Thursday, July 21, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Tòng Sơn, danh cầm Harmonica Việt Nam

Posted: 21 Jul 2011 02:08 PM PDT

 

Người ta phong Tòng Sơn là “quái kiệt” khi ông có thể thổi một lúc hai cây kèn Harmonica, lại vừa ăn chuối và …uống bia mà không hề đứt mạch bài hát trong khi biểu diễn.

Tiếng kèn Harmonica của Tòng Sơn ở Việt Nam có thể gọi là “vô đối”, nghĩa là không có đối thủ, bởi khả năng biểu diễn của ông thuộc loại “có một không hai”.

Ông kể: ” Hồi tôi còn là một cậu thiếu niên 15-16 tuổi, làng tôi bị lính Tây bố ráp, mọi người chạy hoảng loạn. Khi giặc rút, tôi tình cờ lượm được cây kèn của một người lính Pháp đánh rơi trong đống đổ nát. Tôi thích quá, giữ rịt, không cho anh em trong nhà sờ mó đến. Tôi học thổi vỡ lòng với một ông cậu cũng biết sơ sơ về kèn. Dạo đó, tôi chưa hề biết một nốt nhạc nào, cậu tôi phải vẽ khuôn và ghi tên từng nốt trên một tờ giấy để tôi bỏ vào túi để lúc nào cũng có thể lấy ra học.

Năm 1950, tôi lên Sài Gòn làm thợ sắp chữ trong một nhà in, không quên mang theo cây kèn “lượm mót” ấy. Ngày đi làm, đêm về, tôi lại trút nỗi buồn xa nhà vào chiếc kèn. Lúc đó, tôi chưa bao giờ có ý nghĩ trở thành một nghệ sĩ. Nhưng với sự động viên khích lệ của bạn bè, tôi chuyên tâm luyện tập. Đến khi Đài phát thanh Pháp Á tổ chức cuộc thi Tuyển lựa tài tử, tôi đã trúng tuyển. Từ đó, tôi đi vào con đường biểu diễn chuyên nghiệp.

Một lần, có nghệ sĩ người Mỹ tới Sài Gòn biểu diễn. Anh ta chơi harmonica rất điêu luyện. Một người bạn thân ghé tai tôi nói nhỏ: Tòng Sơn…lé mắt rồi!. Dẫu biết bạn mình nói chơi, nhưng tôi vẫn thấy ức và quyết định làm một cái gì đó để chứng tỏ người Việt mình chơi kèn đâu có kém. Thế là tôi tập vừa ăn chuối vừa thổi kèn. Khổ luyện mãi nhưng không dám đem ra biểu diễn. Nhưng, trong một lần biểu diễn dưới Cần Thơ, tôi đánh liều, ai ngờ thành công. Tôi tự tin hơn, về Sài Gòn diễn chiêu này và cũng được tán thưởng nhiệt liệt. Sau đó, tôi mày mò tìm chiêu mới, vừa uống nước ngọt vừa thổi. Năm 1957, trong tiệc cưới của ca sĩ Duy Mỹ, nhóm bạn của tôi là nhạc sĩ Khánh Băng, Phùng Trọng buộc tôi phải lên đời: thay nước ngọt bằng bia. Sau đó, những tiết mục của tôi được xếp vào danh mục biểu diễn của các nghệ sĩ tôn xưng là quái kiệt như Ba Vân, Trần Văn Trạch.

Các bạn xem và nghe danh cầm Harmonica Tòng Sơn biểu diễn:
 


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Làm thế nào để thành resourceful?

Posted: 21 Jul 2011 02:06 PM PDT

Chào các bạn,

Người resourceful là người quen biết được nhiều người với những nguồn nhân lực vật lực khác nhau. Vậy thì muốn trở thành resourceful bạn phải làm hai điều: (1) networking để quen biết nhiều và (2) làm cho người ta trọng lời nói của mình để mình có hiệu quả khi nhờ giúp đỡ hay mời hợp tác.

1. Networking

Muốn quen biết nhiều người thì ta phải vào nơi đông người và làm quen—hội thảo, các khóa huấn luyện, các buổi họp, các hoạt động xã hội, các hội đoàn nhất là các hội đoàn chuyên gia, nhà thờ nhà chùa…

Tại các cuộc họp hay lớp học, người ta trao đổi business cards và thông tin về nhau. Ghi thêm chi tiết của người kia mà mình có vào phía sau business card của họ.

