Đọt Chuối Non |
- Bài tình cho giai nhân và văn chương Quốc Bảo
- Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài
- Trường ca, sử thi trong môi trường văn hóa dân gian Tây Nguyên
- Khi nhà thơ buộc phải “ngoại tình” với thơ
- Lá thư thấm đẫm nước mắt của một cô giáo
- Giọt nước mắt của cậu ấm cô chiêu trong học kỳ quân đội
- ‘Việt Nam sẽ làm tất cả để bảo vệ chủ quyền’
| Bài tình cho giai nhân và văn chương Quốc Bảo Posted: 06 Jun 2011 01:07 PM PDT
Quốc Bảo là một nhạc sĩ nhưng với văn chương, anh cũng rất có duyên, anh hay viết những bài viết ngắn cho các tạp chí trong nước để nói lên quan niệm của mình với nhiều vấn đề cuộc sống. Xin được trích một đoạn văn chương Quốc Bảo để minh họa cho bài hát mà mình muốn giới thiệu với các bạn hôm nay…
Tôi thích những vẻ đẹp không cân đối, khác với khuôn mẫu cổ điển. Tôi thích một chút xộc xệch, một chút thiếu hụt. Nhưng có một tiêu chuẩn mà nếu tôi đã xem là người đẹp thì không thể không có: chiếc cổ. Cổ phải thon, gọn, mảnh mai và cao ba ngấn, trắng như men sứ. Như tượng hoàng hậu Ai Cập Nefertiti. Quỳnh Như hay Xuân Lan đều có ngấn cổ đẹp như tượng tạc, thì nhất định họ phải đẹp trong mắt tôi.Quan niệm nhan sắc của tôi có thể tóm lược ở hai câu thơ Du Tử Lê: Tóc nồng hương trẻ dại Ngực trầm hương ấu thơ Tóc thơm và ngực thơm, không phải thơm mùi đàn bà son phấn, mà thơm như trẻ nhỏ. Mà muốn được như vậy, người nữ phải có một phẩm chất trời ban, là thể hương- mùi hương tự nhiên của thân thể. Sách tướng xưa bảo rằng đàn bà có thể hương là đàn bà sang trọng, quyền quý. Đàn bà có thể hương là mẫu hoàng hoa khuê nữ. Là trong ngọc trắng ngà. Là mãi mãi đẹp, mãi mãi thơm, mãi mãi là biểu tượng nhan sắc. Họ không già đi, không có tuổi. Họ cứ ấu thơ như thể thời gian chỉ làm nhiệm vụ ủ ấm mùi sữa mẹ cho họ, dọc cả cuộc đời dài.Tôi yêu những người nữ không biết mình đẹp. Họ hồn nhiên, chan hòa, họ sống lạc quan, họ hướng thiện, thay vì chỉ biết chăm bẵm cho cái nhan sắc của mình. Bằng sự hồn nhiên ấy, nhan sắc của họ sẽ được nhân lên gấp mười, bởi họ tỏa sáng ở tất cả những nơi họ đến. Ánh sáng từ nụ cười, từ khóe mắt, từ bàn tay, từ dáng đi thế đứng. Đó mới là nhan sắc mà tôi ca ngợi, là thứ nhan sắc mà nếu biến mất, thì trần gian chẳng còn gì đáng kể nữa. Em ra đi nhan sắc đi. Không phải là sự níu kéo một hình bóng người nữ cụ thể, mà là mong ước sao trần gian đừng thiếu đi những người đẹp-hồn-nhiên như thế, và bớt đi những sắc đẹp nhân tạo, sắc đẹp giả. Trong số những người nữ tôi quen biết, có thiện cảm, thì ngoài hai người kể trên, còn có Q., người tôi đã từng yêu. Có Ngô Thanh Vân. Họ là những người có ngấn cổ đẹp, vì thế đương nhiên là những người đẹp [với tôi]. Tôi cũng thích những người có khung xương đòn gánh (dưới bả vai phía trước) kết cấu đẹp. Vẻ đẹp của xương đòn, theo tôi, còn đáng kể và đáng nhớ hơn cả chiếc mũi đẹp, hay khuôn ngực đẹp. Một vẻ đẹp điêu khắc. Đôi mắt đẹp là đôi mắt gây nhớ lâu. Mắt Huế, vốn đẹp. Quỳnh Như người Huế. Nhưng Xuân Lan hay Ngô Thanh Vân đâu có người Huế, và đương nhiên chẳng có đôi mắt hồ thu kiểu Huế. Thế mà đó vẫn là những đôi mắt đẹp. Nó u uẩn, nó thách thức, nó khiến lòng xao động. Mà đôi mắt thì lại mau già: mắt và bàn tay tố cáo tuổi tác một cách lộ liễu nhất. Thế nên những người tuổi đã lớn mà mắt còn trong, như ca sĩ Thanh Lam chẳng hạn, mới thực là nhan sắc trời ban. Tôi thích những người nữ "vừa người", tức là không quá mập hoặc quá gầy. Gầy quá, mong manh quá, thì không vững, dễ gãy đổ. Mập quá, thì không khỏe mạnh (chứ không phải càng mập càng khỏe). Người giữ được vóc dáng cũng là người kiểm soát bản thân tốt, không thụ động, không lười. Điều này xem ra rất quan trọng. Nhưng tôi đã hơi lan man rồi. Chẳng qua tôi chỉ muốn nói: người nữ cầm giữ nhan sắc của họ giống như một chiếc bình tinh xảo dùng để chứa rượu ngon. Nhan sắc là rượu, chứ không phải là cái bình. Em ra đi nhan sắc đi là vì chiếc bình vỡ thì rượu cũng đổ. Tôi tiếc nuối mà xin em đừng đi, tiếc em một mà tiếc cái biểu trưng nhan sắc mười. Vậy, tôi ca ngợi nhan sắc, như một biểu tượng, một thứ phi vật chất không thể chạm tới, chứ không phải ca ngợi những người nữ đơn thuần. Dù họ là ai. [Sành Điệu tháng 3/11]
Lời bài hát Bài tình cho giai nhân Con trăng rất già mà còn hào hoa Em rất buồn mà tình cứ ươm Em ơi mỗi chiều cuộc đời mỗi xiêu Ơi em vất vả nở đời quỳnh hoa Con trăng rất già mà còn hào hoa Em rất mềm dậy nghìn sóng lên Chân em rất dài thị thành ngất ngây Ơi em mát rượi đẹp màu lụa tươi Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa | |||||||
| Posted: 06 Jun 2011 01:06 PM PDT
Chào các bạn, • Nhưng có lẽ là đa số chúng ta chỉ nghĩ đến câu thành ngữ này về phương diện địa lý–ở nơi này thì theo phong tục nơi này, đến nơi kia thì theo phong tục nơi kia.
• Và không mấy ai nghĩ đến câu thành ngữ này về phương diện bản tính của chúng ta. Bạn có biết cái gì ở bầu thì tròn, ở ống thì dài không? Thường thì đó là nước. Nước không có hình thể. Hình thể của nước luôn luôn là hình thể của cái gì chứa đựng nó. Chúng ta đã nói nhiều lần về nước. Nước dịu dàng uyển chuyển. Nước nuôi dưỡng vạn vật. Nước tìm chỗ trũng, chỗ thấp hèn mà đến. Nước len lỏi vào mọi nơi. Chỉ để làm tươi tốt cho đời. Nước đi đến đâu, sự sống có đến đó. Nước chỉ thành băng cứng khi gặp lạnh, khi trái tim của chúng ta không có ấm áp của tình yêu. Bản tính thật của chúng ta là nước. • Và chúng ta chỉ nghĩ đến "ở trong" môi trường không gian và thời gian, nhưng chúng ta chẳng bao giờ nghĩ là ta "ở trong" người khác cả. Ta nghĩ là ta sống ngoài người khác. Nhưng sự thực là, dù rằng cơ thể ta đúng bên ngoài người khác, nhưng người khác chỉ có thể thấy ta "trong tâm" họ. Hình ảnh của ta không thể đứng ngoài tâm họ được. Cho nên ta "ở trong" tâm mọi người quanh ta. Đây mới là mức khó khăn. Làm sao mà ta có thể dịu dàng uyển chuyển để ta có thể mềm mại uốn theo hình thù của tâm người khác được? Đây là cách sống của bậc thượng thừa. Không phải là nịnh hót ừ dạ theo người khác là được, vì cái bên ngoài của người đó có thể là do họ không thành thật. Ừ dạ theo cái không thành thật thì đương nhiên là chẳng được gì. Và ngay cả khi người kia thành thật, thì cái bên ngoài của họ cũng vẫn có thể phản lại chính cái tâm của họ, vì họ đang si mê, hay sân hận, hay đau khổ, hay kiêu căng, hay xung động vì lý do nào đó, và sự suy nghĩ và cảm xúc của họ phản lại chính họ. Nhưng bậc thượng thừa có thể nằm gọn vào trái tim của người khác vì bậc thượng thừa luôn có cái tâm của nước: - Yêu mến người kia vì họ là như thế, cả điều tốt lẫn điều xấu, cả ưu điểm lẫn khuyết điểm—nước không chọn cây tốt cây xấu để cho nguồn sống; - Luôn luôn giúp người kia phát triển cái mạnh của họ như là nước luôn luôn giúp cây phát triển lá cành; - Cái xấu và cái yếu của người kia thì ta không cần nhổ, trừ khi người ấy nhờ ta giúp một tay để nhổ. Nước chẳng nhổ cỏ hay tỉa cành bao giờ. Người kia sẽ sẽ tự nhổ điểm yếu của họ lúc nào họ muốn. Đừng nhất định phải làm bác sĩ khi bệnh nhân không muốn và không bằng lòng cho ta chữa bệnh. Chỉ có vậy thôi. Nếu ta thực sự yêu mến người kia và nâng đỡ người kia phát triển điểm mạnh của họ, mà không tự động đòi làm bác sĩ khi không được mời, thì đương nhiên là ta có thể nằm gọn gàng và êm ấm trong trái tim của họ. Và sống như thế thì đương nhiên là gặp bầu thì ta thành tròn mà gặp ống thì ta thành dài, rất tự nhiên, không cần cố gắng thay hình đổi dạng. Chúc các bạn một ngày dịu dàng uyển chuyển. Mến, Hoành © copyright 2011 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | |||||||
| Trường ca, sử thi trong môi trường văn hóa dân gian Tây Nguyên Posted: 06 Jun 2011 01:05 PM PDT
