Đọt Chuối Non |
- Khiêng nước- Một bài hát cảm động về tình chị em…
- Mùa Lễ Hội
- Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được” – Hồ Chí Minh
- QUÊ MÌNH HÀ NỘI
- Việt Nam sắp nhận các trạm thủy văn trên sông Mekong
- Quăng lưới đánh cá bắt người vi phạm giao thông
- Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa
| Khiêng nước- Một bài hát cảm động về tình chị em… Posted: 24 Nov 2011 01:08 PM PST
Anh định cư tại thành phố Montréal, Québec, Canada từ 1985. Nhạc sĩ Phan Ni Tấn sinh năm 1946 (hoặc 48) tại Buônmêthuột. Hiện anh cũng định cư Canada. Có lẽ tình cảm xa quê hương luôn làm người ta gắn bó với những kỉ niệm ngày xưa, bài thơ “Khiêng nước” của Luân Hoán cũng thế, tràn ngập những hình ảnh dung dị mà lại hết sức cảm động:
Khiêng NướcThơ: Luân Hoán Một cái thùng con con Em đi trước run run Một đôi lần em khóc Một cái thùng con con Em đi trước run run Chị múc em đứng hát Ngày qua, ngày qua vội Ở đây trời đẹp lắm Ước chi được nhỏ lại Giếng trong xanh nước mát Tình chị em là một thứ tình cảm rất đẹp, bởi người chị thường là hình ảnh của người mẹ, luôn bảo bọc, chăm sóc cho em, nhất là em…trai Bài thơ được nhạc sĩ Phan Ni Tấn phổ nhạc và hát với Bắc Phong, các bạn nghe vui:
Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa | ||||
| Posted: 24 Nov 2011 01:06 PM PST Chào các bạn, Mùa Lễ Hội là mùa mua sắm, ăn uống, tiệc tùng, vui chơi… nhưng căn bản nhất đó là mùa của ánh sáng, sắc màu, thánh nhạc, tình yêu, và hòa bình. tChúng ta có đến vài tháng đặc biệt cho tình yêu và hòa bình như thế, nên hãy tận dụng cơ hội để sống với tình yêu và hòa bình. Nếu đang có rạn nứt với ai, hãy tìm cơ hội hàn gắn. Muốn nói yêu ai, hãy tìm cơ hội tỏ tình. Muốn tặng một món quà tình yêu hay tình bạn cho ai thì hãy tặng. Mỗi ngày trong Mùa Lễ Hội, cố gắng mang tình yêu và hòa bình đến mọi người quanh ta. Thực sự là Mùa Lễ Hội có thể tạo ra rất nhiều stress—lo quà cáp, ăn diện, và tiệc tùng. Đôi khi cái bên ngoài đánh đắm cái bên trong. Nhưng tinh yếu của Mùa Lễ Hội là tình yêu và hòa bình. Chúng ta cần mang tình yêu và hòa bình mà ứng xử với nhau. Đó mới đúng tinh thần lễ hội. Và đây cũng là cơ hội để chúng ta hiểu về văn hóa của nhau hơn. Hãy đi theo bạn bè vào nhà thờ dự lễ Giáng Sinh nửa đêm, và vào chùa đêm giao thừa để xin lộc đầu năm, dù bạn có theo đạo nào hay chẳng theo đạo nào. Tôn giáo là lý do chia rẽ số một trên thế giới. Hãy tìm hiểu tôn giáo của nhau để đưa tôn giáo về gốc rễ ban đầu của nó—làm cho con người giàu từ tâm và do đó gần gũi nhau hơn. Và dù ta thuộc nền văn hóa nào, thì chúng ta đều cần nhớ là cái gốc của tình yêu là không tôi, không có cái tôi lớn đứng trước mắt làm ta chẳng thấy được gì. Đó là vô ngã. Đó là khiêm cung. Chúc các bạn một Mùa Lễ Hội đầy tình yêu và hòa bình. Mến, Hoành © copyright 2011 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | ||||
| Posted: 24 Nov 2011 01:05 PM PST Các bạn thân mến,
Từ 1975 cho đến cuối thập niên 1990's của thế kỷ 20, hội chứng Việt Nam đòi hỏi các chính khách Mỹ quan tâm đặc biệt đến việc sa lầy quân sự và chính trị khi đưa quân Mỹ tham chiến tại một quốc gia nào đó, và do đó làm giảm thiều đến mức tối đa các hoạt động quân sự của Mỹ trên thế giới. Sang thế kỷ 21, với cuộc đánh bom 911 (Sept. 11, 2001) của al Qeada ở Mỹ. Mỹ lại bắt đầu có nhiều cuộc chiến trên thế giới (Afghanistan, Irag…), nhưng hội chứng Việt Nam vẫn luôn có mặt trong các tranh cãi trong nội bộ Mỹ mỗi khi Mỹ định lâm chiến bên ngoài: "Mỹ có nên nhúng tay vào quân sự ở nước… không, hay là lại bị sa lầy như ở VN trước đây?" (Ví dụ, Worse than Vietnam [about Afghanistan], http://opinionator.blogs.nytimes.com/2010/11/23/afghanistan-and-vietnam/; Iraq: Learning the lessons of Vietnam War, http://www.foreignaffairs.com/articles/61195/melvin-r-laird/iraq-learning-the-lessons-of-vietnam) Tuy nhiên, viết về cả tiến trình giành độc lập hay hội chứng Việt Nam là quá dài, nên trong khuôn khổ bài này, chúng ta chỉ tìm hiểu về mong muốn của chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tìm kiếm 1 nền độc lập trong hoà bình (và một vài sự kiện nhằm lý giải vì sao chuyện này thất bại và chiến tranh bùng nổ). Các vấn đề về đường lối chính trị (xã hội chủ nghĩ, tư bản chủ nghĩa, quân chủ lập hiến …) hay tình hình xung đột thế giới sẽ không được phân tích trong bài này Cũng do khuôn khổ hạn hẹp của bài viết, chúng tôi chỉ chọn 3 bài sau (mà chúng tôi cho là tiêu biểu) để giới thiệu cùng mọi người. Còn danh sách các thư tín và diễn văn của chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến vấn đề này có thể tham khảo ở phần phụ lục. Chính vì ảnh hưởng của cuộc chiến dành độc lập của VN trên chính sách ngoại giao của Mỹ từ khoảng 1945 cho đến ngày nay, chúng tôi chọn 3 bài diễn văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan cuộc chiến dành độc lập: - Tuyên ngôn độc lập ngày (2/9/1945) Bài dẫn nhập này sẽ cố gắng phác ra trình tự các sự kiện chính trong giai đoạn lịch sử 1945-1949 (là thời kỳ 2 bên còn đàm phán quyết định chiến-hay-hoà) và đặt các bài viết vào đó, để mọi người có 1 cái nhìn rõ về thời kỳ này. Sau đó sẽ có vài dòng rất sơ lược về giai đoạn lịch sử sau đó, để mọi người có cái nhìn bao quát hơn Chúng ta bắt đầu từ năm 1945 là năm tạo nên bước ngoặc của lịch sử Việt Nam. Khi thế chiến thứ 2 đang dần kết thúc, tại Việt Nam, quân Nhật tranh thủ đánh bại quân Pháp nhằm độc chiếm Đông Dương, củng cố hậu phương nhằm chiến đấu đến giây phút cuối cùng. Ngày 15/8/1945, đài phát thanh Nhật phát đi thông báo đầu hàng của Nhật trước Đồng Minh. Nước Việt Nam nằm trong tình trạng "vô chủ" trong thời gian ngắn vì Pháp đã bị đánh bại và Nhật vừa đầu hàng xong và chờ quân Đồng Minh đến giải giáp Do có chuẩn bị từ trước, lực lượng Việt Minh đã đứng lên nắm lấy chính quyền và tuyên bố Việt Nam là một quốc gia độc lập trước khi Pháp kịp quay lại chiếm Đông Dương. Ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập, tuyên bố Việt Nam độc lập, và hy vọng các quốc gia Đồng Minh đối xử với Việt Nam như 1 quốc gia (thay vì 1 thuộc địa) khi tiến quân vào khu vực này. Bản Tuyên Ngôn mở đầu với các lý tưởng dân chủ tự do Mỹ:
và tiếp đến là các tư tưởng nhân quyền và dân quyền của Pháp:
