Đọt Chuối Non |
- Nghệ thuật Brazil: Berimbau – Capoeira – Baden Powell
- Bỏ các thói xấu về ăn nói
- Các diễn văn làm thay đổi thế giới – “Một ngày ô nhục sẽ sống mãi” – Diễn văn Trân Châu Cảng của Roosevelt
- Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam
- Một số nhân sĩ gửi kiến nghị bảo vệ và phát triển đất nước
- Ngư dân Quảng Ngãi lại bị TQ tịch thu tài sản
- Les Feuilles Mortes
- Khởi sự
- Thơ Thái Việt Nam và việc dịch sang ngôn ngữ phổ thông
- Loài hoa yêu thích
- TQ kiên quyết chỉ đàm phán song phương
- Mumbai rung chuyển vì các vụ nổ
| Nghệ thuật Brazil: Berimbau – Capoeira – Baden Powell Posted: 14 Jul 2011 01:08 PM PDT
Chào các bạn, 3 đàn berimbau Berimbau là một loại đàn gáo một dây của Brazil, gồm: - một gáo như gáo dừa, gọi là Cabaça, làm từ một loại trái cây gọi là calabaça. - một cần đàn, hình cánh cung, gọi là Verga. - một dây đàn bằng kẽm, gọi là Arame. - một hòn đá tròn gọi là Pedra hay Dobrão, mà nghệ sĩ cầm ở tay trái, ấn vào dây đàn để thay đổi âm thanh. - một que nhỏ để đánh đàn, gọi là Baqueta, mà nghệ sĩ cầm ở tay phải. - một dụng cụ xóc để tạo âm thanh, cũng cầm ở tay phải, gọi là Caxixí. Đàn này còn là một nhạc cụ gõ, vừa tạo âm thanh từ dây đàn vừa tạo các nhịp xóc từ caxixí. Capoeira là một nghệ thuật của Brazil trộn lẫn dancing, võ thuật, âm nhạc của đàn Berimbau, và các loại nhạc cụ gõ như trống conga, tambourine… Một trộn lẫn rất sống động, đẹp mắt và thực tiễn. Caxixi, baqueta, và dobrão Dưới đây chúng ta có 3 videos. 1. Nghệ thuật vũ Capoeira với đàn berimbau, trống conga và tambourine. 2. Đấu võ Capoeira cũng nhạc đàn berimbau và các loại trống. 3. Nhạc sĩ guitar Baden Powell dùng đàn guitar để trình tấu âm thanh berimbau, qua bản Berimbau do Baden Powellde và Marcus Vinicius de Moraes sáng tác. 1. Vũ Capoeira
Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa | ||
| Posted: 14 Jul 2011 01:08 PM PDT Chào các bạn Trong việc ăn nói, nhiều người trong chúng ta thường có các thói xấu này: nói nhiều, nói nhiều về mình, nói phóng đại, nói thông tin không đúng, hay cãi nhau sùi bọt mép khi nói chuyện (nhất là chính trị hay triết lý), nói quá nhanh người ta chạy theo không kịp… Trừ một trong các thói này đã mệt rồi, trừ hết mọi thói thì có thể mất rất nhiều năm. Thay vì vậy hãy thực hành nghiêm chỉnh một thói tốt "nói thành thật" và thói tốt này sẽ tự động xóa bỏ các thói xấu kia. Nói thành thật có nghĩa là "Không nói thì thôi, nhưng nếu mình nói thì chữ nào trong miệng mình đi ra cũng phải đúng và chính xác, với cố gắng và hiểu biết tốt nhất của mình." Đây là một kỹ năng ăn nói rất quan trọng. Vì nếu bạn có uy tín là luôn luôn nói đúng và chính xác, thì đi đâu làm ngoại giao hay kinh doanh cũng đều dễ dàng, vì nói ra là nhiều người tin ngay. "Không nói thì thôi" tức là chuyện gì không tiện nói, không được nói, thì đừng nói. Chẳng ai bắt mình nói điều gì mình không muốn nói cả. "Chữ nào trong miệng đi ra cũng phải đúng và chinh xác" tức là ta phải suy nghĩ để tìm từ trước khi nói, để các từ đều đúng và chính xác. "Đúng và chính xác, với cố gắng và hiểu biết tốt nhất của mình" có nghĩa là điều mình tin là "đúng và chính xác", có thể là sau này mình khám phá ra là mình sai, nhưng lúc nói, ít ra mình đã "cố gắng với hiểu biết tốt nhất của mình để nói cho đúng và chính xác". Các từ superlatives hầu như đương nhiên là không chính xác vì bản chất của superlative thường là phóng đại. Cô ấy đẹp nhất nước, quyển truyện hay nhất Việt Nam, tất cả mọi người đều tôn thờ ông ấy… các từ "nhất" và "tất cả" thường là sai, cho nên tự động là không chính xác. Không đúng sự thật là không chính xác. Mua cái áo 200 nghìn đồng thì đừng nói là 400 nghìn. Chủ quan thì chỉ đúng với mình thôi, với người khác có thể là sai. Ví dụ: "Cô đó rất kiêu căng". Đó là vì mình thấy cô ấy kiêu, nhưng người khác không thấy thế thì sao. Cho nên, tốt hơn là không nói điều chủ quan. Nhưng muốn phải nói thì phải nói chính xác đó là chủ quan: "Tôi cảm thấy cô ấy có vẻ kiêu". Kinh nghiệm và kiến thức của mình, có đến đâu nói chính xác đến đó, "Tôi quen mấy đứa bạn Nam kỳ, thấy đứa nào cũng thích ăn rau muống". Câu này thì được, nhưng đừng nói "Người Nam thích ăn rau muống" vì nó lớn hơn là kinh nghiệm mình có chỉ với vài đứa bạn. Hay "Mỹ sắp đánh nhau với Trung quốc". Đây là chuyện lớn, nói thì phải dẫn nguồn như: "Tôi mới đọc trong tờ ABC Mỹ sắp dánh nhau với Trung quốc". Lý luân hợp lý không có nghĩa là đúng. "Có cái bàn thì có ông thợ mộc, có vũ trụ thì có thượng đế". Dù là nghe có lý thì cũng chẳng chứng minh được là có thượng đế. Cho nên đừng cãi nhau vô ích. Ai có nói thế thì cũng mỉm cười là được rồi. Hoặc là "Không thấy là không có. Không thấy thượng đế là không có thượng đế". Nghe cũng hơi có lý, nhưng không thể nói không thấy là không có được. Các vấn đề thuộc lĩnh vực chủ quan (nhận xét, cảm xúc, tâm linh, tôn giáo) chỉ đúng với mình, có thể không đúng với người khác, cho nên không nên nói hoặc nói thì nói chính xác là chủ quan: "Tôi tin là có thượng đế. Chỉ là một cảm nhận chủ quan trong lòng như vậy." Và đương nhiên là mình cũng nên tôn trọng chủ quan của người khác. Cố tình dẫn sai đường (misleading): Tức là đúng về hình thức nhưng sai nội dung. Ví dụ: "Tôi chưa lập gia đình" thì đúng vì chàng chưa lập hôn thú với ai cả, nhưng sai vì chàng đang chung sống không hôn thú với bạn gái. Đại khái là như thế. Nếu các bạn thực hành chỉ một điều nói rất chinh xác thì tự nhiên là bạn sẽ phải nói chậm lại, vì phải suy nghĩ tìm từ; sẽ nói ít hơn vì có nhiều chuyện thấy nói chính xác thì phức tạp quá để trình bày; ít tranh cãi hơn vì ta biết có những điều không xác định được đúng sai; ít kiêu căng hơn vì ta biết tìm từ chính xác để nói về mình; thông hiểu bạn bè hơn vì biết nghe chính xác hơn và ít cãi nhau hơn… Nói chung là chỉ thực tập một điều "nói chyện luôn luôn cố gắng để đúng và chính xác từng từ" là bạn có thể dẹp bỏ rất nhiều thói xấu liên hệ đến ăn nói và cư xử, lại được kỹ năng ăn nói rất chính xác là một kỹ năng sống rất quan trọng. Đây không phải là một hòn đá trúng hai con chim và là một trận mưa rửa sạch cả thành phố. Chúc các bạn thành công. Mến. Hoành © copyright 2011 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | ||
| Posted: 14 Jul 2011 01:06 PM PDT
Bài diễn văn của Roosevelt đọc ngày 7 tháng 12 năm 1941 trước quốc hội, giữa lúc nước Mỹ đang bàng hoàng trước cuộc tấn công bất ngờ của quân Nhật vào Trân Châu Cảng…Trước đó 1 ngày, Nhật và Mỹ vẫn đang trong quá trình đàm phán về hòa bình cho biển Thái Bình Dương. Dù cả hai bên đều thấy cuộc đàm phán đang đi vào bế tắc, nhưng người Mỹ, với sự tự tin của 1 nước lớn và giàu có, tin rằng Nhật sẽ tránh né xung đột ngay với Mỹ vì dường như (có khá nhiều tư liệu khác nhau) Mỹ nhận định Nhật sẽ mở rộng trước lãnh thổ tại Đông Nam Á, Đông Ấn, Malaysia … là các khu vực thuộc địa của Anh và Hà Lan. Vì vậy, Mỹ tiến hành xây dựng lực lượng tại Philippines (vị trí đe dọa trực tiếp con đường biển đi về phía Nam của Nhật) và chuyển hạm đội Thái Bình Dương về Trân Châu Cảng (vị trí trung tâm Bắc Thái Bình Dương – để khống chế toàn khu vực) hy vọng Nhật nản lòng và dừng các hoạt động mở rộng lãnh thổ. Và Mỹ cũng tự tin "Nhờ sự phòng thủ vững chắc của mình, nhờ những lực lượng đồn trú, nhờ những đặc điểm của thiên nhiên, đảo Oahu có thể coi là pháo đài mạnh nhất thế giới" – Bộ trưởng Quốc phòng Henry Stimson trình tổng thống Roosevelt Bất ngờ, ngày 6 tháng 12 năm 1941, theo kế hoạch của đô đốc Yamamoto, quân Nhật thình lình tấn công Trân Châu Cảng (trước khi tuyên chiến chính thức). thắng lợi của quân Nhật thật là to lớn: gần như toàn bộ hạm đội Thái Bình Dương (trừ tàu sân bay đã điều đi nơi khác) bị tiêu diệt. Nhưng đổi lại Nhật gánh chịu một hậu quả: toàn bộ nhân dân Mỹ giận dữ trước cuộc tấn công bất ngờ. Và bài diễn văn của Roosevelt giúp người Mỹ nhìn các sự kiện rõ ràng và các lý luận về sự kiện đó (và giúp thổi bùng lửa giận trong họ). Chúng ta hãy đọc và nghiền ngẫm cách chọn lựa ý, câu từ và các dẫn chứng của Roosevelt: nó khơi dậy sự cuồng nộ của người đọc mà không phải kêu gọi, nó khiến người đọc cảm nhận về sự hèn hạ của đối phương để thấy được chính nghĩa của mình, mà không cần phải nói quá nhiều về chính nghĩa Vì lý do trên, đây là một trong các bài diễn văn mà mình thích nhất. Nếu các bạn muốn cảm nhận về điểm đặc sắc của bài diễn văn này, hãy đọc và so sánh nó với bài diễn văn ngày 22/6/1941 của Molotov (vì cả 2 bài này đều trong hoàn cảnh gần giống nhau). - Nếu Molotov dành rất nhiều tính từ để mô tả kẻ thù "tham tàn", "phản trắc", "dối trá", "kiêu ngạo", "khiêu khích" thì Roosevelt lại dùng khá ít (ông chủ yếu chỉ dùng từ "bất ngờ"). Ông đưa ra các sự kiện và vài lý luận ngắn, để người đọc tự cảm nhận nhiều hơn. - Molotov rất chú trọng bẻ gãy các lý luận trong bài diễn văn và thư tuyên chiến của đối thủ, trong khi Roosevelt lại nói rất ít vào phần này và chỉ chú trọng vào 2 điểm chính (hồi âm sau khi tấn công, và nội dung phản hồi khá mờ nhạt). - Molotov viết "Chính phủ Liên Xô thể hiện niềm tin vững chắc rằng toàn bộ nhân dân sẽ tận tâm thực hiện nhiệm vụ và làm công việc của mình", còn Roosevelt "Nhân dân Hoa Kỳ đã có quan điểm cho mình và hiểu rõ những hàm ý về sinh mạng và sự an toàn của đất nước chúng ta". Do đó, có thể thấy Molotov thể hiện sự cuồng nộ của bản thân (và của chính phủ) và kêu gọi nhân dân cuồng nộ theo. Trong khi đó Roosevelt đưa ra các gợi ý để người đọc cảm nhận sự cuồng nộ tự trào lên trong người (đây chỉ là cảm nhận rất riêng của mình – và là lý do mình thích bài này hơn). Sau sự kiện Trân Châu Cảng và bài diễn văn này, toàn thể nhân dân Mỹ thống nhất dốc sức chiến tranh với Nhật (trước đó thì nhân dân Mỹ bất đồng quan điểm về việc này), và đó là hậu quả của Nhật phải gánh chịu. Hậu quả này lớn đến nỗi ngày nay người ta không biết nên gọi Trân Châu Cảng là 1 chiến thắng hay bước ngoặc của thất bại, như lời của Đô đốc Hara Tadaichi: “Chúng ta thắng một chiến thắng chiến thuật vĩ đại tại Trân Châu Cảng, và do đó đã thua cả cuộc chiến.” (Nguyễn Mai Anh Kiệt giới thiệu và bình) Diễn văn Trân Châu CảngThưa Phó Tổng Thống, Chủ Tịch Hạ nghị viện, các Nghị Sĩ của Thượng viện và Hạ viện: Hôm qua, ngày 7 tháng 12 năm 1941 – một ngày ô nhục sẽ sống mãi – nước Mỹ đã bất ngờ bị hải quân và không quân của Đế quốc Nhật Bản cố tình tấn công. Hoa Kỳ đã đang hòa hiếu với quốc gia này, và, với sự nài nỉ của Nhật, Hoa Kỳ vẫn đang đàm luận với chính phủ và hoàng đế của Nhật để hướng đến việc duy trì hòa bình ở Thái Bình Dương. Sự thật là, một giờ sau khi phi đội Nhật đã bắt đầu dội bom xuống đảo Oahu của Mỹ, Đại sứ Nhật ở Mỹ và đồng sự mới trao đến Ngoại trưởng của chúng ta hồi âm chính thức cho thông điệp gần đây của Mỹ. Và dù hồi âm này đáp rằng dường như là vô ích để tiếp tục các cuộc thương lượng ngoại giao đang xảy ra, nó không có đe dọa hay gợi ý gì về chiến tranh hoặc tấn công vũ trang. Sử sách sẽ ghi rằng với khoảng cách giữa Hawaii và Nhật, rõ ràng là cuộc tấn công đã được hoạch định cẩn trọng nhiều ngày hay thậm chí nhiều tuần trước. Trong suốt thời gian đó, chính phủ Nhật đã cố tình tìm cách lừa dối Mỹ bằng lời lẽ và biểu lộ dối trá về hy vọng duy trì hòa bình. Cuộc tấn công hôm qua trên quần đảo Hawaii đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến lực lượng hải quân và không quân Mỹ. Tôi rất tiếc phải nói với các bạn rằng rất nhiều người Mỹ đã chết. Thêm vào đó, đã có báo cáo là các con tàu của Mỹ đã bị đánh bằng ngư lôi ngoài biển khơi giữa San Francisco và Honolulu. Đêm qua, quân đội Nhật đã tấn công Hồng Kông. Đêm qua, quân đội Nhật đã tấn công Guam. Đêm qua, quân đội Nhật đã tấn công quần đảo Philippine. Đêm qua, người Nhật đã tấn công Đảo Wake. Và sáng nay, người Nhật đã tấn công Đảo Midway. Như vậy, người Nhật đã thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ rộng khắp khu vục Thái Bình Dương. Các sự kiện của ngày hôm qua và hôm nay tự nói lên điều đó. Nhân dân Hoa Kỳ đã có quan điểm cho mình và hiểu rõ những hàm ý về sự sống còn và an toàn của đất nước chúng ta. Là chỉ huy trưởng của Quân đội và Hải quân, tôi ra lệnh áp dụng mọi biện pháp để tự vệ. Nhưng cả nước ta sẽ luôn nhớ tính chất của cuộc công kích chúng ta dữ dội này. Bất kể bao lâu để chúng ta vượt qua cuộc xâm lược có tính toán này, nhân dân Mỹ, với sức mạnh công chính của mình sẽ chiến thắng cho đến một thắng lợi hoàn toàn. Tôi tin tưởng rằng tôi đã thể hiện được ý chí của Quốc hội và của nhân dân khi tôi khẳng định rằng chúng ta sẽ không chỉ tự vệ hết mức, mà sẽ bảo đảm rằng trò phản bội như thế này sẽ không bao giờ gây nguy hiểm cho chúng ta nữa. Địch họa đã xảy ra. Không có chối cãi nào về thực tế rằng nhân dân ta, lãnh thổ ta, và quyền lợi của chúng ta đang bị đe dọa. Với sự tự tin vào quân đội của chúng ta, với quyết tâm vô biên của nhân dân ta, chúng ta chắc chắn sẽ đạt được thắng lợi –vậy xin Chúa giúp chúng con. Tôi đề nghị Quốc hội tuyên bố rằng, từ khi cuộc tấn công vô cớ và hèn hạ của Nhật Bản vào Chủ Nhật, ngày 7 tháng 12 năm 1941, tình trạng chiến tranh đã bắt đầu giữa Mỹ và đế quốc Nhật. Tổng thống Franklin D. Roosevelt – 08 Tháng Mười Hai 1941 (Diệu Sương dịch) Pearl Harbor Address to the Nationdelivered 8 December 1941 Mr. Vice President, Mr. Speaker, Members of the Senate, and of the House of Representatives: The United States was at peace with that nation and, at the solicitation of Japan, was still in conversation with its government and its emperor looking toward the maintenance of peace in the Pacific. Indeed, one hour after Japanese air squadrons had commenced bombing in the American island of Oahu, the Japanese ambassador to the United States and his colleague delivered to our Secretary of State a formal reply to a recent American message. And while this reply stated that it seemed useless to continue the existing diplomatic negotiations, it contained no threat or hint of war or of armed attack. It will be recorded that the distance of Hawaii from Japan makes it obvious that the attack was deliberately planned many days or even weeks ago. During the intervening time, the Japanese government has deliberately sought to deceive the United States by false statements and expressions of hope for continued peace. The attack yesterday on the Hawaiian islands has caused severe damage to American naval and military forces. I regret to tell you that very many American lives have been lost. In addition, American ships have been reported torpedoed on the high seas between San Francisco and Honolulu. Yesterday, the Japanese government also launched an attack against Malaya. Last night, Japanese forces attacked Hong Kong. Last night, Japanese forces attacked Guam. Last night, Japanese forces attacked the Philippine Islands. Last night, the Japanese attacked Wake Island. And this morning, the Japanese attacked Midway Island. Japan has, therefore, undertaken a surprise offensive extending throughout the Pacific area. The facts of yesterday and today speak for themselves. The people of the United States have already formed their opinions and well understand the implications to the very life and safety of our nation. As commander in chief of the Army and Navy, I have directed that all measures be taken for our defense. But always will our whole nation remember the character of the onslaught against us. No matter how long it may take us to overcome this premeditated invasion, the American people in their righteous might will win through to absolute victory. I believe that I interpret the will of the Congress and of the people when I assert that we will not only defend ourselves to the uttermost, but will make it very certain that this form of treachery shall never again endanger us. Hostilities exist. There is no blinking at the fact that our people, our territory, and our interests are in grave danger. With confidence in our armed forces, with the unbounding determination of our people, we will gain the inevitable triumph — so help us God. I ask that the Congress declare that since the unprovoked and dastardly attack by Japan on Sunday, December 7th, 1941, a state of war has existed between the United States and the Japanese empire. Nguồn tư liệu: Filed under: Các diễn văn làm thay đổi thế giới, Văn Hóa Tagged: các diễn văn làm thay đổi thế giới, Văn Hóa | ||
| Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam Posted: 14 Jul 2011 01:06 PM PDT (Trích ) Ở Việt Nam, xét về văn hoá tổ chức đời sống cộng đồng dựa trên tương quan nam nữ, đang tồn tại cả ba chế độ gia đình phụ hệ, song hệ, và mẫu hệ, không kể những hình thức chuyển tiếp, tàn dư. Trong đó, phổ biến nhất là chế độ gia đình phụ hệ; từ người Việt đa số đến các tộc người thiểu số cư trú ở các vùng miền như Thái, Mường, Tày, Nùng, Dao, Mông, Brũ, Ta-ioh, Katu, Mạ, Stiêng, Hoa, v.v. đều theo chế độ gia đình phụ hệ từ lâu. Chế độ gia đình song hệ chỉ phổ biến ở các tộc người Sedang, Bahnar, Gié-Triêng, Hrê thuộc ngữ hệ Nam Á (Austro-Asiatic) ở Bắc Tây Nguyên, và ở người Khmer Nam Bộ. Còn chế độ mẫu hệ thì phổ biến ở các tộc người Chăm, Jarai, Êđê, Raglai, Churu thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian), cư trú ở Nam Trung Bộ – Tây Nguyên, và ở các tộc người M'nông, K'ho thuộc ngữ hệ Nam Á, cư trú ở Nam Tây Nguyên bên cạnh các tộc người Nam Đảo. Chính vì có tầm phổ quát rộng lớn nên chế độ gia đình phụ hệ là chế độ gia đình được biết đến nhiều nhất và có sức mạnh chi phối lớn nhất đối với các thành tố của văn hoá Việt Nam, chi phối cả nhãn quan của xã hội khi người ta nhìn vào những chế độ gia đình ít phổ biến hơn như song hệ và mẫu hệ. Điều đó có thể và trên thực tế đã dẫn tới những cách hiểu, cách giải thích, cách đánh giá, cách đối xử không đúng đối với truyền thống văn hoá của các tộc người thiểu số theo song hệ và mẫu hệ. Năm 1999, nhằm hiệu chỉnh những cách hiểu không đúng đó, với sự cộng tác của Đổng Lấn, một người học trò cũ người Chăm, phóng viên của Báo Ninh Thuận ở Phan Rang, chúng tôi đã viết một bài báo tiêu đề "Phận đàn ông" trong chế độ mẫu quyền, đăng trên Tạp chí Kiến thức Ngày nay số 339, 10/1/2000. Trong bài này, chúng tôi tiếp tục đào sâu vấn đề nhằm góp phần hiệu chỉnh những cái nhìn sai lạc, làm sáng tỏ cội nguồn của chế độ mẫu hệ cũng như mối quan hệ cộng sinh của chế độ mẫu hệ đối với nam quyền – một cơ chế giải thích sự tồn tại bền lâu của chế độ gia đình này trong các tộc người Nam Đảo và Nam Á ở Nam Trung Bộ – Tây Nguyên. 1. CHẾ ĐỘ MẪU HỆ NHÌN TỪ VĂN HOÁ KHÁC Một cách hiểu không đúng thường gặp đối với khái niệm chế độ mẫu hệ là cách hiểu theo lối duy danh định nghĩa: đó là một chế độ mà người mẹ, người phụ nữ nắm quyền. Hoặc hiểu theo lối siêu hình: mẫu hệ tức là trái ngược với phụ hệ, nếu chế độ phụ hệ dành hết mọi quyền lực cho người cha, cho nam giới thì trong chế độ mẫu hệ người mẹ và nữ giới nói chung nắm quyền cai quản gia đình, xã hội. Hai cách hiểu này cho đáp số giống nhau vì cùng xuất phát từ hiện tượng "giao thoa văn hoá", khi người ta nhìn nhận các phong tục của một tộc người bằng con mắt của một nền văn hoá khác. Điều không may là những cách hiểu sai xuất phát từ hiện tượng "giao thoa văn hoá" như trên lại có thể xảy ra ở bất cứ ai, kể cả những người nghiên cứu. Bản thân chúng tôi có một kỷ niệm liên quan đến vấn đề này. Trong một chuyến khảo sát điền dã năm 1985 khi còn là sinh viên năm cuối, chúng tôi đã may mắn làm quen với một trí thức người Êđê Ktul là ông Y Mơ Êban, trước 30/4/1975 là Quận trưởng quận Phước An tỉnh Đắk Lắk, sau ngày giải phóng là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã Ea Hiu huyện Krông Pắc tỉnh Đăk Lắk. Tiếp chúng tôi tại gian khách của căn nhà dài mẫu hệ nơi ông làm rể, ông đã mở đầu câu chuyện về ngôn ngữ và văn hoá Êđê bằng cách lưu ý chúng tôi: Vì người Êđê theo mẫu hệ, nên "dòng họ bên mẹ" phải được gọi hoặc được dịch ra tiếng Việt là "họ nội", và "dòng họ bên cha" là "họ ngoại", "ông nội" là "ông ngoại", "bà ngoại" là "bà nội", v.v. Ông cứ nói đi nói lại như vậy, có lẽ vì trong đời mình, ông đã gặp nhiều người nhầm lẫn, và không muốn chúng tôi lại tiếp tục nhầm như họ. Quả vậy, hoán vị hai từ "nội" – "ngoại" không phải là việc khó, nhưng hình dung cho chính xác và mạch lạc cái hệ thống quan hệ thân tộc và hôn nhân theo mẫu hệ ấy thì hoàn toàn không phải là chuyện dễ đối với chúng tôi là người cho đến lúc ấy đã quen với mô hình quan hệ thân tộc và hôn nhân theo phụ hệ của người Việt. Ngẫm lại, chúng tôi thấy sự cẩn thận của ông Y Mơ Êban hoàn toàn có lý. Bởi như thực tế cho thấy, sức ỳ của quán tính và định kiến khi quan sát một nền văn hoá khác không chỉ là đầu mối của cách hiểu sai, mà nó còn có thể đưa người ta đến với những cách giải thích, cách đánh giá và cách đối xử rất sai lầm. Năm 1999, Báo Phụ nữ (TP. Hồ Chí Minh) đã đăng một bài báo tiêu đề Hẩm hiu thân phận "mẫu quyền", nêu lên nỗi khổ ải của người phụ nữ thuộc các tộc người theo mẫu hệ như Chăm, K'ho ở huyện Hàm Thuận Bắc tỉnh Bình Thuận, mà nguyên do là tệ trạng bê tha rượu chè phổ biến ở các ông chồng. Truy tìm nguyên nhân sâu xa, các tác giả đã dẫn lời một viên chức thuộc Ban Dân tộc – Miền núi tỉnh Bình Thuận, giải thích rằng ở các tộc người ấy, "vì theo chế độ mẫu hệ, chồng không có quyền quyết định trong việc vạch ra kế hoạch sản xuất gia đình, nên những gia đình này thường bế tắc về kinh tế", rằng những ông chồng ấy "do luật tục, họ phải chịu tuân theo quyết định của bà vợ". Tóm lại, ở các tộc người ấy vì nam giới "không có quyền, nên không có trách nhiệm". Cho nên, những bà vợ của họ "càng có quyền càng khổ". Lối giải thích này tạo một ấn tượng sai lạc rằng trong các cộng đồng mẫu hệ thì "chị em ta" là nhất, "bọn đàn ông" chẳng có ký lô nào! Tai hại hơn, nó biến những người đàn ông thiếu ý thức trách nhiệm, bê tha rượu chè, làm khổ vợ con thành những người đáng được cảm thông, và biến chế độ mẫu hệ thành kẻ tội đồ! Trong khi sự thật là dù trong chế độ mẫu hệ hay phụ hệ thì quan hệ, đời sống và hạnh phúc gia đình tốt hay xấu, trước hết là do ở con người. Nếu nói trong chế độ mẫu hệ giới đàn ông vì "không có quyền nên không có trách nhiệm" thì chẳng lẽ dưới chế độ phụ hệ, tất cả đàn ông, với quyền lực trong tay, đều rất có tinh thần trách nhiệm đối với cuộc sống gia đình? Với những cách hiểu, cách giải thích, cách đánh giá như vậy, sẽ không phải là điều lạ nếu có ai đó trong những người hoạch định, thừa hành pháp luật, chính sách có ác cảm và có cách đối xử sai lầm đối với chế độ mẫu hệ của các tộc người thiểu số. Chẳng thế mà trong Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số, người ta đã đưa tập quán "Người con bị bắt buộc phải mang họ của người mẹ" của chế độ mẫu hệ vào danh mục "Các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xoá bỏ" (Phụ lục B). Theo chúng tôi, dù chỉ là "vận động xoá bỏ" chứ không phải là "nghiêm cấm", quy định đó cũng thể hiện một cái nhìn kỳ thị và xâm phạm truyền thống văn hoá của các tộc người theo mẫu hệ. 2. NGUỒN GỐC XA XƯA: CHẾ ĐỘ QUẦN HÔN VÀ LOẠI HÌNH SĂN CÂU LƯỢM HÁI Chế độ mẫu hệ vốn có lịch sử rất xa xưa, nguồn gốc của nó có thể tìm thấy trong chế độ quần hôn của "thời đại mông muội". Năm 1891, trong công trình Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, F. Engels đã dẫn lại một đoạn mô tả của A-gát-xi-dơ trong cuốn Cuộc hành trình đến Brésil (1886) về hình thái quần hôn ở các cư dân Brésil bản địa: "Những người đàn bà In-đi-an hay những người đàn bà lai bao giờ cũng nói như thế về những đứa con đẻ hoang của mình ["Nó không có cha đâu, nó là đứa con do ngẫu nhiên mà có đấy"], mà không hề thấy xấu hổ hoặc ngượng ngùng; và điều đó không có chút gì là lạ cả; ngược lại thì mới là điều ngoại lệ. Con cái… thường thường chỉ biết có mẹ thôi, vì chỉ có mẹ là người phải gánh lấy mọi sự lo lắng và trách nhiệm; con cái không biết gì đến cha cả; vả lại, hình như không bao giờ người đàn bà nghĩ rằng mình hoặc con cái của mình lại có quyền đòi hỏi gì đối với người cha cả". Tương ứng với các hình thái hôn nhân nguyên thuỷ như quần hôn, hôn nhân đối ngẫu… là sự phân công lao động sơ khai theo giới tính: nam giới săn bắt và bảo vệ bầy đàn – thị tộc; nữ giới hái lượm, gieo trồng để bảo đảm nguồn thực phẩm thường xuyên, giáo dục con cái, trông nom nhà cửa, điều khiển công việc và điều hoà quan hệ giữa các thành viên… Bởi vì con cái sinh ra chỉ biết có mẹ chứ không biết rõ về cha, và vì nguồn thực phẩm do người phụ nữ hái lượm gieo trồng ít bấp bênh hơn sản phẩm săn bắt của nam giới, cho nên có thể nói chính chế độ quần hôn và loại hình kinh tế săn câu lượm hái của thời nguyên thuỷ đã khiến cho vai trò của người mẹ trong gia đình trở nên trọng yếu. Từ đó mà hình thành chế độ mẫu hệ. Ngày nay, chúng ta đã biết chủ nhân của nền văn hoá nông nghiệp lúa nước đầu tiên và nhà nước đầu tiên ở Việt Nam và Đông Nam Á chính là cư dân Việt-Mường, tổ tiên chung của người Việt và người Mường. Phối hợp các kết quả khảo cổ học, dân tộc học và truyền thuyết, chúng tôi cho rằng có cơ sở để đặt ra giả thuyết: trong giai đoạn đầu từ khi nền nông nghiệp lúa nước ra đời (khoảng hơn 4.000 năm trước) cho đến khi nhà nước Văn Lang thành lập (khoảng 2.700 năm trước), cư dân Việt-Mường là một cộng đồng mẫu hệ. Giả thuyết này hoàn toàn không mâu thuẫn với những gì lịch sử đã mô tả về chế độ phụ hệ của con cháu cư dân Âu Lạc dưới thời Bắc thuộc, vì chế độ phụ hệ đó có thể chỉ là kết quả của giao lưu, tiếp biến văn hoá về sau giữa văn hoá Việt-Mường với văn hoá Tày-Thái và văn hoá Hán. 3. NGUYÊN NHÂN TỒN TẠI: SỰ CỘNG SINH MẪU HỆ – NAM QUYỀN Hiện nay, chế độ mẫu hệ vẫn còn phổ biến ở các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian) như Jarai, Êđê, Chăm, Raglai, Churu, cư trú ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, và ở các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Á (Austro-Asiatic) như M'nông, K'ho, cư trú ở Nam Tây Nguyên liền kề với các tộc người Nam Đảo. Đây là những tộc người còn bảo lưu đậm nét