Người Êđê gọi trường ca là khan (akhan, k'han, ghan)/ Người Mnông gọi là ot n'trong / Người Bana gọi là h'amon / Người Jrai gọi là hri / Người Xơđăng gọi là tói kia rnghia / Người Churu gọi là khau tr'o car / Người Chăm gọi là akhan / Khánh Hòa cũng có akha jur car – trường ca của người Raglai. Mặc dù đã thất truyền nhưng người K'ho vẫn có tên gọi dành cho thể loại hát – kể tương tự là yang yao…. Nghĩa là dù thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô Polynêdi như dân tộc Chăm, Êđê, Jrai, Raglai hay thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer như Bâhnar, Xơđăng, Mnông… thì người Tây Nguyên ở khu vực nào cũng vẫn có trường ca dù chỉ là văn chương truyền miệng, chứ chưa có được văn học thành văn. Và sẽ còn những trường ca nào của các tộc người Giẻ-Triêng, Kho, Mạ, Lạch… mà chúng ta chưa có cơ hội tìm ra chăng? Trường ca chính là một sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính toàn cộng đồng, của đa số các dân tộc thiểu số ở bản địa Tây Nguyên. Bao giờ chúng cũng được trình bày dưới dạng hát – kể bằng các làn điệu âm nhạc, có ngữ điệu, sắc thái, cường độ, tốc độ với sự đổi giọng, đổi âm vực của người diễn xướng. Những yếu tố này đều mang đặc trưng của nghệ thuật diễn xướng âm nhạc. Chúng vượt qua tầm của những phương thức biểu cảm trong ngôn ngữ nói và hát, thường được thể hiện những chuyện dài, xen kẽ giữa văn xuôi và văn vần, theo lối văn biền ngẫu. Các trường ca này đều không được lưu giữ bằng văn bản mà chỉ truyền miệng qua sự xuất hiện của các nghệ nhân (pô khan) trước đông đảo những người đồng tộc của mình. SỰ PHÂN BỐ VÙNG SỬ THI, TRƯỜNG CA Ở TÂY NGUYÊN . Có thể nói mà không sợ quá lời rằng : Không ở đâu trên đất nước Việt Nam có một vùng đậm đặc như thế về hình thức diễn tấu văn chương truyền miệng dài hơi như ở khu vực Tây Nguyên – Trường Sơn. Những vùng có bề dày của trường ca Êđê ở tỉnh DakLak là khu vực các huyện : Cư M'gar, M'Drăk, Ea H'Leo, Krông Buk, Krông Ana. Ot n'trong của người Mnông tập trung ở các huyện : Đăk Rlấp, Đăk Nông, Đăk Mil… của tỉnh Đăk Nông. Vùng An Khê, Đức Cơ, Cư Prông, Đăk Đoa, Măng Giang… của tỉnh Gia Lai là nơi đậm đặc các trường ca h'amon Bâhnar Thị xã Kon Tum là nơi tập trung các h' amon của người Bâhnar Rngao. Tại các huyện Ayun Pa, Krông Pa,Cư Pah của tỉnh Gia Lai là nơi tập trung dày đặc các Hri của người Jrai. Sử thi, trường ca Xơđăng (tói kia rnghia) xuất hiện ở các huyện Đak Tô, Đăk Hà, thị xã Kon Tum của tỉnh Kon Tum, huyện Krông Pak của tỉnh DăkLăk. Tại các huyện Vân Canh, Tây Sơn của tỉnh Bình Định có trường ca của người Bana Kriem. Ở các huyện sông Hinh, Đồng Xuân của tỉnh Phú Yên đều tìm thấy trường ca, sử thi của người Bana Chăm. Vùng Khánh Sơn của tỉnh Khánh Hòa là quê hương của những bản trường ca akha jur car của tộc người Raglai. Vùng miền núi Ninh Thuận, Bình thuận có các thi tập akhan ghi trên lá buông của người Chăm… hiện cũng đang được các nhà sưu tầm tiếp tục tìm kiếm. Các nghệ nhân người K'ho cho biết thuở xa xưa tộc người này cũng có các hình thức hát – kể chuyện dài, gọi là jang jau, pro jau… nhưng ngày nay đã không còn ai biết diễn tấu nữa. Phải chăng Trường Sơn – Tây Nguyên chính là cái nôi nảy sinh và nuôi dưỡng trường ca, sử thi, không chỉ của khu vực Đông Nam Á mà còn là của thế giới? DIỄN XƯỚNG CỦA TRƯỜNG CA, SỬ THI a. Môi trường diễn xứng Trong sinh hoạt đời thường Tại sao các dân tộc thiểu số Tây Nguyên lại có nhiều trường ca trong khi người Kinh, cho đến nay vẫn chưa tìm thấy trường ca? Có một số nhà khoa học cho rằng : Người Việt cổ cũng đã từng có trường ca, nhưng so biến thiên của xã hội nên dứt gãy và hoàn toàn biến mất. Chưa có ai chứng minh luận cứ này. Nhưng phải chăng trường ca, sử thi xuất phát từ môi trường sống và phương thức canh tác? Người Kinh ở đồng bằng thẳng cánh cò bay, dập dềnh sông nước, dù có "tứ đại đồng đường" tập trung trong một khuôn viên rào tre thì mỗi tiểu gia đình cũng có một khoảng không gian riêng, theo hình thức cư trú tách rời giữa nơi ở và bếp nấu. Sau nữa, thứ dùng để đun nấu phải bòn mót rơm rạ, cỏ, lá khô, đốt vèo một cái là hết. Còn con người sau một ngày lao động vất vả, người mẹ, người vợ phải lo lắng chuyện cơm ăn, nước uống cho cả gia đình lẫn vật nuôi. Nghĩa là giữa cái cảnh thường xuyên diễn ra "Nước lửa cơm sôi, lợn kêu con khóc", thì cũng không thể dỗ chúng bằng những câu chuyện kể dài hơn được. Sự chạy ra chạy vào nhà trên nhà dưới, giữa vườn ao chuồng… đã đủ làm vụn ra những câu chuyện. Bên ánh lửa đèn chỉ có thể đi ngủ sớm, để mai còn lo ra đồng. Mà đã nằm xuống, giữa đêm tối mênh mông không ánh lửa, thì chỉ sau vài tiếng ru hời rời rạc là nhanh chóng chìm sâu vào giấc ngủ. Tây Nguyên ngược lại, quần tụ dưới một mái nhà sàn, quanh một bếp lửa là hàng ba bốn, thậm chí hàng năm sáu thế hệ của một dòng tộc. Tất cả mọi sinh hoạt của con người đều tập trung trong căn nhà ấy từ ăn, ngủ, nấu nướng, cho đến các lễ nghi cúng kiếng. Sáu tháng mưa triền miên, người ta quây quần bên nhau, giết thời gian bên cạnh những bếp lửa đỏ rực ấm áp cháy suốt ngày đêm, suốt tháng năm bằng những thân củi gộc của rừng, để xua đi cái lạnh giá của rừng già đại ngàn. Ở vùng người dân tộc Bâhnar, Xơđăng cả làng thường tụ họp trên nhà rông, thanh niên chưa vợ đêm đêm phải ngủ tập trung tại đây để sẵn sàng trực chiến. Những câu chuyện kể kéo dài từ ngày này sang ngày khác ra đời từ toàn cảnh môi trường này chăng? Có nhà sưu tầm lên Tây Nguyên đã gặp được cảnh "người ta lắng nghe kể chuyện một cách say mê. Đêm qua ngồi như thế nào, sáng ra vẫn thấy nguyên tư thế đó không nhúc nhích". "Mà nếu có đứa trẻ con nào buồn ngủ, thì cứ thiếp đi trên lòng mẹ, hoặc lăn ra cạnh bếp lửa ấy, lúc nào tỉnh dậy lại nghe tiếp. Trong giấc ngủ trẻ thơ, chắc chắn có bóng dáng những tù trưởng dũng mãnh Anh mặc áo sắt em mặc áo thép, để rồi lớp lớp những thế hệ thanh niên lớn lên, mang trong tâm trí hình ảnh và niềm khát khao trở thành những nhân vật oai phong dũng cảm đó". Môi trường chính của diễn xướng trường ca, sử thi có thể ở trên nhà rông, nhà dài của một gia đình, hay ở chính nhà nghệ nhân hoặc trong nhà chòi canh rẫy. Nếu là trên nhà rông hoặc ở một gia đình nào đó do gia chủ mời về, nghệ nhân thường ngồi cạnh bếp lửa , mọi người sẽ ngồi quây quần xung quanh. Nếu là ở nhà nghệ nhân, người nghe có thể ngồi bên ngoài, thành nhóm quanh đống lửa họ tự đốt lên cho ấm qua đêm, vừa rít tẩu thuốc vừa im lặng lắng nghe. Chỉ có một số người cao tuổi, người có vai vế trong làng là ngồi gần gian tiếp khách. Ở vùng Bâhnar An Khê, nghệ nhân nằm kề ở ngay gian đầu hồi phía Tây. Ông ta nằm ngửa trên sàn, vắt chân chữ ngũ, tay phải đặt trên trán, tay trái đặt lên bụng, đầu gối lên một khúc gỗ hay tấm choàng gấp lại. Vị trí này không gần bếp lửa hay ngọn đuốc. Toàn thân người kể chìm trong bóng tối. Chỉ thỉnh thoảng khi ánh lửa từ bếp bùng lên hay ngọn đèn cầy, hoặc đĩa dầu hạt vông được khơi lên, mới thấy thấp thoáng bóng dáng ông được in trên vách ngăn đầu hồi. Nhưng cũng chỉ vài giây rồi lại chìm trong bóng tối. Trong không gian im ắng ấy, tiếng nghệ nhân ngân nga vang lên, như vọng lại từ một không gian xa xôi thần bí nào. Đôi khi ông ta còn diễn và đổi giọng theo nhân vật, rất dễ gây ấn tượng. Cả người kể lẫn người nghe đều bị nghệ thuật và không gian diễn xướng mê hoặc, dẫn dắt theo, như sống trong diễn biến câu chuyện. Đấy cũng chính là điều làm nên sức sống và sự truyền cảm của nghệ thuật diễn xướng trường ca. Tại vùng Mnông, những nghệ nhân có thể được mời đến để phục vụ cho việc thu hoạch mùa màng. Trong trường hợp này, ông ta có thể kể ban đêm trong chòi giữ rẫy, nhưng thường là di chuyển theo những mảnh rẫy đang có đông người thu hoạch bắp hay những người đang gặt lúa. Cũng chính từ những đêm bên bếp lửa nhà sàn, ngoài rẫy ấy mà trường ca lưu truyền trong trí nhớ các nghệ nhân hết đời này sang đời khác, từ vùng nọ sang vùng kia. Qua mỗi nghệ nhân là thêm một lần tái tạo và sáng tạo. Đến mỗi vùng lại được thay da đổi thịt để phù hợp với địa danh và hoàn cảnh từng miền. Trong sinh hoạt lễ hội Một vòng đời người Tây Nguyên phải trải qua nhiều nghi lễ, tham gia nhiều lễ hội. Bắt đầu từ thuở ban sơ cất tiếng khóc chào đời, cha mẹ hứng nước sương làm lễ thổi tai, đặt tên, đến tuổi vị thành niên phải qua lễ cắt việc, rồi cưới chồng, dựng nhà, cầu chúc sức khỏe, sản xuất, săn bắn, hái lượm… cho đến khi đi về "bến nước ông bà", về cõi mang lung, từ giã hẳn cộng đồng trong lễ bỏ mả. Xen kẽ trong năm là những lễ thức nông lịch của cả cộng đồng như : Từ tháng 11 đến tháng 3 là "mùa ăn năm ăn tháng", buôn plei nào cũng phải có lễ đón lúa hay ăn cơm mới, lễ cúng bến nước (uống nước ngọt), cảm tạ các thần linh đã cho một năm cũ đủ no, cầu xin một năm mới bình an không có thiên tai phá hoại mùa màng. Sang đến tháng 4 tháng 5 có các lễ cầu mưa, xin dọn rẫy, tra hạt… Tháng 6, tháng 7 là dọn cỏ hoặc thu hoạch bắp đậu sớm. Tháng 9, tháng 10 gieo tỉa vụ hai. Tháng 11 làm lễ đón hồn lúa… Lễ nhỏ trong phạm vi một nhà thì thôi, lễ lớn bao giờ cũng đi kèm với hội. Có hội là có hát múa, có đánh ching chêng, có kể chuyện cổ tích, hát kể trường ca, có sự hoạt động tổng hợp của mọi nghệ thuật diễn xướng. Có thể coi tín ngưỡng chính là văn hóa. Bởi các nghi lễ tôn giáo ở đây vừa mang sắc màu văn hóa dân gian đậm nét, vừa mang nặng tính sinh hoạt cộng đồng. Thậm chí các bài văn tế đọc trong lễ cũng là những áng văn vần, được thầy cúng hay thầy phù thủy diễn xướng như hát. Môi trường sống lao động sản xuất không chỉ là điều kiện nảy sinh của nền văn minh nương rẫy – văn hóa dân gian Tây Nguyên, đặc biệt là thể loại trường ca, mà còn đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các loại hình nghệ thuật trong dân gian, trong những thế hệ sau. Tóm lại, gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng như thế nên trường ca là sự phản ánh sâu sắc mọi khía cạnh của đời sống xã hội Tây Nguyên, từ con người cho đến thiên nhiên, đến những đấng tối cao chi phối mọi mặt hoạt động của cuộc sống cộng đồng. Đó không chỉ là môi trường sản sinh mà còn tạo nên sự trường tồn, ban