BẠCH TUYẾT

  • Nguyên Giám Đốc Sở Lao Động Thương Binh Xã Hội TP.HCM

49

Ô. NGUYỄN TRỌNG TẠO

  • Nhà thơ, nhạc sĩ

50

Ô. TRẦN NHƯƠNG

  • Nhà thơ, nhạc sĩ

51

Ô. LÝ TRỰC DŨNG

  • Họa sĩ

52

Ô. TRỊNH QUANG VŨ

  • Họa sĩ

53

Ô. MAI THANH HẢI

  • Blogger

54

Ô. HÀ THÚC HUY

  • Tiến sĩ Hóa học Đại học KHTN

55

Ô. PHẠM QUỐC VỸ

  • Bác sĩ, Nguyên ban đại diện SV Y Khoa Sài Gòn.

  • Nguyên trưởng phòng y tế LLTNXP

56

Ô. PHAN THANH HUÂN

  • Luật sư

57

Ô. THÁI VĨNH TRINH

  • Cựu tù Côn Đảo

58

Ô. VƯƠNG ĐÌNH CHỮ

  • CLB Phaolo NGUYỄN VĂN BÌNH

59

Ô. ĐÌNH VƯỢNG

  • CLB Phaolo NGUYỄN VĂN BÌNH

60

Ô. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
  • Thanh niên Hà Nội

61

Bà HUỲNH THỊ KIM TUYẾN

  • Nguyên Phó Tổng Thư Ký Hội Nhà Gíao Yêu Nước TP.HCM

  • Nguyên Cán Bộ Ban Dân Vận Thành Uỷ

62

Ô. ĐẶNG NGỌC LỆ

  • Phó giáo sư tiến sĩ , Chủ Tịch Hội Ngôn Ngữ Học TPHCM

  • Trưởng Khoa Đông Phương Học – Trường Đại Học Văn Hiến

63

Ô. HUỲNH SƠN PHƯỚC

  • Nguyên Phó Tổng Biên Tập Báo TUỔI TRẺ TP.HCM

64

Ô. NGUYỄN QUỐC THÁI

  • Nhà Báo Nguyên Tổng Thư Kí báo Công Nghiệp

65

Ô. TRẦN MINH ĐỨC

  • Nguyên Phó Tổng Biên Tập Báo Tuổi Trẻ TP.HCM

  • Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị CTY CỔ PHẦN THẾ KỈ 21

66

Ô. CAO LẬP

  • Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975

  • Nguyên Giám Đốc Làng Du Lịch Bình Quới – Saigontourist

67

Ô. BÙI TIẾN AN

  • Huynh trưởng hướng đạo

  • Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975

68

Ô. NGUYỄN TUẤN KIỆT

  • Nhạc sĩ

  • Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975

69

Ô. ĐỖ TRUNG QUÂN

  • Nhà thơ

70

Ô. NGUYÊN HẠO

  • Họa sĩ

71

Ô. VŨ QUANG HÙNG

  • Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975

  • Nguyên Phó Tổng Biên Tập Báo Công An TPHCM

72

Ô. ĐỖ HỮU BÚT

  • Nguyên trưởng Ban Tuyên Huấn Đảng Uỷ Sinh Viên Sài gòn Gia Định

  • Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài Gòn Gia Định

73

Ô. TRẦN HƯNG ĐOÀN

  • Nguyên Tổng Giám Đốc cty SAVIMEX

74

Bà TRẦN THỊ KHÁNH

  • Biên tập viên nhà xuất bản Trẻ TP.HCM

75

Ô. NGUYỄN TẤN Á

  • Nguyên quyền trưởng ty điện lực Phú Yên (trước 1975)

  • Nguyên Tổng Thư Kí Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn 1964

76

Bà HUỲNH QUANG THƯ

  • Nguyên Tổng Thư Kí Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn 1968

77

Ô. THIỀU HOÀNH CHÍ

  • Bác sĩ

78

Ô. HUỲNH NGỌC CƯƠNG

  • Dược sĩ

  • Giám đốc công ty Dược Phú Thọ

79

Bà TRƯƠNG HỒNG LIÊN

  • Nguyên cán bộ Thành Đoàn TP.HCM

80

Bà HUỲNH MINH NGUYỆT

  • Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài Gòn Gia Định

81

Bà NGUYỄN THỊ XUÂN DUNG
  • Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài Gòn Gia Định

82

Bà TẠ THỊ TƯƠI

  • Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài Gòn Gia Định

83

Bà NGUYỄN THỊ TRUYỀN

  • Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài Gòn Gia Định

84

Ô. HỒ HIẾU

  • Nguyên chánh Văn phòng ban Dân vận Thành Ùy TP.HCM

85

Ô. LÊ THÂN

  • Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Cựu tù Côn đảo trước 1975


Nguồn: http://www.viet-studies.info/kinhte/TuyenCao_25_6_11.htm


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

Ra lệnh bắt Đại tá Gaddafi – Libya: Muammar Gaddafi subject to ICC arrest warrant

Posted: 27 Jun 2011 01:02 PM PDT

 

 

\Đại tá Gaddafi cùng con trai nay bị truy nã

Quan tòa của Tòa án Hình sự Quốc tế ở Hague ra lệnh truy nã lãnh đạo Libya, Đại tá Gaddafi cùng hai người thân cận nhất – con trai Saif al Islam và lãnh đạo tình báo Abdullah al Sanousi.