Hỏi thăm nhau về nghề nghiêp để biết thêm một chút về khả năng của họ.

Rủ nhau đi ăn trưa hay uống cà phê để biết nhau được nhiều hơn.

Nên hỏi thăm nhau về đời tư nhau một chút mà không xâm phạm privacy của nhau—hồi trước anh học ở đâu, (hỏi người cùng phái) anh/chị có vợ/chồng con cái gì chưa … Các câu hỏi về đời tư, ngoài nghề nghiệp, làm cho người ta hiểu nhau và gần nhau hơn.

Giới thiệu bạn bè cho người mới quen. "Chị bán địa ốc, mình có người bạn chuyên cho vay địa ốc, chị nghĩ là em nên giới thiệu hai chị với nhau không?" Đây là networking cho mình bằng cách giúp người khác networking.

Thời gian có hạn cho nên tìm cách biết người ta, hơn là quá nhiều thời giờ quảng cáo mình. Nếu mình dùng hết thời giờ để nói về mình thì mình chẳng biết gì về người kia để mà thành resourceful. Hơn nữa, ai cũng thích mình hỏi họ hơn là thích nghe mình nói về mình. Ưu tiên một là biết người ta, ưu tiên hai là nói về chính mình.

Khi về nhà thì email ngay một lá thơ cảm ơn đã cho mình "a good time" để tiện bề liên lạc sau này.

Nhiều người có database riêng về người quen, có khá đầy đủ thông tin.

2. Làm cho người ta trọng lời nói của mình

Đây mới là việc khó.

• Nếu bạn khiêm tốn, thành thật và yêu người tự nhiên bạn có sức hút làm cho người ta mến rất mạnh.

Trong ba thứ khiêm tốn, thành thật và yêu người, thì đối với người mới gặp, khiêm tốn có sức hút mạnh nhất. Nhưng thành thật có giá trị thực tiễn mạnh nhất, vì nó làm cho người ta cảm thấy có thể tin mình được. Mọi người sẵn sàng bỏ qua tính kiêu căng của bạn một chút, nhưng nếu bạn ăn nói có vẻ không đáng tin cậy thì chẳng ai tin bạn cả. Cho nên ăn nói chậm rãi, từ tốn, lựa từ chính xác để nói chuyện. Đừng nói ào ào.

• Nếu bạn nói năng lưu loát trong lãnh vực chuyên môn của bạn, người ta sẽ có ấn tượng tốt về kỹ năng nghề nghiệp của bạn.

• Các chuyện nhậy cảm thì đừng nên rớ vào—chính trị, tôn giáo, phá thai, đồng tính luyến ái… vì mình chẳng biết người kia nghĩ gì, nói trật đường ray thì mất bạn.

• Chỉ nói chuyện tích cực, với phong cách tích cực. Mở miệng ra một câu tiêu cực là mình mất hết sự hấp dẫn.

Khi người ta mến và phục mình thì tự nhiên là lời nói mình có giá trị.

Và sự thật là khi đã đến cấp cao một chút trong xã hội, người ta chỉ làm việc với các bạn thâm niên và qua bạn thâm niên của họ. Việc gì cũng nhờ các người bạn lâu năm của mình toan tính với mình, hay giới thiệu người cho mình. Cho nên, network chính của lãnh đạo là những người bạn thân tình lâu năm. Nếu ta không biết cách sống với bạn bè, thì network số 1 đó ta sẽ không bao giờ có.

Chúc các bạn một ngày resourceful.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Lời bào chữa cho một cô gái trước vành móng ngựa.