cho trường ca sức sống mạnh mẽ để truyền lại cho đời sau. Ở một khía cạnh nào đó, nó phản ánh rõ nét xã hội Tây Nguyên cổ xưa. Chính vì vậy mà các nhà chuyên môn còn gọi đó là sử thi. Nhưng thế nào có thể gọi là sử thi? Như thế nào chỉ nên gọi là trường ca? điều này còn phải bàn cãi nhiều. Trước hết hãy cứ xem kỹ nội dung các trường ca hát – kể, theo cách gọi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. b. Nghệ nhân diễn tấu Những trường ca nêu trên cho thấy : Rõ ràng môi trường diễn xướng của trường ca là lễ hội, và đi kèm theo các lễ hội là tất cả các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp của nền văn minh lúa rẫy ( ngày nay được tổ chức UNESCO gọi là " không gian văn hóa cồng chiêng" ). Từ những bài ca cúng tế đến âm điệu các dàn ching chêng, các vũ điệu, hình họa hỗ trợ cho nghi lễ… không chỉ là phương tiện giao lưu với các vị thần linh, phương thức báo tin cho cộng đồng xa gần, mà còn là văn hóa nghi lễ trong tín ngưỡng. Trong sinh hoạt hát – kể trường ca, mặc dù mang tích chất cộng đồng bởi số lượng đông đảo người nghe tạo thêm niềm hưng phấn cho tâm lý và giọng điệu, diễn tấu của người kể, trong đó vai trò nghệ nhân chiếm vị trí độc tôn, được cả cộng đồng kính trọng và yêu mến. Nghệ nhân hát – kể trường ca phải là một người thông minh, có trí nhớ tốt, trí tưởng tượng phong phú; lại còn phải là người biết phân tích diễn biến của sự việc; tâm lý, tính cách của nhân vật để thay đổi giọng điệu khi cần thiết, nhằm thể hiện trạng thái tình huống và tính cách nhân vật đó. Ông ta còn phải biết cách vận dụng các làn điệu, đặt vần cho các làn điệu, đặt vần cho các câu hát, phân đoạn, phân câu, chọn chỗ lấy hơi, chỗ luyến láy, thêm những hư từ, phụ từ làm cho câu chuyện thêm sinh động, giọng kể không đơn điệu. Do đó, trong mỗi một nghệ nhân là sự tập hợp của một nhà thơ, một ca sỹ kiêm nhạc sỹ sáng tác, một đọa diễn kiêm diễn viên kịch đầy tài năng, một nhà "tâm lý học" sâu sắc. Thường thì nghệ nhân kể trường ca là đàn ông, theo kiểu cha truyền con nối nhưng cũng có vùng là phụ nữ (như nữ nghệ nhân Aduôn Then ở phường Ea Tam thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh DăkLăk, mí Bin ở làng Hà Giăng Trên, huyện Vân Vanh tỉnh Bình Định). Một đặc tính độc đáo của thể loại hát – kể trường ca : Là một trạng thái thăng hoa ngẫu hứng tại chỗ của người nghệ nhân, nên không bao giờ có thể kể tóm tắt nội dung trước được. Nhưng bản thân cuộc sống của người Tây Nguyên cũng đã là một đời sống hòa nhập giữa siêu thực và hiện thực, bởi sự tồn tại của hệ thống các thần linh (yang) có trong mọi chỗ, mọi nơi, mà trong đó không thể tách ra những Yang Atao (linh hồn). Nên không khó khăn gì để hiểu rằng : Khi diễn xướng trường ca, cả người kể lẫn người nghe đều "sống" theo diễn biến lẫn lộn giữa siêu thực và hiện thực của câu chuyện. Người kể đắm chìm với cuộc đời của nhân vật mình kể, thì người nghe cũng hồi hộp, vui buồn không kém theo nội dung diễn ra. Người nghe không chỉ đóng vai trò gián tiếp, tiếp thêm hơi thở và hưng phấn cho người kể, mà còn gần như trực tiếp tham gia và nội dung câu chuyện. Nhân vật như không chỉ xuất hiện trong lời kể của nghệ nhân mà còn dường như đang sống cùng cộng đồng, thở cùng một không gian với người nghe, thậm chí có đối thoại cùng người nghe. Chính vậy mà người kể phải kể đến cùng, người nghe vẫn phải nghe cho đến hết, sống cho đến tận cùng kết cục cuộc đời của các nhân vật, dẫu có phải kể hết bao nhiêu thời gian. Đây cũng chính là một trong những động lực thúc đẩy để hình thành những câu chuyện được kể "hết ngày dài đến đêm thâu" ở các buôn, kon, plei. Trường ca được cấu tạo hoàn toàn bằng văn vần. Đây là một điều kỳ diệu, bởi thường nghệ nhân ứng tác ngay tại chỗ. Câu chuyện càng dài, đòi hỏi sự sáng tạo, trí tưởng tượng và khả năng sử dụng ngôn ngữ cách điệu của nghệ nhân càng cao. Trong trường ca Bâhnar một số vùng như ở huyện An Khê, còn có sự xen kẽ giữa văn vần và văn xuôi. Câu văn trong trường ca thường được diễn tấu theo hình thức biền ngẫu, cặp đối xứng, so sánh. Khi là lời người kể, khi là đối thoại của các nhân vât, bắt buộc nghệ nhân phải thay đổi giọng điệu cho phù hợp với diễn biến câu chuyện và nhân vật. Ví dụ, trong h'amon Gyông Dư của người Bâhnar, đoạn hai nàng Bia Phu và Bia Man gặp Gyông Dư và bạn bè vừa xúc cá xong, mời hai nàng cùng ăn. (a) Bia Phu, Bia Man : Sao anh Gyông Dư cho chúng tôi nhiều thế? (b) Gyông Dư : Hai cô đừng lo. Thịt cá nhiều lắm. Đoàn chúng tôi đã chia mỗi người hai gùi đầy mà vẫn còn dư. (c) nói rồi Gyông Dư tiếp tục trò chuyện cùng Bia Phu. miệng nói, mắt liếc, trái tim chàng đập rộn ràng, bụng chàng nôn nao khó tả. Trong đoạn trích rất ngắn này, nghệ nhân đã phải thực hiện cuộc đối thoại của hai người con gái Bia Phu và Bia Man (a), của chàng Gyông Dư (b), và lời dẫn chuyện của người kể (c). Cũng trong trích đọan này chúng ta gặp cả hình thức văn xuôi đối xứng "miệng nói – mắt liếc, trái tim đập rộn ràng – bụng nôn nao"… Hoặc trong trường ca Xinh Nhã của người Jrai ở Gia Lai : Đọan nàng Bra Tang hẹn hò gặp Xinh Nhã : (a) "Trăng tròn đủ ba đêm. Mặt trời lên khỏi núi. Hạt sương trốn nắng. Xinh Nhã đến gốc gòn của chàng Dăm Di, chờ mãi không thấy Bra Tang, Xinh Nhã vào bụi nằm chờ. Bra Tang vừa đến : (b) Ơ con gà con trong buôn ra đi. Ơ con gà rừng nhỏ trong hang ra đây. Hoa Êpang đã đến rồi. (c) Nhìn chung quanh không thấy ai, Bra Tang tức đỏ mặt, ném gói com, ném cả con gà vừa đi vừa chửi : (d) Ơ cái giống trái putkơ đang nứt, trái kơpang chín, cái thằng lừa gạt con gái, làm chết phụ nữ giàu sang. Bra Tang liệng gùi, vùng vằng quay trở về. Xinh Nhã núp trong bụi tranh chạy ra : (e) Ơ em Bra Tang. Anh ở đây. Sao em chửi cha chửi mẹ anh. Tại sao lại nói chuyện giàu nghèo với anh ?" Trong trích đoạn này, chúng ta thấy nghệ nhân phải 4 lần đổi giọng điệu cho phù hợp với diễn biến của câu chuyện và từng nhân vật : (a) và (c) là lời người dẫn chuyện, (b) và (e) là lời thoại của Bra Tang và Xinh Nhã, (d) lại là lời tự nói của Bra Tang. Đôi khi còn chen vào đó lời bình của nghệ nhân về con người, hoặc về sự việc như "Ôi thương làm sao", hoặc "Lại nói chuyện"… Đây là một trong những yếu tố gây hấp dẫn đối với người nghe, là sự sáng tạo của người hát – kể. Không phải là những nghệ nhân giỏi kể trường ca thì khó mà thực hiện được. Chúng tôi đã gặp nhiều nghệ nhân chỉ kể lại được câu chuyện, mà không hát và cũng không thể kể đổi giọng được. Trong nghệ thuật diễn tấu của trường ca, có thể chia ra làm hai cách : Diễn xướng tĩnh và diễn xướng động. Diễn xướng tĩnh Tùy theo lễ nghi nông nghiệp hay đón năm mới, mừng chiến thắng hay chúc thọ, chúc sức khỏe người già chủ gia đình, hoặc dựng nhà cho người sống, bỏ mả cho người chết (tương tự như lễ mãn tang, giỗ hết của người Kinh), đám cưới, đám tang… mà có diễn tấu các nhạc cụ, những điệu hát khóc (cok, che), hát kể (k'ưt, adok, rnghe, tăm pớt), hát đối đáp (ai rei, alử, ting ting)… Trong những môi trường này, phần lễ, phần hội có múa, có hát đối đáp diễn ra vào ban ngày. Đêm xuống, cả gia đình quây quần bên bếp lửa nhà sàn hay cả làng tụ tập quanh bếp lửa trên nhà rông nơi sinh hoạt cộng đồng đều có các bếp lửa. ( Bếp lửa chính trung tâm sinh hoạt của một đại gia đình, của buôn, plei, cũng còn là nơi để đón khách xa, khách gần). Đây là thời điểm lên tiếng của những nghệ nhân kể trường ca, cổ tích. Thông thường, trường ca được hát kể theo giai điệu trầm bổng. Nghệ nhân hoặc ngồi dựa lưng vào cây cột chủ của nhà sàn, cạnh bên bếp lửa, trầm ngâm kể, hoặc nằm khuất trong bóng tối (người nghe sẽ ngồi vòng quanh bếp lửa, thậm chí ngồi ngoài sân, ngoài sàn hiên đầu nhà). Trong đêm chỉ nghe thấy tiếng sang sảng của người hát kể. Diễn xướng động Không chỉ có một cách hát kể, có vùng hát kể còn kèm theo vũ đạo để minh họa. Trong trường hợp này, nghệ nhân ngồi bên bếp lửa, khi kể đến những trường đoạn chiến đấu, hoặc mô tả dáng đi uyển chuyển của các cô gái thì nghệ nhân đứng dậy tự minh họa, có khi bằng động tác, có khi bằng vũ đạo. Có nghệ nhân vừa đổi giọng đối thoại, vừa làm điệu bộ diễn xướng sân khấu như của người Việt. Tại vùng Mnông tỉnh Đăk Lăk, đang giữa mùa thu hoạch, gia đình mời thêm một số thành viên trong họ đến làm đổi công, muốn cho công việc chóng xong và quên bớt sự vất vả, gia chủ còn đón cả nghệ nhân ot n'trong ra rẫy, nhưng không phải làm giúp, mà chỉ kể chuyện để giải trí, giúp cho mọi người quên mệt nhọc, năng suất lao động sẽ cao hơn. Trong trường hợp này nghệ nhân không chỉ ngồi một chỗ, mà phải di chuyển theo bước chân những người đang suốt lúa, thu hoạch đậu, bắp sao cho ở bất cứ góc nào người lao động cũng nghe thấy tiếng kể. Cũng có khi người ta kể trong những giờ nghỉ ngơi giữa buổi trên rẫy. Đây cũng vẫn là một trong những điều kiện kích thích sức sáng tạo của nghệ nhân bởi có người ngồi quây xung quanh tập trung lắng