Đoạn mở đầu Bản Tuyên Ngôn Độc Lập cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh trọng các lý tưởng về bình đẳng, tự do, nhân quyền và dân quyền cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Và tuy là tuyên ngôn đọc trước nhân dân Việt Nam, nhưng chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng các lý luận về vị thế của nước Việt Nam và các tuyên bố của Việt Nam với thế giới. Những lời lẽ trong Tuyên Ngôn không phải chỉ cho nhân dân Việt Nam, mà còn cho các nước Đồng Minh
Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp" "Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam" "Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập" Tiếc là Đồng Minh đã đối xử với Việt Nam như 1 thuộc địa, chứ không phải nước độc lập. Ngay sau đó 4 ngày, quân Pháp (và quân Anh) vào Việt Nam và tuyên bố tái lập thuộc địa khu vực Đông Dương. (Coi như chính thức bác bỏ tuyên bố độc lập của Việt Nam). Ngày 24/9/1945, trong khi cuộc chiến diễn ra ác liệt ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn cố gắng tìm một giải pháp hoà bình cho vấn đề độc lập dân tộc. Chủ tịch đã gửi điện tín cho Mỹ nhằm cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của Washington (bức điện này không được hồi đáp)
Chúng tôi xin trân trọng báo để Ngài rõ về những biện pháp sau đây của tổng Tư lệnh các lực lượng quân đội Anh đã tiến hành ở miền Nam Việt Nam: Một, cấm các báo chí; Hai, cung cấp vũ khí, đạn dược cho dân chúng Pháp; Ba, tước vũ khí các lực lượng cảnh sát Việt Nam. Các biện pháp này là một sự vi phạm rõ ràng đến những quyền tự nhiên của nhân dân Việt Nam, đe doạ trực tiếp nền an ninh trong nước và là nhân tố làm mất ổn định và hoà bình ở Đông Nam Á. Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Việt Nam phản đối mạnh mẽ và yêu cầu Ngài can thiệp với các nhà chức trách Anh bãi bỏ các biện pháp nói trên. Chúng tôi sẽ rất biết ơn Ngài thuyết phục người Anh đứng vững trên cơ sở các nguyện tắc tự do và tự quyết do Hiến chương Đại Tây Duơng đề ra. Kính, Hồ Chí Minh". Đối với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cố gắng thương thuyết để đạt Hiệp Định Sơ Bộ (6/3/1946) và Tạm Ước (14/9/1946) nhằm giữ Việt Nam độc lập trong hoà bình. Nhưng thực sự thì ngay từ đầu, người Pháp cũng không có ý tôn trọng lâu dài các Hiệp định này. Leclerc, tổng chỉ huy Pháp ở Đông Dương khi đề nghị đàm phán đã bị thống chế De Gaul trách mắng: "Nếu tôi mà đồng ý mấy thứ nhảm nhí này thì đế quốc Pháp đã tiêu vong lâu rồi. Hãy đọc thật kỹ câu chữ trong tuyên bố tháng 3 của Pháp về Đông dương" Chính phủ Pháp có nhiều ý kiến khác nhau, có người muốn duy trì thuộc địa của Pháp tại Đông Dương (tiêu diệt chính phủ Việt Minh), có người muốn giải quyết hoà bình và trao trả độc lập cho Việt Nam Ngày 12 tháng 12, Léon Brum, thủ tướng mới của Pháp tuyên bố ý định giải quyết xung đột ở Đông Dương theo cách sẽ trao lại độc lập cho Việt Nam. Chớp thời cơ này, Bác Hồ gửi cho đại diện chính phủ Pháp tại Hà Nội một bức thông điệp gửi Brum với các gợi ý cụ thể về cách giải quyết xung đột. Bức thông điệp này được chuyển vào Sài Gòn, để chuyển tiếp tới Paris. Cao Uỷ Pháp (tương đương Đại Sứ bây giờ) d’Argenlieu tại Sài Gòn và tướng Valluy thuộc nhóm chủ chiến, khi bức điện của Bác Hồ chuyển đến Sài Gòn, Valluy viết thêm bình luận của mình, cảnh báo rằng sẽ nguy hiểm nếu trì hoãn các hành động quân sự cho đến năm sau. Mặt khác, ông quyết định phải nhanh chóng tạo sự xung đột và đặt Paris vào chuyện đã rồi. Ngày 17 tháng 12, quân Pháp với xe tăng yểm trợ vào các đường phố Hà Nội để phá các công sự mà Việt Minh dựng trong những ngày trước đó, gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún (Hà Nội), rồi dàn quân ra chốt giữ từ cổng thành Hà Nội đến tận cầu Long Biên. Người Việt không phản ứng. Ngày 18 tháng 12, Pháp ra một tối hậu thư đòi chấm dứt dựng chướng ngại vật trên phố. Chiều hôm đó, Pháp ra tối hậu thư thứ hai tuyên bố rằng từ ngày 20, quân Pháp sẽ tự mình đảm nhiệm việc trị an ở Hà Nội. Đáp lại, tối hôm đó, các lực lượng Việt Minh bắt đầu chặn mọi ngả đường từ ngoại ô vào thành phố. Sáng ngày 19 tháng 12, Pháp ra tối hậu thư thứ ba, đòi chính phủ Việt Nam đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố. Hồ chủ tịch đề nghị gặp đại diện chính phủ Pháp tại Hà Nội để đàm phán nhưng bị từ chối. 20:00 ngày 19 tháng 12, pháo binh Việt Nam bắn vào các vị trí Pháp tại Hà Nội. Chiến tranh bùng nổ. Trước hay sau đó vài giờ, bức điện của Hồ Chí Minh từ Sài Gòn đến được Paris, mọi chuyện đã quá trễ. Ngay sau khi chiến tranh bùng nổ, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh phát trên đài và sau đó đăng trên các báo. Đây là một lời kêu gọi ngắn gọn, nhưng tràn đầy nhiệt huyết Tuy đây hoàn toàn là lời kêu gọi chiến tranh, nhưng nó cũng thể hiện một tâm trạng mong muốn hoà bình khi bắt đầu bằng:
Và trong bài này, chúng ta cũng thấy rất rõ tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc, bất cứ ai, hễ có lòng yêu nước thì đều có thể cùng nhau chiến đấu. Ngay từ khi Hồ chủ tịch bắt đầu hoạt động thì tư tưởng này đã thể hiện rất rõ (tuy trước và sau thời điểm này có một vài giai đoạn mọi việc vượt khỏi tầm kiểm soát của Chủ tịch):
Ngay trong lúc cuộc chiến tại Hà Nội ác liệt, Hồ chủ tịch vẫn chưa bỏ cuộc trong việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình. Ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến, Việt Minh rải truyền đơn trên đường phố Hà Nội thông báo với “nhân dân Pháp” rằng chính phủ Việt Nam sẵn lòng tồn tại hòa bình trong Liên hiệp Pháp, chỉ cần Pháp công nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam. Ngày hôm sau, đài Việt Minh bắt đầu định kì phát các lời kêu gọi tái đàm phán. Ngày 23 tháng 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ các lãnh thổ thuộc địa, và tướng Henri Leclerc, đề nghị một cuộc họp giữa đại diện cả hai bên. Một vài ngày sau, Hồ chủ tịch chính thức đề nghị ngừng bắn và tổ chức một cuộc hội nghị hòa bình mới tại Paris trong khuôn khổ Hiệp định sơ bộ hồi tháng 3. Ngày 16/2/1946, Chủ tịch HCM gửi thư tới Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, lúc đó là Harry Truman, (bản dịch phía dưới), lúc này chúng ta thấy qua giọng văn của Hồ chủ tịch, sự kỳ vọng về đàm phán hoà bình với Pháp đã giảm đi rất nhiều. Lá thư này không được Hoa Kỳ trả lời.