Posted: 21 Jul 2011 02:05 PM PDT

 

Quý tặng hai cháu Giang – Quyên

Một cô gái trẻ yêu thích ca hát, nhưng cô chỉ hát vụng trộm khi ở nhà một mình. Cô nuôi một con chim nhỏ, hàng ngày làm bạn với nó, và thường hát cho nó nghe. Điều đó khiến anh chồng của cô tức giận. Nhân một lần cô gái ra khỏi nhà, anh chồng đã vặn cổ con chim. Bên xác con chim nhỏ, cô gái đã gần như phát điên. Và tiện tay vớ được khẩu súng săn của chồng, cô đã bắn chết anh ta…

Đó là nội dung tóm tắt một vở kịch Mỹ mà cháu gái tôi đang theo học ngành thương mại ở một trường đại học Hoa Kỳ gửi về cho tôi bằng thư điện tử, kèm theo một bài luận văn và mấy dòng ngắn gọn: "Chú ạ, cháu phải viết một luận văn dưới hình thức là lời bào chữa của luật sư nhằm chứng minh cho sự vô tội của cô gái trong vở kịch trên và cãi cho cô ta được trắng án! Cháu đã đọc hàng đống tài liệu cả tháng ròng và viết bài này trong hai tuần đấy! Chú góp ý cho cháu nhé, càng sớm càng tốt! Cháu rất biết ơn chú…"

Tôi và cháu gái ít thư từ trao đổi trực tiếp, mà chủ yếu thông qua bố mẹ cháu để biết được tình hình của nhau. Vì tình thân giữa hai chú cháu cũng chỉ ở mức bình thường; sau nữa, lĩnh vực của cháu xa lạ với một kẻ "mây gió" như tôi, còn cháu thì bị cuốn hút vào những quy luật kinh tế và những vấn đề giao dịch thương mại quá ư rắc rối mà thú thực là tôi không hiểu và không thấy hấp dẫn chút nào! Khi ba cháu, trong một cuộc trò chuyện thông báo là cháu bên đó phải học cả xã hội học, tâm lý học, nghệ thuật học, thì tôi cho rằng đó là điều cần thiết mà các trường đại học kinh tế của ta cần phải học tập. Nhưng tôi đã thật bất ngờ với bài luận văn của cháu! Tôi không thể ngờ, một cô bé chưa đầy 20 tuổi đầu, vốn chẳng thích thú gì với những vấn đề xã hội, chính trị, văn chương, triết học, cùng trang lứa với cái thế hệ học trò đã sản sinh ra những giai thoại "làm văn" cười chảy ra nước mắt từng được công khai trên nhiều báo chí nước ta, lại là tác giả của một bài viết chững chạc, khúc chiết, với một vốn kiến văn đáng kinh ngạc sau ba năm du học! Lẽ dĩ nhiên, cũng vẫn có không ít những ngây ngô tất yếu, điều đó càng chứng tỏ cháu tôi đã tự mình viết ra nó!

Vì bận bịu, tôi đã không trả lời được cho cháu. Sau đó, qua bố mẹ cháu, tôi được biết bài luận văn của cháu được đánh giá xuất sắc, và được đọc trước sinh viên toàn khoá làm mẫu, góp phần làm vẻ vang cho sinh viên Việt Nam trên đất Mỹ…

Tôi sẽ quên cái bài luận học trò ấy, nếu như không có một cuộc tranh luận nho nhỏ với bạn tôi, một phó tiến sĩ đang dạy ở một trường đại học kinh doanh có tiếng. Bạn tôi tuyên bố hùng hồn: "Với sinh viên của tôi thì chỉ cần thông thạo những kiến thức kinh tế chuyên sâu, biết vi tính, sử dụng tốt ngoại ngữ chuyên ngành, cộng với những kinh nghiệm bước đầu trong môi trường kinh doanh là đã có thể kiếm ngay được việc làm ngon lành, thế là đủ". Bình thường thì tôi đã gật đầu đồng tình. Nhưng bài luận văn của cô cháu gái đã giúp tôi có một cái nhìn khác bạn tôi. "Thế còn độ nhạy bén và sự cao thượng của đời sống tinh thần? Nếu không có nó, sẽ mãi mãi chỉ là kẻ làm thuê, một người lao động tầm thường…" Thực tế đã cho tôi thấy: óc phê phán, năng lực tư duy độc lập, khả năng vận dụng những hiểu biết sách vở, và đặc biệt là cảm xúc nghệ thuật hoà quyện với ý thức công dân, với khát vọng dân chủ và nhân đạo…- đó là những gì mà ngôi trường đại học xa lạ với tôi và thế hệ của tôi kia đã đem lại được cho sinh viên của họ, và thật đáng buồn, lại là những cái hầu như đang còn thiếu vắng trong các trường đại học của ta – cả khoa học xã hội lẫn khoa học tự nhiên! Phải chăng, điều này cũng là một trong những nguyên nhân khiến "các trường đại học ở Việt Nam hầu như đang đứng ngoài trào lưu chung của thế giới"- như nhận định của ngài Thomas Vallely, giám đốc chương trình Việt Nam của đại học Harvard trong bản Đề cương thảo luận "Xây dựng trường đại học hàng đầu Việt Nam" gửi đến Thủ tướng và Chính phủ Việt Nam cuối năm 2005 "với mục đích cuối cùng của tất cả chúng ta là: Giáo dục Việt Nam sẽ bứt lên để cạnh tranh cùng thế giới" (Đề cương thảo luận nói trên)… Tôi quyết định lục tìm lại bài văn nọ, đem sửa chữa chút ít- trên tinh thần tôn trọng nguyên văn, đặc biệt là cái nhiệt tình xã hội đáng quý của cháu tôi trong đó, tìm cách giới thiệu cho bạn bè tôi ở các trường phổ thông và đại học, với mong mỏi đóng góp chút gì chăng cho Sự nghiệp Đổi mới Giáo dục đang được phát động ở quy mô toàn xã hội.

