Thursday, May 19, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Tango

Posted: 19 May 2011 02:00 PM PDT

 

Mời các bạn xem một màn khiêu vũ Tango rất vui nhộn và sáng tạo.
 


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Ăn

Posted: 19 May 2011 02:00 PM PDT

Dân Việt ta hầu như bất cứ dịp nào gặp nhau thì cũng lấy ăn uống làm đầu. Khách vào nhà thì trà nước hay ăn uống. Cưới nhau là ăn uống. Thi đậu là ăn uống. Đám tang cũng ăn uống. Vào Chùa cũng ăn uống thường xuyên. Tây gặp nhau thì uống và nhảy đầm. Ta gặp nhau thì ăn. Tây ngồi quanh bàn ăn thì thường yên lặng, ta mà ngồi quanh bàn ăn thì như cái chợ, nhất là nếu có vài chai bia.

Nếu quan sát việc ăn giữa Tây và ta, thì trong văn hóa ta, nói chung là đông phương, việc ăn là trung tâm. Chẳng thế mà trong ngôn ngữ ta rất nhiều động từ có chữ ăn đi đầu: ăn ngủ, ăn nói, ăn làm, ăn nằm, ăn chơi, ăn cướp, ăn trộm, ăn cắp, ăn hối lộ, ăn gian, ăn đòn, ăn tết, ăn tiệc, ăn mừng, ăn hỏi, ăn cưới… Vài động từ trong số trên đây, như ăn cưới, có liên hệ đến "ăn", một số khác, như ăn cướp, chẳng liên hệ gì mấy đến ăn cả.

Dù sao đi nữa thì việc ăn là việc vui sướng. Lấy việc vui sướng làm trung tâm cho mọi cơ hội là một văn hóa rất hay.

Có nhiều bài kinh Phật tả tỉ mỉ Đức Phật và mọi đệ tử ăn xong xuôi rồi Phật mới bắt đầu giảng kinh. Trong kinh thánh thì các đoạn kinh thánh quan trọng nhất là đoạn Chúa Giêsu nói chuyện với các đệ tử trong các buổi ăn.

Ở Âu Mỹ có những buổi điểm tâm cầu nguyện hay fellowship, trong đó người ta ăn uống và cầu nguyện với nhau.

Ăn uống là việc thân thiết. Thường chì chỉ người trong gia đình, vợ chồng con cái, mới ăn uống cùng bàn với nhau thường xuyên hàng ngày. Người lạ, ngay cả bạn bè thân, cũng không ăn với nhau hàng ngày như thế.

Ăn uống là thời gian thân thiết và vui sướng nên chúng ta có câu ca dao: "Trời đánh cũng tránh bữa ăn". Ông trời cũng phải tôn trọng thời gian thân thiết và vui sướng của người khác.

Cho nên các bạn, đừng phá bữa ăn bằng cách ngồi khảo tội nhau trên bàn ăn, hay nói các chuyện nhiều stress, hay chê món này mặn món kia nhạt, hay đánh chó chửi mèo, hay biến bàn ăn thành chiến trường bát bay đĩa bay.

Ăn uống là việc thân thiết và vui sướng. Enjoy eating! Dùng các bữa ăn như các cơ hội vui sướng và thân thiết với cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái.

Và phụ nữ thì cũng nên biết "Dạ dày là đường ngắn nhất để đến trái tim của người đàn ông."

Chúc các bạn một ngày ăn ngon.

Mến,
Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Người Mẹ trong hoài niệm và tâm thức dân gian của một người con.

Posted: 19 May 2011 01:59 PM PDT

 

(Đọc ba bài thơ về Mẹ của Nguyễn Nguyên Bảy)

Nguyễn Anh Tuấn

Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy có ba bài thơ liên hoàn viết về người Mẹ đã khuất của anh.

Nếu như trong “Thơ NNB I”, nhà thơ đã dựng được tượng đài tinh thần kỳ vĩ về người cha của mình qua trường ca “Sông Cái mỉm cười”, thì trong “Thơ NNB II” này, với ba bài thơ ngắn về mẹ, anh làm thế nào để hình tượng mẹ tương xứng với hoài niệm của chính anh?

Ta hãy đi vào từng bài.

1. Phật Hát

Yếm thắm không bỏ bùa sư
Mà sư cứ đòi xoa yếm thắm
Mẹ bảo này trọc đầu
Trong ngực tôi có Phật
Trọc đầu có sợ ố cà sa?

Giữa chợ lực điền yếm thắm gặp cha
Cha thẳng đường cày cầu xin yếm thắm
Mẹ bảo trong ngực tôi có Phật
Nếu ngực Phật anh thuận lòng
Thì yếm thắm này thuyền xin theo sông

Tôi ấp môi son vú mẹ
Lè phè nằm nghe Phật hát
Phật hát lời cò trắng muốt
Trắng muốt vì cò không phải là công
Phật hát lời cua đi ngang
Dẫu đi ngang cua vẫn chẳng lạc đường…

Suốt tuổi thơ tôi bú lời Phật hát
Quay sa mẹ hát lụa tơ
Ra đồng mẹ hát nắng mưa thuận hòa
Lời trăng thủ thỉ vai cha
Cỏ hoa mẹ hái bao la dành riêng con
Mẹ nhấn véo von
Lòng buồn cũng chớ nhuộm buồn có hoa

Ngày tôi phải rời xa yếm thắm
Mẹ bảo từ nay trong ngực con có Phật
Con thưa trong ngực con có mẹ
Mẹ khóc nhòe và ngực tôi bỗng hát
Lời mẹ hát cò lời mẹ hát cua
Ngực con đầy tiếng mẹ ru…

Chúng ta chưa thấy ai nói “Phật hát” bao giờ cả, và từ cái đầu đề khiến không ít người lạ lẫm này, diễn đạt của nhà thơ suốt toàn bài lại là cách nghĩ cách cảm dân gian khiến người đọc dễ dàng đồng cảm với triết lý thâm trầm (được lạ hóa) mà tác giả gửi gắm.

Vào bài, những câu thơ gợi nhớ đến ca dao cổ (Mấy cô yếm thắm bỏ bùa cho sư/ Sư về sư ốm tương tư) và cái không khí đậm cổ tích thế sự (Những chàng trai lực điền của Cây tre trăm đốt, Lang Liêu, Thạch Sanh…) Trong thế giới đó, Phật không phải là một khái niệm triết lý cao xa, hoặc một hình ảnh xa lạ, mà gắn với, hòa quyện với đời thường dân dã. Người mẹ của đồng quê Việt ngàn đời đã coi Phật ở tâm mình (trong ngực tôi có Phật); họ là những Phật tử (vãi) thành tâm với những tín điều đẹp đẽ do Phật đường dưới lũy tre đem lại- đó là sự mong mỏi yên bình, mối từ tâm, lòng bác ái, tính ngay thẳng… Và “Sông Cái mỉm cười” trước lời hò hẹn tình tứ nơi bến sông của những Phật tử thuần thành:

