Friday, November 25, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Phiên bản lời Việt những tình khúc bất tử (1) – Serenata (Toselli)

Posted: 25 Nov 2011 12:50 PM PST

 
Các bạn thân mến,

Mình sẽ sưu tầm và giới thiệu lại 17 tình ca bất tử có kèm phiên bản tiếng Việt. Có lẽ ngày xưa nhờ sớm tiếp xúc với những ca khúc này nên sau này mình đâm ra có …năng khiếu nghe nhạc :D

Có vài bạn đã phản hồi cho những bài viết của mình, khen mình biết nhiều nhạc, nhưng thực ra mình không phải là người hay nghe nhạc, mà chỉ là người thích nghe nhạc…hay :D

“17 tình ca bất tử” là một tập ca khúc do nhạc sĩ Phạm Duy tuyển chọ và soạn lời Việt từ nhiều tác giả cổ điển danh tiếng trên thế giới như Johann Strauss, Brahms, E. Curtis, Chopin..v.v.

Trong hồi ký của mình, NS.Phạm Duy kể rằng:

    ” … Tôi khởi sự soạn lời ca tiếng Việt để hát với nhạc Âu Mỹ khi tôi vừa bước vào tuổi 15, 20. Khi đó, ở Việt Nam, phong trào cải lương, cải cách trong văn học nghệ thuật đã ra đời. Thơ Mới đã có mặt với những thi phẩm của Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu v.v…, đồng thời Cải Lương Nam Kỳ cũng đang dần dà xâm chiếm sân khấu của Chèo Cổ, Tuồng Cổ… Về Âm Nhạc, để thay thế cho nhạc cổ, qua những bài ta theo điệu Tây của các nghệ sĩ Năm Châu, Tư Chơi… một nền nhạc mới đang trong thời kỳ chuẩn bị (Nhạc Cải Cách) để sẽ tiến tới thời kỳ thành hình (Tân Nhạc)…
    Trong khi các nghệ sĩ kể trên chọn nhạc bình dân Pháp để soạn lời thì tôi chọn nhạc cổ điển Âu Tây để ca hát.

    Vào tuổi tôi, ai mới bước vào âm nhạc thì cũng đều mê nhạc cổ điển Tây Phương. Tôi có cái may là có một người anh đi du học bẩy năm ở bên Pháp. Khi hồi hương, người anh mang về nhiều đĩa hát loại 78 tours, tất cả là nhạc cổ điển. Tôi đã nghe và đã thuộc lòng nhiều bài được coi như bất tử, chẳng hạn bài SÉRÉNATA của Toselli. Bản nhạc Ý đại lợi này thì quá đẹp, lại có thêm lời ca tiếng Pháp rất hay, cho tới hôm nay tôi còn nhớ:

    Viens, le soir descend
    Et l’heure est charmeuse
    Viens, toi si frileuse
    La nuit déjà comme un manteau s’étend
    Viens, tout est si doux
    Si plein de promesses
    Qu’on sent la caresse
    Des mots d’amour qu’on écoute à genoux

    Tôi hát bài này từ khi mới 14, 15 tuổi nhưng cho mãi tới năm 1942 hay 1943 tôi mới soạn lời Việt.”

Chiều Tà – Sérénata

Nhạc : Enrico Toselli – Lời Việt : Phạm Duy

Lắng trầm tiếng chiều ngân
Nhạc dặt dìu ái ân
Người ôi ! Nhớ mãi cung đàn
Năm tháng phai tàn
Duyên kiếp vẫn còn lỡ làng
Ðã quên hết sầu chưa
Lời này là tiếng xưa
Quỳ dâng dưới nắng phai mờ
Bên gối ơ thờ
Ôi tiếng tơ tình mong chờ
Chiều êm êm đưa duyên về người
Ðàn triền miên nắn tiếng sầu đời
Người hỡi !
Ðến bên tôi nghe lời xao xuyến
Như chuyện thần tiên.
Niềm mơ xưa là đó
Cho ta nâng niu lời ca
Chiều mơ không gian
Hờ hững cõi Thiên Ðàng
Thuyền trôi bến sông xa đừng chờ
Xin hãy lắng nghe bao lời thơ chiều tà
Nhạc chiều của chúng ta
Là câu ân ái muôn đời
Bóng đã xế rồi
Hãy nép trong lòng cõi đời.
Tình Yêu mãi mãi…

Các bạn nghe hai clip. bản do Violinist Andre Rieu:

 

 

và bản tiếng Việt do ca sĩ Khánh Hà hát:


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Chờ đợi

Posted: 25 Nov 2011 12:50 PM PST

Chào các bạn,

Hầu như tất cả chúng ta luôn luôn chờ đợi một điều gì đó—ngày ra trường, lúc khỏi bệnh, ngày thành hôn, ngày có công việc tốt, ngày có tiền, ngày thành danh, ngày cơn bão sẽ qua và mặt trời lại sáng… Và ngay trong các tôn giáo thì chờ đợi cũng là việc chính—chờ đấng cứu thế (dân Do Thái vẫn đang chờ một Messiah), chờ ngày Chúa Giêsu trở lại, chờ lúc Chúa trả lời cho những cầu xin của ta, chờ ngày Phật Di Lặc đến…

Chờ đợi là hướng đến tương lai.