chế độ mẫu hệ trong các lãnh vực đời sống khác nhau. Đó là nét đặc trưng nổi bật mà các giới dân tộc học, ngôn ngữ học và những người làm công tác chính trị – xã hội đều có thể nhận thấy được ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên với các tộc người này. Đặc điểm thứ nhất của chế độ mẫu hệ ở các tộc người này là quan hệ huyết thống và quan hệ thừa kế đều được tính theo dòng mẹ. Đây là một đặc điểm mà nhiều người đã biết. Theo đó, con cái sinh ra đều mặc nhiên trở thành thành viên của thị tộc, dòng dõi của người mẹ, và tài sản mà chúng thừa kế chỉ có thể là tài sản của người mẹ chứ không phải của người cha. Ở các cộng đồng Chăm Hroi (Bình Định, Phú Yên), Chăm Jat, Chăm Bani (Ninh Thuận, Bình Thuận), các tín ngưỡng và phong tục liên quan đến chế độ mẫu hệ vẫn còn phổ biến, mặc dù mỗi cộng đồng đều có những điều chỉnh phù hợp với tín ngưỡng và sự giao lưu văn hoá của mình. Ở các cộng đồng này, phụ nữ phải đi cưới chồng, đàn ông đi ở rể. Nếu vợ qua đời trước, người chồng sẽ quay về sống với mẹ hoặc chị em gái của mình mà không ở với con, vì chúng thuộc về gia đình vợ. Những đứa con côi sẽ ở lại, sống với người em gái út của mẹ. Hình thức tổ chức xã hội cổ truyền là các palay vẫn còn tồn tại. Đó là một hình thức tổ chức cộng đồng cơ sở tập hợp những gia đình thuộc một hoặc vài ba dòng họ mẫu hệ, cư trú quây quần xung quanh ngôi nhà của người phụ nữ đứng đầu thị tộc hoặc chi tộc. Riêng cộng đồng người Chăm Islam (Nam Bộ) thì do gắn bó với cộng đồng Hồi giáo Đông Nam Á nên chế độ gia đình thiên về phụ hệ, tuy nhiên chế độ mẫu hệ cổ truyền vẫn còn được bảo lưu, chẳng hạn sau hôn lễ chú rể phải ở lại bên nhà vợ 3 ngày, chứ hiếm khi rước dâu ngay. Ở Trung và Nam Tây Nguyên, chế độ mẫu hệ của các tộc người Jarai, Êđê, Churu, M'nông, K'ho cũng có những đặc điểm tương tự người Chăm, nhưng khác về hình thức cư trú. Các tộc người này đều cư trú trong các buôn (Jarai: plơi, bôn; Êđê: buôn; M'nông: bon; K'ho: bòn), là những hình thức công xã láng giềng tập hợp các đại gia đình mẫu hệ dưới những nóc nhà sàn dài. Xưa kia, khi hình thức đại gia đình còn phổ biến, những nóc nhà dài thường "dài như tiếng chiêng ngân", lên đến hàng trăm mét. Nhưng ngày nay, hình thức đại gia đình đã bị hình thức tiểu gia đình thay thế một phần, nên các nhà dài chỉ còn lại không nhiều và cũng chỉ dài tối đa 30m-40m. Bên cạnh đó, chế độ mẫu hệ ở Việt Nam còn có một đặc điểm thứ hai, ít người biết đến hơn. Đó là ở các tộc người theo mẫu hệ này, quyền lực thực tế không thuộc về nữ giới mà thuộc về nam giới. Mặc dù ở các tộc người này, quan hệ huyết thống và quan hệ thừa kế đều được tính theo dòng mẹ, nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa là người mẹ hay một người phụ nữ cụ thể nắm quyền cai trị gia đình, thị tộc hay bộ tộc. Ngược lại, trong cuộc đấu tranh sinh tồn với những cộng đồng lân cận và với thiên nhiên hoang dã, vai trò thủ lĩnh của cộng đồng thường được trao cho nam giới là những người có sức vóc tráng kiện hơn. Sự trao quyền này không hề mâu thuẫn với nguyên tắc quan hệ huyết thống và quan hệ thừa kế tính theo dòng mẹ. Bởi vì cùng với sức mạnh thể chất, tư cách thủ lĩnh của người đàn ông được trao quyền còn được xác định bởi mối quan hệ mẹ – con hay quan hệ bà – cháu của ông ta với người phụ nữ là chủ gia đình hay tộc trưởng. Do mối quan hệ đó, tư cách thủ lĩnh của người đàn ông không phải là một tư cách nhất thời mà là dài hạn, thậm chí cả khi ông ta đã đi lấy vợ. Và ngay trong khi ở rể nơi nhà vợ thì, do sự suy cử của các thành viên gia đình hoặc thị tộc người vợ, ông ta cũng có thể trở thành người chỉ huy chiến đấu hoặc đại diện cho gia đình mình hoặc cho nhà vợ trong quan hệ đối ngoại. Như vậy, người chủ gia đình và người tộc trưởng là người mẹ, nhưng điều hành các sinh hoạt chung của cộng đồng, đặc biệt là những sự vụ quan trọng, lại là nam giới. Một chế độ gia đình như vậy có thể ví với một cái sườn nhà lấy người mẹ làm mối nối, và lấy nam giới làm rường cột Theo những tập tục của người Jarai, kể từ năm 1751 khi Thuỷ Xá và Hoả Xá ở Tây Nguyên lần đầu tiên cử người đến nộp cống cho chúa Nguyễn ở Đàng Trong, cho đến năm 1999 khi Pơtao đời thứ 14 trong hệ thống các Pơtao của Tây Nguyên là ông Siu Luynh từ trần ở plei Ơi xã Chư A Thai huyện Ayun Pa (từ 26/4/2007, đã tách thành huyện Phú Thiện và thị xã Ayun Pa), tỉnh Gia Lai, tất cả các Pơtao Ia "Vua Nước" và Pơtao Puih "Vua Lửa" của người Jarai đều là nam giới, thuộc dòng họ mẫu hệ Siu. Năm 1834, khi "vua" Thuỷ Xá vào triều cống, vua Minh Mạng đã ban cho ông ta họ Vĩnh, tên Bảo. Đến năm 1837, người kế vị Vĩnh Bảo vào triều cống là người cháu gọi Vĩnh Bảo bằng cậu. Người cháu này được vua Minh Mạng tiếp tục ban cho họ Vĩnh, ban tên là Liệt. Do có sự nhầm lẫn nên đến năm 1841, nhân dịp cả Thuỷ Xá và Hoả Xá cùng vào triều cống, vua Thiệu Trị đã cải chính Hoả Xá thành Thuỷ Xá, và ban họ Cửu cho "vua" Hoả Xá. Tuy vậy, từ đó đến nay, các Pơtao Ia và Pơtao Puih của người Jarai vẫn giữ họ gốc tính theo dòng mẹ là Siu. Trong các tộc người khác như Êđê, Raglai… cũng phổ biến những tập tục như trên. Từ thuở xa xưa, các tù trưởng, trưởng buôn của người Êđê đều là nam giới. Mỗi khi có khách lạ đến thăm nhà, người thay mặt cho đại gia đình mẫu hệ Êđê ra tiếp khách, bao giờ cũng là nam giới – con trai hoặc người chồng của bà chủ gia đình. Chính nam giới Êđê là người đại diện cho gia đình và dòng họ mẹ của mình trong đối ngoại, và được trao quyền xử lý khi có những vụ việc quan trọng phát sinh trong gia đình, dòng họ của mẹ mình: ma chay, cưới hỏi, làm nhà, việc làm ăn, mua bán những đồ vật quý… Gần đây, vai trò đại diện của nam giới theo truyền thống còn được hỗ trợ bởi ý thức vươn lên của nam giới trong các cộng đồng mẫu hệ. Hiện nay, ở người Chăm Jat và Chăm Bani, chủ động đi hỏi cưới vẫn là nhà gái, hôn lễ cũng tổ chức chủ yếu là bên nhà gái. Chú rể khi "vu quy" sẽ ra đi mình không. Số ít trường hợp có mang theo một ít "của hồi môn", thường là phương tiện làm ăn, thì khi người chồng ấy qua đời, người vợ cũng phải giao hoàn số tài sản ấy cho nhà chồng. Tức là, tình hình vẫn giống như F. Engels viết trong tác phẩm đã dẫn: "lúc đầu, chúng [con cái của người đàn ông đã chết] kế thừa người mẹ cùng với những người cùng huyết tộc với mẹ chúng; về sau, có thể chúng là người đầu tiên được kế thừa mẹ chúng, nhưng chúng không có thể kế thừa cha chúng, vì chúng không thuộc về thị tộc của người cha, và tài sản của người cha phải được giữ lại trong thị tộc đó". Tuy nhiên, vì người đàn ông là lao động chính, và chính họ chứ không phải ai khác là chủ nhân thực thụ của sức lao động mà họ có, cho nên họ cũng có ít nhiều quyền chủ động sau khi lấy vợ. Với số tài sản do nhà vợ giúp cho, vợ chồng anh ta sẽ cùng nhau làm ăn để tự lập dần. Đến khi cô em vợ (nếu có) lập gia đình, nghĩa là rước về một người đàn ông khác, vợ chồng anh ta có thể nhường chỗ để ra riêng, cất một căn nhà trong phạm vi cư trú của gia đình và dòng họ vợ. Cho dù vợ anh ta là chị cả có nhiều em gái hay là con gái một, con gái út thì cho đến lúc ấy, anh ta vẫn có thể trở thành "đồng chủ nhân" trong cái tiểu gia đình gồm vợ chồng con cái của anh ta. Nếu những ý kiến của anh ta về sinh kế được người vợ tôn trọng, thì anh ta sẽ tích cực đóng góp vào việc mưu sinh cho gia đình. Ngược lại, nếu người vợ gạt bỏ những ý kiến của anh ta về sinh kế, tức coi anh ta chỉ là kẻ lệ thuộc, thì anh ta có thể phản ứng theo nhiều cách khác nhau. Sự phản ứng tiêu cực bằng cách bỏ bê công việc gia đình, rượu chè bê tha như được phản ánh trong bài báo đã nêu trên có thể xem là trạng thái "tự ái đàn ông", phản ánh sự chớm nở của ý thức phản kháng đối với những ràng buộc của chế độ mẫu hệ trong lúc hoàn cảnh kinh tế – xã hội đã đổi thay. Mặt khác, trong cộng đồng Chăm Jat ngày nay còn có hiện tượng con cái của nhiều gia đình đã có thể được khai sinh theo họ của cha, hoặc con trai lấy họ cha, con gái theo họ mẹ. 4. KẾT LUẬN Nói tóm lại, chế độ mẫu hệ trong các tộc người Nam Đảo và Nam Á ở Nam Trung Bộ – Tây Nguyên không hề là sự phủ nhận nam quyền, hạ thấp đàn ông và suy tôn nữ quyền, đề cao phụ nữ, như suy nghĩ đơn giản của một số người. Mẫu hệ ở đây luôn đi đôi với vai trò rất quan trọng của đàn ông. Sự cộng sinh giữa mẫu hệ với nam quyền là một cơ chế đặc biệt giải thích sự tồn tại lâu bền của chế độ gia đình này trong các tộc người Nam Đảo và Nam Á nói trên. Nếu dưới chế độ phụ hệ người phụ nữ đi lấy chồng sẽ mang theo mình khả năng sinh con đẻ cái thì trong chế độ mẫu hệ, người đàn ông đi lấy vợ sẽ đem lại cho nhà vợ món của hồi môn rất quý giá là khả năng lao động và, khi cần thiết, sức chiến đấu của ông ta. Bằng những ưu thế giới tính tự nhiên này và bằng những phẩm chất cá nhân riêng có, ông ta chẳng những sẽ trở thành người đại diện hoặc người chỉ huy được uỷ nhiệm của gia đình và đại gia đình của mẹ ông ta, mà đôi khi còn được giao một vai trò tương tự trong gia đình bên vợ TS. LÝ TÙNG HIẾU (Khoa Văn hoá học, Trường Đại học KHXH & NV TP.HCM) Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa | ||