Nếu ngực Phật anh thuận lòng
Thì yếm thắm này thuyền xin theo sông

Cuộc đời bình dị và ấm cúng nơi thôn dã diễn ra trong những lời mẹ ru mà người thơ đã hình tượng hóa (và lạ hóa) thành lời “Phật hát”; và thêm một lần nữa NNB trở lại với “Cánh cò trắng muốt” từng che rợp đắm đuối hồn thơ anh; có điều ở đây là “Phật hát lời cò”, cũng nao lòng, cũng tồi tội đáng yêu, không khoe mẽ làm duyên làm dáng mà nhập với phận người lam lũ, và được cảm nhận qua tâm hồn trẻ thơ: “Trắng muốt vì cò không phải là công”- hơn thế, qua sự đánh giá của đạo lý người lao động cả ngàn đời: “Phật hát lời cua đi ngang/ Dẫu đi ngang cua vẫn chẳng lạc đường…”

Dường như sau khi đã giải thích cho người đọc hiểu lời Phật hát là gì và cội nguồn sâu xa của lời Phật hát, người thơ đã cho chính Phật hát bằng một đoạn thơ lục bát ngọt ngào nói về cuộc đời gian lao song kiêu hãnh của mẹ, về tâm hồn tinh tế dịu hiền mà bao la thánh thiện của mẹ:

Quay sa mẹ hát lụa tơ
Ra đồng mẹ hát nắng mưa thuận hòa
Lời trăng thủ thỉ vai cha
Cỏ hoa mẹ hái bao la dành riêng con
Mẹ nhấn véo von
Lòng buồn cũng chớ nhuộm buồn cỏ hoa

Rồi sau cùng, có lẽ chính nhà thơ cũng không ngờ bản thân mình sẽ là người thay Phật để hát về sự “ngộ” ra của một đời người – kể từ khi rời xa lồng ngực Phật của mẹ và cố gắng giữ gìn những gì mà mẹ trao gửi qua lời Phật hát:

Ngày tôi phải rời xa yếm thắm
Mẹ bảo từ nay trong ngực con có Phật
Con thưa trong ngực con có mẹ
Mẹ khóc nhòe và ngực tôi bỗng hát
Lời mẹ hát cò lời mẹ hát cua
Ngực con đầy tiếng mẹ ru…

Câu thơ cuối cô đọng lại mối quan hệ nhân quả Phật giáo của số phận quấn quýt tình nghĩa Mẹ – Con thiêng liêng, trong một hình thức ngôn từ biểu tượng nhưng lại đầy trực cảm, và tựa một tiếng khóc nghẹn ngào cố nén lại: “Ngực con đầy tiếng mẹ ru”

Và nếu đọc liền ngay bài thơ sau, chúng ta chợt nhận thấy: Phật hát, hay Mẹ khóc thực ra cũng chỉ là một mà thôi.

2. Mẹ Khóc

Mỗi khi con thấy mẹ ngồi bệt xuống hè
Tay cầm cây quạt nan
Là con biết mẹ đang đè buồn nuốt giận
Khóc ở trong lòng
Khóc trong lòng nước mắt chảy đi đâu?
Cầu cho nước mắt chảy vào gan vào ruột
Để nước mắt trôi ra ngoài
Nhưng nước mắt không chảy vào gan ruột
Mà chảy vào tim rồi hòa vào máu
Chẳng bao giờ con có thể lau
Những lúc ấy con qùy trước mẹ
Hai tay dụi gọi Mẹ ơi!
Trên trời tất nhiên có Giời
Nhưng sao Giời nỡ bất công
Để con càng lớn càng cao mẹ càng già càng thấp
Ôm con mặt mẹ úp ngang vai
Mẹ bảo mẹ khóc mừng khóc phúc
Mừng phúc mẹ khóc như mưa
Phùn xuân rào hạ
Mầu khóc hồng son
Con tắm trong khóc mẹ ngập hồn
Tinh chất khóc ngấm vào da vào thịt
Con không chùi không lau
Con không trả khóc về mắt mẹ…

Con biết ở cõi trời
Mẹ muốn khóc cũng không thể khóc
Vì thế ở cõi người
Ngày ngày con đem tiếng khóc mẹ ra phơi
Lạy trời đừng phạt mẹ tôi
Tội đón nước mắt con bay ngược về mắt mẹ
Để mẹ lại được khóc
Âm dương cũng đạo làm người

Trong bài thơ này, khi hồi tưởng, người thơ bung ra tất cả những cảm xúc trực tiếp về mẹ. Đầu tiên là sự thấu hiểu đến tận cùng những nỗi đau “chảy vào tim rồi hòa vào máu” của mẹ mà “Chẳng bao giờ con có thể lau”. Những nỗi bất công mẹ phải chịu trong cõi đời này đâu phải chỉ là “Giời nỡ bất công/ Để con càng lớn càng cao mẹ càng già càng thấp”! Và trái tim người thơ tưởng rạn vỡ mỗi khi mẹ khóc- kể cả việc “mẹ khóc mừng khóc phúc”. Nhớ lại mỗi khi mẹ khóc, sự nhập thân của người thơ vào nỗi đau của mẹ đến độ khiến người đọc phải bàng hoàng:

Con tắm trong khóc mẹ ngập hồn
Tinh chất khóc ngấm vào da vào thịt

Nhưng trong nỗi đau đã hóa thành “Tinh chất khóc ngấm vào da vào thịt” đó, người thơ vẫn gắng tách ra khỏi tâm trạng riêng trĩu nặng để lý giải một cách nghệ thuật nhất, thơ nhất về nước mắt của mẹ cũng như đạo lý ứng xử của một người con chí hiếu:

Con biết ở cõi trời
Mẹ muốn khóc cũng không thể khóc
Vì thế ở cõi người
Ngày ngày con đem tiếng khóc mẹ ra phơi
Lạy trời đừng phạt mẹ tôi
Tội đón nước mắt con bay ngược về mắt mẹ

“Đem tiếng khóc mẹ ra phơi”! Một hành động thực chẳng bình thường, một cách diễn đạt thật kỳ lạ, nhưng bởi có “Tinh chất khóc ngấm vào da vào thịt” kia làm nền, câu thơ càng cắm sâu trong tâm trí người đọc, và hành động lạy trời tha cho mẹ cái “Tội đón nước mắt con bay ngược về mắt mẹ” khiến chúng ta vừa thán phục một câu thơ độc đáo đậm siêu thực vừa chảy nước mắt vì thương cảm! Và cuối cùng người thơ trở lại “cõi người” trong thực tại, rút ra kết luận giản dị nhưng lại mang sức nặng chiêm nghiệm của triết lý Á Đông – Việt:

“Để mẹ lại được khóc
Âm dương cũng đạo làm người.”