Hôm qua, chánh công tố của tòa án, Luis Moreno-Ocampo, nói tội ác chống nhân loại đang tiếp tục ở Libya và rằng phải bắt giữ Đại tá Gaddafi.

Như vậy chính thức Đại tá Gaddafi nay là kẻ bị truy nã, cùng với con trai và người nắm ngành tình báo.

Chánh án của tòa ở Hague nói việc ra lệnh bắt chưa phải đồng nghĩa việc ba người này có tội. Tòa sẽ quyết định liệu rốt cuộc có đưa ba người này đến Hague hay không.

Nhưng ông nói có lý do hợp lý để tin rằng Đại tá Gaddafi chịu trách nhiệm cho những tội ác của an ninh Libya ở Tripoli, Benghazi và Misrata từ sau ngày 15 tháng Hai năm nay, khi xảy ra nổi dậy ở Libya.

Chừng nào ông còn ngồi ở Tripoli, hẳn Đại tá Gaddafi chẳng phải lo lắng gì về lệnh bắt.

Nhưng lệnh của tòa chắc chắn khiến ý định chạy ra nước ngoài sống lưu vong trở nên khó khăn hơn.


Libya: Muammar Gaddafi subject to ICC arrest warrant

Muammar Gaddafi plays chess with Kirsan Ilyumzhinov, the president of the international chess federation, in Tripoli on 12 June, 2011 in a still image taken from Libyan state TV broadcast
Muammar Gaddafi is accused of personally ordering attacks on civilians

The International Criminal Court has issued an arrest warrant for Libyan leader Col Muammar Gaddafi, accusing him of crimes against humanity.

The court had grounds to believe he had ordered attacks on civilians during Libya’s four-month uprising, it said.

The Hague-based court also issued warrants for two of Col Gaddafi’s top aides – his son Saif al-Islam and intelligence chief Abdullah al-Sanussi.

Thousands of people are believed to have been killed in the conflict.

Anti-Gaddafi forces said on Monday they had launched a new push towards Tripoli, with heavy fighting near the strategic town of Bir al-Ghanam, to the south-west of capital.

The rebel defence minister told the BBC that forces opposed to Col Gaddafi may also make a move on the capital from the east.

‘Unquestioned control’

The ICC arrest warrants refer to early weeks of the uprising, from 15 February until “at least 28 February”.

ICC warrants of arrest

  • Issued against Muammar Gaddafi, Saif al-Islam Gaddafi and Abdullah al-Senussi
  • For alleged criminal responsibility for the commission of murder and persecution as crimes against humanity from 15 February 2011 onwards
  • Charges relate to actions of Libyan State apparatus and security forces in Tripoli, Benghazi, Misrata and elsewhere in Libya

The statement, read out by presiding judge Sanji Monageng, said there were “reasonable grounds to believe” that the three men were “criminally responsible” for the murder and persecution of civilians.

As the “recognised and undisputed leader of Libya”, said the court, Col Gaddafi had “absolute, ultimate and unquestioned control” over the state.

He introduced a state policy “aimed at deterring and quelling by any means, including by the use of force, the demonstrations of civilians against the regime”, the court alleged.

The warrant says that while Saif al-Islam Gaddafi holds no official position in Libya, he is “the most influential person” in Col Gaddafi’s inner circle.

Mr Sanussi, said the court, had “indirectly instructed the troops to attack civilians demonstrating” in Benghazi, the city that has become the rebels’ stronghold.

The BBC’s Andrew Harding in Misrata said there was celebratory gunfire on the streets of the besieged city as the news emerged.

“We are extremely happy that the whole world has united in prosecuting Gaddafi for the crimes he has committed,” rebel council spokesman Jalal al-Galal told Reuters news agency from the rebel stronghold Benghazi. “The people feel vindicated by such a response.”

On the military front, meanwhile, the rebels have advanced some six miles (10km) towards Tripoli in the past 24 hours, says the BBC’s Mark Doyle on the front line about 40 miles south-west of the capital.

The fighting is taking place on a plain of rock and sand between Bir al-Ghanem and Bir Ayyad a few miles to the south, with shells whistling overhead in both directions and plumes of smoke and sand rising into the air, he says.