Chờ đợi là hy vọng.

Chờ đợi là lòng tin… dù là lòng tin mỏng manh như sợi tóc, về tương lai, vì nếu không tin thì chẳng ai chờ làm gì.

Chờ đợi là kiên nhẫn… chờ đợi.

Chờ đợi là làm việc… ngày hôm nay, để chuẩn bị cho điều chờ đợi tương lai, như người học trò học hành chăm chỉ hôm nay để chuẩn bị ra trường 2 năm nữa. Nếu chờ đợi mà không làm việc cho điều mình chờ, như học trò chờ ra trường nhưng không chịu học, thì có lẽ đó không phải là chờ đợi, mà là… há miệng chờ sung.

Nhưng “làm việc” đây cũng có thể là siêu hình, tâm lình, như là lặng lẽ cầu nguyện để chờ mọi sự tự sắp đặt quanh sự tĩnh lặng của mình.

Chờ đợi là sẵn sàng… như là chờ chàng thì nàng luôn sẵn sàng cho khi chàng về, dù là về thật bất ngờ.

Thực sự là trong tâm lý con người, rất khó sống nếu không có gì để đợi. Những người không còn gì để hy vọng, để đợi chờ, để mơ ước, có lẽ là… tự tử hết rổi.

Ngay cả các thiền sư sống "ở đây lúc này" cũng hy vọng về vài điều gì đó, như là tạo được một số đệ tử tốt, thuyết giảng được cho một số người, xây được một ngôi Chùa…

Chờ đợi/hy vọng là yếu tố chính của Tư duy tích cực. Chờ đợi/hy vọng cho chúng ta sức mạnh chịu đựng và khắc phục được những khó khăn hiện tại, phấn khích làm việc, hầu có được thành quả tương lai, như cô phụ cố gắng nuôi con, chờ chồng từng đêm cô đơn, mắt hướng về ngày đoàn viên mai hậu.

Mỗi người chúng ta hẳn là đang chờ đợi một vài điều gì đó. Bạn có biết mình chờ đợi điều gì không? Và bạn đang làm gì với chờ đợi đó? Bạn đang làm gì để luôn sẵn sàng với chờ đợi đó?

Chúc các bạn một ngày hy vọng.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Mẹ ơi

Posted: 25 Nov 2011 12:49 PM PST

 

Mẹ ơi, cứ mỗi lần con đọc câu chuyện Con Vẹt xanh (*) con lại nhớ mẹ vô cùng, con thấy tim mình thổn thức và đau nhói. Con lại nhớ bữa cơm gia đình gần đây nhất:

Con: Mẹ cứ ngồi yên đây để con bới cơm cho cả nhà cho hehe

Mẹ: Con không biết bới cơm đâu, để mẹ làm cho

Con: Mẹ thiệt là dìm hàng con quá xá, ai lại chẳng biết bới cơm, huống chi con đã có nhiều năm chinh chiến và lăn lộn trong bếp hehehe

Mẹ: Đó đó, thấy chưa, đã nói là con không biết mà. Có 1 lớp cơm nguội ở trên cùng, con phải bới lớp này riêng ra, để riêng đây cho mẹ, phần cơm nóng bên dưới thì mới bới cho mọi người.

Mẹ ơi, bao năm qua, Mẹ vẫn thế, vẫn hi sinh cho gia đình, nhưng con quá vô tâm. Con chỉ ước gì được ngồi cạnh Mẹ trong lúc này, được nghe tiếng Mẹ nói cười, hay la mắng mỗi khi con làm sai. Tham lam hơn, rất nhiều lần con chỉ mong ước mình nhỏ lại như ngày xưa, để con được ở cạnh Mẹ nhiều hơn và nhiều hơn nữa.

Con biết con không phải là đứa con tốt- con là một đứa ích kỷ, đã vậy còn lười biếng nữa chứ, chắc vì vậy mà ở nhà Mẹ gọi con là Heo. Vì vậy, con luôn thấy hổ thẹn, chẳng bao giờ con dám nói con thương Mẹ hay con yêu Mẹ. Nhưng trong thâm tâm, con luôn nhớ Mẹ day dứt và thương Mẹ vô cùng.

Nhớ lại lúc nhỏ, con hay so sánh gia đình mình với gia đình người khác, rằng họ hơn mình nhiều thứ. Con thật nhẫn tâm và thật ngu xuẩn quá.

Con đang đi trên một con đường, mắt con chỉ nhìn thấy cảnh các gia đình hạnh phúc, rộn rã tiếng cười, vật chất đủ đầy…mà con không thấy được cũng trên con đường này, Mẹ đang ngày đêm vất vả hi sinh thân mình để con có được cuộc sống mới tốt đẹp hơn và ý nghĩa hơn.