Cũng trong mạch Âm Dương Ngũ Hành đó của vạn vật và của thân phận Mẹ, nhà thơ lại đưa chúng ta vào mùa Tứ Quí (tức là 18 ngày cuối của các tháng Ba, Sáu, Chín, Chạp là 72 ngày, thuộc hành thổ- theo giải thích của chính tác giả vốn là một nhà phong thủy học)- góp phần hoàn chỉnh thêm chân dung Mẹ hằng sống động trong tâm tưởng và lòng biết ơn sâu nặng của anh:

3. Mùa Tứ Quí

Mười tám ngày tháng Ba
Mẹ cãi dân văn không chịu trông vào
Mẹ gọi rét Bân về cho cha mặc áo
Áo Bân dệt với mưa phùn
Cha mặc vừa in bảo ấm

Mười tám ngày tháng Sáu
Mẹ tần đồng xa mẹ tảo đồng gần
Tép cà gia bản
Cơm ngô khoai độn với sum vầy
No cười như mưa bóng mây

Mười tám ngày tháng Chín
Mẹ theo hịch dân văn trông ra
Váy phùng đòn gánh yếm tơ
Cùng dân làng mẹ đi đón mùa thu
Hớn hở mùa thu chào mẹ

Mười tám ngày tháng Chạp
Mẹ đồ xôi đóng oản
Mẹ nấu chè kho
Mẹ bảo khổ thế nào cũng phải vui ba ngày tết
Rước tổ tông về
Vì thế, và thế
Càn Khôn đón mẹ tôi về mùa tứ quí

Mùa tứ quí có suốt quanh năm
Chả thế tôi làm sao thành một lực điền
Cầy cuốc quanh năm không mỏi mệt
Chả thế làm sao tôi yêu em
Yêu lâu thế mà sông tình vẫn đẹp
Chả thế tôi làm sao nuôi dậy các con
Nếp tẻ đều thành người tử tế

Lạy Càn Khôn, tôi nguyện sống tu thân theo mẹ
Sau trăm tuổi xin cho tôi về làm mùa phú quí
Để tôi hầu hạ mẹ tôi…

Từ một câu nói của dân gian: “Đói tháng Tám trông ra, đói tháng Ba trông vào”, nhà thơ dẫn người đọc qua các mùa của Tứ quý trong Xuân, Hạ, Thu , Đông- cũng là khái quát cả một vòng tuần hoàn của thân phận Mẹ giữa số phận dân tộc. Những hình ảnh gần gũi thân quen biết bao đối với người dân Việt trong nhiều thế kỷ được kể lại bằng lời lẽ của dân dã đời thường song lại có sức gợi rất lớn, bởi đặt trong tâm thế hồi ức ngập tràn ánh hào quang và âm hưởng dịu dàng về mẹ:

… Áo Bân dệt với mưa phùn
… Mẹ tần đồng xa mẹ tảo đồng gần
… Tép cà gia bản
Cơm ngô khoai độn với sum vầy
… Váy phùng đòn gánh yếm tơ
… Mẹ đồ xôi đóng oản
Mẹ nấu chè kho…

Người Việt hôm nay ở bất cứ phương trời nào trên trái đất, ai mà chẳng lặng người xúc động trước lời căn dặn của người mẹ bên hương khói nhớ tổ tiên chiều cuối năm:

Mẹ bảo khổ thế nào cũng phải vui ba ngày tết
Rước tổ tông về

Hành động tâm linh thân thuộc này sẽ là nguyên nhân, đồng thời là sự tiếp nối của một hiện thực lớn lao khi người mẹ về với tổ tiên, với thăm thẳm Đất Trời- nơi mà khi còn ở dương gian, mẹ hằng mơ ước:

Vì thế, và thế
Càn Khôn đón mẹ tôi về mùa tứ quí

Tôi nghĩ, nhà thơ mượn Mùa tứ quý để nói về cái khát khao của người Việt ta ngàn đời nay về “trời yên bể lặng”, về “chân cứng đá mềm” để được sống trong “hớn hở mùa thu”, và “hớn hở” suốt tháng ngày dù còn lam lũ, khổ ải, rình rập bao hiểm họa từ thiên tai và từ chính con người… Khi mơ ước chưa thành hiện thực, thì nhà thơ, nương nhờ trong thế giới tình thương vô tận của mẹ đã hình dung ra:“Mùa tứ quí có suốt quanh năm”

Người con lực điền ở Mùa tứ quý này nối tiếp người cha trai cày trong Phật hát, cùng các hình ảnh của một hệ thống thi liệu thống nhất ở cả ba bài thơ về Mẹ, được đặt trong trường cảm xúc mạnh mẽ của nhà thơ khi viết về quá khứ cho ta cảm tưởng: nhà thơ dù có đi suốt đời cũng không qua hết vòm trời của Kinh thành cổ tích… Nhưng đó lại là điều may mắn của nhà thơ, và cũng là điều may mắn của người đọc hôm nay- nhất là những người đọc trẻ tuổi, được tiếp nhận một bài học về đạo lý ông cha về nghĩa tình, về nuôi dạy con cái… một cách mộc mạc giản dị mà cũng đầy sức lay động:

Mùa tứ quí có suốt quanh năm
Chả thế tôi làm sao thành một lực điền
Cầy cuốc quanh năm không mỏi mệt
Chả thế làm sao tôi yêu em
Yêu lâu thế mà sông tình vẫn đẹp
Chả thế tôi làm sao nuôi dậy các con
Nếp tẻ đều thành người tử tế

Nếu ở bài thơ trên, nhà thơ lạy trời đừng phạt người mẹ vì đã quá yêu con mà phá đi cái quy luật đời thường “nước mắt chảy xuôi”, thì đến đoạn kết bài thơ này, anh lấy cả Trời – Đất (Càn Khôn) làm chứng giám cho mình khi nguyện ước- và có lời nguyện ước nào thiêng liêng hơn, giàu ý nghĩa hơn, và cảm động hơn thế này:

Lạy Càn Khôn, tôi nguyện sống tu thân theo mẹ
Sau trăm tuổi xin cho tôi về làm mùa phú quí
Để tôi hầu hạ mẹ tôi…

Mùa tứ quý vừa là sản phẩm của tâm hồn mẹ, vừa là phần thưởng xứng đáng cho mẹ trong cõi đời này, vừa là cái đích mà người con vươn tới và mong hóa thân vào nó- trước hết là dành cho mẹ nơi vĩnh cửu- cũng có nghĩa là cho cả thế gian… Sự chuyển hóa của những phạm trù đời sống, của những quy luật phong thủy biến ảo được soi rọi bằng tầng cảm xúc sâu đằm và trí tưởng tượng đột phá của một thi sĩ trong bài thơ này đã vô tình liên kết tận trong chiều sâu với hàng loạt bài thơ khác của NNB – mà trước hết, gần nhất là với hai bài Phật hát và Mẹ khóc. Thử hỏi, trong tất cả những người đang đọc thơ NNB đây, ai không từng mơ một Mùa Tứ quý trong mình? Tuy mỗi người có một cách khác nhau để đến với Mùa Tứ quý đó, nhưng có một điểm chung là sự gắn bó với Mẹ- rộng hơn là với Đất Mẹ, Hoàng Thổ. Vấn đề là, nếu ai biết cách, hơn thế- chân thành thủy chung với Đất Mẹ, như thần Ăng- tê của thần thoại Phương Tây gắn với Đất Mẹ, thì sẽ có cơ đạt tới mục tiêu sớm nhất, và chắc chắn nhất… Tới bài thơ Mùa Tứ quý, Mẹ đã hoàn toàn trở thành Phật, và tiếp tục hát những bài ca cổ vũ sự sống cùng những vẻ đẹp cần nâng niu gìn giữ ở thế gian…

Trong thơ ca xưa nay, thật hiếm có những bài thơ nào viết về Mẹ một cách vừa biến ảo khôn lường vừa chân cảm đến ứa lệ như ba bài thơ trên!

Nguyễn Anh Tuấn (Đạo diễn điện ảnh)
Nguồn vandanviet.net
Nguyennguyenbay.com copy


Filed under: Thơ, Văn Hóa Tagged: Thơ, Văn Hóa

2 ngư dân bị tàu lạ bắn trọng thương

Posted: 19 May 2011 01:58 PM PDT

– Khi đang đánh cá trên vùng biển Trường Sa, hai ngư dân Quảng Ngãi đã bị một tàu nước ngoài bắn trọng thương…

Chiều 19/5, Nguyễn Thanh Hùng – Phó Chủ tịch UBND xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi cho biết xã đã tiến hành kiểm tra và báo cáo vụ việc lên huyện về trường hợp thông tin hai ngư dân khi đang đánh bắt trên vùng biển Trường Sa đã bị bắn trọng thương.