Sự manh động này trái ngược với tất cả những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và hứa hẹn của Đồng Minh trong thời kỳ Thế chiến thứ II" Trong giai đoạn này, chính phủ Việt Nam (đây là chính phủ Việt Minh) bắt đầu nhận được sự hỗ trợ rất lớn của Trung Quốc và Liên Xô. Xét cho cùng, chúng ta không có cơ sở hạ tầng để sản xuất vũ khí, quân trang, quân dụng để tiến hành chiến tranh) nên việc liên kết với một lực lượng bên ngoài là tất yếu. Khi Pháp không thoả hiệp, thì chúng ta đành liên kết với kẻ thù của Pháp. Nhưng qua các sự kiện ở trên, có thể thấy việc tiến hành chiến tranh (và liên kết với Trung Quốc, Liên Xô) là do chúng ta đã hết hy vọng với một giải pháp hoà bình với Pháp. Việt Minh tham gia hệ thống XHCN, Pháp và Hoa Kỳ từ giờ xem chính phủ Việt Minh là hoàn-toàn-bên-kia-chiến-tuyến, sẽ không còn bất cứ thoả hiệp nào nữa. Ngay cả sau này khi Pháp (và Mỹ) mong muốn trao trả lại độc lập cho Việt Nam, thì cũng không đàm phán với chính phủ Việt Minh (mà là với Bảo Đại và Ngô Đình Diệm). Điều này liên quan đến xung đột giữa 2 hệ thống tư bản và xã hội chủ nghĩa toàn cầu. Ngày 28/2/1946, Chủ tịch HCM tiếp tục gửi điện tín cho tổng thống Hoa Kỳ, đề nghị Hoa Kỳ giúp đỡ ngăn chặn chiến tranh và tiến hành đàm phán với Pháp. Bức điện này cũng không được Hoa Kỳ trả lời. Tháng 3 năm 1947, Cao ủy Pháp mới Emile Bollaert được bổ nhiệm là người chủ hoà, được tướng Leclerc khuyên “đàm phán bằng mọi giá”. Tuy nhiên ông đã thất bại trong việc thuyết phục chính phủ Pháp vì lúc này đã có hơn 1.000 binh sĩ Pháp chết hoặc mất tích, và cộng đồng người Pháp ở Đông Dương phản đối kịch liệt việc thương lượng với Việt Minh. Ngày 23 tháng 4, 1947, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Hoàng Minh Giám gửi thông điệp tới tướng Bollaert đề nghị ngừng bắn lập tức và đàm phán. Đáp lại, tướng Bollaert yêu cầu quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hạ vũ khí trước khi khôi phục hòa bình. Hồ chủ tịch từ chối thẳng yêu cầu này. Và đến đây coi như chấm dứt cho các nỗ lực hoà bình với Pháp, 2 bên (Pháp và chính phủ VN Dân Chủ Cộng Hoà) giải quyết vấn đề trên chiến trường. Tuy nhiên, cuộc chiến diễn ra thực sự không dễ dàng như dự tính ban đầu. Các cố gắng tiêu diệt chính phủ Việt Minh thất bại. Cho nên trong khi chiến tranh diễn ra với Việt Minh, thì Pháp bắt đầu quay lại giải pháp hoà bình ban đầu với Việt Nam. Pháp bắt đầu mở hơn với ý tưởng nhường lại độc lập cho Việt Nam, nhưng “không phải là cộng sản” – và lần này Pháp điều đình với Cựu Hoàng Bảo Đại. Người Pháp chấp nhận một lộ trình trao quyền tự quyết cho chính phủ Việt Nam của Bảo Đại. Cũng có tài liệu khác cho rằng khẩu hiệu “chống cộng sản” của Pháp thực chất là để xây dựng một chính quyền bản xứ người Việt làm đối trọng với Việt Minh để giảm sức ép về kinh tế – quân sự, cũng như thuyết phục Mỹ viện trợ để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương. Nhưng thực tế cho thấy Bảo Đại đã có rất nhiều quyền đáng kể về tự quyết trong đối nội và đối ngoại, chứ chính quyền này không hoàn toàn là một chính quyền bù nhìn. Ngoài ra theo phát biểu của các tướng lĩnh Pháp cấp cao (như Navare), trong thời gian này Pháp chỉ còn hy vọng vào một "giải pháp danh dự", một "cuộc hoà đàm trên thế thắng" chứ không còn hy vọng vào một "thuộc địa Đông Dương" nữa. Cuối tháng 6 năm 1949, Việt Nam chính thức thống nhất dưới sự quản lý của Quốc Gia Việt Nam (của Bảo Đại). Pháp bắt đầu chuyển giao những chức năng hành chính cho Quốc Gia Việt Nam. Tính đến đầu năm 1950, có 35 quốc gia công nhận Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại. "Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại" là một quốc gia thuộc Liên Hiệp Pháp, đúng như ý định điều đình ban đầu của Hồ chủ tịch. Và cuộc chiến Pháp+Bảo Đại chống lại Việt Minh vẫn tiếp diễn đến chiến thắng Điện Biên Phủ của lực lượng Việt Minh ngày 7.5.1954. Sau năm 1954, chính quyền ở miền Nam Việt Nam dần chuyển giao từ Bảo Đại sang Ngô Đình Điệm, nhà nước hỗ trợ cũng chuyển từ Pháp sang Mỹ. Tuy nhiên, con đường của Mỹ cũng không khác với Pháp, chấp nhận 1 nên độc lập ở Việt Nam, nhưng phải là "phi cộng sản". Và cuộc xung đột không còn là vấn đề của riêng Việt Nam, mà là 1 vấn đề quốc tế giữa 1 bên là Mỹ + Việt Nam Cộng Hoà – 1 bên là Trung Quốc và Liên Xô + Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Trong một lá thư gửi Hồ chù tịch ngày 15.7.1969, tồng thống Mỹ Richard Nixon viết:
Và Hồ chủ tịch trả lời tổng thống Nixon trong lá thư đề ngày 25.8.1969:
Nhân dân Việt Nam chúng tôi tận hiến sâu xa cho hòa bình, hòa bình thật sự với độc lập và tự do thật sự. Nhân dân chúng tôi quyết tâm chiến dấu đến cùng, không sợ hy sinh và khó khăn để bảo vệ đất nước và quyên lợi thiêng liêng của tổ quốc… Trong thư của Ngài, Ngài đã biểu lộ ước muốn hành động cho một hòa bình chân chính. Để được như vậy, nước Mỹ phải chấm dứt cuộc chiến xâm lược và rút hết binh lính ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyển cùa nhân dân miền Nam Việt Nam và nhân dân cả nước Việt Nam tự săp xếp cho họ, không bị ảnh hường của ngoại bang. Đây là con đường để giải quyết vấn đề VN phù hợp với các quyền quốc gia của dân tộc VN, quyền lợi của nước Mỹ và hy vọng hòa bình của các dân tộc trên thế giới. Đây là đường để nước Mỹ có thể rút lui khỏi chiến tranh trong danh dự." (Nguồn: http://www.presidency.ucsb.edu/ws/index.php?pid=2304#axzz1eGRwAWM9) Nhiều cuộc hòa đàm đã xảy ra sau đó, nhưng phải 1975, cuộc chiến ở VN mới kết thúc, và phải đến cuối những năm 1990, quan hệ của các bên mới bắt đầu từng bước bình thường trở lại. (Nguyễn Mai Anh Kiệt giới thiệu) Tuyên ngôn độc lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà(đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2.9.1945) Hỡi đồng bào cả nước, “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn. Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông – Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật. Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng. Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mưới thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa. Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp. Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập ! Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.
Ho Chi Minh’s Letter to President Harry Truman, February 16, 1946(The letter was never answered and was not declassified until 1972) Thư gửi Tổng Thống Harry Truman, ngày 16 tháng 2 năm 1946,(Bức thư đã không bao giờ được trả lời và không được tiết lộ cho tới năm 1972) DEAR MR. PRESIDENT: Our VIETNAM people, as early as 1941, stood by the Allies’ side and fought against the Japanese and their associates, the French colonialists. Thưa Ngài Tổng Thống: Nhân dân VIỆT NAM chúng tôi đã sớm đứng về phía Đồng Minh và chiến đấu chống lại người Nhật và phe đảng của họ, những người thực dân Pháp, từ năm 1941. From 1941 to 1945 we fought bitterly, sustained by the patriotism, of our fellow-countrymen and by the promises made by the Allies at YALTA, SAN FRANCISCO and POTSDAM. Từ năm 1941 đến 1945, chúng tôi đã chiến đấu gian khổ dựa trên lòng yêu nước của nhân dân chúng tôi và những lời hứa của Đồng Minh tại YALTA, SAN FRANCISCO và POTSDAM. When the Japanese were defeated in August 1945, the whole Vietnam territory was united under a Provisional Republican Government, which immediately set out to work. In five months, peace and order were restored, a democratic republic was established on legal bases, and adequate help was given to the Allies in the carrying out of their disarmament mission. Khi người Nhật bị đánh bại vào tháng 8 năm 1945, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đã thống nhất dưới Chính Phủ Cộng Hòa Lâm Thời, chính phủ đã lập tức hoạt động ngay khi đó. Trong vòng năm tháng, hòa bình và trật tự đã được lập lại, một chế độ dân chủ cộng hòa đã được thiết lập trên cơ sở luật pháp và dành cho Đồng Minh sự giúp đỡ đầy đủ trong việc thực hiện nhiệm vụ giải giáp của họ. But the French Colonialists, who betrayed in wartime both the Allies and the Vietnamese, have come back, and are waging on us a murderous and pitiless war in order reestablish their domination. Their invasion has extended to South Vietnam and is menacing us in North Vietnam. It would take volumes to give even an abbreviated report of the crisis and assassinations they are committing everyday in this fighting area. Nhưng Thực Dân Pháp, kẻ đã phản bội lại cả Đồng Minh và Việt Nam trong thời chiến, đã quay lại, và đang tiến hành một cuộc chiến tranh đầy chết chóc và tàn bạo đối với chúng tôi nhằm thiết lập lại sự thống trị của họ. Sự xâm lược của họ đã được triển khai ở miền Nam Việt Nam và đe dọa chúng tôi ở miền Bắc Việt Nam. Một báo cáo vắn tắt về những khủng hoảng và các cuộc ám sát mà họ phạm hàng ngày ở vùng chiến sự này cũng sẽ dài hàng tập. This aggression is contrary to all principles of international law and the pledge made by the Allies