| Một số nhân sĩ gửi kiến nghị bảo vệ và phát triển đất nước Posted: 14 Jul 2011 01:05 PM PDT Tác giả: Tuần Việt Nam
Ngày 13/7/2011, 20 nhân sĩ, trí thức đã gửi bản kiến nghị đến Quốc hội và Bộ Chính trị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay. Bản kiến nghị gồm có 3 phần: phần 1 phân tích sâu về những sự kiện xảy ra gần đây trong quan hệ Việt – Trung, phần 2 nói về thực trạng còn nhiều bất cập trong nước và phần cuối cùng nêu 5 điểm kiến nghị với lãnh đạo Đảng và Quốc hội. Trong danh sách ký tên đính kèm bản kiến nghị, có nhiều tên tuổi như ông Hồ Uy Liêm (Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam (VUSTA)), Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh ( nguyên Đại sứ VN tại Trung Quốc), nhà nghiên cứu Trần Việt Phương, Trần Đức Nguyên (nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng), GS Hoàng Tụy, GS Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Chu Hảo (nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ), nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, Linh mục Huỳnh Công Minh, ông Lê Hiếu Đằng, Gs Tương Lai, Luật sư Trần Quốc Thuận, chuyên gia kinh tế Vũ Thành Tự Anh, Thiền sư Lê Mạnh Thát, nhà văn Nguyên Ngọc, Ts Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hữu Châu Phan, Nguyễn Đình An. “Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ đang bị uy hiếp“ Trước tình hình Biển Đông nóng lên, nhóm nhân sĩ cho rằng, “Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị uy hiếp, xâm phạm nghiêm trọng”. “Từ khát vọng trở thành siêu cường, với vai trò là “công xưởng thế giới” và chủ nợ lớn nhất của thế giới, dưới chiêu bài “trỗi dậy hòa bình”, Trung Quốc đang ra sức phát huy quyền lực dưới mọi hình thức, nhằm thâm nhập và lũng đoạn nhiều quốc gia trên khắp các châu lục…Thời gian gần đây, Trung Quốc đã có những bước leo thang nghiêm trọng trong việc thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông với nhiều hành động bất chấp luật pháp quốc tế, ngang nhiên xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của các quốc gia giáp Biển Đông. Trung Quốc tự ý vạch ra cái gọi là “đường chữ U 9 đoạn”, thường được gọi là “đường lưỡi bò”, chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, nhiều lần tuyên bố trước thế giới toàn bộ vùng “lưỡi bò” này thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc và đã liên tục tiến hành nhiều hoạt động bất hợp pháp trên Biển Đông để khẳng định yêu sách trái luật quốc tế này. Hiện nay Trung Quốc đang ráo riết tăng cường lực lượng hải quân, chuẩn bị giàn khoan lớn, tiến hành nhiều hoạt động quân sự hoặc phi quân sự ngày càng sâu vào vùng biển các quốc gia trong vùng này, gắn liền với những hoạt động chia rẽ các nước ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc. Trên vùng Biển Đông thuộc lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, năm 1974 Trung Quốc đã tấn công chiếm nốt các đảo ở Hoàng Sa, năm 1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của ta; từ đó đến nay thường xuyên tiến hành các hoạt động uy hiếp và xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của nước ta, như tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, xua đuổi, bắt giữ, cướp tài sản của các tàu đánh cá trên vùng này, gây sức ép để ngăn chặn hoặc đòi hủy bỏ các hợp đồng mà các tập đoàn kinh doanh dầu khí của nước ngoài đang hợp tác với Việt Nam, liên tục cho các tàu hải giám đi tuần tra như đi trên biển riêng của nước mình. Gần đây nhất, tàu Trung Quốc cắt cáp quang và thực hiện nhiều hành động phá hoại khác đối với tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II của ta đang hoạt động trong vùng thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam; đó là những bước leo thang nghiêm trọng trong các chuỗi hoạt động uy hiếp, lấn chiếm vùng biển của nước ta. Vị trí địa lý tự nhiên, vị thế địa chính trị và địa kinh tế trong bối cảnh quốc tế hiện nay khiến cho Việt Nam bị Trung Quốc coi là chướng ngại vật trên con đường tiến ra biển phía Nam để vươn lên thành siêu cường…”, bản kiến nghị viết. Từ phân tích trên, nhóm nhân sĩ cho rằng “xem xét cục diện quan hệ hai nước, phải nhìn nhận thẳng thắn rằng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong việc thực hiện ý đồ chiến lược của họ”. Kiến nghị dẫn chứng: Nhập siêu của ta từ Trung Quốc mấy năm qua tăng rất nhanh (năm 2010 gấp 2,8 lần năm 2006) và từ năm 2009 xấp xỉ bằng kim ngạch xuất siêu của nước ta với toàn thế giới. Hiện nay, nước ta phải nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 80-90% nguyên vật liệu cho công nghiệp gia công của ta, một khối lượng khá lớn xăng dầu, điện, nguyên liệu và thiết bị cho những ngành kinh tế khác; khoảng 1/5 kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc là hàng tiêu dùng, chưa kể một khối lượng tương đương như thế vào nước ta theo đường nhập lậu. Đặc biệt nghiêm trọng là trong những năm gần đây, 90% các công trình kinh tế quan trọng như các nhà máy điện, luyện kim, hóa chất, khai thác bô-xít, khai thác ti-tan… được xây dựng theo kiểu chìa khóa trao tay (EPC) rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc với nhiều hệ quả khôn lường. Trong khi đó Trung Quốc nhập khẩu từ nước ta chủ yếu dưới dạng vơ vét nguyên liệu, nông sản và khoáng sản, với nhiều hệ quả tàn phá môi trường. Ngoài ra còn nạn cho Trung Quốc thuê đất, thuê rừng ở vùng giáp biên giới, nạn tiền giả từ Trung Quốc tung vào. Sự yếu kém của nền kinh tế trong nước chính là mảnh đất màu mỡ cho sự xâm nhập, thậm chí có mặt chi phối, lũng đoạn về kinh tế của Trung Quốc. Chưa nói tới hệ quả khôn lường của việc Trung Quốc xây nhiều đập trên thượng nguồn hai con sông lớn chảy qua nước ta. Cũng không thể xem thường sự xâm nhập của Trung Quốc vào các nước xung quanh ta. Nếu Trung Quốc thực hiện được mưu đồ độc chiếm Biển Đông, Việt Nam coi như bị bịt đường đi ra thế giới bên ngoài. Trong khi đó tình hình đất nước lại có nhiều khó khăn và mối nguy lớn… Theo các nhân sĩ trên, do “vị trí địa lý nước ta không thể chuyển dịch đi nơi khác, nên toàn bộ thực tế hiện nay buộc dân tộc ta phải tạo được bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước: Là nước láng giềng bên cạnh Trung Quốc đầy tham vọng đang trên đường trở thành siêu cường, Việt Nam phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, trở thành một đối tác được Trung Quốc tôn trọng, tạo ra một mối quan hệ song phương thật sự vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Mặt trận gìn giữ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, biển đảo, vùng trời của nước ta trong Biển Đông đang rất nóng do các bước leo thang lấn chiếm ngày càng nghiêm trọng của Trung Quốc… Tuy nhiên, mặt trận nguy hiểm nhất đối với nước ta mà Trung Quốc muốn dồn quyền lực và ảnh hưởng để thực hiện, đó là: thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta… Sự xuất hiện một Trung Quốc đang cố trở thành siêu cường với nhiều mưu đồ và hành động trái luật pháp quốc tế, bất chấp đạo lý, gây nhiều tác động xáo trộn thế giới, tạo ra một cục diện mới đối với nước ta trong quan hệ quốc tế: Hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, có lẽ ngoại trừ Trung Quốc, đều mong muốn có một Việt Nam độc lập tự chủ, giàu mạnh, phát triển, có khả năng góp phần xứng đáng vào gìn giữ hòa bình và ổn định trong khu vực, thúc đẩy những mối quan hệ hữu nghị, hợp tác vì sự bình yên và phồn vinh của tất các các nước hữu quan trong khu vực và trên thế giới” Các nhân sĩ này cho rằng: “cục diện thế giới mới này là cơ hội lớn, mở ra cho đất nước ta khả năng chưa từng có trong công cuộc phát triển và bảo vệ Tổ quốc, qua đó giành được cho nước ta vị thế quốc tế xứng đáng trong thế giới văn minh ngày nay. Để vươn lên giành thời cơ, thoát hiểm họa, cả dân tộc ta, từ người lãnh đạo, cầm quyền đến người dân thường phải dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ đấu tranh cho những giá trị đang là nền tảng cho một thế giới tiến bộ, đó là hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường Kiến nghị 5 điểm Từ những phân tích trên, các nhân sĩ “khẩn thiết kiến nghị với Quốc hội và Bộ Chính trị” 1. Công bố trước toàn thể nhân dân ta và nhân dân toàn thế giới thực trạng quan hệ Việt – Trung; nêu rõ những căn cứ phù hợp với luật pháp quốc tế, có sức thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo ở vùng Biển Đông để làm sáng tỏ chính nghĩa của nước ta; khẳng định thiện chí trước sau như một của nước ta xây dựng, gìn giữ quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc, nhưng quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình … Chúng ta luôn phân biệt những mưu đồ và hành động phi đạo lý và trái luật pháp quốc tế của một bộ phận giới lãnh đạo Trung quốc, khác với tình cảm và thái độ thân thiện của đông đảo nhân dân Trung quốc đối với nhân dân Việt Nam. Chúng ta sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước, đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á và các nước lớn, cùng với các nước có liên quan giải quyết hoà bình các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. 