nghe, thậm chí vui cười, buồn bã bình luận tùy theo diễn biến của câu chuyện đang được kể. Không gian mênh mông của núi rừng, hương thơm lúa mới, nhất là sự tán thưởng của người nghe đã kích thích trí tưởng trượng, sáng tạo, khiến nghệ nhân càng thêm hưng phấn, say sưa kể và hoa chân, múa tay minh họa cho nội dung chuyện kể. c) Mối quan hệ với các loại hình nghệ thuật khác Như đã nói, các lễ hội chính là môi trường trình diễn nghệ thuật tổng hợp của các tộc người ở Tây Nguyên. Những bài cúng tế, ngoài việc là đặc trưng của tín ngưỡng đa thần, nó còn là những áng văn vần độc đáo. Trong những dịp này, những người đàn bà chủ gia đình có điều kiện khoe tài khéo léo của gia tộc mình qua trang phục thổ cẩm tự dệt, vị ngọt thơm của ghè rượu, những món ăn chế biến độc đáo. Những lễ cúng nhà mới, rước ghế kpan, đặc biệt trong tang lễ còn là dịp để nghệ thuật tạo hình phát huy nội lực qua những bàn tay chạm khắc, vẽ vời trên các cột nhà, cột cúng Yang, tượng nhà mồ, con rối… Trên hết là nghệ thuật biểu diễn, với các dàn ching chêng, các điệu múa (từ múa nghi lễ đến múa dân gian), các làn điệu dân ca, hàng trăm loại nhạc cụ (làn điệu dùng cho nghi lễ, làn điệu dùng trong sinh hoạt)… cũng được dịp thỏa sức trình tấu. Cũng có khi bên ngoài nhà rông vẫn liên tục diễn ra những họat động múa hát, đánh ching của thanh niên, còn trong nhà rông, nghệ nhân và những người yêu thích nghe kể chuyện tụ tập bên nhau… Trong tiếng trống ching rộn ràng, trang phục thổ cẩm tự dệt rực rỡ, với men rượu cần chuyếnh choáng, một lần nữa tín ngưỡng thực ảo trong tư duy những người tham dự, làm cho trường ca càng trở nên sinh động và đầy huyền bí. Khi hát kể trên rẫy những lúc nghỉ ngơi còn có sự phụ họa của những nhạc cụ tự tạo tại chỗ bằng những nguyên liệu hết sức gần gũi và dễ chế tác, như chiếc đàn t'rưng gỗ , kèn cọng bí, cọng lúa của người Bâhnar tỉnh Gia Lai, nghệ nhân còn tự đệm đàn ting ning (sau này còn có người như nghệ nhân A Nhiêng ở plei Piơm, thị trấn Đăk Đoa tỉnh Gia Lai dùng đàn ghi ta gỗ để đệm) khiến câu chuyện kể càng tăng thêm tính nghệ thuật, giúp cho nghệ nhân có những quãng ngừng nghỉ, nhờ phần đệm của cây đàn. Tóm lại trường ca thường xuất hiện trong các sinh hoạt cộng đồng, trong môi trường thường diễn xướng nghệ thuật tổng hợp (nhạc, hát, kịch, nghệ thuật tạo hình…) rất phong phú. Nếu tách khỏi môi trường folklore đó, tính nhân văn và giá trị nghệ thuật của trường ca bị giảm thiểu đáng kể. Linh-Nga Niê Kdăm Filed under: Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Video & PPS, Văn Hóa | |||||||
| Khi nhà thơ buộc phải “ngoại tình” với thơ Posted: 06 Jun 2011 01:04 PM PDT (Nhân đọc bài QUAN HỌ KHÔNG NGOẠI TÌNH của Nguyễn Nguyên Bảy)
Nguyễn Nguyên Bảy khiêm nhường tự nhận là “người thơ nghiệp dư”, nhưng thực ra đó là một tác giả rất có ý thức về sự nghiệp thơ ca của mình, và rất chuyên nghiệp. Nhà nghiên cứu văn học Đỗ Quyên (Canada) có lần viết cho tôi: “Nguyễn Nguyên Bảy là tác giả thật kì khôi; tôi chưa hình dung hết, có lẽ vì chưa đạt được “cảnh giới”. Hình như cánh “chuyên nghiệp” kính nhi viễn chi loại tác giả như vậy. Có điều này tôi chưa hiểu rõ: dường như ở Thơ và Người Thơ Nguyễn Nguyên Bảy có sự chen lấn nhau, khiến cho Thơ (văn bản) bị Người Thơ cưỡng bức. Tác giả tự nhận là “nghiệp dư” có lẽ là vậy chăng? Hay tác giả coi đời sống thơ như một thứ đạo, mà tác phẩm chỉ là phó sản của Sống Đạo? Thiển ý, đây là nút để mở thơ Nguyễn Nguyên Bảy ra đọc.”( Thư điện tử) Tôi buộc phải viện dẫn lời chuyên nghiệp của bạn để mong có một bàn đạp khả dĩ góp phần lý giải một bài thơ chứa những nội dung hình tượng quá phong phú và quá phức tạp như bài thơ này. Tôi còn cho rằng: đây là bài thơ đau xót nhất và đồng thời cũng nồng ấm bậc nhất của Nguyễn Nguyên Bảy!
*** Trong thơ Nguyễn Nguyên Bảy, hình ảnh Quan họ, những cụm từ liên quan đến Quan họ xuất hiện khá nhiều lần, tạo nên một thi liệu quen thuộc chứa đựng suy tư, thái độ sống, quan niệm thẩm mỹ của anh – “Quan họ”, “Quan họ giao duyên”, “quan họ tứ thời trăng”, “tạ lời quan họ”, “nụ cười quan họ”, “Vàng của tấm lòng quan họ”, “luật người quan họ”, v.v. Theo những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian có uy tín, nét độc đáo nhất làm nên đặc điểm chủ yếu của Quan họ chính là Kết Chạ. Hội Kết chạ là hội của hai làng kết nghĩa anh em – nghĩa là trai gái hai làng không được lấy nhau, họ cùng thờ chung một thần hoàng làng. Trong hội hè Kết chạ Quan họ, Thơ được đánh giá rất cao, “ngôn ngữ được xem là một thứ ma lực“; và qua sự phê duyệt của “Đôi dân”( đại diện cho Chạ chủ hai làng) mỗi thành viên chỉ phụng sự thần thánh thông qua việc trau dồi ngôn ngữ thơ ca đượm tình cùng phong cách biểu diễn đặc trưng của Quan họ.(1) Phải chăng, chính vì thế mà đối với nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy, Quan họ là biểu tượng không chỉ là văn hóa Kinh Bắc, mà còn là biểu tượng cho toàn bộ văn hóa – văn học nước nhà, cho Duyên tình chân thật, cho Nghĩa cả, cùng biết bao vẻ đẹp khác của Thơ ca, của đời sống, của tâm hồn người… Và anh có lý. Từ đây, anh có cơ sở để thực hiện một thao tác hoán dụ tuyệt vời trong thơ ca làm nên nét riêng đậm chất Nguyễn Nguyên Bảy! Tôi chỉ là người trai bắc quàng quan họ Khi anh khẳng định, anh đã yêu Quan họ như một mối tình có trời xanh chứng giám, “không ngoại tình”, với một nỗi xót xa diễn tả qua bao hình ảnh “tá khách hình chủ- mượn mây tả trăng”, anh đã hé lộ một điều: “Dù biết luật quan họ” nhưng lại “phạm luật chơi” nên bị “tẩy chay”, anh đã buộc phải “ngoại tình”, và cuối cùng đành “gạt lệ” rời khỏi “cộng đồng quan họ”… Chúng ta tự hỏi: vậy anh đã “ngoại tình” với điều gì? Thực xót xa, vì không muốn và không thể “ngoại tình” với những gì mình tin yêu trong cộng đồng Thơ ca- tức cộng đồng Quan họ, anh đã phải “ngoại tình” với chính thơ của mình! Để có thể hiểu rõ bài thơ “Quan họ không ngoại tình” mà không rơi vào bình tán vô bổ, hoặc xa với thâm ý đích thực của nhà thơ, tốt hơn cả là chúng ta hãy lắng vào một chặng đời thơ quan trọng của chính Nguyễn Nguyên Bảy – trước khi theo anh “cõng cánh bèo quan họ” đi khắp mọi miền…( Chặng đời thơ đó chủ yếu được diễn tả qua 4 phần của tập thơ đầu tay “Thơ Nguyễn Nguyên Bảy I”- xuất bản cuối năm 2010) Trong những năm tháng mà âm thanh cao vút của những bài hát cùng tính chất sử thi và giao hưởng hùng tráng của những “Sư đoàn”, “Đường tới thành phố”, “Tình yêu và Báo động”, “Lửa đèn”, “Mặt đường khát vọng”, “Mặt trời trong lòng đất”(2)… là âm hưởng chủ đạo cho tinh thần xã hội (và đặc biệt cần thiết) thì cái bè trầm “âm âm lời Chinh Phụ lời Kiều” chắc chắn không thể được coi trọng nếu không muốn nói là bị hắt hủi, bị truy bức ra khỏi đời sống cộng đồng! Lại còn “Tình yêu mượn cánh thánh thần chở che” nữa, rõ là “ngạo mạn” và “xấc xược”! Mặc dù anh tự nhận đứng trong hàng ngũ: “Chúng tôi đang viết những tráng ca/ Những tráng ca bằng gươm bằng súng”- nhưng riêng anh thì lại không viết tráng ca mà lại viết thơ của đời thường, viết tình ca thủ thỉ: “Thơ run rẩy những lời có cánh/ Khúc yêu mình trộn khúc thương con”- “Lời ru không vui không buồn/ Thơ hạ cánh đậu nghe lạnh ngắt” khi bếp lạnh và “bụng trống không”, khi “Khúc yêu trong màn khóc mớ/ Khúc yêu lạc giọng ru con”(Tam tấu). Giữa những ngày sắt thép máu lửa đó, anh lại dám “Mơ sen”: “Ao thu bỗng hóa biển cồn/ Cánh cò bỗng hóa cánh buồm trắng phau”- ” Bỗng cò nghiêng cánh/ Gánh tôi về/ Thuyền sen”, và dũng cảm “Ngẫm về thơ”: “Thuyền thơ chở đầy trăng thơ/ Đầy trà đầy rượu đầy hoa/ Và đầy nhân tình”. Chiến tranh không cướp đi của người thơ nguồn cảm hứng vô tận về “Mùa yêu”: “Trong thương nhớ cất thành lời hát ru/ Âm dương tình ngỡ trong mơ/ Mùa yêu chẳng có bến bờ thời gian”. Trong “Mùa yêu” đó, dường như anh cố gạt đi những âm thanh chát chúa để lắng nghe rõ hơn bao giờ hết “Dân ca buồn con sáo sang sông” hay “Rêu cổ tích rù rì kể chuyện” và ngẩn ngơ trước số phận do các bà tiên xếp đặt: “Phải định mệnh nhân duyên/ Bỏ bùa anh lạc lối/ Ai rủ chân sen tới/ Cửa rừng nơi hẹn hò?”. Trong khi những lứa đôi chia tay nhau để ra trận, người thơ lại “Hát tặng biệt ly”: “Nghe sông chảy lững lờ đôi buồm trắng/ Nghe phố xá nằm dài trong mật nắng/Nghe nôn nao cánh bướm đậu hoa vàng”. Cái thời cần kêu gọi lòng căm thù và ý chí chiến đấu thì anh lại đưa ra những lời đạo lý cổ xưa của ông cha tưởng chừng lạc lõng”: “Này cò này vạc này nông/ Không sống tử tế đừng mong thành người” (Ký ức ca dao) – “Chợt đôi lúc anh lạc mê lạc lú/ Em hãy là Bồ Tát khoan dung”(Lời tỏ tình). Một “Vườn chiều có thực” của thời chiến tranh có khói hun muỗi từ giẻ mà anh lại hình dung như một vùng đất cát mềm của Tiên Dung – Chử Đồng tử, của Giếng ngọc Cổ Loa, có tiếng hát Trương Chi, ở đó “Tôi đang độc ẩm cuồng say/ Những ly rượu thơ cồn cào bụng đói/ Bao nhiêu người đang đói/ Có thơ uống như tôi đâu/ Sao em lại cúi đầu/ Thương tôi mắt khóc?”