Tuesday, November 15, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Kể một kỉ niệm khó quên về tình bạn – bài làm văn của cậu bé lớp 5

Posted: 15 Nov 2011 03:43 PM PST

 

    Chào các bạn,

    Hôm trước mình đã đăng bài làm văn “Một câu chuyện về lòng nhân hậu” của em trai mình, Nguyễn Đức Long, lúc đang học lớp 4. Hôm nay mình giới thiệu một bài làm khác của Đức Long, lúc học lớp 5, kể một kỉ niệm khó quên về tình bạn.

    Mến,
    Thủy Y Sinh

 

Trường: Hoàng Lê
Lớp: 5C
Họ và tên: Trần Đức Long

Đề Bài: Kể một kỉ niệm khó quên về tình bạn

Tôi bước trên con đường quen thuộc. Trời hôm nay thật là đẹp. Trời xanh ngắt không một gợn mây. Ánh nắng vàng rải nhẹ xuống đường khiến tôi nhớ đến Mai biết bao nhiêu.

Người bạn đó không học cùng trường, cũng không học cùng lớp, mà tôi quen trong một trường hợp đặc biệt.

Cứ vào mỗi buổi chiều đi học về, tôi lại thấy một cô bé ăn mặc rách rưới đi bán bỏng ngô. Một hôm trời mưa to nhưng cô bé kia vẫn đi bán bỏng. Thấy cô bé bán bỏng quần áo ướt sũng,tôi liền đi sát lại, kéo áo mưa của mình che cho bạn. Hôm ấy, vừa đi tôi vừa hỏi:

-Bạn tên là gì? Tại sao ngày nào bạn cũng đi bán bỏng vậy?

Cô bé trả lời:

-Mình tên là Mai. Vì nhà mình nghèo quá nên mình phải đi bán bỏng để mua quần áo và đồ dùng học tập.

Thực ra nhà tôi cũng chẳng hơn gì nhà Mai. Bỗng, tôi chợt nhớ ra chiếc áo mà ông nội đã tặng mình năm ngoái. Không tần ngần gì nữa, tôi liền đem ngay ý kiến đó trao đổi với Mai, nhưng Mai lại nói:

-Cảm ơn bạn, nhưng mình muốn tự lao động để kiếm tiền mua các thứ.

Cũng kể từ ngày hôm đo,tôi không còn thấy Mai đi bán bỏng nữa. Rồi bất chợt một hôm,tôi gặp lại Mai trong một kì thi học sinh giỏi. Tôi và Mai mừng rỡ ôm chầm lấy nhau, rồi hai đứa chạy ù vào trong phòng chuẩn bị thi. Tôi ngồi ngay dưới bàn của Mai. Sau một hồi, sáu tiếng trống vang lên báo hiệu bắt đầu giờ thi. Phần đầu bài thi thì tôi làm được rồi nhưng đến một bài toán khó thì tôi suy nghĩ mãi không ra. Tôi nhìn lên trên thấy Mai viết lia lịa trên tờ giấy thi. Trán tôi lấm tầm mò hôi. Bỗng từ đâu một cục giấy vo tròn được ném thẳng tới trước mặt tôi. Tôi thấy Mai nháy mắt một cái như báo hiệu. Tôi hiểu ý Mai, định nhặt lên xem nhưng tôi lại nhớ có lần Mai đã nói:

-Cảm ơn bạn,nhưng mình muốn tự lao động để mua mọi thứ.

Vậy là tôi không giở ra xem nữa mà cố gắng đọc thật kĩ đề bài để tìm ra đáp án,và cuối cùng,tôi cũng tìm ra đáp án. Tôi liền viết một mạch. Vừa lúc hết giờ cũng là lúc tôi hoàn thành xong tất cả bài thi. Ra về, Mai tiến lại gần tôi, nói:

-Lúc nãy mình thấy bạn lúng túng nên mình muốn giúp bạn, bây giờ mình thấy thật sự ân hận.Tốt hơn hết là chúng mình hãy tự đi và lao động bằng đôi chân và trí óc của mình.