during World War II. It is a challenge to the noble attitude shown before, during, and after the war by the United States Government and People. It violently contrasts with the firm stand you have taken in your twelve point declaration, and with the idealistic loftiness and generosity expressed by your delegates to the United Nations Assembly, MM. BYRNES, STETTINIUS, AND J.F. DULLES. Sự xâm lược này đi ngược lại tất cả các nguyên tắc pháp luật quốc tế và cam kết của Đồng Minh trong Chiến Tranh Thế Giới II. Nó là một sự thách thức đối với thái độ cao thượng được Chính Phủ và Nhân Dân Hoa Kỳ thể hiện trước, trong và sau chiến tranh. Nó vi phạm thô bạo quan điểm nền tảng mà nước Mỹ đã thể hiện trong bản tuyên bố mười hai điểm của mình, và với sự đại lượng và cao thượng một cách lý tưởng mà đoàn đại biểu của nước Mỹ tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc, ngài Byrnes, Stettinius, và J.F. Dulles đã thể hiện. The French aggression on a peace-loving people is a direct menace to world security. It implies the complicity, or at least the connivance of the Great Democracies. The United Nations ought to keep their words. They ought to interfere to stop this unjust war, and to show that they mean to carry out in peacetime the principles for which they fought in wartime. Sự xâm lược của Pháp đối với một dân tộc yêu hòa bình là một sự đe dọa trực tiếp đối với an ninh thế giới. Nó thầm chỉ sự tiếp tay, hay ít ra một sự đồng lõa của các Nền Dân Chủ Lớn. Liên Hiệp Quốc nên giữ lời hứa của mình. Họ nên can thiệp để chấm dứt cuộc chiến tranh phi nghĩa này, và cho thấy rằng họ có ý định thực hiện trong thời bình những nguyên tắc mà họ đã đấu tranh để bảo vệ trong thời chiến. Our Vietnamese people, after so many years of spoliation and devastation, is just beginning its building-up work. It needs security and freedom, first to achieve internal prosperity and welfare, and later to bring its small contribution to world-reconstruction. Nhân dân Việt Nam chúng tôi, sau rất nhiều năm bị hủy hoại và tàn phá, giờ vừa bắt đầu công cuộc xây dựng của mình. Chúng tôi cần an ninh và tự do, trước tiên là để đạt được sự thịnh vượng và phúc lợi trong nước, và sau đó là góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng lại thế giới. These security and freedom can only be guaranteed by our independence from any colonial power, and our free cooperation with all other powers. It is with this firm conviction that we request of the United Sates as guardians and champions of World Justice to take a decisive step in support of our independence. Sự an ninh và tự do này chỉ có thể được bảo đảm bởi sự độc lập của chúng tôi khỏi mọi thế lực thực dân, và sự hợp tác tự do của chúng tôi với mọi lực lượng khác. Chính với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi đề nghị Hoa Kỳ, với tư cách là người bảo vệ và vị anh hùng của Công Lý Thế Giới hãy thực hiện một bước đi quyết định trong việc hỗ trợ nền độc lập của chúng tôi. What we ask has been graciously granted to the Philippines. Like the Philippines our goal is full independence and full cooperation with the UNITED STATES. We will do our best to make this independence and cooperation profitable to the whole world. Điều chúng tôi yêu cầu này đã được rộng lượng trao cho Philippines. Cũng như Philippines, mục đích của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác hoàn toàn với HOA KỲ. Chúng tôi sẽ làm hết sức để sự độc lập và hợp tác này có lợi cho toàn thế giới. I am, Dear Mr. President Respectfully Yours, Xin gửi tới Ngài lời chào trân trọng nhất, Source: http://rationalrevolution.net/war/collection_of_letters_by_ho_chi_.htm (Ngô Quỳnh Linh dịch)
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến(trích Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, trang 480, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995) Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm! Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946 Hồ Chí Minh (Bút tích lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)
Phụ LụcDanh sách các thư và điện văn Chủ tịch Hồ Chí Minh gừi các giới chức Mỹ. - Ngay từ tháng 5/1945 sau khi tiếp xúc với cơ quan tình báo chiến lược OSS của Mỹ tại Côn Minh, Hồ Chí Minh đã nhờ người đứng đầu tổ chức này là A. Patti chuyển văn bản tới Phái đoàn Mỹ tại Liên Hiệp Quốc kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Việt Nam sau khi tiêu diệt được chủ nghĩa phát xít. - Giữa tháng đó, HCM còn đề nghị chuyển một tài liệu về nạn đói ở Bắc Kỳ tới Sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh. - Ngay sau khi Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào (16/8/1945) với tư cách người đứng đầu Uỷ ban Dân tộc Giải phóng, HCM đề nghị "nhà cầm quyền Hoa Kỳ thông báo với Liên Hiệp Quốc rằng: chúng tôi đã đứng về phía Liên Hiệp Quốc chống lại bọn Nhật" và "yêu cầu Liên Hiệp Quốc thực hiện lời hứa long trọng của mình là tất cả các dân tộc đều được hưởng dân chủ và độc lập…". - Ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Tổng thống Mỹ đề nghị để Việt Nam tham gia Hội đồng Tư vấn về Viễn Đông. - Ngày 22/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đề nghị Liên Hiệp Quốc quan tâm đến việc Pháp gây hấn và cử phái đoàn điều tra đến Đông Dương. - Ngày 1/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến Quốc vụ khanh Mỹ thay mặt Hội Văn hoá Việt Nam gửi 50 thanh niên sang học tập các lĩnh vực kỹ thuật và thành lập mối quan hệ văn hoá hữu nghị với thanh niên Mỹ…. - Ngày 8/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Mỹ và Thống chế Tưởng Giới Thạch trình bày tình hình quân Pháp đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. - Ngày 23/11/1945, Chủ tịch nước Việt Nam gửi thư tới Tổng thống Mỹ và Tổng giám đốc Cơ quan Cứu tế Mỹ (UNRRA) kêu gọi giúp Việt Nam chống nạn đói. - Đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới các ngoại trưởng Liên Xô, Mỹ và Trung Hoa Dân quốc tha thiết yêu cầu đưa vấn đề Việt Nam ra Liên Hiệp Quốc và "yêu cầu nhận Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc". - Ngày 18/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thư cho Tổng thống Mỹ và chỉ huy quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tướng Marshall yêu cầu có giải pháp hoà bình ở Việt Nam. - Ngày 16/2/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi thư tới Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thông báo về sự ra đời của nước Việt Nam độc lập và lên án thực dân Pháp đã tiến hành một cuộc chiến tranh "trái với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và trái với những cam kết của các nước Đồng minh trong chiến tranh thế giới". - Ngày 18/2, với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao, HCM lại viết thư gửi các Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, Mỹ, Liên Xô và Anh đề nghị "hãy làm tất cả để ngăn chặn cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam" và tuyên bố : "đặt vấn đề Đông Dương trước Liên Hiệp Quốc, chúng tôi chỉ đòi hỏi độc lập hoàn toàn. Nền độc lập ấy thực tế không còn xa nữa và có thể giúp đỡ chúng tôi hợp tác với các dân tộc khác trong việc xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn và một nền hoà bình lâu dài – những nguyện vọng chính đáng cần phải được bảo vệ". - Ngày 28/2/1946, Bác gửi điện tín cho tổng thống Hoa Kỳ đề nghị Hoa Kỳ giúp đỡ ngăn chặn chiến tranh và tiến hành đàm phán với Pháp - Ngày 25.8.1969, chủ tịch HCM trả lời lá thư ngày 15.7.1969 của tổng thống Nixon, yêu cầu Mỹ rút hết quân khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Tham khảo Iraq: Learning the lessons of Vietnam War http://quocphonganninh.edu.vn/index.aspx?Menu=1306&chitiet=1578&Style=1 http://rationalrevolution.net/war/collection_of_letters_by_ho_chi_.htm http://www.presidency.ucsb.edu/ws/index.php?pid=2304#axzz1eGRwAWM9 http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30196&cn_id=119997 http://vi.wikipedia.org/wiki/chiến_tranh_Đông_Dương Sách: Navarre với trận Điện Biên Phủ – Jean Pouget Sách: Không phải huyền thoại – Hữu Mai Filed under: Các diễn văn làm thay đổi thế giới, Lịch sử, Văn Hóa Tagged: các diễn văn làm thay đổi thế giới, Lịch sử, Văn Hóa | ||||
| Posted: 24 Nov 2011 01:04 PM PST Nhà hộ sinh Cây Đa Nhà Bò, căn nhà ngói nhỏ dốc Thọ Lão, vượt lên chừng hai mươi thước dốc là phố Lò Đúc thuộc bàng Cò, ngược lên là chợ Hôm, phố Huế, Vân Hồ…xuôi xuống là cửa ô Đông Mác, làng Thanh Nhàn, trường Lương Yên, xa nữa là Lò Lợn, là đê, là sông Cái…Tôi đã sống và lớn lên quanh quẩn vùng đất với những tên ký ức vừa nhắc thức, tính đến ngày rời Hà Nội, 1976, là gần ba mươi lăm năm. Cuộc ly hương trên chính quê hương mình nào ngờ dài quá, lâu quá, sau 30 năm, nửa đời người, tôi mới trở lại thăm quê lần nhất. Loạt bài viết dưới đây, chép lại cảm nhận tôi sau những lần trở về quê, như một chuộc lỗi vội vã, khi thấy tuổi tác đã đến hối thúc chân chậm chạp bước về nguồn cội đời người. Mời đọc để yêu quê mình, Hà Nội.