Con đang đi trên một con đường, tai con lại chỉ để tâm đến những lời thị phi chung quanh, thay vì lắng nghe và thấu hiểu những lời dạy bảo của Mẹ để sống tốt.

Con đang đi trên một con đường, những ảo giác của sự cám dỗ khiến con lầm tưởng đó là thiên đường của hạnh phúc và đôi lần con đã rẽ ngang, con ngu si không nhận ra rằng con đường mà mình đang đi mới chính là thiên đường hạnh phúc mà bao người khát khao, và thèm muốn.

Con đang đi trên một con đường, con cũng biết một ngày nào đó, rồi con đường này sẽ chỉ còn lại mình con, đôi lúc con lo sợ.

Nhưng Mẹ ơi, Mẹ đừng lo cho con, có một người tốt nói với con rằng: "nghĩ về nhau là gần nhau mãi mãi"- vì con đường mà con đang đi đong đày sự hi sinh và đau khổ của Mẹ, tích lũy nhiều tiếng cười hạnh phút và những giọt nước mắt buồn tủi của gia đình mình, và nhiều hơn thế nữa là tình thương yêu bao la, sự bao dung, rộng lượng của Mẹ. Với nguồn tài sản vô giá này, con cần phải sống tốt hơn nữa, và bây giờ con luôn khát khao được mãi mãi làm con của Mẹ, mãi mãi và mãi mãi.

Mẹ ơi, con thương Mẹ nhiều lắm.

Heo của Mẹ.

 


Filed under: Văn Tagged: Văn

Việt Nam ‘đòi chủ quyền’ Hoàng Sa – Thủ tướng nói về chủ quyền ở Biển Đông

Posted: 25 Nov 2011 12:39 PM PST

Biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội mùa hè 2011

Trong động thái mà giới chuyên gia nhận định là có ‘dịch chuyển về chính sách’, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa tuyên bố rằng chủ trương của Việt Nam là đàm phán để đòi hỏi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đoạt hoàn toàn từ năm 1974.

Ông Dũng đã đề cập tới vấn đề chủ quyền Biển Đông khi trả lời chất vấn của đại biểu trong kỳ họp thứ hai của Quốc hội Khóa 13 vào sáng thứ Sáu 25/11 tại Hà Nội.

Tuy nhiên ông thủ tướng nói thêm Việt Nam cũng chủ trương “đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình”.

Được biết phần phát biểu về Biển Đông của ông Nguyễn Tấn Dũng tại Quốc hội kéo dài khoảng 10 phút.

Ông được truyền thông trong nước dẫn lời nói: “Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ và lịch sử pháp lý để khẳng định điều này”.

Theo ông, việc đàm phán đòi hỏi chủ quyền là phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Công ước LHQ về Luật biển.

Ông thủ tướng cũng khẳng định Việt Nam đã “làm chủ thực sự” đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, “ít nhất từ thế kỷ 17 khi hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ quốc gia nào”.

Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Chính phủ Trung Quốc tuyên bố tổ chức tour du lịch tới Hoàng Sa.

Áp lực bên trong nước

Hôm 22/11, chính quyền tỉnh Hải Nam đã cấp phép cho một công ty du lịch đưa khách đi tham qua từ Hải Nam tới quần đảo Hoàng Sa.

Việt Nam cũng đã nhanh chóng lên tiếng phản đối kế hoạch này. Hôm thứ Năm 24/11, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị nói tại cuộc họp báo thường kỳ ở Hà Nội rằng việc tổ chức du lịch Hoàng Sa của Trung Quốc là ‘vi phạm chủ quyền của Việt Nam’.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
Ông Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời chất vấn trước Quốc hội

Ông Nghị tuyên bố: “Mọi hoạt động của nước ngoài tại khu vực này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và trái với tinh thần Tuyên bố chung về Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (DOC) mà các nước Asean đã ký với Trung Quốc năm 2002″.

Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Quốc hội dường như chỉ là khẳng định ở cấp cao hơn quan điểm của Việt Nam về chủ quyền tại Biển Đông, nhưng theo Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia về Việt Nam, nó mang tầm quan trọng đặc biệt, nhất là khi được truyền thông đại chúng Việt Nam tường thuật chi tiết.

Ông Thayer nhận xét: “Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm nay, một lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam công khai tuyên bố rành rẽ về vấn đề Hoàng Sa”.

“Khác với Trường Sa, vốn được cho là khu vực tranh chấp, Hoàng Sa luôn được Trung Quốc coi là lãnh thổ của nước này một cách hiển nhiên và không bao giờ đặt Hoàng Sa vào trong nội dung các cuộc đàm phán.”