Tôi và Mai sánh bước bên nhau.Trời như trong và xanh hơn.

 



Filed under: Giáo dục, Mỗi ngày 1 tin sáng Tagged: Giáo dục, Tin sáng

Căn bệnh lạm phát đại học ở Việt Nam?

Posted: 15 Nov 2011 03:43 PM PST

Thường Sơn

Nhà báo tự do ở TP HCM

Trao đổi thông tin du học Mỹ
Nhiều gia đình Việt Nam muốn cho con đi học nước ngoài

Hiện tượng một số trường đại học phải đóng cửa ngành học đã manh nha xuất hiện vào năm 2010 tại các trường đại học khác như Đại học Đông Đô, Đại học Lương Thế Vinh, Đại học Hồng Đức…

Nhưng khi nền kinh tế Việt Nam lún sâu vào trạng thái đình lạm (hoạt động sản xuất-kinh doanh đình đốn trong bối cảnh lạm phát vẫn tăng cao), hiện tượng đó đã mang tính phong trào – không khác mấy với phong trào "nói Không" của ngành giáo dục được khởi phát từ thời kỳ đảm nhiệm của Bộ trưởng giáo dục Nguyễn Thiện Nhân từ giữa năm 2006.

Cho tới nay, khó ai có thể xác dịnh được phong trào đóng cửa ngành học đã bắt đầu từ đâu, thành phố loại 1 hay các thành phố loại 2,3. Nhưng điều chắc chắn là phong trào này đã lan rộng ở cả ba miền Trung, Nam Bắc, đặc biệt ngay trước thềm khai giảng năm học 2011-2012.

Tại miền Trung là trường hợp của Đại học Đà Nẵng (đóng ngành kinh tế chính trị và thống kê tin học), Đại học Phạm Văn Đồng (đóng ngành tài chính ngân hàng). Tình hình khó khăn tương tự cũng xảy đến với các trường đại học An Giang, Đồng Tháp. Trong khi đó, ngay tại TP. Hồ Chí Minh với số lượng hơn nửa triệu sinh viên và thuộc loại cao nhất nước về sức cầu học tập, cũng có những trường dân lập phải đóng cửa ngành học như Đại học Văn Hiến, Đại học Hùng Vương.

Ngay cả một trường công lập có bề dày truyền thống như Đại học Nông lâm cũng đã tuyên bố có thể phải đóng cửa nhóm ngành cơ khí, nông nghiệp. Ở khu vực phía Bắc, Đại học Chu Văn An tại Hưng Yên cũng không phải là ngoại lệ.

Hiện tượng đóng cửa ngành học nói lên điều gì? Những trường hợp nêu trên chỉ mang tính minh họa, trong khi còn khá nhiều trường đại học cũng lâm vào tình trạng như thế. Một số chuyên gia giáo dục đã đưa ra những giải thích xác đáng: chỗ học tăng lên trong khi lượng thí sinh tăng không đáng kể, hoặc chủ trương đại học hóa các trường cao đẳng đã dẫn đến tình trạng mạng lưới bị thừa và lẫn lộn…

Cung tăng trong khi cầu không thỏa mãn được cung, một quy luật tự nhiên mà giáo dục đại học không được xem là ngoại lệ. Thậm chí trong những năm tới tình hình tuyển sinh của khối đại học dân lập còn bi đát hơn hiện thời.

"Phải coi dạy học như làm dịch vụ"

Tháng 10/2011, trong một cuộc họp sơ kết việc thực hiện Chỉ thị 269/CT-TTg về đổi mới quản lý giáo dục đại học, Phó thủ trướng Nguyễn Thiện Nhân tiếp tục phát ngôn một triết lý mới: "Phải coi dạy học như làm dịch vụ". Cho đến thời điểm xuất hiện phát ngôn ấy, ông Nhân đã phụ trách ngành giáo dục Việt Nam được đúng 5 năm – ứng với khoảng thời gian để tổng kết những kết quả đạt được của các kế hoạch phát triển trung hạn ở đất nước này.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và ông Đới Bỉnh QuốcThời kỳ ông Nguyễn Thiện Nhân (trái) làm bộ trưởng giáo dục tạo nên nhiều hy vọng nhất, nhưng cũng gây tranh cãi

Vậy kết quả đạt được ở bậc đại học trong giai đoạn từ giữa năm 2006, khi Nguyễn Thiện Nhân chính thức chấp nhiệm chức vụ Bộ trưởng giáo dục, cho đến nay là gì?