Ông Hùng cho biết, thông tin từ người nhà của hai thuyền viên cho biết, 2 ngư dân đi trên tàu mang số hiệu QNg 90360 TS là Nguyễn Tấn Luận (thuyền trưởng) và Nguyễn Tư (ở thôn Châu Thuận) bị hải quân nước ngoài bắn trọng thương.

Theo chị Nguyễn Thị Sáu (SN 1989) vợ anh Nguyễn Tấn Luận báo cáo vụ việc với chính quyền địa phương, thì chị nhân được thông tin do một ngư dân cùng đi với chồng gọi Icom về. Theo người này, vụ việc xảy ra lúc 18 giờ ngày 16/5.

Tuy nhiên, theo lời ông Hùng, tính đến thời điểm này, chưa thể xác định là người bắn, chỉ biết rằng hung thủ là một nhóm người có vũ trang (chưa xác định người nước nào).

Hiện các cơ quan chức năng ở Quảng Ngãi đang xác minh và làm rõ trường hợp hai ngư dân bị bắn để báo cáo Chính phủ và Bộ Ngoại giao can thiệp, xử lý.

Trong một vụ việc khác, theo người nhà của chủ tàu QNg-92308 do ông Lê Minh Hùng, xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), vào rạng sáng 19/5, tàu cá trên đang đánh bắt trên vùng biển Hoàng Sa thì bất ngờ chết máy do gãy trục láp của máy nổ nên bị trôi tự do.

Hiện trên tàu có 10 ngư dân. Ngay sau khi gặp nạn, các thuyền viên trên tàu QNg-92308 đã liên lạc với các tàu bạn đang đánh bắt trong khu vực tìm biện pháp giúp đỡ.

Tuy nhiên, do không có phụ tùng thay thế nên các thuyền viên trên tàu đã điện về đất liền cho người nhà qua hệ thống ICOM để đề nghị lực lượng cứu hộ, cứu nạn giúp.

Lực lượng tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ tỉnh Quảng Ngãi đã liên lạc với tàu bị nạn, đồng thời yêu cầu các tàu đánh bắt trong khu vực tìm biện pháp giúp đỡ, cứu các ngư dân trên tàu bị nạn.

Trong trường hợp, nếu không khắc phục được, trung tâm tìm kiếm cứu nạn cứu hộ sẽ yêu cầu tàu đánh bắt trong khu vực tiếp cận tàu bị nạn để lai dắt về đất liền.

“Hiện thông tin từ đất liền với tàu bị nạn vẫn được thông suốt” – một quan chức của UBND tỉnh Quảng Ngãi cho biết.

Vũ Trung


Filed under: Biển Đông Tagged: Biền Đông

Thắng lợi ngoại giao của Việt Nam?

Posted: 19 May 2011 01:57 PM PDT

BBC

Lãnh đạo Asean tại hội nghị thượng đỉnh Jakarta

Tin cho hay một văn bản quan trọng về chủ đề Biển Đông của khối Asean đã phải thay đổi sau khi có phản đối của Việt Nam.

Một nguồn tin ngoại giao cho hãng thông tấn Nhật Bản Kyodo biết đương kim chủ tịch khối các quốc gia Đông Nam Á là Indonesia đã sửa đổi câu chữ về tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông trong Thông cáo của Chủ tịch Asean.

Thông cáo này được đưa ra vào cuối hội nghị thượng đỉnh Asean tổ chức tại Jakarta từ 07/05-08/05.

Trước đó, trong đoạn thông cáo, lãnh đạo 10 quốc gia Asean được nói đã “thống nhất rằng các bất đồng về lãnh thổ và luật pháp tốt nhất phải được giải quyết song phương hoặc giữa các bên liên quan”.

Thế nhưng tới ngày 11/05, Indonesia đã xóa câu này và sau đó đăng phiên bản mới của thông cáo trên website của Ban Thư ký Asean.

Việt Nam lâu nay vẫn duy trì cách tiếp cận đa phương trong tranh chấp lãnh thổ, cho rằng một số cường quốc có thể lợi dụng quan hệ song phương cho các toan tính riêng theo kiểu “bẻ từng chiếc đũa”.

Ngược lại, Trung Quốc, với tư cách nước lớn, trên các diễn đàn quốc tế thường cổ súy cho cách giải quyết song phương.

‘Lỗi chính tả’

Ông Djauhari Oratmangun, phụ trách hợp tác Asean tại Bộ Ngoại giao Indonesia, nói với hãng Kyodo rằng văn bản chỉ sửa đổi đôi lỗi chính tả và từ ngữ, chứ không phải về nội dung.

Tuy nhiên, một nguồn ngoại giao khác thì nói cả một câu đã bị xóa đi sau khi bị Việt Nam phản đối vì muốn có sự tham gia của cả các quốc gia Asean không trực tiếp đòi hỏi chủ quyền Biển Đông.

Khác biệt trong quan điểm về Tuyên bố chung về cách ứng xử tại Biển Đông (DOC) vẫn tồn tại giữa các nước Asean và Trung Quốc cho dù hai bên đã ký văn bản này từ 2002.

Một nhóm công tác của Asean về Biển Đông hiện đang soạn thảo quy định hướng dẫn thực hiện DOC với giải pháp ngoại giao cho tranh chấp lãnh thổ.

Ba nước Việt Nam, Malaysia và Philippines muốn thêm vào một câu quan trọng, rằng Asean “sẽ tiếp tục thông lệ tham vấn lẫn nhau trước khi làm việc với Trung Quốc”.

Thế nhưng Bắc Kinh phản đối điều này vì muốn thương lượng song phương để có thể ảnh hưởng nhiều hơn tới các đối tác nhỏ.

Trung Quốc, Đài Loan và các thành viên Asean là Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam đang tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông.

Giới phân tích nhận định Trung Quốc đang muốn tận dụng ưu thế của quốc gia bạn hàng thương mại-kinh doanh hàng đầu với Asean để tranh thủ các nước thành viên không trực tiếp tham gia tranh chấp Biển Đông như Thái Lan, Campuchia hay Indonesia.

Từ 2009, Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn nhất của cả khối Asean, chiếm tới 11,6% lượng xuất nhập khẩu của khu vực này.


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

Trung Quốc đang vi phạm chủ quyền của Việt Nam

Posted: 19 May 2011 01:57 PM PDT

Đại diện Bộ Ngoại giao nêu rõ Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của VN với Hoàng Sa, Trường Sa, vi phạm quyền tài phán của Việt Nam.
Theo Vụ thông tin báo chí, Bộ Ngoại giao, Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.
Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân xã đảo Song Tử Tây xem danh sách bầu cử
Mới đây, Cục Hải dương Nhà nước Trung Quốc đã công bố "Báo cáo phát triển hải dương Trung Quốc năm 2011", trong đó tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông và 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, in một số bản đồ có vẽ "đường lưỡi bò" ở Biển Đông, nêu kế hoạch triển khai tự thăm dò, khai thác dầu khí ở khu vực quần đảo Trường Sa và mở tuyến du lịch ra quần đảo Hoàng Sa; đồng thời ngày 16/5/2011, Tân Hoa Xã đưa tin Công ty ChinaMobile tuyên bố đã mở rộng cung cấp dịch vụ điện thoại di động tại khu vực quần đảo Trường Sa.