Theo ông Thayer, do vậy vấn đề Hoàng Sa cũng không được lãnh đạo Việt Nam nhắc đến, và việc hai chữ Hoàng Sa được nhắc tới một cách chính thống những ngày này cho thấy một sự dịch chuyển trong chính sách.

Ông giáo sư, người vừa có mặt ở Hà Nội hồi đầu tháng, nói lý do có thể là vì “áp lực vô cùng lớn ở trong nước, từ phía dư luận và người dân đòi hỏi chính phủ phải có hành động cứng rắn về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Thái độ của Hoa Kỳ

Một lý do nữa, theo ông Carlyle Thayer, là phản ứng của Việt Nam trước những động thái mới đây của các cường quốc tại Biển Đông.

“Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm nay, một lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam công khai tuyên bố rành rẽ về vấn đề Hoàng Sa.”

GS Carlyle Thayer

Mới hôm thứ Tư 23/11, Trung Quốc loan báo kế hoạch tập trận hải quân ở khu vực Tây Thái Bình Dương, kể cả Biển Đông, vào cuối tháng này.

Tuy quân đội nước này giải thích đây là hoạt động ‘thường kỳ và không nhắm vào bất cứ quốc gia nào’, giới quan sát vẫn cho rằng nó được đưa ra để đối trọng lại chính sách của Hoa Kỳ trong khu vực.

Tuần trước, Mỹ thông báo sẽ điều thủy quân lục chiến tới Darwin, miền bắc Australia, với quân số có thể lên tới 2.500 trong tương lai.

Trái ngược với thái độ dè chừng xưa nay trước các diễn biến quốc tế, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 24/11 đưa ra bình luận hiếm hoi về kế hoạch điều quân của Mỹ, gọi đây là ‘việc hợp tác’ giữa các nước.

Ông Lương Thanh Nghị nói: “Chúng tôi mong rằng việc hợp tác giữa các quốc gia sẽ có đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào các nỗ lực chung nhằm duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới”.

Chính sách biển ngày càng hung hăng và khả năng quân sự ngày càng tăng cường của Trung Quốc, theo các nhà bình luận, đang đẩy các nước trong khu vực lại gần nhau và xích lại với Hoa Kỳ.

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Quốc hội ngày 20/10/2011Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời nhiều câu hỏi của các đại biểu Quốc hội

Ngày 25/11, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã có phiên trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội.

22 đại biểu đã đặt câu hỏi cho Thủ tướng, trong đó có hai người hỏi về vấn đề chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.

Dưới đây là nguyên văn trả lời của ông Nguyễn Tấn Dũng, được Quốc hội Việt Nam công bố.

“Quán triệt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia của Đảng và Nhà nước ta, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật biển năm 1982 của Liên hiệp quốc, tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông, gọi tắt DOC đã ký giữa ASEAN và Trung Quốc, căn cứ vào thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển mà ta và Trung Quốc mới ký trong chuyến thăm của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc, căn cứ những chủ trương, đường lối và những nguyên tắc nêu trên, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đối với 4 loại vấn đề trên biển Đông như sau:

Vấn đề thứ nhất, về đàm phán phân định ranh giới vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Trong Vịnh Bắc Bộ sau nhiều năm đàm phán, ta và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận phân định ranh giới năm 2000, còn vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ nếu theo Công ước Luật biển năm 1982 thì thềm lục địa của nước ta có trồng lấn với đảo Hải Nam của Trung Quốc. Từ năm 2006 hai bên đã tiến hành đàm phán, mãi tới năm 2009 thì hai bên quyết định tạm dừng vì lập trường hai bên còn rất khác xa nhau. Đến đầu năm 2010 hai bên thỏa thuận là nên tiến hành đàm phán những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển sau nhiều lần đàm phán như tôi vừa trình bày, nguyên tắc đó đã được hai bên ký kết nhân dịp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc vừa rồi. Trên nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển này thì vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ là quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, vì vậy 2 nước Việt Nam và Trung Quốc cùng nhau đàm phán để phân định ranh giới vùng biển này trên cơ sở Công ước Luật biển, trên cơ sở DOC, trên cơ sở các nguyên tắc đã thỏa thuận.

Để có một giải pháp hợp lý mà hai bên có thể chấp nhận được chúng ta đang thúc đẩy cùng với Trung Quốc xúc tiến đàm phán giải quyết việc phân định này. Cũng xin nói thêm trong khi chưa phân định thì trên thực tế với chừng mực khác nhau, hai bên cũng đã tự hình thành vùng quản lý của mình trên cơ sở đường trung tuyến. Cũng trên cơ sở này chúng ta có đối thoại với Trung Quốc để bảo đảm cho việc an ninh, an toàn trong việc khai thác nghề cá của đồng bào chúng ta. Đó là vấn đề thứ nhất.

“Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình.”