Theo thống kê của ngành giáo dục, trong hai năm 2006-2007 có 39 trường được thành lập, bình quân mỗi năm gần 20 trường. Trong 4 năm, từ 2008 đến 2011, có 45 trường được thành lập, bình quân mỗi năm là 11. Còn trong 5 năm, từ năm 2006 đến 2011, có 84 trường mới thành lập, nâng cấp 51 trường (chiếm 61%), thành lập mới 33 trường (39%). Hiện nay, Việt Nam có 440 trường đại học, cao đẳng, trong đó, có 77 trường ngoài công lập.

Rất có thể, kết quả của triết lý "Phải coi dạy học như làm dịch vụ" của Phó thủ trướng Nguyễn Thiện Nhân đang là con số trên 160 trường đại học hiện diện tại hầu hết các tỉnh thành ở Việt Nam, trừ tỉnh Đăk Nông do mới tách ra chưa đủ lâu nên chưa có được trường đại học của mình.

"Dịch vụ đại học" không phải là cụm từ được chính thức xác nhận trong các văn bản của ngành giáo dục, nhưng lại đương nhiên được thừa nhận bởi lời bàn tán đầy mỉa mai của những người muốn mở trường. Trong hai năm 2006-2007, khi có đến 40 trường đại học ồ ạt ra đời, "dịch vụ đại học" cũng được "nâng lên tầm cao mới" với sự khởi đầu cho mọi khởi đầu: chi phí.

Rất nhiều người trong ngành giáo dục, giới chuyên môn và giới báo chí đều biết rõ chi phí "chui" để mở trường đại học là không hề nhỏ. Vào những năm 2006-2007, chi phí "trọn gói" để xin giấy phép thành lập trường đại học đã vào khoảng 1-2 tỷ đồng, tùy vào khu vực mở trường và số lượng ngành học của trường. Vị trí của trường càng đắc địa, số lượng ngành học càng nhiều thì chi phí càng lớn.

Bản chất không thay đổi, nhưng hình thái luôn biến dạng theo thời gian. Vài năm gần đây, khoản chi phí mở trường đại học đội lên đến 3-5 tỷ đồng. Vì sao lại có "nghịch lý" ấy? Có lẽ đơn giản nhất là nên thuyết minh theo giá vàng: từ năm 2006 đến năm 2011, giá vàng tại Việt Nam đã tăng gấp 3,5 lần.

“Chỉ cần so sánh với một trường hợp phát triển trung bình như Thái Lan, đã có thể thấy thực chất ngành giáo dục Việt Nam ra sao khi số lượng trường đại học nhiều hơn hẳn, nhưng chất lượng đào tạo lại kém hơn hẳn.”

Sẽ không có những khoản chi phí kinh khủng như thế nếu không có sự tồn tại của "đường dây". Bản thân người viết bài này đã biết tường tận về một hiệu trưởng trường cao đẳng ở thành phố Hồ Chí Minh. Vị này kêu khổ không ngớt khi phải mất đến ba năm, vài chục lần bay ra Hà Nội mà chẳng thể xin được quyết định chuyển từ cao đẳng lên đại học.

Cuối cùng, vị hiệu trưởng theo thuyết khổ hạnh ấy đành phải nhờ đến một cơ quan có chức năng "nghiên cứu phát triển giáo dục" thì mới được toại nguyện. Tất nhiên 2 tỷ đồng của của trường cũng phải đội nón ra đi.

Nói Không với văn bằng ngoài công lập!

Nhưng "dịch vụ đại học" vẫn chưa kết thúc sự hành hạ của nó. Nếu chuyện mở trường khó hiểu và khó khăn như thế nào thì hệ quả đào tạo của trường lại càng làm cho cộng đồng xã hội hết sức khó xử.