Về vấn đề này, Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu rõ việc làm nêu trên của phía Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này, vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Đại diện Bộ Ngoại giao khẳng định mọi hoạt động của các nước khác bao gồm việc công bố các báo cáo, ban hành các văn bản pháp lý liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà không được Việt Nam chấp thuận đều không có giá trị pháp lý.

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, coi trọng quan hệ hai nước, tăng cường xây dựng lòng tin, không nên có những hành động làm phức tạp thêm tình hình trên biển.

TheoTTXVN/Vietnam+


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

Thông tấn xã VN ‘bác bỏ tin sai’ về Mường Nhé

Posted: 19 May 2011 10:03 AM PDT

BBC

Trực thăng đáp xuống Mường Nhé đầu tháng 5/2011

Trong một diễn biến ít khi xảy ra, hãng thông tấn nhà nước Việt Nam lên tiếng bác bỏ điều mà họ gọi là “tin sai trái về tình hình Mường Nhé”.

Báo đài hải ngoại thời gian gần đây đưa khá nhiều thông tin liên quan tới vụ bất ổn của người Hmong xảy ra hồi đầu tháng tại xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

Hôm thứ Tư 18/05, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) trong bản tin chính thức “tuyên bố hoàn toàn bác bỏ những thông tin sai sự thật do một số hãng thông tấn và cơ quan truyền thông nước ngoài liên tiếp đưa ra trong các ngày gần đây về cái gọi là "bạo động" của người Mông tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên”.

TTXVN cũng bác bỏ việc các hãng nước ngoài loan tin rằng chính quyền đã sử dụng vũ lực để giải tán bạo động, nhiều người bị bắt và có người thiệt mạng.

Trong vụ bất ổn có yếu tố sắc tộc xảy ra tại Mường Nhé từ 30/04 và kéo dài khoảng một tuần, hàng nghìn người Hmong theo Tin Lành đã tụ tập tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè để “đợi Chúa trời xuất hiện”.

TTXVN nói đây là việc “một số phần tử cực đoan đã dùng nhiều thủ đoạn kích động, lừa mỵ (…) nhằm lôi kéo, cưỡng bức hàng ngàn đồng bào dân tộc Mông từ nhiều nơi (…) để thực hiện âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”.

Việc hãng thông tấn nhà nước lên tiếng phản bác thông tin của nước ngoài là điều ít khi xảy ra, vì thông thường đây là công việc của Bộ Ngoại giao hay Chính phủ.

Trong quá khứ, thời kỳ Chiến tranh lạnh, hãng thông tấn nhà nước Xô viết từng đóng vai trò phát ngôn cho chính quyền.

Không cản trở

Theo một số đánh giá, vụ Mường Nhé là vụ bất ổn có yếu tố sắc tộc với quy mô lớn nhất từ khi có biểu tình của người Thượng ở Tây Nguyên năm 2004.

Phó Thủ tướng Việt Nam Trương Vĩnh Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Tây Bắc của Chính phủ, đã có mặt ở nơi xảy ra bạo động của người Hmong để giải quyết tình hình.

TTXVN nói kẻ xấu “đã tiến hành các hoạt động quá khích như tổ chức người canh gác, hình thành vùng quản lý riêng, ngăn cản hoạt động đi lại, sinh hoạt bình thường của người dân trong khu vực, hoạt động của cán bộ chính quyền địa phương, khống chế người thi hành công vụ và đưa ra những điều kiện, yêu sách trái pháp luật”.

Hãng này tuyên bố “chính quyền địa phương bằng các biện pháp tuyên truyền, thuyết phục, không sử dụng vũ lực, đã tổ chức các đội công tác của các đoàn thể quần chúng, vận động đồng bào không nghe theo kẻ xấu, tự nguyện trở về nơi cư trú”.

“Không có ai bị thương, bị chết. Một số rất ít đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật đã bị cơ quan chức năng tạm giữ để giáo dục.”

Một số nguồn tin nói con số người bị bắt là 130 và các hãng thông tấn nước ngoài đặt tại Hà Nội cho hay yêu cầu được cấp phép lên công tác Điện Biên của họ không được chính quyền chấp nhận.

Tuy nhiên, theo TTXVN, “Chính quyền huyện Mường Nhé và tỉnh Điện Biên không cản trở bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào muốn đến địa phương để tìm hiểu sự việc một cách khách quan, theo đúng quy định của pháp luật”.


Filed under: Các vấn đề xã hội Tagged: Các vấn đề xã hội

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ

Posted: 18 May 2011 04:06 PM PDT

 
Chào các bạn,

Hôm này mình xin được đến giới thiệu đến các bạn nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ, người thường được các bạn bè nước ngoài gọi là “Beethoven Việt Nam”, qua một bài viết trên trang web “Thăng Long – Hà Nội”, một video Người Hà Nội, và bản Dạ Khúc của ông qua ba giọng ca khác nhau–Mai Hương, Lệ Thu, Trần Thái Hòa.

Chúc các bạn một ngày vui.

Trần Can

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ – Cây vĩ cầm lặng lẽ

|
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ. (Ảnh: TT&VH)

Nguyễn Quang Bích ở Hà Nội là một con phố đẹp và yên tĩnh, với những mái nhà xưa cũ nhấp nhô phủ bóng lên nhau.

Trong một căn nhà cổ trên con phố này là nơi sinh sống của nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ, người từ lâu lắm rồi đã được gọi bằng danh xưng đầy yêu mến: "Beethoven của Việt Nam."

Gia đình ông có mặt đã bao nhiêu đời ở Hà Nội, chính ông cũng không biết nữa. Hiện ông sống thanh thản bằng lương hưu của một nhà giáo và chút tiền kiếm được từ bản quyền âm nhạc.

Gia sản đặc biệt nhất của ông là chín bản sonate viết cho violon và piano. Ông chỉ soạn cho vĩ cầm và dương cầm. Ông coi vĩ cầm là vua của các loại nhạc cụ, có khả năng diễn đạt được những tình cảm thiết tha nhất, sôi nổi nhất. Trong các sonate của mình, ông để cho vĩ cầm và dương cầm đối thoại với nhau, cùng trò chuyện, thúc đẩy cho tác phẩm phát triển.

Cuối năm qua, Đại sứ quán Thụy Sỹ tại Hà Nội đã vinh danh ông bằng Giải thưởng Văn hóa di sản Patrimoenia 2009. Một người nước ngoài khi vô tình nghe bản Sonate số 8 của ông đã rất thích và giới thiệu cho ngài Đại sứ Thụy Sỹ. Không ngờ ngài Đại sứ cũng mê bản sonate số 8 và có ý muốn nghe hết chín tác phẩm của ông. Sau khi giới thiệu các tác phẩm này với các nhạc viện, nhạc sĩ của Thụy Sỹ, một buổi lễ trang trọng đã được tổ chức để tôn vinh ông tại Hà Nội.

Ông đã dành toàn bộ số tiền giải thưởng đó cho các trẻ em nghèo và tàn tật tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, vì cuộc sống của ông không có nhiều nhu cầu, con cái trong gia đình đều đã thành đạt, trong khi còn nhiều trẻ em đang thiếu thốn, vẫn phải sống trong vất vả.