(Vườn chiều) Trong những năm đáng lẽ chỉ được hát ca, anh đã ngậm ngùi kể về người mẹ vẫn “Thương thằng mộng mị thơ ca/ Chọn yêu cuộc tình kiếp nạn”, và về người vợ”Chít trắng đầu tang/ Nuôi đàn em thay mẹ/ Mom sông cô gái nhỏ/ Tay cò mắt vạc kiếm ăn”( Thuyền tình) Cánh bèo rằng quan họ bén duyên tôi Những điều “xa lạ” và “lạc lõng” nói trên- xét cho cùng là vô hại, thậm chí chúng cần thiết giúp cho con người giữ được cái gốc nhân bản trước những thảm cảnh khốc liệt, song đã vô tình góp phần tuyên một cái án “không có án” để gia đình thi sĩ phải ôm hận “ly hương” suốt mấy chục năm trời sau đó! Thực ra, trong những năm tháng đạn bom ấy, người thơ có phần lập dị này cũng sống như tất cả cư dân Hà Nội. Mặc dù “Nhà em nóng rực như lò/ Đun chảy mọi điều mơ mộng/ Em là cô thợ ca ba/ Tôi lặng mình và chợt hiểu ra/ Có một Hà Nội khác/ Một Hà Nội của tôi”… Anh đã sững sờ trước “Những kỳ ngộ đẹp như thơ/ Tình mình làm sao sánh được/ Ấy là lẽ vì sao em không khóc/ Trước gian nan tem gạo phiếu tiền/… Biết là mình đáng sống/ “Dép lốp bè trầm áo xanh bè bổng”. Anh đã khóc như tất cả những người dân lúc đó trước câu chuyện về người bác sĩ trẻ chết bởi bom Mỹ trong ngày cưới, đã xúc động run người trước hành động bất chấp hiểm nguy của những con người lao động bình dị: “Cô bác sĩ Cửa Đông nuốt khóc/ Thiệp hoa phủ xác nửa mình/ Anh thợ điện người Ô quan Chưởng/ Bới nhặt nửa mình trong đổ nát Khâm Thiên…” (Ca trù mùa thu). Anh cũng trở về đài để “thay ca trực chiến” như mọi phóng viên khác của Đài tiếng nói VN, cũng “đồng loạt cánh tay giơ” để “lên Tháp Bút viết hùng ca”… Nhưng, cái “tạng” của anh không phải là “hùng ca”; và điều đặc biệt đáng quý là, người thơ hiểu rõ hạn chế của mình, anh đã không ít lần tự dày vò: “Ánh gằm gằm giấu sau đít chai/ Cháy thành lửa cũng chỉ là lửa mắt/ Mắt trông theo nắng vượt thác/ Mắt trông theo trăng qua đèo/ Mặt trận cờ reo quân reo/ Trào lửa mà đành nuốt khóc/ Đứng tựa lưng trăng/ Bút thay gươm súng/ Chuốt câu thề ( Tự họa tuổi trai). Người thơ có khát vọng lý giải sức mạnh chiến thắng của hiện tại bằng mạch nguồn từ xa xưa, nên cũng dễ hiểu anh thường để “Hồn quanh quất nơi cửa rừng nguyên thủy”- “Tôi lang thang tìm tôi xưa cũ”(Về cội). Và với trí tưởng tượng phong phú tràn ngập cảm hứng lịch sử, Nguyễn Nguyên Bảy hình dung: “Sử sách thắp trưng bạch lạp/ Chữ hiện mù sương”- “Trăng nhớ những đêm Lạc Việt/ Gươm kiếm mài ngời trăng lu” (Chứng tích chiến tranh). Anh say sưa với “dòng sông chảy qua làng Việt cổ”, với những nơi nào từng có “Sá cầy lật mở binh thư/ Người cấy lửa vào lúa/ Người chép lửa vào thơ” (Huyệt lửa). Anh là nhà thơ đầu tiên của thời mới tìm thấy sự đồng cảm lạ lùng với Thánh thơ Cao Bá Quát và có cả một tráng ca về cụ: “Đời Quát có hai vua/ Thơ Quát chỉ có quyền chọn một”- và Cao Bá Quát đã chọn”Một ông vua là con dân mẹ nước”; thế nhưng “Đói khát vẫn hoàn đói khát/ Xã tắc khốc hư/ Ngậm miệng vái xin trời Phật”, và anh nguyện sống với “Thác đoàn quân Cao Bá Quát/ Vào tử tìm sinh.”(Thánh Thơ). Từ cảm hứng lịch sử , Nguyễn Nguyên Bảy nhìn lại cuộc chiến tranh hiện tại và có cách cảm nghĩ riêng. Trong bài “Quả Mặt trời”, trước tội ác hủy diệt của giặc Mỹ, anh băn khoăn: “Chảy đi đâu hỡi máu”- “Máu đã chảy lên thành Quả Mặt trời”- nhưng ấn tượng hơn cả vẫn là “Giấc mơ thơ nát bấy như bùn” và “Tọa tòa sen Phật bà khóc” (Chùa Một cột)
Nguyễn Nguyên Bảy muốn “Tượng hình làng quê sông núi” theo cách riêng của anh: “Tinh tú tôi ơi, sao thốt lời buồn/ Lập nghiệp gì đâu đời thi sĩ/… /Em gái quê cần lời thay nước mắt/ Ủ vào khăn tặng bạn trước chia ly/ Và với tôi điệu vần ấy đôi khi/ Cứu tuyệt vọng xô đời xuống vực/ Chỉ thế thôi tôi đêm ngày đèn sách/ Điệu vần dâng tạ ơn sinh!”( Tinh tú ngộ duyên). Nhà thơ biết phận mình: “Đời cha nghèo xác/ Chỉ những bài ru là giàu có hơn người”(Ru con) Mặc dù Nguyễn Nguyên Bảy từng viết ca ngợi nụ cười: “Nụ cười là đặc sản của dân tộc tôi”( Đề dưới nụ cười), song ở thơ anh phần lắng đọng rung cảm nhất lại là nước mắt- nhất là của những người phụ nữ mà “Giọt khóc rơi xuống thì thầm”(Cầu thương). Bởi chính người thơ tuyên bố: “Mà tôi/ nghĩ lạ lùng chưa/ Học khóc/ Bởi sợ đời dư hát cười”(Học khóc). Nhà thơ không chỉ nhìn thấy những quả bom rơi xuống đe dọa cuộc sống bình yên, mà còn nhìn thấy cả chặng đường lam lũ đói khổ của các làng quê Việt từ ngàn xưa và chưa biết đến bao giờ chấm dứt: “Sông cái chia nhánh còng số tám/ Nước khóa làng tôi”- “Thương đất trắng chìm trong lũ”( Làng nước)- “Những câu ru nhang cháy/ Dưới trời bâng khuâng hương”(Lời ru dưới mỗi mái nhà). Nhà thơ tự nhận: “Anh có lỗi đã thăng hoa bi kịch”. Nhưng anh không thể làm khác, bởi một lẽ giản đơn: “Anh hằng kể con nghe kiếp sống ông bà/ Trải bao nhiêu cực khổ/ Vẫn trước sau làm người tử tế/ Ngẩng đầu đi khắp thế gian”- “Hãy uống cạn ly thương đắng/ Vươn vai mà đứng làm người”. Điều khiến anh băn khoăn giữa lúc phải trốn chạy cái chết từ trên trời rơi xuống cũng là: “Con anh sao chẳng nên người/ Cháu anh sao chẳng nên người/ Không nên người/ Thì sao còn sông Cái sông Con/ Sao còn tiếng hát Mỵ nương/ Chèo đò lên non Tản/ Bỗng cháu nội hươ hươ thức sáng/ Hỏi sao ông khóc ông ơi?” Thái độ nhún nhường này của anh chắc cũng gây ra sự nghi kỵ, soi mói, bởi xu thế thời đại là phải vươn tới đỉnh cao, phải “ra ngõ gặp anh hùng”, vậy mà anh dám chỉ nhận mình là “tre nứa”: “Thông tùng cao ngạo phong ba/ Chẳng lẽ tre nứa không là đời cây ?/ Mặc ai chò chỉ lim mây/ Ta vẫn kiêu hãnh một cây giang thường/ Măng giang nấu cá ngạnh nguồn/ Sao ta chẳng biết đổi buồn thành vui”… Trực giác và kinh nghiệm sống cho nhà thơ nhìn thấy giữa thời “hùng ca” đó đã manh nha những vấn đề đáng quan ngại của đạo lý truyền thống – đó là chủ nghĩa xu thời, chủ nghĩa thực dụng, thói ích kỷ xuất hiện, cùng những thứ không thể tồn tại bên cạnh sự “tử tế”; nhiều lần anh đã phải thốt lên cay đắng: “Quanh ta hỏi có bao người/ Gian manh mà vẫn sống đời tụng ca”- ” Mặc ai dài mặc ai tròn/ Người khác với vật bởi còn cội tâm”(Bài ru trằn trọc)- “Những hồn ma nợ tình người sống/ Dẫu chết muôn đời vẫn chẳng thể yêu”(Âm dương). Những khi chán nản,”Tôi lang thang ngơ ngẩn/ Giữa Âm Dương mông lung”, buộc phải “Hát rong tôi trộn kinh hoàng vào đêm”, nhà thơ chỉ biết “Tôi tụng tôi/ Nhân quả”( Cửu tụng). Thất vọng bởi những lời hứa hẹn xuông, những diễn văn lắm lời với những viễn cảnh to tát chỉ có ở thiên đường, anh “thắp nén nhang thơ”( Chép thơ công nghiệp đất) và khao khát “Ra với biển đi tất cả những ai/ Hoang tưởng như tôi biển mời ra biển”(Biển mời), hay cư xử một cách khá nghênh ngang làm tức mắt chẳng ít người: “Tôi bay trên bể đời giông tố hát nghêu ngao”. Anh tìm đến “Thiên nhiên” như cội nguồn sinh lực và lòng tin yêu cho mình: “Tâm hồn anh bay lượn giữa thiên nhiên/ nghe ríu rít tiếng thơ trong lá cỏ”- “Không đố kỵ chẳng xỏ xiên/ Không xúc xiểm chẳng bon chen lọc lừa”- “Công danh thế là quá đủ/ Phận mình thuyền thúng qua sông”… Tất cả cốt chỉ để mong vượt qua những nghiệt ngã của đời mà anh kể lại trong “Tự thuật sinh tồn”- thế nhưng anh đã vô tình “Phạm luật người quan họ” và phải trả giá: Khốn khổ thân tôi đa tình Nhưng nhà thơ luôn tự khẳng định, mối tình với Thơ, với Quan Họ, với những gì xứng đáng dành cho Tình yêu thương và lòng kính trọng của anh là chính đáng, có thể tự hào trước thanh thiên bạch nhật: Quan họ không ngoại tình ! Tuy nhiên, những cái đó chưa phải là “tội” lớn nhất của Nguyễn Nguyên Bảy và người bạn đời của anh- Lý Phương Liên! Cái “án không tuyên” đã treo từ lâu, giờ có chứng cứ cụ thể để biến thành án “văn tự” rành rành khiến họ lao đao khốn khổ, khi cả đôi vợ chồng thi sĩ đều mắc cái tội “Luận Kiều thời chinh chiến”! Lý Phương Liên sau những bài thơ được dư luận ca ngợi, thì trình trên báo chính thống bài “Nghĩ về Thúy Kiều” (sau đổi thành “Trò chuyện với Thúy Kiều”) làm giọt nước đầy tràn cốc nước! Những bài thơ “luận Kiều” của Nguyễn Nguyên Bảy vẫn còn nằm trong bóng tối (gần 40 năm sau anh mới cho vào cả phần: “Một vài trống canh” -Thơ NNB I”)- song anh phải gánh cùng vợ biết bao tai họa xung quanh “Nghĩ về Thúy Kiều”! ( Nhà văn Triệu Xuân đã có viết bài rất đầy đủ và lý thú về chuyện này: “Trò chuyện với Thúy Kiều- bài thơ hay nhất của Lý Phương Liên” ). Ta hãy thử lục lại “hồ sơ vụ án” xem nhà thơ NNB đã “luận Kiều” và “vận Kiều” ra sao: “Hai trăm năm tưởng gieo vần hôm qua”-”Vận người thành cuộc đỏ đen/ Thiêng liêng đất nước bao phen nổi chìm” (Lược Kiều)- “Muốn thay tình mới cho thơ/ Bỗng nhiên sao quá mơ hồ đời anh/…Anh lại đi tìm tình/ Tìm tình anh thấy chính mình thảm thương”-”Hão huyền lại mượn đời Kiều/ Dỗ em/ Dối trá bao nhiêu vơi đầy”- “Chữ tình lại buộc dây tình thanh cao”- “Không ham tiếng hót chim mồi/ Lồng son là hết một đời chim bay”(Tự tình). Và cả đời nhà thơ phải “hơ hoảng” khi đã quá dại dột, dám liều mạng làm một chuyện