Cùng với hiện tượng đóng cửa ngành học của nhiều trường đại học, vào tháng 10/2011, Nam Định đã trở thành tỉnh đầu tiên khi chính quyền của địa phương này công khai thông báo không tuyển dụng công chức là những người tốt nghiệp đại học dân lập, tư thục hay tại chức. Xin lưu ý, tính chất dân lập hay tư thục là như nhau ở Việt Nam, được nhìn nhận chung là trường ngoài công lập.

Đây cũng là lần đầu tiên văn bằng của khối trường ngoài công lập bị xúc phạm đến như vậy. Sự xúc phạm này ngay lập tức đã làm dấy lên một làn sóng phản đối từ phía hội đồng quản trị và ban giám hiệu của nhiều trường đại học dân lập. Hiểu theo nghĩa thông thường, hành động của chính quyền tỉnh Nam Định không khác gì một sự phân biệt đối xử trên phương diện xã hội học.

Nhưng ở một góc cạnh khác, người ta lại nhận ra rằng đã đến lúc gióng lên tiếng "chuông gọi hồn ai" về thực trạng đào tạo tại nhiều trường đại học ngoài công lập. Khởi đầu của "đường dây giáo dục phí" dẫn đến Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng là logic cho sự tiếp nối về cách làm ăn ẩu tả của nhiều trường đại học ngoài công lập.

Hoàn toàn không khác với trường ngoài công lập, ngay các trường cao đẳng công lập được "nâng cấp" thành đại học và trường trung cấp phát triển thành cao đẳng, cũng rơi vào tình trạng bình mới rượu cũ. Hiển nhiên, giáo dục là một trong những lĩnh vực được chú trọng về lượng hơn là chất ở Việt Nam trong vài chục năm qua, dẫn đến hậu quả là từ năm 2000 đến năm 2011, trong khi số lượng trường đại học từ 69 trường tăng đến trên 160 trường, thì lượng giáo viên được chuẩn đào tạo công nhận vẫn chỉ gần như một hằng số.

Còn về chất, có thể lấy sự so sánh giữa hoạt động giáo dục đại học ở Việt Nam với Thái Lan trong giai đoạn 2007-2008 như một bằng chứng. Vào thời gian đó, số trường đại học ở Việt Nam đã vào khoảng 150 trường, so với chỉ 112 trường ở Thái Lan. Tuy nhiên, người Thái lại có đến 14.000 tiến sĩ, 35.000 thạc sĩ, trong khi người Việt chỉ có 5.600 tiến sĩ và 15.000 thạc sĩ.

Hai sinh viên Việt Nam tại Thượng HảiSinh viên Việt Nam du học nhiều cả ở Trung Quốc

Thế nhưng tiêu chí so sánh thực chất nhất chính là số bài báo khoa học trên tập san quốc tế giữa hai quốc gia: ngành giáo dục Việt Nam chỉ có 959 bài, trong khi các nhà khoa học Thái có đến 4.527 bài, tức gấp gần 5 lần.

Như vậy, chỉ cần so sánh với một trường hợp phát triển trung bình như Thái Lan, đã có thể thấy thực chất ngành giáo dục Việt Nam ra sao khi số lượng trường đại học nhiều hơn hẳn, nhưng chất lượng đào tạo lại kém hơn hẳn.

Trách nhiệm

Khách quan mà nói, Nguyễn Thiện Nhân là một nhà khoa học có tâm trạng trước hiện tình thoái hóa về chất trong giáo dục Việt. Bởi thế vào năm 2010, trên cương vị phó thủ tướng, ông đã đề xuất một chương trình về đào tạo 20.000 tiến sĩ cho đến năm 2020.

Xét về chiến lược, việc đào tạo tiến sĩ cho dài hạn là hoàn toàn chính xác. Nhưng chương trình này đã gây ra nhiều tranh cãi liên quan chủ yếu đến động cơ của nó, và cả cá nhân bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân.