Cụm từ "Beethoven của Việt Nam" khởi đầu là do những người ở Đại sứ quán Pháp gọi ông. Với sonate, tuy chỉ soạn chín bản nhưng ông lại nhận được sự đánh giá cao với hầu hết các tác phẩm của mình. Bà B.Fournier – từng là Chủ tịch của nhiều kỳ thi âm nhạc quốc tế tại châu Âu thích bản Sonate số 6, nghệ sĩ Isabelle Durin – cây violon số 1 của Dàn nhạc Giao hưởng quốc gia Ile-de-France thích bản Sonate số 7 và số 9, Giáo sư Ngô Văn Thành – Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia lại thích bản Sonate số 4… Với Hội Nhạc sĩ Việt Nam, ông đã được đánh giá rất cao hai tác phẩm Sonate số 4 và số 8.

Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân nhận xét: "Nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ là tấm gương về lao động sáng tạo, là tấm gương về tình yêu với nghệ thuật âm nhạc. Ông là một Nghệ Sĩ Lớn với nghĩa viết hoa. Giới nghệ sĩ Việt Nam ghi nhận cống hiến của ông suốt đời vì âm nhạc dân tộc."

Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha nhận xét: "Với tư cách là một chứng nhân, bằng tác phẩm của mình, ông đã cất lên tự đáy lòng chân thật nỗi dằn vặt của một thời, nỗi dằn vặt của dân tộc và cả nhân loại. Và vì thế, nó cứ lan tỏa mãi trong thế giới loài người."

Giáo sư Ngô Văn Thành – Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam nhận xét: "Nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ là người tài năng. Các tác phẩm của ông luôn được thể hiện trong một mạch cảm xúc mãnh liệt, tuy được viết theo cấu trúc âm nhạc Tây phương nhưng lại thể hiện một tâm hồn rất Việt Nam, bằng ngôn ngữ âm nhạc rất riêng."

Trong buổi tôn vinh ông của Sứ quán Thụy Sĩ, một thính giả có tên Aymeric Bes đã nhận xét: "Nhạc của ông cũng như thơ, duyên dáng, nhẹ nhàng mà sâu lắng, hiện đại mà lại thuộc về mọi thời đại. Cảm ơn về sự chia sẻ của biết bao nhiêu là tài năng."

Đáng lưu ý rằng, ông không được đào tạo một cách bài bản chính quy và cũng không có điều kiện tốt để sáng tác một cách chuyên nghiệp.

Nhà soạn nhạc cổ điển Nguyễn Văn Quỳ nói: "Tôi nghĩ con người khi sinh ra trước hết phải biết sống có tình cảm và tình cảm đó phải là trong sáng. Có được sự trong sáng ở tâm hồn thì mới làm chủ được trí tuệ. Từ đó mới xây dựng được sự nghiệp cho đồng loại, tổ quốc và chính bản thân. Tôi cũng đề cao nhạc buồn bởi nếu không biết buồn thì làm sao biết yêu thương? Schubert có một câu mà tôi rất tâm đắc: "Có thể có âm nhạc hay mà không thể buồn được chăng?" Chính vì thế, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các sonate của tôi luôn hội tụ ba yếu tố tình cảm, trong sáng và trí tuệ."

Khi năm cánh quân về tiếp quản thủ đô, nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ là người sáng tác bài "Hoan hô quân đội giải phóng thủ đô," "Hà Nội giải phóng" và được yêu cầu góp phần tổ chức sáng tác, huấn luyện học sinh nội thành biểu diễn phục vụ ngày 10/10/1954.

Ông yêu Hà Nội từ ngày được sinh ra tới tận bây giờ. Khi được tiếp xúc với ông, ở con người này toát ra phong thái lịch thiệp của một người Hà Nội đích thực. Ông khuyên nhủ chúng tôi rằng, "ở đời nên sống lặng lẽ mà làm cho tốt."

Nếu cần một hình ảnh để so sánh về ông, chúng tôi xin chọn cụm từ: "cây vĩ cầm lặng lẽ"./.

(TT&VH/Vietnam+)

 


 
Xin click vào các links dưới đây để nghe Dạ Khúc

Mai Hương

Lệ Thu

Trần Thái Hòa


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Hồi hộp và thúc bách làm… bậy

Posted: 18 May 2011 04:04 PM PDT

Chào các bạn,

Sau khi quân thám kích Mỹ tấn công Bin Laden và mang về một số đĩa và memories vi tính, chính phủ Mỹ thông tin ra ngoài đủ mọi thứ tìm được trong các đĩa và memories đó. Nhiều người phát ngôn trên TV hỏi tại sao chính phủ không giữ bí mật các thông tin đó mà nói ra lung tung vậy. Một số cựu nhân viên và phân tích gia tình báo trả lời là làm như vậy để cho Al Qaeda hồi hộp. Al Qaeda sẽ nghĩ là Mỹ có rất nhiều thông tin về họ, nhưng không biết các thông tin đó là gì, cho nên sẽ hồi hộp, và vì hồi hộp sẽ làm chuyện stupid, và sẽ bị lộ diện. Còn nằm yên êm ru bà rù thì rất khó tìm.

Đây là bài học lớn cho chúng ta: Hồi hộp có khuynh hướng thúc đẩy chúng ta làm chuyện dốt không nên làm.

Khi hồi hộp chúng ta có cảm tưởng ta không nắm vững được tình thế, không kiểm soát được mọi sự đang xảy ra, cho nên phản ứng tự nhiên là "làm cái gì đó", vì "làm cái gì đó" cho ta cảm giác là ta nắm được tình thế, kiếm soát được chuyện đang xảy ra, ít nhất là chuyện ta đang làm. Nhưng đương nhiên là "làm cái gì đó" khi hồi hộp thường là stupid, vì nhu cầu thúc bách làm là nhu cầu tâm lý do hồi hộp đẻ ra, chứ không phải nhu cầu thật của công việc.

Chúng ta gặp hồi hộp rất thường xuyên, trong liên hệ tình ái hay vợ chồng, trong các liên hệ trong sở làm, trong các liên hệ với bè bạn, trong các cạnh tranh trên thương trường, trong các nghi ngờ về ai đó… Và khi hồi hộp, ta thường bị thúc bách làm gì đó, do something—gọi điện thoại thử xem, theo dõi hắn, chửi hắn, gọi đến dọa cho hắn sợ, dọa tự tử, đâm đơn ly dị…

Cho nên khi bạn hồi hộp, cần nhớ lại rằng cảm giác thúc bách phải làm gì đó chỉ là cảm giác bệnh hoạn từ hồi hộp mà ra. Phản ứng duy nhất mà bạn nên có lúc đó là: Tôi không làm gì cả khi còn hồi hộp.

Rồi cố gắng thoải mái, tĩnh lặng, an lạc trở lại. Cho đến khi nào bạn cảm thấy thực sự rất tĩnh lặng an lạc rồi tính làm gì thì tính.

Nhưng có lẽ là đã được an lạc rồi thì bạn lại chẳng thấy có nhu cầu làm gì cả.

Chúc các bạn một ngày an lạc.

Mến,

Hoành


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

“Bầy sâu” và nỗi niềm của người lãnh đạo

Posted: 18 May 2011 04:03 PM PDT

Nhưng những con sâu- như ông đã trầm ngâm và xấu hổ thốt lên, thì DDT sẽ phải là loại biệt dược gì?… Đương nhiên không thể khác, thuốc DDT đặc trị- chính là 1 thiết chế quản lý xã hội văn minh, tiên tiến, hợp quy luật và vì lợi ích dân tộc.

Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang

Mới đây, 1 bài viết trên VietNamNet khiến dư luận cả xã hội xôn xao: “Một con sâu đã nguy hiểm huống gì một bầy”. Xôn xao, vì  đó là câu phát ngôn cực kỳ ấn tượng, và hay nhất của ông Trương Tấn Sang, Thường trực Ban Bí thư trong cuộc tiếp xúc với cử tri Quận 1 (TP. HCM).

“Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ cái đất nước này

Đọc kỹ, người viết bài này đã lặng đi hồi lâu.

Xin cảm ơn ông Trương Tấn Sang đã hiểu, và chia sẻ với nỗi đau của nhân dân.

Nhân dân phát ngôn, thì rất có thể “danh chính đấy, ngôn thuận đấy” nhưng vẫn bị coi là “nghịch nhĩ”, cho dù từ lâu, nhân dân đã nhìn thấy nhiều sâu.

Còn ông, một chính khách cao cấp, một người trong cuộc đứng trên muôn người- “danh có chính, ngôn mới thuận”.

Đương nhiên, có sâu thì phải có thuôc trừ sâu DDT. Nhân dân ngàn đời nay- chồng cầy vợ cấy con trâu đi bừa- vẫn làm như thế.

Nhưng những con sâu- như ông đã trầm ngâm và xấu hổ thốt lên, thì DDT sẽ phải là loại biệt dược gì? Để có thể diệt trừ được, nhất là sâu tham nhũng, loại sâu quốc nạn. Làm đất nước suy vi. Làm nhân dân mất niềm tin. Làm kẻ thù hí hửng. Làm vị thế dân tộc yếu đi trong con mắt quốc tế. Họa của quốc gia chưa đến từ bên ngoài, mà rất có thể nảy nòi từ bên trong, bắt đầu từ loại sâu này.

Đương nhiên không thể khác, thuốc DDT đặc trị- chính là 1 thiết chế quản lý xã hội văn minh, tiên tiến, hợp quy luật và vì lợi ích dân tộc. Nhiều người vẫn hoài nghi về loại thuốc đặc trị đã có chưa, nhưng cũng không ít người nhen nhóm niềm hy vọng, khi ông nhấn mạnh: “Mục tiêu trước mắt là sửa đổi cơ chế, thể chế và tổ chức chỉ đạo”.

Một sự sửa đổi cơ chế hay đổi mới tiếp tục- là nhu cầu tự thân, là tiếng gọi thiết tha của dân tộc, của sự phát triển. Nhưng sự sửa đổi đó, phụ thuộc lớn vào tầm tư duy chiến lựơc, vào cái tâm và bản lĩnh của bộ máy lãnh đạo đất nước. Đổi mới theo phương cách nào là sự chọn lựa tài ba hay không, nhưng cuối cùng hành pháp vẫn phải ra hành pháp, lập pháp phải ra lập pháp, tư pháp phải ra tư pháp.

Lịch sử của mọi quốc gia trên thế giới không có chỗ cho chữ “giá như”, mà lịch sử chỉ có chỗ cho chữ “trả giá”. Nếu thất bại chỉ dân tộc là thiệt thòi, và nhân dân lãnh đủ. Nếu thành công, dân tộc ấy có cơ phát triển và thăng hoa.

Dân tộc Việt Nam đã trả giá, và chấp nhận trả giá đắt trong quá khứ chiến tranh chống xâm lược, để có một nền độc lập, tự do vô giá. Nhưng trong thời hội nhập, chúng ta phải trả giá đắt bằng biết bao tiền thuế của dân, lại là vị đắng của sự non kém.

Vì lẽ đó, nhân dân đang trông đợi vào sự sửa đổi vĩ đại như ông, thay mặt cho các đồng chí, đồng sự đã cam kết trước các cử tri, cũng là trước nhân dân. Một chữ Đợi, xin đừng để quá lâu, đừng để  như ý tứ ca từ Đợi thiết tha của nhạc sĩ Huy Thục: “Đợi một ngày, đất lạ thành quen. Đợi một đời anh quen thành lạ!”. Xin đừng để một đời…


‘Một con sâu đã nguy hiểm huống gì một bầy’

Cập nhật lúc 07/05/2011 04:24:05 PM (GMT+7)

-Tiếp xúc với cử tri quận 1 (TP.HCM) với tư cách ứng viên ĐBQH sáng 7/5, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang phát biểu: So với mục tiêu ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, chúng ta làm chưa tới, chưa thành công…

Cùng bảng với ông Trương Tấn Sang còn có Phó đoàn ĐBQH thành phố Trần Du Lịch, GĐ công ty cổ phần thương mại dịch vụ tư vấn đầu tư doanh thương Mỹ Á Hoàng Hữu Phước, Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Nguyễn Đăng Trừng và Phó TGĐ công ty TNHH phần mềm FPT Phạm Minh Tuấn.

Cử tri cho rằng ứng viên nếu trúng cử nên tích cực lên tiếng bảo vệ quyền lợi người dân. Ảnh: Cổng TTĐT Chính phủ

Buổi tiếp xúc “nóng” lên sau phần trình bày chương trình hành động của các ứng cử viên. 16 phát biểu tâp trung vào các vấn đời sống dân sinh, hạ tầng đô thị; tình trạng lạm phát, giá tăng ảnh hưởng tới đời sống cán bộ hưu trí, người làm công ăn lương; hiệu quả của công tác phòng chống tham nhũng; hiệu quả đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn…

Không loại trừ bất cứ thay đổi nào

Các cử tri Đặng Tất Niên và Nguyễn Thanh Long (phường Bến Nghé) cho rằng các ứng cử viên nếu trúng cử nên tích cực lên tiếng bảo vệ quyền lợi người dân, đề nghị họ có giải pháp cụ thể để thực hiện chương trình hành động, báo cáo kết quả thực hiện, tránh tình trạng hứa nhưng không làm hoặc làm chưa tới nơi tới chốn.

Thay mặt 5 ứng cử viên, ông Trương Tấn Sang nói: “Các ý kiến của cử tri phản ánh sự mong mỏi, đòi hỏi hết sức lớn đối với các ứng cử viên ĐBQH khóa XIII. Chúng tôi hiểu tình cảm, nguyện vọng đó là chính đáng…”.

“QH khóa XIII sẽ có những chương trình, quyết sách lớn để đưa nghị quyết Đại hội Đảng XI vào cuộc sống. Tôi tin chắc chắn sẽ có bước tiến quan trọng. Chúng tôi rất xúc động và cũng cảm thấy xấu hổ vì mình chưa làm được gì nhiều so với sự mong đợi của người dân…”, ông Sang nói.

Cử tri Lê Thanh Bình (phường Bến Nghé) và Võ Ngọc Yến (phường Đa Kao) cho rằng tình trạng tham nhũng hiện nay rất nghiêm trọng, Đảng, Chính phủ và QH cần quyết liệt hơn nữa trong chống tham nhũng…

Ông Trương Tấn Sang cũng đồng tình rằng những năm qua chúng ta đã làm được một số việc, nhưng so với mục tiêu, yêu cầu là ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng thì vẫn chưa thành công.