tày đình vào những năm 70 thế kỷ trước là tuyên bố thẳng thừng: “Thơ là Thơ. Thơ không phải là địa vị xã hội của người làm thơ./ Tôi phạm tội trẻ con/ Luận Kiều thời chinh chiến/ Biết phận mình ong kiến/ Chẳng dám trách miệng quan/ Cố lùa và nỗi nhục/ Gối tình ôm sát ngực/ Cố đừng mòn sống ơi” (Tự thuật tội lỗi). Nhà thơ cũng Tự thuật lại chuyện đó bằng văn xuôi như sau: “15 chữ ấy đủ cho một bản án không tuyên… Đã có những năm khổ sở quá – như 1972 chẳng hạn, bị vu cáo khốn nạn, 8 tháng không được làm việc, tôi chuyển sang làm thợ may. Đồng tiền kiếm được không ít, nhưng lạ lùng sao cứ thiếp vào giấc ngủ là y như nàng thơ đến (như Đạm Tiên ấy!) và bảo: Nghiệp còn nặng chưa thể bỏ được đâu! Thế là lại gạt nước mắt, lại trút tất cả những khó khăn lên vai vợ và lại làm thơ. Nhiều người tỏ vẻ xót xa thương cảm, nhưng gánh nặng đời ai dễ sẻ cho ai.” ( Thủng thẳng với Thơ, NNB) Hậu quả nặng nề đến độ đôi vợ chồng thi sĩ phải làm theo lời nguyền Số phận: “Muốn hoán đêm làm ngày/ Chỉ còn một cách ly hương.” ( Tinh tú ngộ duyên) Chúng tôi ngược Lim Những chặng đường của “gánh hát rong” này (kiểu “Nhà lăn Mê Ly” xuyên Việt của họa sĩ công tử Hoàng Lập Ngôn hồi trước Cách Mạng) kể ra cũng “hào hùng”, cũng nhiều sự kiện đáng nhớ đáng yêu lắm chứ, song trong thân phận chui lủi, không chính danh, là “ngoại tình” nên cũng thực đắng đót làm sao! Mấy chục năm sau, kể cho con và ngẫm lại đời mình, nhà thơ viết: “Cha đã xa kinh thành cổ tích/ Hăm nhăm năm ăn tết Sài gòn/ Tha hương trên đất nước mình/ Lòng nhủ không nơi nào quê cha đất khách/ Vậy mà mỗi năm những ngày cận chạp/ Vẫn nao lòng bóng nhạn trời quê/ Tha thẩn tìm lối hồn về…” Sau nhiều năm tháng lang thang, sống cảnh “Bạn bè lều quán chợ chiều/ Tìm được chỗ tựa lưng là ngủ”, vào một buổi xế chiều, người thơ tổng kết đời mình trong lệ lạnh: “Sáu mươi tuổi bây giờ mới hiểu/ Đêm đông ai hát Tết buồn “- “Thương con cháu chảy nhòe giấy viết/ Xứ tuyết ấy làm gì có Tết/ Quê người đất khách con tôi/ Áo cơm đời nặng thế áo cơm ơi/ Cánh cò trắng lội mò tuyết trắng” (bài thơ Hoa Đỗ Quyên của NNB) Quan họ còn đó chúng tôi phải về . Mẹ cha ơi, làng xóm đây rồi! Một câu thơ làm thành cả khổ thơ là tiếng nói ấp iu của người thơ suốt những năm tha hương lúc nào cũng chỉ chực thốt lên trong nỗi nghẹn ngào: “Mẹ cha ơi, làng xóm đây rồi!” Thực não lòng khi nhà thơ phải “Thưa Lời: Lời hỉ xả lạy tặng bốn phương tám hướng những người từng nộ dọa, thị phi, roi ngữ, ganh khinh hẳn chỉ muốn dậy tôi sống làm người tử tế, xin tha cho tôi mọi tội đời (nếu có)” (Thơ NNB I) Âm hưởng của điều “Thưa lời” ấy bàng bạc suốt tập thơ đầu tiên của Nguyễn Nguyên Bảy gói gọn cả đời thơ anh và trong bài mới nhất “Quan họ không ngoại tình”. Ở bài thơ này, cái chủ đề “Quan họ” đã ngân nga trong “Ô cửa vuông trăng” viết từ nhiều năm trước, khi mà “Người tương tư thơ ấy vẫn chưa về”: “Trầm bổng dàn đồng ca thiếu nữ/ Hát lời quan họ giao duyên/…/ Xác thân anh chết chìm/ Nếu nàng không vớt anh khỏi bể/ Chén cơm anh ăn vì thế/ nặng bao nhiêu nghĩa buồn/ Ô cửa em ngồi ru con/ Sao em hát lời nàng kiếp trước/ Quan họ trao duyên/ Em nhìn theo bóng chim xuôi/ Giục anh tạ lời quan họ/ Quan họ đi rồi anh tạ tình em…” Thời thế đổi thay, rồi cũng bởi sự trả giá quá nhiều, và bởi sự chân thành đến cảm động dù phải chịu bao hắt hủi ghẻ lạnh mà gia đình thi sĩ “phạm luật” năm xưa đã được “đền bù danh dự”: Án phạt năm xưa xóa trắng Trong đoàn “Quan họ” hôm nay “chiêu tuyết “cho danh dự bị tổn thương của gia đình nhà thơ dường như có cả người mẹ kính yêu “quệt mép trầu/ Răng đen nụ cười quan họ”(Hỏi về bánh trôi nước), có “Quan họ” đã cứu vớt nhà thơ khỏi chết chìm trong tủi nhục, cứu cho cả lời nguyền từ kiếp trước là nhà thơ phải tiếp tục “Hát lời Quan họ” cho nhân quần – sau nhiều năm tháng bị sự tầm thường ngu muội xua đuổi: Chuyện tôi cõng cánh bèo bỏ làng quan họ Chúng tôi khiêng về Lim một cỗ thuyền tình Bài thơ hư – thực lẫn lộn, biến ảo mộng – đời, xen kẽ nghĩa bóng – nghĩa đen, người đọc chỉ có thể bằng sự nhập thân, bằng mối giao hòa cao độ để cảm xúc- chứ không thể dùng luận lý tỉnh táo để nhận ra vẻ đẹp của câu chữ hồn thơ cùng ý tứ thâm trầm của tác giả… Và nếu không chìm đắm trong thơ của một thời phải “ngoại tình” với thơ đó thì làm sao cắt nghĩa nổi những giọt lệ thơ mừng tủi ngày “Cánh bèo trèo lên quán dốc”, “ngồi gốc cây đa” để hát đoàn viên mà lại “nặng bao nhiêu nghĩa buồn”? Giữa một chiều u ám của ngày đã xa, nhà thơ lang thang nơi “Cửa rừng” và hình dung: “Trong màn mưa rất ảo/ Chớp hiện một bông sen” Nỗi khát khao trong lành làm sao, và cũng tội nghiệp làm sao khi đường đường chính chính “yêu” mà phải lén lút “ngoại tình”, bị gạt ra ngoài chính thống. Nhưng cũng như sự sống, Thơ không thể tàn lụi, vẫn giống “Sen ngoài hồ nhựa dâng lên nụ/ Anh lan man vẽ tương lai” (Hoa tình). Và cuộc đời thật công bằng- nhất là đối với Thơ của một tình yêu dám bất chấp mọi thế lực dù cao siêu hay tầm thường ngăn trở. Bản chất của “Quan Họ” là công bằng- thời nào cũng thế, tuy cũng có khi bị sai khiến, bị méo mó dung nhan, hoặc vô tình làm tay sai của “đao phủ”… Người thơ hôm nay không còn phải mơ tưởng ra một “Nàng tiên Cá” của “Dàn đồng ca Quan Họ” tới cứu vớt mình khỏi chết chìm dưới đáy biển của nỗi ô nhục dai dẳng là “phản bội” lại cộng đồng; gia đình thi sĩ từng chịu nhiều long đong oan ức giờ đây được “Dàn đồng ca chật một thuyền tình” quây quần chăm sóc- như bản chất của sự việc là phải như thế, và mãi mãi cần như thế: Mọi người nhường cánh bèo hát Và bây giờ, xin hãy đọc lại bài thơ, nhâm nhi từng câu một để cảm thông với mối tình Thơ “Quan họ không ngoại tình” suốt gần nửa thế kỷ…
Quan Họ Không Ngoại Tình Tôi chỉ là người trai bắc quàng quan họ Dù biết luật quan họ Khốn khổ thân tôi đa tình Cánh bèo tôi vốn liền chị con côi Cánh bèo rằng quan họ bén duyên tôi Duyên tình ấy lỗi gì mà quan họ phạt tôi? Chúng tôi ngược Lim Khúc bèo giạt mây trôi hát hoài không chán
Quan họ còn đó chúng tôi phải về Chuyện tôi cõng cánh bèo bỏ làng quan họ Chúng tôi khiêng về Lim một cỗ thuyền tình Chúng tôi thả thuyên tình xuống hồ bán nguyệt Mẹ cha ơi, làng xóm đây rồi! Liền anh cùng thời cười sún răng ô Mọi người nhường cánh bèo hát Sài Gòn, tháng 5/2011 _____________________________ 1/ Theo ĐặngVăn Lung: ” Lễ hội và nhân sinh”- NXB ĐHQG TpHCM, 2005 2/ Tên những tác phẩm trường ca & thơ dài nổi tiếng của Phạm Ngọc Cảnh, Hữu Thỉnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa ĐiềmHà Nội 6-2011 Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Anh Tuấn Nguyennguyenbay.com giới thiệu Filed under: Thơ, Văn Hóa Tagged: Thơ, Văn Hóa | |||||||
| Lá thư thấm đẫm nước mắt của một cô giáo Posted: 06 Jun 2011 01:03 PM PDT
Câu chuyện của cô giáo Việt Hà về người mẹ chịu nhiều khổ đau, một mình nuôi mấy người con khi ba bỏ mẹ con cô ra đi. Với lòng bao dung và nghị lực phi thường mẹ đã dạy cho chị em cách học đối mặt với khó khăn, rèn luyện sự tự lập, không đầu hàng cuộc sống.
Xuyên suốt bài viết là những cơn mưa: ngày chị sinh ra mưa tầm tã, ngày cha bỏ mẹ con đi mưa vần vũ và ngày mẹ đi cũng vào một cơn mưa mùa đông. Câu chuyện có thật của người giáo viên có vóc người nhỏ bé, giọng nói dịu dàng về gia đình mình khiến mọi người trong khán phòng của buổi lễ trao giải vừa diễn ra vào tối 2/6 không khỏi bùi ngùi, xúc động. Khi MC Tạ Bích Loan hỏi: Với bài viết trên, nếu được chọn lòng biết ơn hay sự hận thù chị sẽ chọn điều gì? Thay vì trả lời, cô giáo Việt Hà chỉ gói gọn trong câu nói mộc mạc và thấm thía: "Lòng hận thù hãy ghi trên cát, lòng yêu thương hay ghi trên đá". Dưới đây là toàn văn bài viết của cô giáo Nguyễn Thị Việt Hà gửi mẹ kính yêu: BA HẠT ĐẬU XANH CỦA MẸ Mình từng kể rằng người đầu tiên dạy mình bài học về lòng tự trọng là mẹ mình. Mình cũng từng kể rằng mẹ mình rất đẹp, gương mặt mẹ luôn tỏa ra ánh hào quang nhân ái của con người đã sống trọn một đời lương thiện. Những câu chuyện đời mẹ, mình sẽ chẳng bao giờ kể hết, những trang đau thương nhưng không hề bi lụy mà ánh lên niềm khát khao cháy bỏng về một cuộc sống bình yên, tốt đẹp. Mẹ lại bảo mình sinh ra ngay giữa cơn mưa tầm tã, tạt ướt cả chỗ mẹ nằm. Mẹ ghì chặt mình vào ngực, phủ hơi ấm lên tấm thân bé xíu của mình. Cha bỏ mẹ mình và 3 đứa con thơ dại cũng vào một cơn mưa. Mưa đêm như trút nước. Cha hôn hít chúng mình rồi xách valy ra tàu đi cùng với một người đàn bà trẻ đẹp không phải là mẹ mình. Tiếng còi tàu xé đêm nhưng không vang dội như tiếng mẹ gọi cha. Tiếng mẹ gọi, tiếng khóc nheo nhóc của chúng mình, tất cả bị mưa làm mờ đi. Mưa vần vũ cuồn cuộn. Mưa xối xả. Mưa lăn lộn trên không. Cha vẫn đi. Tóc mẹ xổ tung, mưa lặng đi thấm ướt. Tóc mẹ dài chấm gót, đen sẫm, mượt thơm. Mưa ganh tị xới tung tóc mẹ. Mưa dữ dội xối vào 3 chị em mình. Tàu chạy. Cha đi. Mẹ hốt hoảng ôm xiết 3 con vào nhà. Cả mấy mẹ con khóc run lập cập.