Sau đây là toàn bộ bài luận văn đó.
 

"Kính thưa ông Chủ toạ phiên toà và Hội đồng xét xử!

Những tình huống trong vở kịch đã xác định khá cụ thể bối cảnh của xung đột bi kịch, trong đó xã hội tiêu thụ và chủ nghĩa cá nhân cực đoan đã ở giai đoạn tột cùng của mình. Trong bối cảnh đó, khi người chồng sống cô độc không bè bạn, khi tâm hồn anh ta trống rỗng và cằn cỗi, thì anh ta đã là một nạn nhân đáng thương.

Có thể lý giải sâu thêm về số phận ấy: Triết lý hưởng thụ vật chất của cả một xã hội đã gặm nhấm tâm hồn và thể xác anh ta, những thói lọc lừa điên đảo của người đời (trong đó có thể có cả bạn bè và người thân của anh ta) cùng những thất bại, những đỗ vỡ niềm tin đã giết chết ở anh ta những mầm thiện cuối cùng của nhân tính. Anh ta là hậu duệ của những nhân vật "con người thừa", "con người trống rỗng" trong văn học suốt một thế kỷ XIX; và sang đến thể kỷ XX, những nhân vật đó còn bị khủng hoảng u ám hơn (trong tác phẩm "Âm thanh và cuồng nộ" của Faukner, "Hoá thân", "Vụ án" của F. Kafka, những tác phẩm kịch và tiểu thuyết phi lý của nhiều nhà văn Anh, Pháp, Mỹ…) Họ "nổi loạn" để chống lại những gì phí lý, chống lại chính sự tồn tại của bản thân và đồng thời cũng đập phá tất cả những gì là nhân bản, tốt đẹp của con người. Nhưng họ không thể tự ý thức được một điều: trong khi họ "nổi loạn", họ đã bị "tha hoá" và càng ngày càng sa vào địa ngục của sự tha hoá. Khi đó, trong thế giới tinh thần của họ, không thể có sự băn khoăn tạo nên cốt lõi của thế kỷ nhân văn: tồn tại hay không tồn tại (Tobe ot not tobe) – như một nhân vật của U. Sêcxpia; càng không thể có thế giới của sự trong sạch, dịu dàng, sự hồn nhiên, nhân ái như nhiều nhân vật của văn học lãng mạn trong tác phẩm của V. Huygô, G. Xăng…

Có thể nói, nhân vật người chồng trong vở kịch là sản phẩm của một thế giới điên loạn, khủng hoảng, mất phương hướng, và anh ta từ chỗ là một nạn nhân đáng thương (giống như nhân vật Jozep K trong "Vụ án" của F. Kafka đã bị "giết chết như một con chó") trở thành một tên đao phủ lạnh lùng đối với cái đẹp, cái thiện. Hành động giết chết con chim-vốn là người bạn gần gũi nhất của cô vợ, xét đến cùng không chỉ là kết quả của sự ghen tuông phi lý, không chỉ đem đến cho anh ta một niềm vui độc ác, mà anh ta làm điều đó như một bản năng, một cách để chứng tỏ bản ngã và lý do sự tồn tại của mình! Việc giết chết con chim chỉ là một hành động trong cả hệ thống hành động của anh ta nhằm phỉ báng, lăng nhục và hành hạ cô vợ nhỏ. Đó chỉ là hành động cuối cùng nhằm hoàn thiện thêm bản chất phi nhân tính của anh ta!