Vấn đề thứ hai, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đó là vấn đề quần đảo Hoàng Sa. Thưa các đồng chí, các vị đại biểu, Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự ít nhất là từ Thế kỷ XVII. Chúng ta làm chủ khi 2 quần đảo này chưa thuộc bất kỳ một quốc gia nào và chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục hòa bình. Nhưng đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa. Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam của chúng ta lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình.

Chủ trương này của chúng ta phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, phù hợp với Công ước về Luật biển, phù hợp với tuyên bố DOC. Đó là loại vấn đề thứ hai mà chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền.

Vấn đề thứ ba, quần đảo Trường Sa, năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì Hải Quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này do quân đội của chính quyền Sài Gòn chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang quản lý chúng ta tiếp quản.

Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo, với 33 điểm đóng quân. Ngoài ra chúng ta còn xây dựng thêm, 15 nhà giàn ở khu vực bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền của chúng ta ở vùng biển này, vùng biển trong phạm vi mà 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta. Trong khi đó ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc cũng đã chiếm 7 bãi đá ngầm, Đài Loan chiếm 1 đảo nổi, Philipin chiếm 9 đảo, Malaixia chiếm 5 đảo, còn Bruney có đòi hỏi chủ quyền trên vùng biển nhưng không có chiếm giữ đảo nào.

Như vậy trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam là quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất so với các quốc gia và các bên có đòi hỏi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Việt Nam chúng ta cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo mà chúng ta đang đóng giữ với số hộ là 21 hộ, 80 khẩu, trong đó có 6 khẩu cũng đã sinh ra, lớn lên ở các đảo này.

“Như vậy trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam là quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất so với các quốc gia và các bên có đòi hỏi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Việt Nam chúng ta cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo mà chúng ta đang đóng giữ với số hộ là 21 hộ, 80 khẩu, trong đó có 6 khẩu cũng đã sinh ra, lớn lên ở các đảo này.”

Chủ trương của chúng ta đối với thực hiện chủ quyền đối với Hoàng Sa là như thế nào mà các đồng chí nêu, tôi cũng muốn nói rõ vấn đề này. Chủ trương của chúng ta là nghiêm túc thực hiện Công ước Luật biển, nghiêm túc thực hiện tuyên bố ứng xử của các bên liên quan ở biển Đông gọi tắt là DOC và các nguyên tắc thỏa thuận mới đây mà chúng ta đã ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc, cụ thể là chúng ta yêu cầu các bên giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm có ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực này. Việc thứ nhất là chúng ta yêu cầu phải giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm để gây ảnh hưởng đến hòa bình ổn định ở khu vực này.

Thứ hai là chúng ta tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng kinh tế-xã hội và cơ sở vật chất, kỹ thuật ở những nơi chúng ta đang đóng giữ bao gồm cả đường sá, điện, trạm xá, trường học, nước v.v… để cải thiện đời sống và tăng cường khả năng tự vệ của quân dân đảo Trường Sa, đó là việc làm thứ hai.

Việc làm thứ ba là chúng ta có các cơ chế chính sách hiện nay đã có, Chính phủ đang yêu cầu sơ kết đánh giá lại cơ chế chính sách hỗ trợ đồng bào ta khai thác thủy, hải sản, vận tải biển trong khu vực này. Không có thời gian, tôi không nói cụ thể nhưng đã có, đang có hiệu quả, nhưng chúng tôi thấy cần phải sơ kết để làm sao khuyến khích, hỗ trợ cho bà con của chúng ta thực hiện làm ăn sinh sống, thực hiện chủ quyền trên vùng biển Trường Sa này.

Vấn đề thứ tư, liên quan tới cam kết quốc tế là chúng ta nghiêm túc thực hiện và yêu cầu các bên liên quan nghiêm túc thực hiện theo đúng Công ước Luật biển năm 1982 và tuyên bố DOC là phải bảo đảm tự do hàng hải ở biển Đông, bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, trật tự, tự do hàng hải ở Biển Đông. Bởi vì đây là mong muốn, là lợi ích của tất cả các bên liên quan, không chỉ của Việt Nam, của tất cả các bên liên quan của các nước. Vì trên Biển Đông là tuyến đường vận tải hàng hóa từ đông sang tây mà tuyến đường này là tuyến vận tải từ 50%-60% tổng lượng hàng hóa vận tải từ đông sang tây.

Đó là những việc ta làm cụ thể. Lập trường này của chúng ta thì báo cáo với các vị đại biểu là được cộng đồng quốc tế ủng hộ, gần đây nhất là tại Hội nghị cấp cao ASEAN và cấp cao ASEAN với các đối tác.

Vấn đề thứ tư, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền trên Biển Đông là vấn đề phải giải quyết và khẳng định chủ quyền của chúng ta trong phạm vi 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật Biển năm 1982. Chúng ta đã và sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền để quản lý thực hiện chủ quyền ngày càng đầy đủ hơn, hiện quả hơn đối với vùng biển này.

Tôi xin nói lại là vùng biển 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam theo Công ước Luật Biển năm 1982.