1. Sau Ba Mươi Năm, Trở Về… Tựa của Bài tạp văn này viết đầy đủ là Sau Ba Mươi Năm, có một người trai Hànội, trở về quê mình – Kinh Thành Cổ Tích
Cớ chi lâu vậy,người trai? Sài gòn Hà Nội nào có xa gì mà tha hương ba chục năm hôm nay mới một lần quay về? Cớ chi người trai không thưa lời, lại khóc. Tôi là người trai ấy. Rời Hànội vào Sài gòn lúc tuổi ngoài ba mươi tóc còn xanh mướt, nay tóc dẫu nhuộm vẫn trắng gầy. Tôi tháo kính mắt, dang tay hít một hơi dài cái gió còn lạnh Bân của Nội Bài Hànội. Gió lạ mà quen hay gió quen mà lạ? Không biết. Chỉ biết rằng, ngày ra đi nơi này, Nội Bài, chỉ là những cánh đồng ngô lúa, mà nay đã là một sân bay, tuy chưa hùng vĩ như sân bay Bắc Kinh hay Seattle nhưng cũng đáng mặt con gái nước mình đi dự thi hoa hậu hoàn vũ vậy. Tôi lên xe bus, bảo là xe của hàng không, về Hànội thu vé ba mươi ngàn đồng. Rẻ thuận. Xe vào đường cao tốc. Bác tài tuổi chừng tuổi ngày tôi xa Hànội. Tôi nhìn bác, bỗng thấy gần, thấy mến, vì chẳng hiểu ngẫu nhiên gì bác lại mở băng nhạc dân ca đồng quê Bắc Bộ, ru đưa tôi về Kinh Thành Cổ tích :
Nơi ấy Tôi là đứa trẻ đẻ rơi Mẹ dệt lụa trên cầu giải yếm Các bà tiên chuyền tay nhau bú mớm Chuyền tay nhau hát hò Chày Yên Thái tôi nghe Trái bàng rơi tôi nhặt Gạo Làng Gióng tôi ăn Sông Cái lắm thủy thần Rằm Mồng Một dâng hoa chùa Bộc…
Lúc nãy trên xe người trai cười thầm khi nghe bác tài nói ngọng. Dân Hải Dương, Hải Phòng đây.Nhưng khi bước xuống xe trên đất nội ô. Đàn xe ôm chạy lại. Như Sàigòn thôi, không lạ. Nhưng lạ quá âm thanh chào mời. Lày chú, lày bác, nên xe em lào. Âm thành ơi là âm thanh, líu lo gì ngọng vậy? Tôi định lên xe ôm anh chàng da trắng, mặc bảnh, đeo mắt kính, nói ngọng nhưng biết tránh ngọng bằng từ đồng nghĩa. Nghĩ sao lại thôi, chọn cách tung tăng thả bộ. Phố vẫn tên cũ, Hàng Bồ, Hàng Da, nhưng mặt phố không sao nhận ra, sáng lóa, tươi nhuần, tân tiến. Nhìn ngắm thoáng qua. Thoáng qua nhìn ngắm. Một cô gái da mặt trắng hồng, trắng hồng hơn cả con gái Đà Lạt, ăn mặc khá mốt, mốt ngày se lạnh Sài Gòn không mấy khi có, giá cô đừng lớn tiếng qua cái alô cầm tay, thì tôi đã tưởng mình gặp lại tiên nữ trong thơ ngày nào. Sao cứ phải alô lớn tiếng thế? Giận dữ thế và ngọng ngịu thế ? Khổ tai anh quá em ơi. Đôi ba cô gái nữa đi qua. Lại đôi ba cô gái khác đi qua. Đẹp. Rất thời trang. Đẹp không chê vào đâu được. Chỉ có điều khi miệng các cô bật ra ngôn ngữ thì sắc đẹp dường như phai đôi phần. Ngày xưa bảo là thanh sắc, thanh đứng trước sắc, có lẽ bây giờ sắc đứng trước thanh, bảo là sắc thanh chăng ? Mình già mất rồi, tôi ơi.
@ Tôi mắc chứng bệnh nhớ nhà. Ngủ lạ nhà một đêm khó được. Nếu bảo Mệnh là từ 1-30 tuổi, thì ba mươi năm Mệnh, quê tôi là Hànội. Nếu bảo Thân là từ 31-60 tuổi, thì ba chục năm Thân, quê tôi là Sài Gòn. Giờ đây đã qua tuổi Mệnh Thân, ắt sẽ là Sài Gòn Hà Nội ra ra vào vào. Chuyến đầu tiên này 3 ngày nhé. Cho tôi quen lại Hà Nội, quen dần với phong, với thủy mà chữa bệnh nhớ nhà. Xin ruột thịt gần xa, xin cố nhân, bằng hữu tha cho lỗi vội vàng này của người đang bệnh. Hẹn lần sau, sẽ rất gần, thăm hỏi đủ khắp.
Thay vì thắp một nén nhang nhớ về nguồn cội, tôi đã vay một ban mai, ngồi tưởng trên ghế đá Bờ Hồ. Ghế đá nơi ngồi quen lắm, dù sau lưng không còn ga xe điện, tai tôi vẫn nghe tiếng leng keng, bởi trước mặt vẫn xanh trong mặt hồ ngàn tuổi. Con nhớ mẹ biết bao. Con không nhớ bóng lưng còng lam lũ của mẹ. Vì sinh tồn, sinh lý làm người, thời nào thời chẳng lam lũ, đời nào đời chẳng lam lũ. Con chỉ nhớ nụ cười của mẹ thôi. Nụ cười như một ban mai cuối Bân vào Hạ. Nụ cười thoang thoang như gió trên cầu Thê Húc. Nụ cười thơm như hoa hồng gói lá chuối các cô gái làng hoa bán gánh Hồ Gươm. Nụ cười ấy có tên là hạnh phúc. Tôi thầm cười, mặt rạng. Một tiên nữ lạ quen nào đó, ngồi xuống bên tôi. Tôi cười chào. Tiên nữ hỏi: Thầy ở sàigòn ra? Sao biết? Tiên nữ cười, giọng thật nhẹ. Cháu đoán thế. Thầy giống ông ngoại cháu lắm, từ cốt cách đến giọng nói. Ông ngoại cháu người Hà Nội gốc, vào Sài Gòn sinh sống lâu rồi. Tôi cười đầy mặt. Tiên nữ cúi chào tôi rồi bay lên Cầu Đỏ. Ở đấy nhiều tiên nữ lắm,múa hát từ Tháp Bút dọc cầu vào hút đền xanh Núi Ngọc. Tôi muốn lên đấy lắm, lên chiếc cầu sơn đỏ,nhưng tôi không dám,vì tôi sợ mình lại khóc,bởi:
Nơi ấy lẽ Càn Khôn Các bà tiên lần lượt về mây trắng Con đưa mẹ đến đầu cầu giải yếm Mẹ trắng vào mây Mẹ tan vào gió Mẹ đi trảy hội Tiên Rồng…
Thân chủ của tôi là một sĩ quan quân đội đã nghỉ hưu và vợ,con nhờ tôi giúp thiết kế một căn nhà phong thủy. Khu đất xây cất căn nhà này thân thuộc với tuổi thơ tôi. Trước mặt ao rau muống, sau lưng ao rau muống. Tôi đã từng lần mò bờ ao câu lươn, câu ếch. Tôi đã từng bắt đầy giỏ cá rô cờ, rô don, cá trê, cá quả ngày hồ hanh khô, để mẹ kho om lá gừng, ăn nhớ đến chết. Khu đất ấy giờ đã biến mất. Đường ven ao đã bê tông hóa, nhà cửa hai bên, sau trước, trước sau đã hai ba tầng, mái bằng, ngói đỏ, lan can nhấp nhô nở xòa xanh xanh đỏ lá hoa. Vuông đất nhà cấp bốn của người sĩ quan nghỉ hưu vừa phá, méo mó, thấp cao hiện ra trong mắt tôi sẽ là căn phố lầu sau cùng trong căn hẻm tuổi thơ tôi. Nhà mười mười, trăm mét vuông sàn trồng bốn tấm đang hiện ra trong tâm trí phong thủy tôi. Sẽ cát tường, như đời anh hơn sáu mươi năm cát tường đời tranh đấu, giờ sẽ cát tường đời hạnh phúc vợ con. Vợ anh ít cười. Chị là bà tiên lam làm, tận tụy. Nhưng con gái anh và cháu ngoại anh thì như vườn nắng đỏ vài luống hoa. Anh thanh thản, hồn nhiên giao việc xây cất ngôi nhà cho người con rể. Anh nói cười, tương lai thuộc về chúng, chúng phải gây dựng lấy, phải không mình? Anh hỏi bà tiên vợ và nháy mắt rất lão ngoan đồng, nhìn tôi.