2. Trình bày rõ với toàn dân thực trạng đất nước hiện nay, thức tỉnh mọi người về những nguy cơ đang đe dọa vận mệnh của Tổ quốc, dấy lên sự đồng lòng và quyết tâm của toàn dân đem hết sức mạnh vật chất, tinh thần, trí tuệ để bảo vệ và phát triển đất nước. Cải cách sâu sắc, toàn diện về giáo dục và kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết, là kế sâu rễ bền gốc để nâng cao dân trí, dân tâm, dân sinh làm cơ sở cho quá trình tự cường dân tộc và nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. 3. Tìm mọi cách thực hiện đầy đủ các quyền tự do, dân chủ của nhân dân đã được Hiến pháp quy định, nhằm giải phóng và phát huy ý chí và năng lực của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tận dụng được cơ hội mới, đáp ứng được những đòi hỏi và thách thức mới của tình hình khu vực và thế giới hiện nay. 4. Kêu gọi toàn thể quốc dân đồng bào, mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, dân tộc, địa vị xã hội, hãy cùng nhau thực hiện hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc với lòng yêu nước, tinh thần vị tha và khoan dung. Tất cả hãy cùng nhau khép lại quá khứ, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, để từ nay tất cả mọi người đều một lòng một dạ cùng nắm tay nhau đứng chung trên một trận tuyến vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau dốc lòng đem hết trí tuệ, nghị lực sáng tạo và nhiệt tình yêu nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta. 5. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với tính cách là đảng cầm quyền duy nhất và cũng là người chịu trách nhiệm toàn diện về tình hình đất nước hiện nay, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ đẩy mạnh cuộc cải cách chính trị, giải phóng mọi tiềm năng của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi mọi tệ nạn tham nhũng và tha hóa, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng yếu kém và lệ thuộc hiện nay, chuyển sang thời kỳ phát triển bền vững, đưa dân tộc ta đồng hành với cả nhân loại tiến bộ vì hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường. Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông | ||
| Ngư dân Quảng Ngãi lại bị TQ tịch thu tài sản Posted: 14 Jul 2011 01:04 PM PDT Tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi lại vừa bị tàu Trung Quốc tịch thu tài sản và xua đuổi khi đang đánh bắt trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh (PLTP) trích nguồn lực lượng biên phòng Quảng Ngãi cho hay sự kiện xảy ra từ hôm 05/07. Hãng thông tấn AP văn phòng Hà Nội cũng dẫn nguồn quan chức tỉnh xác nhận tin này. Bản tin của báo PLTP cho hay vào khoảng 10 giờ sáng ngày 05/07, thuyền cá mang số hiệu QNg-98868 TS do ông Nguyễn Thừa ( xã Phổ Quang, huyện Đức Phổ) làm chủ đang hoạt động tại phía đông bắc quần đảo Hoàng Sa, mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. “Các ngư dân đang đánh lưới cản thì có một tàu chiến của Trung Quốc mang số hiệu 44861 đuổi theo.” PLTP nói chiếc tàu Trung Quốc đã thả một canô chở 10 lính có trang bị tiểu liên và dùi cui xông lên tàu, đánh đập thuyền trưởng, lục soát và thu giữ khoảng một tấn cá. “Sau đó, lính Trung Quốc đuổi các ngư dân, không cho đánh cá ở vùng biển này.” Đã nhiều lần ngư dân Quảng Ngãi khi đánh bắt gần Hoàng Sa đã bị tàu Trung Quốc ngăn chặn và hành xử thô bạo. Trước sự việc ngày 05/07, được biết tàu cá số QNg 66074 (của ông Trần Hiền, trú ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi) cũng bị tàu Trung Quốc mang số hiệu 45012 có trang bị vũ khí tịch thu ngư cụ và tài sản khi tàu của ông Hiền đang neo đậu tại khu vực đảo Đá Lồi gần Hoàng Sa. ‘Hướng dẫn dư luận’Cho tới nay, chưa thấy Bộ Ngoại giao Việt Nam lên tiếng về các trường hợp trên. Việt Nam cũng chưa có phản ứng gì trước việc Trung Quốc mới đây điều tàu ngư chính tới Trường Sa. Hôm 11/07, Trung Quốc đã làm lễ tiễn tàu ngư chính 46012 lên đường đi tuần tra ở khu vực quần đảo Trường Sa, mà Trung Quốc gọi là Nam Sa, thay cho tàu 301. Tân Hoa Xã cho hay tàu ngư chính 46012 với thủy thủ đoàn 22 người sẽ hoạt động ở khu vực đảo Vành Khăn trong thời gian 50 ngày, thông qua đó “thể hiện chủ quyền và sự quản lý của Trung Quốc” đối với quần đảo Trường Sa.Hồi tháng Tư, Việt Nam đã lên tiếng phản đối việc Trung Quốc điều tàu ngư chính tới Trường Sa, nói đây là hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam. Tuy nhiên hoạt động mới nhất này chưa gặp phản ứng tương tự. Mới đây, trong cuộc gặp giữa Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn và người tương nhiệm Trung Quốc tại Bắc Kinh ngày 25/06, hai bên đã thống nhất “tăng cường định hướng dư luận nhằm tránh có những lời lẽ và hành động vốn có thể gây phương hại tới quan hệ hữu nghị và tin tưởng lẫn nhau giữa nhân dân hai nước”. Các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội sau đó đã gặp sự ngăn cản mạnh mẽ từ phía chính quyền. Hiện đang có kêu gọi người dân tiếp tục hoạt động biểu tình chống Trung Quốc vào Chủ nhật 17/07 tới. Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông | ||
| Posted: 13 Jul 2011 04:10 PM PDT
Les Feuilles Mortes/Autumn Leaves là một bài hát có tầm vóc quốc tế thật đặc biệt vì có thể nói được mọi lứa tuổi ưa thích. Bản nhạc có giai điệu hay, buồn, nhẹ nhàng và trữ tình, rất hợp cho Les Feuilles Mortes/Autumn Leaves, nhạc của Joseph Kosma; lời Pháp của Autumn Leaves / The Falling LeavesLời Anh: Johnny Mercer ; Nhạc: Joseph Kosma The falling leaves Các bạn nghe bản nhạc nổi tiếng này qua các clip Piano, bản tiếng Anh Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa | ||
| Posted: 13 Jul 2011 04:10 PM PDT Chào các bạn, Quán tính, sức ì, hay thói quen, là cái giữ ta trong tình trạng hiện tại. Phải đi học khiêu vũ, hay phải ngồi xuống viết, là phá bỏ thói quen và lịch làm việc hàng ngày ta đang có. Bắt đầu một hoạt động mới luôn luôn có nghĩa là phải thay đổi vài thói quen cũ. Mà con người bẩm sinh thì ăn ngủ làm việc theo thói quen, và không thích thay đổi thói quen. Chúng ta cần hiểu quán tính của chúng ta như thế để cho mình thêm một chút cố gắng mỗi khi muốn khởi sự chuyện gì. Dĩ nhiên là ta muốn hơi nhiều thứ–muốn giỏi tiếng Anh, muốn giảm cân, muốn nhảy đầm giỏi, muốn kiếm nhiều tiền… Ta không thể khởi sự cả chục thứ mình muốn vào một lúc được. Cho nên, ta cần chọn một điều gì thích hợp nhất với lúc này để tập trung năng lực vào đó mà khởi sự, như là học đánh đàn. Sau khi khởi sự được việc này một thời gian, không cần phải tập trung vào đó 100% nữa, thì hãy tính đến khởi sự chuyện khác. Sau khi khởi sự học đàn được 3 tháng thì hãy khởi sự đi học anh văn. Trong một số trường hợp khó khăn, chỉ hành động "khởi sự" mà thôi đã là đi được 50% đọan đường. Ví dụ: Người nghiện ma túy xung phong vào trại chữa bệnh là đã hết 50% đoạn đường, 50% còn lại là chữa bệnh trong trại. Thầm yêu trộm nhớ nàng, khởi sự mở miệng mời nàng đi ăn kem, cũng đáng giá ít nhắt là 30% đoạn đường. Nàng bằng lòng đi ăn, thì đoạn đường đã đí được 50%. Tất cả mọi thứ còn lại là 50% kia. Đôi khi chúng ta không dám khởi sự vì sợ chữ "không". Mời nàng thì sợ nàng từ chối, xin việc thì sợ bị từ chối, làm thương mãi thì sợ không thành. Chữ "không" có sức mạnh bắt chúng ta ì ra đó nếu ta không chiến thắng nó được. Các bạn, chữ "Không" chẳng cắn ai được. Mời nàng đi ăn, cũng lắm là được chữ "không", có bệnh hoạn gì đâu mà sợ. Biết đâu tiêu chuẩn của nàng là phải lần thứ ba mới được "ừ". Vậy thì phải qua 2 lần "không" trước đó để chứng tỏ thành tâm. Mỗi chữ "không" là một bước tiến gần đến "ừ". Nhiều cô đã được mẹ tư vấn là không bao giờ "ừ" lần được mời đầu tiên. Nhiều chuyện khác ở đời cũng không hợp tác với mình ngay lúc đầu như thế. Phải vài lần "No" mới đến lần "Yes". Không khởi sự vì sợ đụng "No" thì chẳng bao giờ thành việc gì. Các bạn, khởi sự việc gì cũng đòi hỏi một chút cố gắng, một chút quyết tâm. Cho nên ta cần phải tập thói quen, nếu ta muốn điều gì đó mạnh mẽ thì hãy chuẩn bị tập trung tư tưởng và năng lực để nói "Vâng, hôm nay tôi bắt đầu". Bước khởi sự đó tự nó là một quãng đường khá dài trong cả tiến trình. Ước muốn sẽ chẳng bao giờ trở thành cái gì khác hơn là một mơ mộng trong đầu, trừ khi ta bắt đầu làm việc để biến ước muốn thành hiện thực. Chúc các bạn một ngày năng động. Mến, Hoành © copyright 2011 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | ||