Do không có thời gian, nên tôi xin trình bày vắn tắt 4 vấn đề mà chúng ta đang chủ trương giải quyết và khẳng định chủ quyền trên Biển Đông.


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

Vì sao ngân sách quốc phòng VN tăng?

Posted: 25 Nov 2011 12:38 PM PST


Ngân sách cho quân đội Việt Nam tiếp tục tăng

Giới quan sát nhận định ngân sách quốc phòng Việt Nam cho năm 2012 tăng mạnh nhằm tập trung bảo vệ quyền lợi ở Biển Đông.

Tạp chí quốc phòng Jane’s Defence hôm nay cho biết số tiền 70,000 tỷ đồng có nghĩa là tiền chi cho quốc phòng Việt Nam năm 2012 sẽ tăng gần 35% so với năm 2011.

Số tiền này, đã được Quốc hội thông qua, chiếm khoảng 8% tổng chi tiêu và khoảng 2% GDP.

Dẫu tăng mạnh, nhưng ảnh hưởng của nó đối với chi phí quốc phòng cũng sẽ bị giảm vì lạm phát hai chữ số ở Việt Nam và sự mất giá của tiền đồng.

Phân tích của Jane’s Defence nói chi tiêu quốc phòng của Việt Nam tập trung vào việc bảo vệ ở Biển Đông.

Ngân sách quốc phòng được củng cố nhờ lợi nhuận từ những dàn xếp gắn với lợi nhuận dầu hỏa, khí đốt và nhu cầu năng lượng hạt nhân của Việt Nam.

Năm 2009 và 2010, Hà Nội đã đặt mua 6 tàu ngầm hạng Kilo, 20 máy bay chiến đấu Su-30MK2V và nhiều tàu tuần tra Svetlyak của Nga.

Jane’s Defence nói nhiều người cho rằng các thương vụ này cũng gắn với cam kết của Moscow xây nhiều nhà máy điện hạt nhân với giá khoảng 15 tỉ đôla và khảo sát nhiều mỏ khí đốt ở Biển Đông.

Ngân sách cho quân đội Việt Nam trong năm 2011 là 52.000 tỷ đồng.

Ngân sách này tăng tới 70% so với chi tiêu quân sự trong năm 2010.

So với các nước trong vùng Đông Nam Á, chi phí quốc phòng chính thức của Việt Nam vẫn thấp hơn so với Singapore, Thái Lan, Indonesia và Malaysia.


Filed under: Quốc phòng Tagged: Quốc phòng

Lỗ golf – lỗ thủng dân sinh

Posted: 25 Nov 2011 12:37 PM PST

Thường Sơn

Nhà báo tự do ở TP HCM


Những vấn đề liên quan sân golf được đưa ra chất vấn tại phiên họp Quốc hội kỳ này

Từ nhiều tháng và cả nhiều năm qua, báo chí Việt Nam đã không ngớt phản ánh về tình trạng lạm phát sân golf. Một trong những minh họa sống động được nêu ra là một xã ở tỉnh Lâm Đồng phải "cõng" đến 3 sân golf, trong khi bà con nông dân người dân tộc thiểu số vẫn chưa thoát khỏi diện đói nghèo.

Nhưng dường như tiếng nói dân sinh đã bị các cơ quan dân nguyện bỏ ngoài tai. Đầu tháng 11/2011, đã xảy ra sự việc Bộ Xây dựng gửi một văn bản cho Văn phòng Quốc hội đề nghị làm rõ việc chuyển mục đích sử dụng 176 ha đất quốc phòng thuộc Trường bắn Miếu Môn ở Hà Nội thành dự án xây dựng sân golf. Cơ quan chủ trương cho việc chuyển đổi này, không phải ai khác, lại là Bộ Quốc phòng.

Theo văn bản trên của Bộ Xây dựng, Thủ tướng đã có quyết định phê duyệt quy hoạch sân golf Việt Nam đến năm 2020 cũng như quyết định phê duyệt quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050, trong đó không có quy hoạch xây mới sân golf tại khu vực Miếu Môn.

Từ văn bản trên, người ta cũng biết thêm rằng Bộ Quốc phòng đã và đang triển khai một số sân golf tại khu vực sân bay Gia Lâm (Hà Nội) và sân bay Tân Sơn Nhất (TP.HCM) để "phục vụ nhu cầu luyện tập thể thao, giao lưu và đối ngoại quân sự"(?).

Đáng chú ý, cho đến đầu tháng 11/2011, Bộ Quốc phòng vẫn chưa có kế hoạch rút lại chủ trương chuyển đổi trường bắn thành sân golf; cho dù trước đó, vào đầu tháng 10/2011, Hội nghị lần thứ 3 của Ban chấp hành trung ương đảng khóa 11 đã nêu ra một nhiệm vụ trong thời gian tới là phải "kiên quyết giữ 3,8 triệu ha đất trồng lúa".