Hà Nội ấm áp dưới mỗi mái nhà. Không nhớ ai đã nói với tôi câu nói ấy. Câu nói có âm sắc văn chương giờ bỗng cháy trong tôi như lửa, ánh lửa tình mầu sắc làng quê, mầu sắc Kinh Thành Cổ Tích,mà người trai tha hương khát nhớ mơ về… Người trai ấy đã ngủ ngon lành ở Kinh Thành Cổ Tích một đêm. Rét se se bảo là rét nàng Bân. Sách vở văn chương ta hầu như chưa nói gì về nàng Bân nhỉ? Nàng Bân xưa ở đâu và giờ ở đâu? Người trai choàng nhẹ tấm áo vợ mua mà như ôm vào lòng nàng Bân của mình. Ai trong đời chẳng có một nàng Bân?
Tôi là một người trai không bình thường. Sinh ra đã không bình thường. Tôi là đứa trẻ đẻ rơi/ Mẹ dệt lụa trên cầu giải yếm. Lớn lên cũng không bình thường. Hư hỏng trong cuồng vọng. Tham lam trong ái tình. Mơ hồ trong đời sống. Xấu trai và lười biếng. Kiêu ngạo và hay cáu kỉnh. Tật hư nhiều như thể hỏi rằng ai chịu nổi. Chỉ có nàng Bân, nàng Bân vị tha, nàng Bân hiền dịu, chỉ có nàng Bân mới dám yêu tôi, chung thủy cùng tôi. Nào chỉ rét về nàng đan áo ấm, mà một giỗi hờn tôi, nàng hát, một cáu kỉnh tôi nàng ru, một phân bụng tôi nở béo, nàng tinh mơ thái tai cây sắc thuốc. Nàng yêu tôi biết bao và tôi hiểu rằng tôi đã nợ nàng nhiểu biết bao, nợ một đời không trả được, dỗ dành, kiếp sau luân hồi tôi làm vợ, nàng làm chồng, may ra nợ mới trả xong. Ước sao có một thiên tài viết lời về nàng Bân nhỉ? Nàng Bân vợ của mỗi người trai Hà Nội. Con gái Hà Nội tuyệt vời lắm, được làm chồng họ, mình thành người Hà Nội bản sắc đấy. Không trộn em vào đâu mà lẫn được Bân. Cảm ơn vợ đã yêu anh để hôm nay anh tâm thành viết lời ân này cảm ơn quê mình Hà Nội.
Nàng Bân ơi,rét tháng Ba tôi về quê cùng rét. Hình như nàng gọi tôi về, nàng bảo tôi về, vì những mùa tháng Ba sau các nàng Bân phải đan nhiều áo ấm cho chồng lắm. Hànội đang luận bàn việc mở rộng hoành tráng Kinh Thành Cổ Tích.
Kinh Thành Cổ Tích, phương Bắc là Hà Bắc, phương Nam là Hà Nam, phương Tây là Hà Tây, phương Đông là Hà Đông, từ bao đời nay đã là vậy nhỉ? Mừng lo lẫn lộn. Mừng là mừng Kinh Thành Cổ Tích sẽ lớn rộng xứng tầm nước non. Lo là lo Kinh Thành Cổ Tích không còn là Kinh Thành Cổ Tích. Theo các kênh truyền thông, Hànội mở rộng ôm hết Hà Đông, Hà Tây cộng thêm vài huyện Hòa Bình, ôm thêm vài huyện Vĩnh Phú. Quá sức bao la, quá sức vĩ đại, vĩ đại như mơ. Tôi thăng hoa kinh thành mở rộng trên ma trận bát quái, thấy rằng kinh thành vượng thế bối sơn, diện thủy, cân bằng tam cương, được số 2, số 4 phía lưng, số 1 số 6 trước mặt. Thầm vui. Những người hoạch định mở rộng kinh thành xem ra cũng tài tình phong thủy lắm. Số 2 thuộc Hôn Nhân, số 4 thuộc Phú Quí, số 1 thuộc Sự Nghiệp, số 6 thuộc Quí Nhân. Xem như sự nghiệp đời người được hôn nhân phú quí dựa lưng, quí nhân tiếp rước thì sự nghiệp nào chẳng Địa/Phong Thăng. Một căn nhà, một khu dân cư, một làng quê, một kinh thành cũng vậy, được số 2, số 4, số 6 hưng cát ước gì hơn.
Đang nói về Kinh Thành mở rộng, chợt nhớ Phở Vuông, bèn liên tưởng đến sự thống nhất của phong thủy giữa nội dung và hình thức.Phở ơi, món ăn quốc hồn quốc túy, ngọt ở nước, dẻo mềm ở bánh, chất ở thịt dù tái nạm gầu hay tái gân, tái chín, thơm ở ớt ở hành, và cái ngây ngất dâng hương khi rưới vào phở đôi ba giọt nước mắm lúc làn khói phở lên hoa. Phở là vậy,phở Nam Định, phở Hà Nội, hay phở Sài Gòn, cho dẫu ở đâu phở cũng phải là phở. Nói phở trước rồi nói đến quán, đến mời chào, đến xuân hạ thu đông mỗi mùa một hương phở khác, rồi thì đũa bát, Sài Gòn gọi là tô, gọi gì thì gọi vẫn là phở. Cho nên có phở bát tròn tất có phở tô vuông. Hà Nội có phở thương hiệu Vuông. Phải ăn mới biết Phở Vuông thế nào.
Cầu Trời kinh thành cổ tích mở rộng hoành tráng cỡ nào xin vẫn là Kinh Thành Cổ Tích. Tôi hằng tin và đã hành theo đức tin ấy. Tôi vẫn tin và lắng nghe đức tin ấy. Bởi Hà Nội là Quê tôi
Nơi ấy Hoa đào nở chấn Cửa Đông Áo trấn thủ phủ rêu Cửa Bắc Kèn tầu hừng hực Cửa Nam Quốc ca hát đỏ sông Hồng Nơi ấy là kinh thành cổ tích Nơi ấy là đời tôi…
Người trai ấy theo rét Bân về làng nghề gốm,rồi theo rét Bân về làng lụa.Kinh thành cổ tích mình, những năm xưa đâu chẳng làng nghề?
Nói thật lòng, những kỷ niệm tuổi thơ về quê hương của tôi nghèo lắm, cơ cực lắm, mẹ khóc nhiều hơn cười, cha cắm mặt xuống đất nhiều hơn ngẩng mặt, tôi bữa đói nhiều hơn bữa no, Bà gọi tên Re thân đau cây mía quắt, chính vì cơ cực thế nên tôi nhớ mãi nụ cười của mẹ, tôi thăng hoa đời bà, đời mẹ thành tiên, tôi ủ tình tôi vào Sân Chèo Gió Cuốn Lá Đa, vào Giếng Trăng, vào Bánh Trôi Nước,vào Thị Mầu Lên Chùa,vào Mưa Hến.Hình tiếng lung linh như chiều trở gió cuốn mây ngũ sắc cầu vồng quê hương thành Kinh Thành Cổ Tích? Không có những thanh hình, sắc tiếng ấy làm sao thế hệ chúng tôi có thể sống dâng mình cho non nước? Một đời cha tôi,một nửa đời tôi, là sống vậy biết vậy, quê hương gần như lam lũ không có gì đổi khác. Khác chăng là lẽ sống ngày càng đời thường hơn, tự nhiên như tự nhiên phải được, được sống đủ cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, có đường để đi, có nước sạch để uống, có điện để sáng mắt, cho xí tắm để không như gia súc.
Tôi đang đi trên đường vào làng trải nhựa,đường trong làng bê tông, nhà hai bên san sát, nhà thấp nhất cũng ngói đỏ hoa vàng, nhà cao hơn đã đôi ba tấm. Cô tiên cấy lúa đấy ư? Sao hôm nay chưa ra đồng còn thong thưa đứng trên ban công nhìn khách?