Mẹ dắt 3 chị em mình rời bỏ Cà Mau về quê ngoại ở Bắc Giang. Mình không biết mẹ lấy sức lực ở đâu mà nuôi nổi 3 chị em mình trong cái cảnh tay không tấc đất, chỉ có chút vốn liếng còm cõi, mẹ lăn lóc hết chợ xa, chợ gần, làm đủ công việc nặng nhọc và chịu bao nhiêu tủi hổ. Nhà mình nghèo lắm, những vụ giáp hạt mẹ toàn ăn sắn, khoai, nhường cơm trắng cho 3 đứa con. Nhớ lại là rơi nước mắt món canh " Rửa chân gà"… Mẹ nấu canh bằng rau trong vườn cho thêm một ít mỡ, mẹ bảo canh ngọt lắm vì có cả mùi của thịt gà, chúng con ăn ngon lắm, xì xụp húp rồi tin ngay vì nhìn thấy chân con gà hôm ấy cũng sạch thật…Mẹ vừa ăn khoai vừa rơi nước mắt rồi bảo bụi hôm nay sao nhiều thế… Tuổi nhỏ ngây thơ chưa kịp hiểu đời mẹ nhọc nhằn… Mẹ hay vắng nhà vì đi hết chợ xa, chợ gần để buôn cá khô, sắn, lạc… Năm 1992 mẹ cho 3 chị em mình 6 hạt đậu xanh và bảo hãy trồng vào trong ống bơ, mỗi ống bơ trồng 3 hạt. Một ống để trong nhà, một ống để ngoài sân. Mẹ bảo chăm sóc cây trong nhà kĩ hơn là cây ở ngoài sân, rồi 4 tuần sau xem chuyện gì diễn ra với 2 ống bơ trồng đậu xanh ấy. Cây đậu xanh trong nhà ban đầu bụ bẫm, xanh tốt rồi yếu dần, dài ra cứ vươn mãi ra phía có ánh sáng và 4 tuần sau 2 cây đậu ấy bỗng dưng héo rũ. Còn 3 cây đậu trong ống bơ ở ngoài sân chậm lớn hơn nhưng vững chãi, 4 tuần sau lá trổ xum xuê và bắt đầu có những nụ nho nhỏ…4 tuần kế tiếp đã thấy những quả đậu xanh xinh xinh rung rinh trên cây. Mẹ bảo chúng mình kể mẹ nghe chuyện hai cây đậu, mẹ luôn mỉm cười khi nghe 3 chị em luyến thoáng sau đó người mới từ tốn bảo : " Các con là những cây đậu xanh ở ngoài sân, dù không được chăm sóc tốt, không được ở những nơi sung sướng nhưng đã lớn lên vững chãi. Đó là sự tự lập các con hiểu không?". Thú thực ngay lúc ấy mình chưa hiểu được hết những điều sâu xa trong lời mẹ nói… Nhiều năm sau chúng mình mới hiểu được rằng mẹ đã rèn chúng em sống tự lập, lòng tự trọng bằng chính cuộc đời tốt đẹp của mẹ…. Cuộc sống tươi hồng nhưng luôn nghiệt ngã, cuối năm 1993 mẹ lại dắt chúng mình lên vùng kinh tế mới ở Đạ Huoai- Lâm Đồng. Căn nhà ở xó rừng Madaguil vẹo vọ vì mưa. Mưa ngạo nghễ, nhạo báng mấy mẹ con cô độc. Mưa lạnh lùng nhẩy nhót khắp nhà. Mẹ dắt mình và Hằng băng rừng trốn mưa nhưng không trốn kịp. Mưa ầm ào thác lũ. Mẹ cuí người che mưa cho 3 con, chúng mình vẫn lạnh tê tái. Mưa nhỏ mọn lách qua thân mẹ, chúng mình thâm tím vì mưa. Rồi mình không núp dưới mẹ nữa, đứng thẳng dậy đeo gùi măng lên vai, lì lợm rẽ cỏ tranh và đám cây mây chẳng chịt tìm lối về. Mẹ cũng dắt Hằng, Trung rẽ cây rừng mà đi. Mẹ vượt lên trước cầm dao phạt nhanh những đám cây mây cho chúng mình cất bước. Mưa gầm rú tức giận muốn hất tung 4 kiếp người nhỏ nhoi lên cao nhưng mưa bất lực. Mưa trút roi rát bỏng vào da thịt 4 mẹ con mình.Mình đã học những bài học can đảm từ mẹ mình. Cách mẹ dạy chúng mình cũng lạ hơn người khác, mẹ có một ngọn roi mây luôn treo ở góc nhà nhưng mẹ không đánh chúng mình bao giờ. Mẹ thủ thỉ kể những câu chuyện đời mẹ khi chúng mình cùng trèo rừng, làm rẫy, lúc mưa trú trong lán… Thế mà quên mệt, thế mà lại thấm thía những phẩm chất tốt đẹp. Đời người con gái có 12 bến nước, cái bến mẹ sa chân vào có lẽ cái cái bến đục nhất… Một mình nuôi con, quyết chẳng để con thất học nên dắt díu con từ Nam vào Bắc, từ Bắc vào Nam… Thế rồi…thế rồi đến khi xuôi tay nhắm mắt tóc mẹ chưa kịp bạc…mẹ chưa kịp trở về nhà của mẹ con mình…Năm 2004, khi mình và Việt Hằng đã tốt nghiệp CĐSP à xin dạy ở Phú Tân – Cà Mau , út Trung đang học CĐSP Cà Mau cũng là lúc mẹ bị ung thư thận giai đoạn cuối… Mẹ về lại Bắc Giang sau nửa đời người mang con khắp xứ người tìm cớ mưu sinh, nuôi chúng mình ăn học đến nơi, đến chốn. Mẹ đã về lại nơi chôn nhau cắt rốn để thanh thản nằm lại đồng Đống Mối bên dòng sông bốn mùa gió lộng. Ngày mẹ đi cũng lại vào một cơn mưa mùa đông. Mưa lê thê, não nuột. Mưa hiền hoà bao bọc lấy mẹ, lấy 3 chị em mình. Lạ lùng thay khi 3 đứa mình không khóc được, lủi thủi sau xe tang, mưa nức nở rơi lên khoé mắt tạo thành lệ tuôn để chị em mình khóc mẹ. Mưa nhẹ vỡ thành hàng triệu triệu những giọt sương xốp trắng. Mưa cuộn lên trời cao kéo màn trời ủ dột. Mưa đưa mẹ về nẻo trời xa, nẻo xa xăm mù khơi, nẻo sinh ly tử biệt. Mưa cho cỏ mau tốt tươi phủ kín nấm mộ mẹ nằm lại một mình. Mưa trãi khăn tang vắt ngang bầu trời ngày mẹ đi xa mãi. Và hôm nay, trong câu chuyện cuối cùng mình viết tham gia cuộc thi Netbuttrian có ngấn nước, có nụ cười, có nỗi nhớ, có niềm tự hào của 3 chị em mình như một nén nhang lòng thắp lên cho mẹ. Có một điều không đổi rằng mẹ vẫn đang còn hiện diện bên chúng mình… Trong mỗi nhịp đập trái tim… Không đếm được bao nhiêu vất vả, bao nhiêu nước mắt 3 chị em đã thành người như điều mẹ mong muốn trăn trối lúc lìa trần. Ba đứa con của mẹ, ba hạt đậu xanh trong cái ống bơ đặt góc sân ngày nào, cùng nắng, cùng gió, cùng bao thử thách đã vững chãi mà lớn lên trong bao bài học làm người mẹ đã dạy chúng mình.
Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa | |||||||
| Giọt nước mắt của cậu ấm cô chiêu trong học kỳ quân đội Posted: 06 Jun 2011 01:02 PM PDT Giữa đêm tối tĩnh mịch của vùng rừng núi nơi doanh trại của bộ đội, Thái Sơn, cậu bé vỗn ngỗ nghịch lại bật khóc nghẹn ngào: “Bố ơi con biết lỗi rồi, hãy tha lỗi cho con…”. Trong khi xung quanh, nhiều teen cũng nức nở. Đêm thứ 3 của Học kỳ quân đội thanh thiếu niên được gọi bằng cái tên trìu mến “Đêm gia đình”. Trong sự cô tịch của vùng núi đồi vốn là địa bàn đóng quân của Sư đoàn 309 (Đồng Nai), khi lời bài hát “lung linh lung linh tình mẹ tình cha, lung linh lung linh cùng một mái nhà” vang lên cũng là lúc những giọt nước mắt thương nhớ gia đình của các em tức tưởi rơi xuống. Những cậu ấm cô chiêu khóc òa ôm lấy đồng đội của mình, âm thanh chỉ còn là những nấc nghẹn ngào.
Trong số 320 bạn trẻ từ khắp cả nước tham gia học kỳ quân đội bộ binh sơ cấp lần này, cậu bé 17 tuổi Lê Thái Sơn (quận 10, TP HCM) tỏ ra “chơi trội” hơn hẳn bạn bè bởi vẻ nghịch ngợm, tếu táo với cá tính lạnh lùng. Ấy vậy mà đến phút chia tay, đôi mắt em đỏ hoe, những giọt nước mắt tuôn rơi khiến mọi người vừa ngạc nhiên vừa cảm động. * Ảnh một ngày trong quân ngũ của cậu ấm cô chiêu “Con có lỗi với bố, con biết lỗi rồi. Bố tha thứ cho con nhé. Con thương bố và em lắm…”, những lời nói xuất phát tự đáy lòng của đứa con xưa nay chưa bao giờ biết nhường nhịn ai khiến ông Hải (bố của Sơn) cũng không cầm được nước mắt. Ở đầu dây điện thoại bên kia ông cũng nghẹn ngào: “Nghe con nói vậy, bố mừng lắm…”, rồi cả hai bố con cùng khóc nức nở. Dáng người cao gầy, đôi mắt vẫn đỏ hoe, giọng run run, cậu bé tuổi 17 tâm sự với VnExpress.net, ba mẹ em ly thân từ khi em còn rất nhỏ. Mẹ rời Việt Nam sang Nga sinh sống để lại hai anh em cho một tay bố nuôi nấng dạy dỗ. Kinh tế gia đình tương đối khá, song một phần do thiếu tình thương mẫu tử, một phần đua đòi cùng bạn bè nên cậu công tử chỉ biết vòi vĩnh sắm sửa và tụ tập với bạn bè xấu ăn chơi lêu lổng làm cho bố khổ mọi bề.
Trong đêm gia đình này, Sơn viết thư gửi về cho người cha ở nhà: “Bố kính mến! Bố không ăn ngon ngủ yên khi con lên cơn nhức đầu vì bị viêm màng não. Bố đã thức trắng 4 đêm liền để giúp con vượt qua cơn bệnh ấy. Con biết con đã làm cho bố mệt mỏi, buồn vì đạo đức hay học tập của con. Bố còn nhớ hôm con giận bố quá nên đã bỏ nhà ra đi. Đêm đó bố đã khóc vì con… Con sai lầm nhiều lắm bố ạ.”. Ngước mắt lên trần nhà như cố nuốt những giọt nước mắt ăn năn đang chực trào ra, rồi cậu bé cúi xuống nắn nót dòng chữ “Con yêu bố”.
Nhớ về người cha đáng kính của mình, Sơn bộc bạch: “Có những lúc chán đời quá, bố nói em không nghe mà bỏ nhà đi theo đám bạn làm đủ mọi chuyện xấu. Hôm nay em hiểu là em đã sai thật rồi, em tệ quá. Em nhớ ba, mẹ và em út quá”. Vốn là những “công chúa, hoàng tử”, tham gia kỳ học trong quân đội lần này đòi hỏi các em phải tự túc mọi việc từ giặt giũ quần áo, rửa chén đến quét sân… Ngày đầu tiên nhập ngũ, nhiều teen không khỏi bị sốc bởi môi trường hoàn toàn mới. Ở nơi rừng thiêng hiểm trở mà không có sự giúp đỡ, chăm sóc của cha mẹ. Trịnh Nguyễn Minh Đan là con gái duy nhất trong gia đình, được bố mẹ hết mực nâng niu chiều chuộng. Mỗi khi cầm chén cơm được quy định theo khẩu phần như các chú bộ đội, vì nhớ mẹ cô bé bùi ngùi: “Em nhớ những bữa cơm mẹ nấu quá. Ở nhà mẹ nấu ngon hơn nhiều nhưng em ăn vẫn không thấy ngon và không biết cám ơn mẹ, giờ vào đây mới thấy nhớ mẹ quá”.