Kinh doanh từ đất

Biểu đồ đi lên của sân golf và biểu đồ đi xuống của diện tích đất nông nghiệp là một nghịch lý không thể lý giải ở Việt Nam, dù tất cả những người nông dân phải chịu cảnh mất đất để phục vụ cho thói quen ăn chơi của giới thượng lưu, và hơn ai hết là giới chủ đầu tư kinh doanh sân golf, đều hiểu ra cái nghịch lý phũ phàng ấy.

Tại thời điểm đầu tháng 8/2011, có đến gần ba chục dự án sân golf "lỡ phát sinh" tại hàng loạt địa phương như Thái Nguyên, Thanh Hóa, Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Đắc Lắc…, được Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất cho Chính phủ phê duyệt. Khi đó, dư luận và công luận Việt Nam lại một lần nữa lên cơn sốt.

Người ta lo lắng rằng chỉ cần thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gật đầu là Việt Nam lại mất thêm khoảng 4.000 ha đất canh tác nông nghiệp cho sân golf.


Tân bộ trưởng giao thông Đinh La Thăng yêu cầu cấp dưới không chơi golf để tránh sao nhãng công việc

Con số 4.000 ha trên là có cơ sở thực tế, vì vào năm 2009, khi số lượng sân golf do các địa phương trình lên Chính phủ tăng vọt đến 156 dự án, thì một nửa trong số đó đã chiếm hết khoảng 8.000 ha đất nông nghiệp.

Vào cuối năm 2009, trước làn sóng phản đối mạnh mẽ của người dân, các nhà khoa học và báo chí về những hệ lụy đã và sẽ không thể tránh khỏi của sân golf như gây ảnh hưởng đến môi sinh, môi trường và "ăn" cả đất nông nghiệp, cộng với thực tế chỉ có một tỷ lệ nhỏ nhoi dự án kinh doanh sân golf có lãi, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phải cắt giảm đến 76 dự án do chính quyền các địa phương trình đề nghị bổ sung cho quy hoạch sân golf đến năm 2020. Đến lúc đó, số lượng dự án sân golf đã là 90.

Hậu quả được các nhà khoa học và giới phân tích dự đoán đã xảy đến với 90 dự án sân golf trên vào năm 2011. Một cuộc kiểm tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã kết luận có đến 69 dự án – chiếm tỷ lệ khoảng 70% số dự án – nghiêng về kinh doanh bất động sản thay vì mục tiêu ban đầu là kinh doanh sân golf.

Không gì rõ hơn là chủ đầu tư lấy đất nông nghiệp của nông dân, phù phép chuyển quyền sử dụng đất trồng lúa thành đất phục vụ sân golf, rồi từ đó lại biến thành đất xây biệt thự và các hạng mục dịch vụ du lịch. Trong thực tế, có dự án chỉ dành 30% diện tích để làm sân golf, còn 70% là bất động sản và những thứ liên quan đến bất động sản.

Trong khi hiện trạng hoạt động của 90 dự án sân golf vẫn không mấy thay đổi, nếu không muốn nói là ngày càng tệ thêm vì lượng khách chơi golf có khuynh hướng giảm dần và làm cho nhiều chủ đầu tư lỗ nặng, số địa phương đệ trình dự án sân golf mới vẫn lũ lượt nằm chờ trước văn phòng thủ tướng. Trường hợp chuyển đổi mục đích từ trường bắn thành sân golf của Bộ Quốc phòng là một minh họa điển hình.

Nguyên cớ gì đã làm cho các chính quyền địa phương và Bộ Kế hoạch và Đầu tư tỏ ra hào hứng với dự án kinh doanh sân golf đến thế? Không mấy ai trong chính quyền không biết đến những chuyến "công tác" của các quan chức đầu ngành địa phương và cấp bộ được các chủ đầu tư nước ngoài và trong nước đài thọ hoàn toàn.

Những chuyến đi mang tiếng là "tham khảo kinh nghiệm nước ngoài" này, mà về thực chất là du hí, cùng với sự hứa hẹn của chủ đầu tư dự án sẽ dành cho quan chức địa phương cổ phần trong sân golf hoặc những lô đất đắc địa dễ sinh lãi, đã khiến cho giới chức địa phương như tự nguyện chịu cột chặt vào cái vòng kim cô béo bở, bắt buộc họ phải làm mọi thủ tục cần thiết để lách luật, làm sao tuồn hồ sơ dự án lên bàn làm việc của thủ tướng.

Hạnh phúc người giàu – bi kịch kẻ nghèo


Chơi golf là thú vui lành mạnh, nhưng nhiều vấn đề nảy sinh từ lạm phát sân golf

Nhìn lại các cuộc khiếu kiện đất đai diễn ra ở Việt Nam từ những năm 2000-2001 cho tới giai đoạn 2008-2009, có khá nhiều nông dân từ các địa phương – nơi phổ biến cơn lốc sân golf lấn chiếm đất canh tác – như Long An, đã lặn lội đến Văn phòng Quốc hội (trụ sở tại Sài Gòn) và ra tận các cơ quan trung ương ở Hà Nội để khiếu kiện.