Rẽ vào quán nhỏ gọi tô bún riêu. Bún riêu là món khoái khẩu tuyệt vời của tuổi thơ tôi. Cô chủ quán liếng mắt cười, lắc đầu. Sao lắc đầu? Chẳng lẽ bún riêu làng mình giờ khác? Thưa vâng, bún riêu như ngày thầy còn ở làng bây giờ hiếm lắm, phải vào chợ quê mới có. Bún riêu phố thị bây giờ dù nhiều riêu hay ít riêu mà không có chả quế, giò thăn, sườn non, thì cứ gọi là…vợ nấu chồng ăn. Tôi gật đầu. Gật đầu. Vừa ăn bún riêu làng cổ vừa tự trách mình, già mất rồi, tôi ơi. Rét Bân không dỗ dành hẳn tôi đã không ăn hết tô bún. Chẳng phải bún không ngon, mà chỉ bởi bún trong tâm tưởng tôi là bún Kinh Thành Cổ Tích. Chợt hỏi nàng Bân: Ngày xưa nàng đan áo ấm cho chồng sao lâu thế, suốt mùa đông không xong, để đến nỗi tháng Ba còn xin Trời làm rét? Nàng không có sợi hay nàng vụng về? Nàng Bân không đáp.Tôi hiểu, thi nhân xưa trọng cái tình. Thi nhân nay cũng trọng cái tình, nhưng phải là cái tình hợp lý. Nên thi nhân nay chẳng ai chép chữ, tạc hình nàng Bân, phải vậy chăng ?
Bát Tràng bây giờ mới thực Bát Tràng. Vạn Phúc bây giờ mới thực Vạn Phúc. Hai câu cảm thán này nói thay lòng tôi. Một làng nghề như trong cổ tích. Tuy nhiên, làng nghề mình còn chưa được tự tin. Có nhất thiết phải bầy chen gốm Cảnh Đức Chấn với gốm Bát Tràng? Có nhất thiết phải may lụa Hàng Châu dán mác hiệu làng lụa Vạn Phúc? Lâu rồi thì phải, đựơc xem bộ phim về làng tranh Đông Hồ. Rớt nước mắt. Những người làng Tranh giã dó cối không để giữ nghề cha ông, để cạnh tranh với tranh tầu Thượng Hải. Tôi đã từng đi ngoài biên giới, đã từng thấy gốm Bát Tràng, thấy lụa Vạn Phúc nơi xứ người, rớt nước mắt tự hào. Mong sao các làng nghề người Việt tự tin bước ra ngoài kinh thành cổ tích.
Tôi đi trong rét Bân lan man làng Vạn nghe tiếng thoi ru tíu tít, đi lan man làng Bát thơm nồng hương gốm ra lò. Chợt nghe rét hỏi: Nếu áo đan xong sớm liệu trời còn cho rét tháng Ba? Đáp, Trời đã cho rồi Trời đâu đòi lại, rét Bân mãi còn. Áo vợ đan xong kịp chớm gió đông, chồng được mặc phùn qua Tết, qua Bân, chẳng là ấm lòng sung sướng hơn sao. Tủm tìm rét Bân cười se se tim tôi…
@ Còn đêm nay nữa,đêm thứ ba ngủ cùng rét Bân,sáng mai người trai sẽ bay về Sài gòn. Đêm bay ra cũng mất ngủ đêm bay vào cũng mất ngủ là sao? Bảo là bồn chồn trước đi xa. Ôi cái sự đi về này lạ thật,đi cũng là về cũng một nghĩa về nhà. Vì cái sự về nhà ấy mà nghĩ ngợi mang mang.
Nhớ cái lần bay từ một nơi rất xa về Sài Gòn, mấy đêm không ngủ được chỉ vì chưa giải được ý một nữ sinh người Mỹ,nghiên cứu văn hóa phương đông,cắc cớ hỏi: Nhược điểm về tính tình tính cách và nhược điểm về hình thể của người Việt Nam? Nhìn thầy ngắc ngứ,trò tự trả lời : Về đặc điểm tính cách,người Việt Nam chưa biết cười. Về đặc điểm hình thể, người Việt Nam mông lép. Trời ơi là trời, nghiên cứu chi lạ thế? Câu hỏi thức trong đầu tôi có lẽ vài đêm, bỗng bật dậy, khi bay tới Đài Bắc, và hiện rõ mồn một khi bước ra sảnh sân bay Tân Sơn Nhất trong mừng đón vợ con. Người Việt Nam mình chưa biết cười thật, mông quả là lép thật. Xứ người ta cười thấy hoan lạc, nhìn thấy rạng rỡ mặt mày, không gian như có hương hoa. Còn cười xứ ta tắt rất nhanh và sau cười là ưu tư lo lắng, là thấy chuyện phải làm, là thấy lam lũ cần lao trên từng thớ mặt. Còn chuyện mông (hay hông cũng vậy) lép, có phải vì bà ta, mẹ ta, vợ ta, con gái ta, nhiều đời nhỉ, ngủ trên giường cứng và ngồi trên ghế cứng? Hông thuộc phú quí, bảo rằng hông lép mà nghèo.
Nhớ lần bay về từ phương Bắc, cậu phiên dịch cứ ngao ngao thuyết trình về sức mạnh kỳ diệu của con Kỳ Hưu, linh vật mới của người Trung Hoa. Nào là Kỳ Hưu xuất hiện từ những năm 300 trước công nguyên trên đồng cỏ Nội Mông. Nào là Kỳ Hưu là con thứ 6 hay 7 gì đó của Long Vương. Nào là Kỳ Hưu giải được họa, giáng được phúc, cầu được quan, được lộc. Nín. Định quát cậu phiên dịch như thế, nhưng không biết chữ nín tiếng Hoa, đành cười mà khâm phục người Trung Hoa, đã thật tài tình tạo ra linh vật Kỳ Hưu, thổi vào nó một huyền thoại và quảng bá huyền thoại ấy như là chuyện thật. Mọi chốn, mọi nơi, khắp nước Trung Hoa, Kỳ Hưu khắc đá, chạm đồng, nạm vàng, chuốt ngọc bán như bánh bao, người người mua về không để ăn mà để cầu xin tốt đẹp. Tôi cũng thỉnh về một cặp Kỳ Hưu, người bán bảo là ngọc, ở Đại Tiền Môn. Nhớ lại chuyện này làm gì nhỉ? Hình như trong thổn thức tôi tiếng ru thoi Vạn Phúc, tiếng lửa gốm Bát Tràng. Hình ảnh sau cuối tôi lang thang nhìn là cây cầu Long Biên.
Sông Hồng thướt tha như tóc người con gái Cầu Long Biên đẹp tựa chiếc nơ cài. Viết là viết vậy,nhưng trong Kinh Thành Cổ tích,cầu là Cầu Gió đấy. Gió vẫn gió nhưng gió ngày đó Hình như giữa Hạ Sợ mồ hôi mặn cỏ Gió đứng một chân Gió vẽ Khúc sông xưa gió vẽ cây cầu.
Cây cầu ấy hình như bây giờ đang trôi vào quá khứ, trôi vào kỷ niệm, bởi đã có cầu Thăng Long, Chương Dương làm thay công việc của cầu Long Biên. Và sớm thôi, nhiều cây cầu khác sắp vắt qua sông Hồng…
Tôi muốn mời cô gái phục vụ cà phê quán vỉa hè đường Trần Huy Liệu lại ngồi trò truyện. Nhưng thấy mắt cô nhìn lạ lẫm, lại thôi. Rét Bân ơi, Bây giờ thì tôi đã hiểu, các thi nhân không phải không ngợi ca, mà ngợi ca bằng cách thương cảm, không buông lời phê phán. Sao vậy? Nàng xin Trời ban rét tháng Ba cho chồng mặc áo nàng đan, nhưng còn biết bao người chết rét vì không có áo. Rét Tháng Ba Bà Già Chết Cóng. Ai bảo rét Tháng Ba quay lại nàng Bân không có lỗi? Rét Bân hình như giận giữ, lùa gió lạnh đắng ngực tôi và buông lời: Vớ Vẩn…
Quá khứ là quá khứ, có đẹp, có xấu, có lành, có dữ,có Tấm, có Cám, có Lý Thông, Thạch Sanh. Quá khứ là kỷ niệm, là nỗi nhớ, không chữa đựơc, không thay được và tất nhiên không thể sống mãi cùng quá khứ. Hiện tại, đó là điều quan trọng nhất. Hiện tại hôm nay sẽ là quá khứ ngày mai. Cô gái mốt hôm nay, kinh thành mở rộng hôm nay sẽ là tiên nữ trong kinh thành cổ tích ngày mai. Giật mình. Tôi đang chép vội cổ tích chạy đua với thời gian…
Một xuân sắp bảy mươi. Filed under: Văn, Văn Hóa Tagged: Văn, Văn Hóa | ||||
| Việt Nam sắp nhận các trạm thủy văn trên sông Mekong Posted: 24 Nov 2011 01:03 PM PST Ngày 23/11, tại Hà Nội, Ủy Hội sông Mekong quốc tế (MRC) phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội thảo quốc gia về lộ trình chuyển giao các chức năng chủ chốt của Ủy hội sông Mekong, nhằm đảm bảo phát triển bền vững Lưu vực sông Mekong, đảm bảo an ninh tài nguyên nước, lương thực và bảo vệ vùng Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam. Theo đó, tháng 1/2012, Việt Nam sẽ là quốc gia thành viên đầu tiên tiếp nhận các trạm quan trắc thủy văn của Dự án quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Mekong (HYCOS) từ Ban Thư ký Ủy Hội sông Mekong quốc tế.