| Thơ Thái Việt Nam và việc dịch sang ngôn ngữ phổ thông Posted: 13 Jul 2011 04:06 PM PDT
Kho tàng truyện thơ Thái, Việt Nam vô cùng phong phú cả về nội dung và nghệ thuật. Nhiều tác phẩm đã được dịch ra ngôn ngữ phổ thông và được giảng dạy trong nhà trường, đặc biệt thiên truyện thơ: "Xống chụ xon xao" – Tiễn dặn người yêu. Thơ Thái rất phong phú về cả nội dung và nghệ thuật, song khi dịch sang ngôn ngữ phổ thông, mỗi dịch giả lại thể hiện với những hình thức khác nhau: văn xuôi, thơ tự do, thơ song thất lục bát… Vậy thơ Thái có những đặc trưng cơ bản như thế nào và nên dịch như thế nào để đảm bảo được nội dung và nghệ thuật đặc trưng của thơ Thái? Thơ Thái bao gồm các thể loại từ đơn giản đến phức tạp, từ ít chữ đến nhiều chữ – từ hai ba chữ đến bảy tám chữ hoặc nhiều hơn nữa, có thể độc lâp về số chữ, nhưng cũng có thể pha trộn. Có thể nghiêm ngặt về luật thơ nhưng cũng có thể tự do phá vần, phá luật tạo nên sự uyển chuyển linh hoạt. Các thể từ bốn chữ trở xuống gồm các bài vè, tấu, đồng dao, câu đố, ít ngâm hát được. Thể thơ chính thống có thể ngâm hát được là từ năm chữ trở lên, trong đó thể bảy chữ là trụ cột chính của nền thơ Thái. Tuy vậy, các bài hát đôi khi cũng có pha trộn những câu ba bốn chữ vào ngâm hát để phá thế đơn điệu. Thể hai chữ: là những bài vè thường phổ biến trong đồng dao như các bài Pặt vĩ (Phẩy quạt), Tép xép tẻm pan (Vẽ dấu)… Pặt vi - Phẩy quạt Ti cọng - Đánh chiêng Ti cống - Đánh cồng Năng chặc - Ngồi lái Năng chong – Ngồi ngai Án khong - Đếm của Kin lảu - Uống rượu Xắc tạu - Chống gậy Khảu đon… - Vào khu (rừng) Các bài vè này thường hay dùng trong trò chơi bói tương lai của trẻ em. Các bài này có tính tự do trong gieo vần, chủ yếu là: chữ đầu câu sau vần với chữ cuối câu trước. Song như thế mãi nó cũng đơn điệu, nên thỉnh thoảng người ta phải chuyển cách gieo vần khác đi như: từ cuối của câu sau vần với từ cuối của câu trước. Thậm chí có lúc còn phá vần (không cần vần) nhưng vẫn đảm bảo được nhịp điệu thơ. Vì thế vè dễ sáng tác và có thể kéo dài vô tận. Thể ba chữ: cũng phổ biến trong đồng dao, trong các bài thơ biến thể tự do. Số bài thơ sử dụng thể ba chữ khá phổ biến, nhưng thuần tuý ba chữ thì cũng không nhiều. Dưới đây là trích bài “Nạp đao” (Đếm sao): Nưng đuông đao - Một ông sao Xao đuông đí - Hai chục ông lấp lánh Xí pá nhả - Bốn bãi cỏ Hả pá pẹt - Năm bãi cỏ may Pét lạu khảu - Tám bịch thóc Cảu đon xãi - Chín bãi cát Quãi me lụk - Trâu mẹ con Cụk po mạ… - Bờm ngựa đực Nhiều bài thơ, thể ba chữ được sử dụng từng đoạn ngắn để tạo sự dồn dập cho bài thơ, như tiếng trống báo động, trong thơ Thái miêu tả các cảnh thúc giục, hối hả rất đạt về mặt nghệ thuật. Đức mã lỏ - Khuya lắm rồi, Đứn mã lỏ - Khoắt lắm rồi, Đức đứn lẹo cáy khẻ tứn khăn - Khuya khoắt rồi gà gô dậy gáy. Thể bốn chữ : Từ đầu hoặc từ thứ hai câu sau vần với từ cuối câu trước theo kiểu móc xích, hai cách này lần lượt thay thế nhau cho đỡ đơn điệu. Điển hình nhất trong thể này là bài đồng dao “Xáu chẳm mững xột” (Ta chấm mày húp): Xáu chẳm mững xột - Ta chấm mày húp Tốt ók mững đôm - Dắm ra mày ngửi Lẵm côm mững đúp - Khúc tròn mày mút Cúp nọi mững tữ - Nón nhỏ mày đội Khữ nhữ mững pua - Hen suyễn mày mang Khua nọi mững táy… - Cầu nhỏ mày đi Thơ bốn chữ cũng có biến thể nhưng ít gặp hơn. Thể thơ bốn chữ đóng vai trò rất đặc biệt trong việc hình thành các thành ngữ Thái. Người Thái có thói quen nói vần vè bốn chữ một, biểu hiện một ý chung, một khái niệm. Thực tế nó đã trở thành câu nói cửa miệng trong nhân dân, nó có vần vè nhưng rất gần gũi với thoại ngữ : Nặm lay phãy ték - Nước trôi lửa cháy Khửn pũ lỗng lính - Lên núi xuống non Pák vạu khảu cha - Nói năng bàn bạc Thí hãnh pãnh ca - Tính đắt tiếc sức Thảu ké mẳn dữn - Sống lâu già lão Pay lạ mã đai - Đi không về không Tánh lẵm tẵm lửa - Sắm sang diện mã Thể năm chữ: Thể năm chữ đứng vững trong nền thơ ca Thái, cả trong đồng dao, ca dao và thơ hát. Với thơ năm chữ có thể hát ngâm được. Tuy vậy nếu chỉ thuần tuý thơ năm chữ thì rất khó hát ngâm mà cần phải kết hợp với các câu thơ thể bảy chữ trở lên (nhiều khi cả thể thơ ba chữ nữa) nhưng cũng có bài thành bài thơ có thể đọc ngâm hoặc hát được nếu thêm các từ phụ. Thông thường nhất vẫn là ở dạng biến thể, kết hợp với các câu nhiều từ hơn. Cách gieo vần của thể thơ năm chữ thật phong phú do câu thơ đã được mở rộng. Thông thường câu trước đặt vần cho câu sau ở từ cuối, còn câu sau có thể ăn vần với câu trước ở từ thứ nhất, thứ hai, thứ ba (phổ biến nhất) hoặc từ thứ năm (chưa tìm thấy gieo vần ở từ thứ tư). Hãy xem trích đoạn bài “Phay mảy pá” (Lửa cháy rừng): Phãy mảy pá lãm loi - Lửa cháy lan rừng loi Phãy mảy moi phủ chạ - Lửa cháy lông anh đần Phãy mảy mạ bả lĩnh - Lửa cháy ngựa thằng khỉ Lĩnh nghĩn tộc lĩnh hảy - Khỉ thấy cực khỉ khóc Lĩnh bék mạy xong lẵm - Khỉ vác bó hai cây Lĩnh ôm hăm xong kén - Khỉ ngậm dái hai hòn Thể thơ năm chữ đã đi vào các tác phẩm thơ chính thống. Ở các bài thơ lớn, từng đoạn dài hoặc các câu biến thể chuyển tiếp ý thơ, nó là thể chủ công và thường đi xen với thể bảy chữ, chín chữ hoặc ba chữ. Đoạn thơ năm chữ có tính chất kể lể da diết, bùi ngùi, thân thương, vấn vương không dứt. Tác phẩm sử thi “Táy pú xớc” – (Bước đường chinh chiến của cha ông) nổi tiếng được viết chủ yếu bằng thể thơ này. - Thể thơ bảy chữ, chín chữ: là thể thơ chính, được dùng trong các bài thơ vịnh cảnh hoặc các đoạn tả cảnh. Thơ bảy chữ phổ biến trong các sáng tác, các đoạn thơ dài. Thơ chín chữ không phổ biến lắm, nó thường là những câu được chêm vào từng đoạn cho câu thơ đỡ đơn điệu.
Thơ bảy chữ uyển chuyển, nhẹ nhõm, nói chuyện tâm tình rất thích hợp. Nó dùng nhiều trong các bài thơ trữ tình. Có thể nói, đây là thể thơ hoàn chỉnh nhất và có mặt trong mọi lĩnh vực thơ ca của dân tộc Thái. Trong tình ca: … Phó hên nặm vẵng lợc chaư dắng Phó hên nặm vẵng cắm chaư kin Phó hên xửa đăm nĩn chaư tháy Phó hên chụ kẻm máy chaư cha… … Nhìn thấy nước vực sâu muốn đo Nhìn thấy nước vực xanh ước uống Nhìn thấy áo chàm đen ước thay Nhìn thấy má đỏ hây muốn ướm lời… Thể bảy chữ đã đưa thơ Thái đến độ hoàn chỉnh của nghệ thuật thơ ca, nhất là khi sử dụng nó kết hợp với các thể khác mà nó đóng vai trò nòng cốt. Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) có câu: Hó pú nọi lụk tan mã phák Hó mák nọi lụk tan mã mai Xai pũ chuông lính chuỗn mã kiểu lụk lả cu lẹo lo. Gói trầu nhỏ người đem đến gửi Gói cau nhỏ người mang đến dặm Dây uyên ương vươn dài đến cuốn con gái út ta rồi. - Các thể thơ khác, thể hỗn hợp và mở rộng: có thể xem thể bảy chữ là thể trụ cột của thơ ca Thái. Các thể khác (ít hay nhiều chữ hơn) là biến thể của nó. - Thể sáu chữ và tám chữ không gặp những bài nguyên thể. Nó chỉ là những câu xen vào các thể khác, chủ yếu là xen vào thể bảy chữ. Ngay cả việc xen kẽ này cũng hiếm những câu tám và sáu chữ, đó cũng là điều khác biệt. Trong truyện thơ Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) chỉ tìm thấy vài câu không mang tính điển hình. Câu thơ tám chữ hay chứa cặp từ có tính chất nhấn ý song đôi khi người ta bỏ qua cặp từ này và câu thơ trở thành sáu chữ. Tuy vậy cũng có câu không có cặp từ nhấn ý này, chúng là câu thơ tám chữ hoàn chỉnh. Thể chẵn chữ đôi khi có cả câu thơ mười chữ. Tuy hơi hiếm và thường làm nhiệm vụ chống phá sự đơn điệu của mạch thơ, nhưng có trường hợp chúng tạo được những đoạn thơ hay, diễn đạt thành công nhiều hình ảnh và ý thơ đẹp như nhiều đoạn trong Xống chụ xon xao. Các câu thơ tám hoặc mười chữ cho phép hoạ nên những cảnh tượng phức tạp hơn hoặc đôi khi diễn tả được những nghịch cảnh. Thực vậy, chẳng hạn như câu tám chữ, nhờ có khả năng tạo nên các nhóm: 3, 3, 2 chữ; 3, 2, 3 chữ và 2, 3, 3 chữ. Do đó tạo ra khả năng phong phú diễn đạt các tình cảm, tình tiết, tình huống mạch thơ khác nhau. Cũng có khi, câu thơ chẵn chữ xuất hiện chỉ một câu nhằm tạo sự lắng đọng cho người đọc, người nghe, để gây sự chú ý đến nội dung nào đó. - Thể hỗn hợp: từ thể bảy chữ trở lên, hiếm thấy những bài thuần tuý một thể thơ. Thông thường hay pha trộn các thể ba, năm, bảy, chín chữ; xen kẽ từng cặp hoặc lẫn lộn. Thể hỗn hợp là xu thế phát triển hiện nay của thơ Thái. Biểu hiện rõ tính cách tự