"Phong trào đào tạo tiến sĩ" đã thiếu may mắn khi ra đời trong bối cảnh nền giáo dục đại học bắt đầu lộ rõ những khuyết nhược quá lớn của nó, cũng là hậu quả của việc chạy theo số lượng mà bỏ quên chất lượng từ chính chủ trương của ông Nhân.

Tuy vậy, vẫn theo tiền lệ có tính truyền thống, chẳng có ai là người bị quy trách nhiệm, và càng không có ai tự nguyện đứng ra chịu trách nhiệm về rất nhiều hậu quả trong công tác quản lý lẫn nạn nhũng nhiễu, tham nhũng tràn ngập trong ngành giáo dục.

Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn riêng của tác giả, một nhà báo tự do ở thành phố HCM.



Filed under: Giáo dục Tagged: Giáo dục

Bill Gates giúp phát triển internet ở VN

Posted: 15 Nov 2011 03:43 PM PST

bbc

Facebook
The Next Web nói ít khả năng Facebook sẽ nằm trong thực đơn internet nông thôn vì trang này bị tường lửa

Người sáng lập Microsoft, Bill Gates, gúp đỡ Việt Nam 30 triệu đôla Mỹ để phát triển internet tại vùng thôn quê, theo trang chuyên về công nghệ thông tin The Next Web.

Trang tin này dẫn nguồn báo Thanh Niên nói ngoài khoản tiền tài trợ, Quỹ Bill và Melinda Gates cũng tặng các phần mềm của Microsoft trị giá hơn 3,6 triệu đôla cho sáng kiến trị giá 50 triệu đôla Mỹ của chính phủ Việt Nam nhằm cung cấp các kỹ năng máy tính căn bản và các lợi ích của internet cho 760.000 người.

Dự án sẽ đem lại hơn 12.000 máy tính kết nối internet tại 1.900 thư viện (65% thư viện trong cả nước) tại 40 tỉnh tụt hậu nhất Việt Nam.

The Next Web nói người Việt Nam tại các địa phương có thể vào internet miễn phí hoặc chỉ phải trả phí bằng 50% mức phí truy cập hiện hành.

Bà Deborah Jacobs, Giám đốc Sáng kiến Thư viện Toàn cầu tại Quỹ Bill & Melinda Gates, được dẫn lời nói dự án này có thể góp phần lớn vào việc giảm khoảng cách kỹ thuật số giữa thành thị và nông thôn.

“Qua dự án thử nghiệm, chúng ta đã thấy sự tiếp cận thông tin và công nghệ có thể cải thiện đáng kể cuộc sống của người dân ở khắp Việt Nam.

“Chỉ với cam kết lâu dài của Chính phủ Việt Nam và các đối tác khác chúng tôi mới có thể mang lại thay đổi bền vững,” Bà Jacobs nói.

‘Tụt hậu’

The Next Web nói ít khả năng Facebook sẽ nằm trong số các trang người dân nông thôn có thể truy cập vì chính phủ Việt Nam đang chặn trang web này.

Tuy vậy trang web chuyên tin công nghệ thông tin này nói Facebook vẫn là mạng xã hội phổ biến nhất tại Việt Nam.

The Next Web cũng trích một báo cáo mới đây của Nielsen theo đó rất ít người Việt Nam có máy tính bảng tính theo phần trăm dân số trong khi 25% có máy tính xách tay, notebook hay netbook và 32% có điện thoại kết nối internet.

Các thống kê này cho thấy Việt Nam đứng sau Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan.

Về thời gian sử dụng internet trong tuần, Việt Nam chỉ hơn Indonesia và kém ba nước còn lại.

Việt Nam bị Tổ chức Phóng viên Không Biên giới liệt vào danh sách các nước bị coi là “kẻ thù của internet” và bị các tổ chức nhân quyền lên án vì bỏ tù nhiều công dân mạng.

Tuy nhiên Hà Nội nói số người dùng internet tại Việt Nam liên tục tăng và họ chỉ kết án tù những người vi phạm pháp luật.