Để đảm bảo sự tồn tại bền vững, Ủy Hội sông Mekong quốc tế cần có sự tham gia đóng góp từ các quốc gia thành viên về tài chính và kỹ thuật, để duy trì chức năng then chốt của tổ chức. Việt Nam sẽ sớm hoàn thiện lộ trình, từng bước chuẩn bị tiếp nhận các chức năng từ Ủy Hội và sẵng sàng triển khai tại các cơ quan, tổ chức của mình. Ủy Hội sông Mekong quốc tế thành lập ngày 5/4/1995, bằng việc ký kết Hiệp định hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mekong, nhằm tạo thuận lợi cho các nghiên cứu kỹ thuật và quá trình tham vấn cũng như các quá trình cải cách khác. Việc chuyển giao các chức năng chủ chốt cho các quốc gia là một quá trình, trong đó các cơ quan quốc gia đảm nhận trách nhiệm thực hiện và cả về tài chính; đồng thời mở rộng vai trò của các cơ quan trong việc thực hiện những chức năng quản lý lưu vực sông của Ủy hội. Lộ trình chuyển giao đang được triển khai, giúp Ủy Hội sông Mekong bền vững hơn, cũng như tăng tính tự chủ của các quốc gia./. Lý Thanh Hương Nguồn: http://ashui.com/mag/index.php/tintuc-sukien/vietnam/82-vietnam/5859-viet-nam-sap-nhan-cac-tram-thuy-van-tren-song-mekong.html Filed under: Môi trường Tagged: Môi trường | ||||
| Quăng lưới đánh cá bắt người vi phạm giao thông Posted: 24 Nov 2011 01:02 PM PST vnexpress Thực hiện chỉ thị 04 của UBND thành phố Thanh Hóa về đảm bảo trật tự an toàn giao thông và trấn áp một số loại tội phạm, công an thành phố đã huy động 150 dân phòng kết hợp với các lực lượng cảnh sát chia thành 20 nhóm để chốt chặn tại những điểm nóng. Các nhóm này đều mang theo lưới đánh cá bắt người vi phạm giao thông. Lưới được sử dụng là loại cước sợi nhỏ được cuộn lại, một đầu quấn với một vật nặng, thường là gạch đá. Tại các chốt chặn, dân phòng đều trong tư thế cầm lưới sẵn sàng quăng. Khi thấy người vi phạm giao thông không dừng lại theo hiệu lệnh, cảnh sát sẽ giơ tay ra hiệu và dân phòng lập tức ào ra quăng lưới vào gầm xe.
Nếu quăng chính xác vào phần sau xe, đoạn lưới sẽ cuốn vào bánh sau. Sau một lúc loạng choạng, chiếc xe sẽ từ từ dừng lại. Cảnh sát giao thông sẽ đến lập biên bản đối với chủ phương tiện, nếu lỗi nhẹ thì có thể gỡ lưới tại chỗ và cho đi, lỗi nặng thì đưa xe vi phạm về trụ sở để xử lý. Từ khi cảnh sát giao thông TP Thanh Hóa sử dụng biện pháp này, người dân bàn tán rất nhiều. Nhiều người ủng hộ vì đó là phương án hiệu quả để giữ trật tự an toàn giao thông. Tuy nhiên, một số phản đối kịch liệt vì cho rằng nó có thể gây tai nạn cho người vi phạm. "Tôi không ủng hộ biện pháp này vì quá nguy hiểm. Ban ngày, đường khá tấp nập nên việc quăng lưới chiếc xe vi phạm sẽ rất dễ gây tai nạn cho xe khác”, ông Lê Văn Quang, chủ một quán giải khát trên đường Trường Thi nói. Ông Quang cũng cho rằng biện pháp này thiếu tính nhân văn và làm xấu hình ảnh của những người thi hành công vụ. Trực tiếp xử lý người vi phạm giao thông bằng biện pháp quăng lưới, trung tá Mỵ Duy Xuân, Đội trưởng Đội cảnh sát giao thông Công an thành phố Thanh Hóa cho biết, từ khi thực hiện, Đội đã bắt giữ 21 trường hợp chạy môtô đánh võng, lạng lách, tốc độ cao. Khi bắt giữ, chưa có trường hợp nào bị tai nạn phải nhập viện và không gây tai nạn cho người tham gia giao thông.
“Sau gần một tháng triển khai, chúng tôi chưa nhận được ý kiến phản ứng của người dân", ông Xuân nói và khẳng định lưới đánh cá là công cụ hỗ trợ, biện pháp cuối cùng khi người vi phạm chống hiệu lệnh dừng xe của cảnh sát. Trước đó, công an đã sử dụng rào chắn, vây bắt, bắn sơn… nhưng không đem lại hiệu quả. Theo thượng tá Lê Văn Ngọc, Phó trưởng phòng Công tác chính trị và Công tác quần chúng Công an tỉnh Thanh Hóa, biện pháp này là một sáng kiến độc đáo của Công an TP Thanh Hóa, được áp dụng rộng rãi ở thành phố từ ngày 28/10 trong đợt cao điểm xử lý trật tự an toàn giao thông theo Chỉ thị 04 của Thành ủy. "Có thể nói đây là biện pháp hữu hiệu nhất từ trước tới giờ trong việc đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Nó rất an toàn nếu lưới được quăng chính xác vào bánh sau. Tuy nhiên, nếu người vi phạm đi với tốc độ cao và cố lết để bỏ chạy thì có thể không tránh được việc té ngã. Tôi có nghe có một số người vi phạm bị xây xát nhẹ chứ chưa có tai nạn nào đáng tiếc xảy ra", thượng tá Ngọc khẳng định. Cũng theo thượng tá Ngọc, dù lãnh đạo tỉnh đã thông qua chủ trương cho phép thực hiện việc tung lưới bắt người vi phạm nhưng một số khác vẫn còn băn khoăn hoặc không ủng hộ. "Chúng tôi đã có văn bản báo cáo lên Bộ Công an xin ý kiến chỉ đạo, nhưng có lẽ chính lãnh đạo Bộ cũng đang cân nhắc nên chưa có phản hồi", ông Ngọc cho biết. Lê Hoàng Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin | ||||
| Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa Posted: 24 Nov 2011 12:00 PM PST Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm nay tuyên bố việc Trung Quốc cho phép khai thác du lịch ở quần đảo Hoàng Sa là vi phạm chủ quyền của Việt Nam.
Tuyên bố này được đưa ra sau khi có tin ngày 22/11, tỉnh Hải Nam của Trung Quốc đã cấp phép cho một công ty du lịch đưa khách đi tham qua từ đảo Hải Nam tới quần đảo Hoàng Sa. Người phát ngôn ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị khẳng định việc làm trên của Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam. “Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, ông Lương Thanh Nghị nói trong cuộc họp báo thường kỳ hôm nay. “Mọi hoạt động của nước ngoài tại khu vực này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và trái với tinh thần DOC”, ông Nghị đề cập Tuyên bố chung về quy tắc ứng xử trên Biển Đông mà Trung Quốc ký với ASEAN. Người phát ngôn ngoại giao Việt Nam cũng nhắc lại rằng hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải ở Biển Đông là lợi ích chung trong khu vực và tất cả các nước trên thế giới. “Các bên liên quan cần giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982)”, ông Nghị nói. “Việt Nam hoan nghênh việc ASEAN và Trung Quốc nhất trí thực hiện đầy đủ Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, và hướng tới xây dựng một bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC)”. Cũng trong buổi họp báo hôm nay, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Mỹ triển khai quân đội ở Australia. “Chúng tôi mong rằng việc hợp tác giữa các quốc gia sẽ có đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào các nỗ lực chung nhằm duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới”, ông Nghị cho hay. Trong chuyến công du châu Á vừa rồi, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố sẽ triển khai tổng cộng 2.500 thủy quân lục chiến tới miền bắc Australia. Phan Lê Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |
No comments:
Post a Comment