Trong đêm gia đình, nhận được lá thư của cha mẹ vừa được các anh chị điều phối viên trao tận tay, Minh Đan (quận Tân Bình, TP HCM) bật khóc nức nở khi vừa nhìn thấy dòng chữ viết tay quen thuộc của cha mẹ “Mèo con của ba mẹ”, cạnh đó là hình vẽ mặt chú mèo đang cười ngộ nghĩnh. Cô bé tuổi teen đọc như nuốt từng nét chữ thân thương: “Thế là con gái đã xa ba mẹ mấy ngày rồi. Lần đầu tiên con gái xa nhà. Ba mẹ nhớ con mà không ngủ được. Nhớ ngày nào con còn nhỏ xíu, lâu lâu mẹ nói ‘hôn ba đi con’. Con kiễng chân chồm lên hôn ba. Hình ảnh này ba vẫn nhắc về con suốt. Lớn lên con lại sợ dơ, khi hôn ba, con len lén chùi đi. Còn bây giờ con không thèm hôn ba nữa…”, đọc đến đây những giọt lệ của nàng công chúa làm ướt nhòe lá thư. Trong bức thư hai mặt giấy A4 viết đêm hôm đó, Minh Đan cũng bày tỏ sự hối hận, xin lỗi cha mẹ và hứa sẽ chăm lo học tập. “Lúc này con chỉ muốn gặp cha mẹ, ôm ba mẹ thật chặt, hôn ba mẹ thật nhiều. Những sai lầm của con, con xin ba mẹ tha thứ”. Mặc dù theo quy định của khóa học, phụ huynh không được đến thăm trẻ, song vì quá thương nhớ đứa con trai nhỏ nênvợ chồng chị Yến cũng lặn lội đến đây chỉ để đứng từ xa nhìn mặt cu cậu. Đứng lấp ló ở ngoài hiên hội trường, khó khăn lắm người mẹ mới tìm được con mình, song vì kỷ luật quân đội nên chị không dám ra mặt mà chỉ dõi từng nét biểu cảm trên mặt đứa con. Thấy con khóc, hai vợ chồng chị cũng không cầm được nước mắt, chỉ biết nắm tay nhau cảm động. “Ở nhà cháu chỉ biết chơi thôi chẳng phụ giúp gì cha mẹ. Giờ nó biết khóc rồi, vậy là biết thương cha mẹ rồi đấy”, chị Yến sụt sùi. Thi Ngoan Filed under: Mỗi ngày 1 tin sáng Tagged: Tin sáng | |||||||
| ‘Việt Nam sẽ làm tất cả để bảo vệ chủ quyền’ Posted: 06 Jun 2011 01:01 PM PDT - Trong phát biểu chính thức tại Hội nghị An ninh châu Á vừa qua, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã đề cập đến vụ Bình Minh 02 như là một ví dụ cho thấy những phức tạp mới nảy sinh trên biển Đông. Ông có thể nói rõ hơn về điều này? - Hội nghị An ninh Châu Á lần này có sự tham dự của một Tổng thống, 2 Thủ tướng, 28 Bộ trưởng Quốc phòng và gần 2.000 quan chức quốc phòng, học giả… Tại diễn đàn, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã có bài phát biểu ở phiên thứ 5 về "Đối phó thách thức an ninh mới trên biển". Dư luận đánh giá đây là bài phát biểu tốt, ở tầm cao chiến lược và đóng góp tích cực vào quá trình phát triển, ổn định của khu vực. Vụ tàu Bình Minh 02 đã được đưa vào phát biểu chính thức tại Hội nghị. Bên cạnh đó, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cũng trả lời câu hỏi của nhiều đại biểu, khẳng định sự sai trái của Trung Quốc trong sự việc này. Việc tàu hải giám của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền vào sâu tới hơn 80 hải lý trong vùng đặc quyền kinh tế là điều không chấp nhận được trong bất cứ văn bản luật pháp nào. Đồng thời, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nhắc lại chủ trương Việt Nam trên biển Đông là kiên trì giải quyết bằng biện pháp hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế và công khai minh bạch để cộng đồng thế giới phân biệt đúng sai.
- Đáp lại phản ứng của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, phía Trung Quốc cho rằng, đây là hoạt động chấp pháp bình thường và quân đội Trung Quốc không hề tham gia. Ông bình luận gì về phản ứng này? - Tôi muốn khẳng định, vụ tàu hải giám Trung Quốc vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam là hành động xâm phạm trắng trợn. Đó là vụ hành xử bằng bạo lực, hành động bạo lực khoác áo dân sự. Hành động này của phía Trung Quốc chứng tỏ một điều chính người gây hấn cũng không có cơ sở pháp lý để giải quyết mà phải sử dụng đến bạo lực để phá hoại một hoạt động lao động hoà bình trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Sự việc này lại diễn ra sau một loạt hoạt động ngoại giao quan trọng của Trung Quốc, ngay trước thềm Hội nghị An ninh châu Á. Vì thế, đây còn là sự thách thức dư luận quốc tế. Cộng đồng quốc tế phải có trách nhiệm bảo vệ chân lý, bảo vệ luật pháp quốc tế, không cho ai xé rào khỏi luật pháp. - Thưa ông, những đối thoại và phát biểu chính thức tại Shangri La của các nước không thấy đề cập đến vụ việc tàu Bình Minh 02. Tại sao các nước ASEAN chưa nhìn nhận đây là vấn đề khu vực, chứ không chỉ là vấn đề Trung Quốc – Việt Nam? - Đối với Việt Nam, hành động gây hấn vừa rồi của Trung Quốc là xâm phạm chủ quyền. Nhưng đối với quốc tế thì cần phải hiểu hành động này là phép thử để Trung Quốc biến cái gọi "đường 9 khúc" thành hiện thực. Và nếu các nước làm ngơ thì lợi ích của họ cũng sẽ bị xâm phạm. Nếu không làm cho phía Trung Quốc chấm dứt ý định đó, thì có thể những sự việc tương tự sẽ tiếp tục xảy ra. Vấn đề sẽ là sự việc xảy ra ở đâu, vào lúc nào, với ai, ở mức độ nào thôi. Theo nhìn nhận của tôi, có lẽ đến thời điểm diễn ra Hội nghị, sự việc còn quá mới, các đại biểu chưa nắm đầy đủ thông tin, chưa hiểu rõ mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Tôi tin rằng, sau những thông điệp của phía Việt Nam, các nước nhất là trong khối ASEAN sẽ nhìn nhận vấn đề này đúng bản chất hơn: Xuất hiện một nguy cơ là Trung Quốc đang đặt ra khuôn phép mới, cách hành xử mới với các nước trong khu vực để hiện thực hoá cái gọi là "yêu sách về đường 9 khúc". Hôm nay là Việt Nam thì ngày mai sẽ là nước khác. Tôi cho rằng, các nước trong khu vực phải xem xét lại đúng hay sai với tư cách là đối tượng trong tương lai. - Trong bối cảnh các nước còn đang phân tán trong đánh giá, với tư cách là tướng quân đội, Việt Nam sẽ làm gì để sự việc Bình Minh 02 không tái diễn, thưa ông? - Chúng ta sẽ áp dụng mọi biện pháp để duy trì sự ổn định và giữ chủ quyền, trong đó biện pháp nhất quán, cơ bản, lâu dài là giải quyết trong hoà bình. Chiến tranh là điều không ai muốn, tuy nhiên khi sự việc leo thang thì chúng ta cũng sẽ hành động chứ không thể ngồi im. Hôm qua, tàu Bình Minh 02 tiếp tục ra khơi làm nhiệm vụ và việc chúng ta tăng cường đến 8 tàu bảo vệ cũng là một hành động cụ thể để ngăn chặn những hành vi xâm phạm khu đặc quyền kinh tế. Quân đội không trực tiếp tham gia. Tuy nhiên sẽ quân đội sẽ theo dõi sát sao để tránh xảy ra xung đột. Nếu đến mức xảy ra xung đột vũ trang thì nhất quyết quân đội tham gia để bảo vệ chủ quyền đất nước. Chúng ta không nói suông, không thụ động ngồi im, nhưng cũng không bảo vệ chủ quyền một cách thiếu khôn ngoan mà phải dựa vào sức mạnh thời đại, đó là niềm tin, sự ủng hộ vào chân lý và khát vọng hoà bình của tất cả các nước, tất cả các dân tộc trong thế giới ngày nay. Ngay cả nhân dân Trung Quốc cũng vậy, họ rất yêu chuộng hoà bình và cũng mong muốn một hình ảnh tốt đẹp cho đất nước mình. Chúng ta sẽ sử dụng đúng luật pháp quốc tế và bảo vệ bằng được chủ quyền lãnh thổ, tài sản quốc gia. Với những cố gắng của chúng ta trong tuyên truyền, đấu tranh ngoại giao, đối thoại với Trung Quốc và tăng sức mạnh bảo vệ thì tôi tin sẽ không tái diễn sự kiện 26/5 lần nữa. - Theo báo chí Trung Quốc, Hà Nội tự tin hơn sau phát biểu của Ngoại trưởng Hillary Clinton năm ngoái là Mỹ có lợi ích lâu dài tại biển Đông. Phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tại hội nghị Shangri La cũng tiếp tục khẳng định Mỹ không buông biển Đông. Theo ông, trong bối cảnh này, Việt Nam có lợi ích gì trong chiến lược này của Mỹ? - Tôi có thể tự tin nói rằng, Việt Nam đủ khả năng để bảo vệ chủ quyền mà không dựa vào sức mạnh của một bên thứ ba. Chủ quyền là thiêng liêng không được phép đánh đổi. Chúng ta không để các nước lớn thỏa hiệp trên lưng mình. - Ở bên cạnh một nước lớn như Trung Quốc"thường có hành động trái với tuyên bố" điều e ngại nhất của ông là gì? - Tại Đối thoại Shangri La 10 vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đã có bài phát biểu rất hay, có tính xây dựng cao và được chuẩn bị kỹ lưỡng. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã đánh giá cao về nội dung bài phát biểu này. Tuy nhiên ngay trong Hội nghị, một số đại biểu đã bày tỏ sự băn khoăn về khoảng cách giữa lời nói và việc làm trên thực tế của Trung Quốc, đặc biệt là đặt nó bên cạnh một số vụ việc vừa qua. Chúng ta hy vọng, chờ đợi và ủng hộ những hành động sắp tới đây của Trung Quốc sẽ phù hợp với những tuyên bố tốt đẹp của Bộ trưởng Lương Quang Liệt. Còn về sức mạnh của Trung Quốc – rõ ràng họ là một nước lớn, vừa qua đã đạt được những bước phát triển to lớn, toàn diện, trong đó có lĩnh vực quân sự. Chúng ta tôn trọng và ủng hộ sự phát triển ấy nếu nó đem lại sự phát triển hoà bình ổn định trong khu vực, củng cố tình hữu nghị đoàn kết giữa các nước. Còn trong trường hợp một thế lực nào sử dụng sức mạnh vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ thì chúng ta không thể khoanh tay, im lặng. Chúng ta kiên trì bằng biện pháp hòa bình, công khai minh bạch để dư luận nhân dân thế giới, trong đó có cả người dân Trung Quốc hiểu được Việt Nam là nước yêu chuộng hòa bình. Nhưng khi đứng trước nguy cơ mất chủ quyền thì nhân dân Việt Nam sẽ làm tất cả để bảo vệ nó. Đó là điều bất biến. Năm 1945, khi các nước lớn ngồi phân chia lại thế giới sau Thế chiến thứ hai, hồi đó Mỹ cho rằng, đối thủ đáng gờm trong tương lai của Mỹ sẽ là Liên Xô và Trung Quốc. Nhưng có nhà tiên tri nào biết được rằng, hơn 30 năm sau, Mỹ đã thất bại trong cuộc chiến tranh với một nước nhỏ, lạc hậu và khi đó còn chưa có tên trên bản đồ thế giới? Việt Nam thắng Mỹ, một lý do vô cùng quan trọng là nhờ nhân dân Mỹ đã đứng lên phản đối cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa đó. Sức mạnh của chúng ta là chính nghĩa, là tinh thần yêu chuộng hoà bình của nhân dân thế giới, và lòng yêu nước, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Phạm Hiếu – Nguyễn Hư Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |
No comments:
Post a Comment