Nội dung khiếu kiện cũng không nằm ngoài những "đặc thù" của vấn đề thu hồi đất làm dự án ở Việt Nam: bồi thường không thỏa đáng, không bảo đảm tái định cư và môi trường sinh sống làm ăn cho nông dân sau khi bị thu hồi đất, nạn nhũng nhiễu của cán bộ thu hồi đất và hành vi ép dân của chính giới chủ đầu tư dự án…

Có đến 80-90% cuộc khiếu kiện ở Việt Nam tập trung vào lĩnh vực đất đai – một tỷ lệ rất cao dù vấn đề khiếu kiện đã được Chính phủ và một số bộ ngành liên quan như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra nhà nước… cố gắng "khoanh vùng" cho đến năm 2007-2008.

Nhưng với tốc độ đô thị hóa tràn lan, thiếu quy hoạch, với gần một ngàn đô thị vệ tinh có chiều hướng ra đời đến năm 2020, với tình cảnh đất ruộng, đất thổ cư của người dân vẫn không được cải thiện bao nhiêu về cơ chế đền bù, sẽ chẳng có nhiều hy vọng rằng làn sóng khiếu kiện của người dân sẽ lắng dịu.

Các nhóm lợi ích có dừng cuộc chơi?

Gần đây, đã có dấu hiệu cho thấy tình hình được cải thiện đôi chút. Đó là việc Bộ Tài nguyên Môi trường đề nghị các tỉnh dừng xây dựng đối với 27 dự án nằm ngoài quy hoạch, đồng thời xử lý nghiêm các doanh nghiệp giữ đất để đầu cơ trục lợi, gây tác động không tốt cho thị trường bất động sản.

Cũng từ tháng 8/2011, khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình bổ sung các dự án sân golf ngoài quy hoạch, cho đến nay thủ tướng chính phủ vẫn giữ một thái độ im lặng thận trọng. Ít nhất, tờ trình bổ sung dự án sân golf vẫn chưa được phê duyệt, trong khi chính Bộ Kế hoạch và Đầu tư lại đang phải tiến hành kiểm tra một số dự án sân golf "có vấn đề" tại các địa phương. Hàng loạt dự án sân golf bị phát hiện vi phạm ở tỉnh Bình Thuận là một ví dụ.

Tuy nhiên sẽ khó có chuyện các nhóm lợi ích chịu dừng cuộc chơi trong một môi trường vẫn còn tràn lan tệ tham nhũng và nạn kiếm chác theo kiểu "tư bản dã man" như ở Việt Nam. Không phải lúc này thì lúc khác, con đường dẫn dắt từ hiện tại đến tương lai đã được thiết kế bởi những ý đồ trong quá khứ.

“Vào một thời điểm nào đó, nếu Chính phủ chấp thuận phê duyệt bổ sung số dự án sân golf "lỡ", điều gì sẽ xảy ra? Khi đó, không chỉ là hậu quả về môi trường, sự mất ổn định của quy hoạch mà hậu quả với tính hệ thống của nó còn đào sâu vào khía cạnh phân cách giàu nghèo.”

Nếu ngay cả một cơ quan trọng yếu như Bộ Quốc phòng mà cũng "nhắm mắt" làm ngơ cho đất quân sự biến thành thứ để kinh doanh, thì người dân có đầy đủ cơ sở để vẫn tiếp diễn mối lo âu đáng sợ về một tương lai không xa, hàng loạt dự án trên giấy có thể biến thành những khu biệt thự-sân golf thật sự.

Vào một thời điểm nào đó, nếu Chính phủ chấp thuận phê duyệt bổ sung số dự án sân golf "lỡ", điều gì sẽ xảy ra?

Khi đó, không chỉ là hậu quả về môi trường, sự mất ổn định của quy hoạch mà hậu quả với tính hệ thống của nó còn đào sâu vào khía cạnh phân cách giàu nghèo – một trong những bất ổn nghiêm trọng của xã hội đương thời Việt Nam.

Cũng khi đó, với sự bật đèn xanh về bổ sung quy hoạch của Chính phủ, chắc chắn tại nhiều địa phương sẽ tái diễn cảnh ép giá, ép dân, hiện tượng liên kết giữa chủ đầu tư và chính quyền nhằm cưỡng chế thu hồi đất của dân…, để từ đó tích tụ, tích lũy ngày càng sâu những phản ứng bức xúc, phẫn uất của người dân mất đất.

Như một tiền lệ đã được định sẵn, chính quyền sẽ phải gánh chịu hậu quả lớn lao vào bất cứ thời điểm nào khi sự phẫn uất của người dân vượt qua ngưỡng kềm chế và trở nên bùng nổ.


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

No comments:

Post a Comment