The rebels seem better armed in this strategic area than elsewhere in the country, adds our correspondent, who saw several pick-up trucks full of rebel soldiers – in clean uniforms and new-looking rocket launchers and rifles – heading for the front line.

‘No legitimacy’

The warrants had been requested by chief ICC prosecutor Luis Moreno-Ocampo in May. He has said Col Gaddafi must be arrested in order to protect civilians.

Continue reading the main story

Analysis

image of Andrew Harding Andrew Harding BBC News, Misrata


There were celebrations across Misrata today, with car horns beeping, and a lot of gunfire in the air as people greeted the news from the ICC.

This still besieged city has suffered a great deal at the hands of Col Gaddafi’s forces, which have pounded the city itself and killed many civilians.

A lot of people I’ve been speaking to say they believe Col Gaddafi should face justice in the Hague. But, when pressed, many people also say that if his internal or external exile or house arrest would end this war quicker, they’d be happy to accept that.

But the Libyan authorities have previously said they do not recognise the court and are not concerned by the threat of a warrant.

On Sunday, government spokesman Moussa Ibrahim said the court was overly preoccupied with pursuing African leaders and had “no legitimacy whatsoever”.

The ICC announcement came as the international air operation in Libya, aimed at protecting civilians, enters its 100th day.

It was welcomed by Nato Secretary-General Anders Fogh Rasmussen, who said the court’s decision highlighted the increasing isolation of the Libyan regime.

“It reinforces the reason for Nato’s mission to protect the Libyan people from Gaddafi’s forces,” said Mr Fogh Rasmussen in Brussels.

UK Foreign Secretary William Hague said the court’s decision further demonstrated “why Gaddafi has lost all legitimacy and why he should go immediately”.

Mr Hague called on people within the Libyan regime to abandon the leader and said those responsible for “atrocities” must be held to account.

French President Nicolas Sarkozy echoed those sentiments, saying of the Libyan leader: “After 41 years of dictatorship, it is perhaps time to stop, for him to leave power.”

Map of fighting

Filed under: Thế giới, Trang tiếng Anh Tagged: Thế giới, trang tiếng Anh

Một mục sư Tin Lành bị bắt

Posted: 27 Jun 2011 01:01 PM PDT

BBC
Một nhà thờ Tin Lành ở Việt Nam
Năm nay là 100 năm đạo Tin Lành vào Việt Nam

Tin cho hay một mục sư của Giáo hội Tin Lành Mennonite ở TP Hồ Chí Minh, ông Phạm Ngọc Thạch, vừa bị công an bắt.

Mục sư Thân Văn Trường, cố vấn cho Hội thánh Mennonite có tên gọi được lưu hành là Hội thánh Chuồng bò, nói với BBC vụ bắt giữ xảy ra vào tối thứ Bảy 25/06.

Ông nói tới giữa ngày thứ Hai cũng chưa có thông tin hiện ông Thạch đang bị giữ ở đâu và trong tình trạng như thế nào.

Tuy nhiên, theo mục sư Trường, gia đình của ông Thạch cho hay ông đã “bị đánh đập khi bị bắt”.

“Lý do mục sư Thạch bị bắt, có thể là do công an họ nói đã bắt quả tang ông Thạch dán tờ rơi Hoàng Sa-Trường Sa ở gần bến xe Miền Đông.”

Cũng theo mục sư Thân Văn Trường, Hội thánh Chuồng bò đã gặp nhiều rắc rối trong thời gian gần đây.

Khám nhà

Vợ mục sư Phạm Ngọc Thạch thuật lại với giáo chức Hội thánh Chuồng bò rằng chồng bà bị bắt ở khu vực Cầu Đỏ, quận Bình Thạnh, vào lúc khoảng 10 giờ tối ngày 25/06.

Sau đó ông Thạch bị đưa về đồn công an phường và bà đã tới nơi nhưng không được gặp chồng.

Từ phường ông Phạm Ngọc Thạch bị “đưa lên quận” và gia đình không biết thông tin gì thêm.

Nơi tạm trú của gia đình ông Thạch ở quận Hiệp Bình Chánh được biết cũng bị khám xét vào sáng Chủ nhật.

Trước đó hôm 28/04, một mục sư khác là ông Nguyễn Công Chính bị Công an ở tỉnh Gia Lai bắt tạm giam để điều tra tội Phá hoại chính sách đoàn kết, theo Điều 87 Bộ Luật Hình sự.

Hôm 30/05, mục sư Dương Kim Khải cũng thuộc Hội thánh Chuồng bò và là thành viên đảng Việt Tân ở hải ngoại bị tòa án Bến Tre xử 6 năm tù giam và 5 năm quản chế tội Âm mưu Lật đổ chính quyền.

Năm nay, giáo dân Việt Nam kỷ niệm 100 năm đạo Tin Lành tới Việt Nam.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

No comments:

Post a Comment