do phóng khoáng của thơ Thái. Thiên hướng chung của thơ ca Thái là ít chịu gò bó trong khuôn khổ chật hẹp của luật thơ. Có lẽ, vì vậy mà nhiều người Thái biết làm thơ. - Thể mở rộng, người ta có thể vươn rộng ra, những chữ ấy có thể bỏ đi mà không ảnh hưởng gì, nhưng nếu ngâm hát thì những chữ mở rộng đó lại rất cần thiết. Thể mở rộng giúp cho thơ Thái có khả năng trình bày những vấn đề rộng lớn đòi hỏi phát triển ý thơ một cách logic. Đối với các thể thơ nhiều chữ, đặc biệt là các thể hỗn hợp và mở rộng, cách gieo vần thật là phong phú, bởi số chữ có thể gieo vần được ở câu sau với chữ cuối của câu trước đã rất nhiều. Ngôn ngữ Thái giàu thanh điệu, nên thơ Thái cũng có nhiều âm thanh trầm bổng khác nhau. Điều này, cùng với vần điệu, cách gieo vần phong phú đã làm cho thơ Thái uyển chuyển gần với âm nhạc. Đọc thơ Thái, nhất là các thể thơ từ năm chữ trở lên, rất gần với hát, nên người Thái gọi chung thơ là “bãi khắp”, đọc thơ thì gọi là “khắp xư” (hát thơ). Từ những khái lược về đặc trưng của thơ Thái, ta thấy thơ Thái rất linh hoạt, không gò bó theo một khuôn mẫu nào, chưa nói về mặt nghệ thuật, thơ Thái rất hay dùng những biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, cường điệu để chuyển tải những ý tưởng sâu sắc. Thơ Thái cũng không chia thành khổ, mà chỉ chia đoạn. Bởi vậy chỉ có thể dịch thơ Thái sang ngôn ngữ phổ thông theo thể thơ tự do và chỉ có thể thơ tự do mới gần với nguyên tác cả về nội dung và nghệ thuật. Hiểu về bản chất của Thái, một nền thơ ca phát triển của một dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, việc dịch sang ngôn ngữ phổ thông như thế nào để không mất đi vẻ đẹp tiềm ẩn như viên ngọc quí càng mài càng sáng là trách nhiệm của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nghiên cứu ngôn ngữ, nhà thơ… giúp mọi người hiểu thêm một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Cà Văn Chung và Trần Vân Hạc Filed under: Thơ, Văn Hóa Tagged: Thơ, Văn Hóa | ||
| Posted: 13 Jul 2011 04:06 PM PDT
Loài hoa yêu thích, bây giờ, nó là gì? Ngày xưa ta thích bông hồng xanh mọc ra từ câu chuyện cổ tích của một nàng công chúa nọ. Đóa hồng ấy có thật không trong thế giới hiện đại? Ta vẫn mơ về nó suốt nhiều năm sau đó! Ta cứ vô tư như vậy trong niềm mộng ước xinh đẹp về một đóa hồng xanh, loại hoa ta ưa thích mà chưa một lần chạm tay, chưa một lần được ngửi hương thơm. Nó cứ đẹp vậy, và lung linh trong miền suy tưởng. Một ngày, khi ta bỗng phải xa cái cây ta trèo hằng ngày. Miền trống trải trong ta không phải là đóa hoa xinh đẹp chưa từng được ngắm kia. Nó chỉ đơn giản, là một bóng mát xanh, và loài hoa ta yêu, chúng là những vương miện li ti đậu vào vạt áo. Chúng ngào ngạt tỏa hương mỗi độ hè về. Chúng làm ta say khi ngập sâu vào làn hương. Chúng quấn quýt bên ta, theo vào tận giấc ngủ. Chúng bình dị. Chúng kết chùm. Chúng xanh xanh vàng vàng. Chúng là nỗi niềm chưa nói. Là nồng nàn những yêu thương. Ơ hay, chúng vẫn bên ta suốt một thời thơ ấu, vậy mà khi xa ta mới chợt nhận ra… loài hoa ta yêu, nào có phải bông hồng xanh xinh đẹp mà mơ hồ, không có thực kia. Nó ngay đây, vẫn bên ta hằng ngày, bền bỉ bao năm tháng qua, và sẽ còn gợi lại trong kí ức nhiều năm sau đó. Nó là hoa vú sữa. Hoa vú sữa, loài hoa ấy giờ là kỉ niệm. Ta chưa có loài hoa yêu nhất lúc này, nhưng một điều chắc chắn rằng, yêu loài hoa những người yêu mến thích. Kì lạ thay có thể yêu thứ người khác thích! Chỉ đơn giản vì chúng làm họ vui, có thế thôi! Ngọc Nho Filed under: Văn Tagged: Văn | ||
| TQ kiên quyết chỉ đàm phán song phương Posted: 13 Jul 2011 04:05 PM PDT Sau khi Philippines đề xuất mang tranh chấp Biển Đông cho Liên Hiệp Quốc phân định, Trung Quốc tái khẳng định quan điểm chỉ giải quyết bằng đàm phán song phương. Thứ Sáu tuần trước tại Bắc Kinh, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã đề xuất với người đồng nhiệm Dương Khiết Trì về việc mang các bất đồng về chủ quyền biển ra cho Tòa án Quốc tế về Luật Biển giải quyết. Đề xuất của Philippines đã bị Trung Quốc bác bỏ. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói tại một cuộc họp báo hôm thứ Ba 12/07: “Lập trường của Trung Quốc về Nam Hải (Biển Đông) là nhất quán và rõ ràng”. “Trung Quốc luôn luôn kiên trì quan điểm rằng tranh chấp Nam Hải phải được giải quyết qua đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan dựa trên luật pháp quốc tế đã được thừa nhận.” Người đứng đầu quân đội Trung Quốc hôm thứ Hai chỉ trích Mỹ một cách gay gắt về việc Washington tham gia diễn tập chung với các quốc gia cùng chia sẻ Biển Đông. Một hôm trước đó, Tổng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ, Đô đốc Mike Mullen, nói tại Bắc Kinh rằng Mỹ sẽ duy trì hiện diện tại khu vực và yêu cầu các bên tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các tranh chấp. Trung Quốc vẫn kiên quyết lập trường đàm phán tay đôi với các nước liên quan, chính sách mà các chỉ trích gia gọi là “chia để trị”. Tòa án Quốc tế về Luật biểnNgoại trưởng Albert del Rosario vừa thăm Trung Quốc hồi tuần trước và đã kêu gọi mang tranh chấp Biển Đông ra Tòa án Quốc tế về Luật Biển.
Người phát ngôn TQ Hồng Lỗi Đây là một tổ chức luật pháp độc lập lập ra trong khuôn khổ Công ước LHQ về Luật Biển (Unclos) để nhằm giải quyết các bất đồng. Phát biểu với các phóng viên sau khi trở về Philippines, ông de Rosario nói ông đã chỉ rõ cho phía Trung Quốc, rằng tuyên bố chủ quyền của Philippines đối với Biển Đông, mà Philippines nay gọi là Biển Tây Philippine, hoàn toàn “dựa trên luật pháp quốc tế, nhất là Unclos." Ông ngoại trưởng cũng nói trong khi đóm tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc phần nhiều dựa trên “chứng cứ lịch sử”. Hôm thứ Hai 11/07, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Phó Oánh kêu gọi Việt Nam và Philippines sử dụng biện pháp ‘ngoại giao khôn khéo’ trong khi Bắc Kinh điều tàu ngư chính tới Trường Sa. Bà Phó Oánh được dẫn lời nói trong bài phát biểu tựa đề ‘Phát triển hòa bình của Trung Quốc và môi trường quốc tế’ tại Hong Kong: “Điều quan trọng là cần xử lý các điểm bất đồng”. “Trung Quốc, Việt Nam và Philippines cần sử dụng các biện pháp ngoại giao khôn ngoan nhằm bảo đảm rằng các khác biệt của chúng ta được kiềm chế, xử lý tốt và chúng ta sẽ ngăn chặn không để các khác biệt ảnh hưởng tới quan hệ chung.” Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông | ||
| Mumbai rung chuyển vì các vụ nổ Posted: 13 Jul 2011 04:04 PM PDT Các quan chức Ấn Độ nói đây là vụ “tấn công khủng bố Cảnh sát nói ba vụ nổ diễn ra gần như cùng lúc đã làm rung chuyển Mumbai, thủ đô thương mại của Ấn Độ. Mười bẩy người thiệt mạng và 81 người bị thương, theo lời ông Prithviraj Chavan, thủ hiến bang Maharashtra. Ông nói các vụ nổ vào giờ cao điểm buổi tối ở Mumbai là “cuộc tấn công phối hợp của khủng bố”. Một vụ xảy ra ở Zaveri Bazaar, một vụ khác ở khu thương mại Opera House và vụ thứ ba ở khu Dadar thuộc trung tâm thành phố. Các nguồn tin cảnh sát nói những vụ nổ này do bom tự chế gây ra. Mumbai là nơi đã xảy ra vụ tấn công của 10 tay súng làm 170 người chết hồi tháng Mười Một năm 2008. Ba vụ nổ lần này xảy ra ở những khu vào loại đông dân nhất tại thành phố. Cảnh giác cao độ Các vụ nổ xảy ra vào lúc 1900 giờ địa phương (1330 GMT) khi những người đi làm rời công sở về nhà. Bộ trưởng Nội vụ P Chidambaram nói Mumbai đã được đặt trong tình trạng cảnh giác cao độ sau các vụ tấn công và một đội đặc nhiệm đang sẵn sàng trực chiến. Thủ đô Delhi, thành phố Calcutta và một số thành phố khác cũng đang ở trong tình trạng báo động. Ông Chidambaram thúc giục người dân giữ bình tĩnh. Các điều tra viên đã được điều từ Delhi và Hyderabad tới nơi xảy ra vụ nổ. Chính quyền chưa cho biết ai có thể đứng đằng sau cuộc tấn công này và chưa nhóm nào đứng ra nhận trách nhiệm. Vụ nổ tại khu Zaveri Bazaar ở mạn nam Mumbai được cho là xảy ra tại một tiệm kim hoàn, theo phóng viên BBC Rajini Vaidyanathan ở Mumbai. Vụ nổ thứ ba xảy ra ở khu Opera House, cũng thuộc mạn nam Mumba, vào lúc có đông người đi lại. Còn vụ ở khu Dadar tại trung tâm thành phố xảy ra trên taxi, gần một bến xe buýt. Theo một số nguồn tin, các vụ nổ xảy ra vào ngày sinh nhật của Mohammad Ajmal Amir Qasab, tay súng duy nhất còn sống sót trong vụ tấn công hồi năm 2008. Khi đó các tay súng đã nhắm vào hai khách sạn cao cấp, một ga tàu đông ngườ, một trung tâm Do thái và những nơi mà khách ngoại quốc hay đến khác. Ấn Độ đổ lỗi cho nhóm dân quân Lashkar-e-Taiba militan gây ra vụ tấn công. Pakistan đã có tuyên bố lên án các vụ tấn công mới nhất. Filed under: Thế giới Tagged: Thế giới |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |
No comments:
Post a Comment