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

TQ ‘không bàn về Biển Đông tại Bali’

Posted: 15 Nov 2011 03:42 PM PST

Một hòn đảo không người ở trên Biển Đông
Chưa rõ chủ đề Biển Đông sẽ được tiếp cận thế nào tại hội nghị Bali

Sau khi một số quốc gia kêu gọi thảo luận chủ đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông tại hội nghị thượng đỉnh Đông Á sắp tới, Bắc Kinh lên tiếng bác bỏ đề nghị này.

Sau khi Trung Quốc thêm yêu sách chủ quyền đối với vùng biển đảo mà Philippines cũng nói là của họ, Manila yêu cầu mang các tranh chấp ra bàn hội nghị, sẽ được tổ chức tại Bali ngày 17/11-19/11, đồng thời muốn Liên Hiệp Quốc tham gia phân xử.

Tuy nhiên hôm thứ Ba 15/11, Trung Quốc chính thức lặp lại quan điểm chỉ ‘thảo luận song phương với các bên liên quan’.

Thứ trưởng Ngoại giao Lưu Chấn Dân nói với các nhà báo tại Bắc Kinh: “Vấn đề Biển Đông không có liên quan gì tới hội nghị thượng đỉnh Đông Á vì đây là diễn đàn để thảo luận các chủ đề hợp tác kinh tế và phát triển”.

Ông Lưu nhắc lại rằng chủ trương của Trung Quốc về Nam Hải (Biển Đông) luôn ‘rõ ràng và nhất quán: Trung Quốc tin rằng tranh chấp cần được giải quyết thông qua hiệp thương hòa bình giữa các nước trực tiếp liên quan’.

Hội nghị Bali lần này cũng có mặt Hoa Kỳ, nước từng tuyên bố có quan tâm quốc gia trong việc bảo đảm an ninh và tự do lưu thông trong vùng Biển Đông.

Thứ trưởng Lưu nói, dường như ám chỉ Mỹ: “Việc tham gia của các thế lực bên ngoài không có ích lợi gì cho việc giải quyết vấn đề [Biển Đông] mà ngược lại chỉ làm phức tạp thêm tình hình, đe dọa hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực”.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã tới Manila hôm thứ Ba này và có kế hoạch đề cập chủ đề Biển Đông với người đồng nhiệm nước chủ nhà.

Thái độ cứng rắn của Trung Quốc liệu có làm các nước tham gia hội nghị Đông Á ngại ngần khi nhắc tới chủ đề Biển Đông hay không?

Malaysia đã ra chỉ dấu sẽ không ủng hộ yêu cầu thảo luận của Philippines.

Các nước ngại ngần

Ngoại trưởng Malaysia Anifah Aman được hãng thông tấn AFP dẫn lời nói: “Trung Quốc đang khá tích cực trong việc tổ chức các cuộc họp và hội thảo, đây là điều rất tốt. Asean cần đáp lại các cử chỉ đó”.

“Thêm một diễn đàn nữa chắc sẽ làm phức tạp thêm chủ đề này.”

Ông Anifah Aman cũng nói thêm rằng thay vào đó, các nước Asean có thể tập trung vào xây dựng Tuyên bố chung về Cách ứng xử ở Biển Đông mà khối này đã ký với Trung Quốc hồi năm 2002.

Asean chủ trương đồng thuận, bởi vậy sự thoái lui của quốc gia thành viên chắc sẽ gây khó khăn cho việc đưa chủ đề Biển Đông lên bàn thảo luận.

Campuchia cũng đã từng nói ủng hộ quan điểm song phương của Trung Quốc.

Trung Quốc vừa mới ‘đòi’ thêm hơn 80 cây số lãnh thổ từ một tỉnh của Philippines, hãng thông tấn Associated Press cho biết.

Được biết vùng lãnh thổ này nằm trong Biển Đông, gần một quần đảo của Philippines nhưng không thuộc Trường Sa.

Theo Bộ Ngoại giao Philippines, đòi hỏi của Trung Quốc là vô lý vì vùng đó hoàn toàn thuộc chủ quyền của Philippines, chỉ cách Palawan về tây bắc có 79 km, trong khi cách bờ biển của Trung Quốc tới 800 km nơi gần nhất.


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

No comments:

Post a Comment