Ông nhấn mạnh mục tiêu trước mắt là sửa đổi cơ chế, thể chế và tổ chức chỉ đạo: “Mục tiêu không thay đổi nhưng cơ chế, chính sách, tổ chức, chỉ đạo dẫn tới kết quả không tốt thì phải sửa, nhất quyết phải sửa. Điều đó là tự nhiên thôi, từ cấp trung ương đến địa phương”.

Ông khẳng định với cử tri sẽ không loại trừ bất cứ sự thay đổi nào, rà soát tất cả các khâu, thể chế nào, tổ chức nào, con người nào chưa đáp ứng được mục tiêu đẩy lùi tham nhũng, lãng phí đều phải thay đổi.

“Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ cái đất nước này”, ông Sang nói.

Trước băn khoăn của cử tri về đời sống dân sinh, Thường trực Ban Bí thư cho rằng kinh tế tăng trưởng nhưng lạm phát cao, đời sống người làm công ăn lương, người nghèo trong xã hội hết sức khó khăn. Ưu tiên lớn nhất của năm nay, trong những tháng đầu năm, là ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu, giảm bội chi, tăng hiệu quả đầu tư công… Có vậy đời sống nhân dân mới được cải thiện.

Thái Thiện

Chương trình Sáng kiến Phòng chống tham nhũng Việt Nam (VACI) 2011 với chủ đề: "Tăng cường liêm chính công và thực thi pháp luật góp phần phòng chống tham nhũng hiệu quả" sẽ hỗ trợ kinh phí trực tiếp ít nhất 20 ý tưởng khả thi nhằm phòng chống tham nhũng theo chủ đề trên để thực hiện, mỗi khoản tài trợ lên tới 290 triệu đồng.

Tất cả cơ quan nhà nước, các tổ chức, đoàn thể ở cấp địa phương đều có thể gửi đề án tham gia chương trình. Vòng chung kết cuộc thi và diễn đàn Trao đổi tri thức – hai hoạt động chính của chương trình – sẽ được tổ chức ngày 18-19/8/2011 tại Hà Nội.

VACI do Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng Thế giới và các nhà đồng tài trợ: Chương trình Viện trợ phát triển Australia (AusAID), Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID-UK), Đại sứ quán Bỉ, Đại sứ quán Phần Lan và Đại sứ quán Thụy Điển tổ chức để hỗ trợ các ý tưởng sáng tạo nhằm giảm thiểu tham nhũng, tăng cường minh bạch, mang tới môi trường sống tốt đẹp hơn cho mọi người.


Filed under: Phát triển chính trị, Trà Đàm Tagged: Phát triển chính trị

Đình công ngày càng nhiều vì kinh tế khó khăn

Posted: 18 May 2011 04:02 PM PDT

BBC

Một cuộc đình công của doanh nghiệp có vốn nước ngoài

Giới chức cho hay lạm phát cao và điều kiện làm việc nặng nhọc khiến các cuộc đình công xảy ra ngày càng nhiều ở trong nước.

Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết chỉ trong quý đầu năm nay, trên toàn quốc xảy ra tới 220 cuộc đình công, chủ yếu tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Nhìn vào con số thống kê, người ta có thể thấy liên hệ giữa tình hình kinh tế với các cuộc đình công.

Một cuộc hội thảo được giới chức ngành lao động tổ chức tuần rồi nhằm lấy ý kiến góp ý sửa đổi Luật Lao động hiện hành cho hay con số các vụ đình công năm 2008 là 603, năm 2009 giảm đáng kể xuống còn 219 vụ nhưng năm 2010 tăng lên 424 vụ.

Những người tham gia hội thảo đánh giá “tình trạng đình công, bãi công đang có diễn biến đáng quan ngại”.

Ông Mai Đức Chính, Phó Tổng liên đoàn, được trang tin Kinh tế Việt Nam dẫn lời nói một trong những nguyên nhân chính là do mức lương “chưa thỏa đáng”.

Ông Chính nói: “Mức lương công nhân làm việc tại các nhà máy, doanh nghiệp – nhất là ở các doanh nghiệp dệt may – hiện chưa thỏa đáng và mới đáp ứng 60% nhu cầu cuộc sống tối thiểu của người công nhân”.

Thiệt hại lớn

Được biết 80% số vụ đình công bắt nguồn từ vấn đề lương bổng và chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp da dày, may mặc.

Định mức lao động quá cao cũng là một lý do khác làm xảy ra đình công.

Trong khi đó, Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội Phạm Minh Huân cũng được dẫn lời nêu một nguyên nhân khác, là giữa người lao động và doanh nghiệp “chưa có sự trao đổi thông tin một cách dân chủ”.

Các cuộc đình công xảy ra với sự tham gia của ngày càng nhiều công nhân, có cuộc thu hút hàng chục nghìn người và kéo dài nhiều ngày.

Ảnh hưởng của đình công, bãi công tới hoạt động của các công ty vô cùng to lớn, có những cuộc gây thiệt hại hàng chục triệu đôla cho doanh nghiệp.

Chính phủ Việt Nam mới đây đã giảm mục tiêu tăng trưởng GDP cho cả năm 2011 xuống 6,5%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đặt ra trước đó là 75-7,5%.

Giới chức nói trọng tâm hiện nay là kiềm chế lạm phát. Chính phủ tuyên bố cố gắng giữ lạm phát năm 2011 ở mức tương đương với 2010, tức là 11,75%.


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Kiều hối về Việt Nam giảm

Posted: 18 May 2011 04:01 PM PDT

BBC

Đôla Mỹ
Giới chuyên gia đánh giá lượng kiều hối sẽ tăng trong nửa sau năm nay

Tình hình kinh tế thế giới khó khăn và những bất ổn gần đây được biết đã khiến cho lượng kiều hối gửi về Tp HCM giảm trong mấy tháng đầu năm 2011.

Báo Đầu tư trích số liệu từ Ngân hàng nhà nước Việt Nam cho biết lượng kiều hối gửi về Tp HCM trong tháng 4/2011 là 367.6 triệu USD, giảm 19.6% so với tháng Ba.

Lượng kiều hối chuyển về trong tháng Hai cũng giảm 17.6% so với tháng Một năm nay.

Khủng hoảng tài chính thế giới cùng với tình trạng lao động xuất khẩu Việt Nam về nước ồ ạt trước thời hạn – như đợt 10 ngàn công nhân VN về nước để tránh cuộc chiến tại Libya đầu năm nay – là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kiều hối giảm, theo báo Đầu Tư.

Một số ngân hàng thì nhận định tỉ lệ lãi suất cho đôla sụt giảm, hiện chỉ ở mức 3% so với mức 5-6% hồi đầu năm, cũng là nguyên nhân gây nên tình trạng trên.

Tuy nhiên, một số chuyên gia nhận định tình trạng sụt giảm này chỉ là tạm thời, và lượng kiều hối sẽ tăng trong nửa sau của năm 2011.

Được biết trong năm 2010, lượng kiều hối gửi về Việt Nam là hơn 8 tỉ USD, tăng 25.6% so với năm 2009.

Báo Đầu Tư trích dẫn phúc trình về kiều hối và di trú toàn cầu của Ngân hàng Thế giới cho biết Việt Nam là nước đứng thứ 16 trên 30 quốc gia có lượng kiều hối chuyển về nhiều nhất.

Phúc trình này dự báo lượng kiều hối trong năm 2011 sẽ tăng thêm 6.2%.

Số liệu chính thức cho thấy hiện có khoảng bốn triệu người Việt đang định cư tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

No comments:

Post a Comment