Còn cô vợ, sau cả một thời gian dài sống với một người chồng như thế, chúng ta có thể hiểu những gánh nặng tâm lý cùng những tổn thương tinh thần đau đớn của cô. Không cần phân tích nhiều cũng có thể hiểu sự gắn bó của cô đối với con chim có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống bị đày đoạ ấy. Cảnh ngộ đó của cô khiến sự xuất hiện của con chim non trở thành một cứu cánh cho cô để tồn tại. Con chim không chỉ là một người bạn tâm tình, bạn an ủi, nó còn là hiện thân của sự khao khát tự do, khao khát tình thương, khao khát cái đẹp, và khao khát được sống một cách bình yên. Nếu chúng ta đã đọc tác phẩm ngắn độc đáo "Con chim trốn tuyết" của nhà văn Mỹ Paul Gallico, chúng ta sẽ thêm cảm thông với người vợ của vở kịch: Trong truyện trên, một anh hoạ sỹ tật nguyền và một cô gái nhỏ đã gắn bó với một con chim trốn tuyết trong gần chục năm trời. Và khi con chim báo tin cho cô gái biết về cái chết dũng cảm của người đàn ông bằng chính cái chết của mình, cô gái đã rỏ những giọt nước mắt nóng bỏng của tình yêu vừa được thức tỉnh bên xác con chim kỳ lạ. Thưa quý toà, xin được hỏi các quý vị đáng kính ở đây, đã có một ai chưa từng được chứng kiến đứa con nhỏ của mình hoặc một cô bé cậu bé hàng xóm khóc rưng rức khi đưa tang một con mèo hoặc một con chim xấu số mà chúng từng chăm sóc, nuôi nấng? Đối với trẻ thơ, con vật nuôi dưỡng cũng có tâm hồn, cũng thấu hiểu vui buồn của con người. Cô gái nhỏ, người vợ bất hạnh kia khi sống trong sự lạnh lùng ích kỷ của người chồng chắc đã tìm được một chốn ẩn náu kỳ diệu là tuổi thơ của mình. Và phải chăng, chính cô cũng có tâm hồn trong trẻo hồn nhiên như trẻ thơ; cô xa lạ với những toan tính đục ngầu, những mưu mô hiểm độc, những tham vọng nhớp nhúa của thế giới bạo lực xung quanh – trong đó chắc chắn có chồng cô! Khi con chim non bị giết bằng cách vặn cổ, bởi chính bàn tay chồng cô, chúng ta có thể hiểu vì sao cô gái không chỉ tiếc thương, xa xót đến cùng cực, mà còn phẫn nộ đến thù hận. Cô có thể chịu đựng được sự hành hạ về thể xác, chịu đựng được nỗi cô đơn khi bị ghẻ lạnh, thậm chí bị hắt hủi, bị đoạ đày về tinh thần – nhưng khi biểu tượng của tình yêu thương và sự trong sạch tinh khiết của cô bị cướp đoạt, bị giết chết một cách tàn nhẫn thì sự chịu đựng của cô đổ vỡ tan tành.

Thưa quý toà, xin hỏi ai có thể không rỏ nước mắt xót thương cho cô bé hầu gái trong truyện "Buồn ngủ" của nhà văn Nga Antôn Tsêkhôp, khi em vô tình bóp chết đứa trẻ khóc ngặt nghẽo trong tay em hết ngày này qua đêm khác để có thể có được một giấc ngủ trọn vẹn? Chúng ta có nỡ lên án một đứa bé gái là kẻ giết người, trong khi cả một xã hội ô trọc đã cướp đi của em không chỉ những giấc ngủ nho nhỏ mà tước đoạt cả tuổi thơ trong lành? Người vợ trong vở kịch dĩ nhiên không phải là một cô bé nữa, nhưng có điều chắc chắn là tâm hồn trẻ thơ của cô đã không hề bị mất đi, ngược lại còn rực rỡ hơn trong bóng tối của sự độc ác vị kỷ, nó lại còn được soi rọi thêm bởi ánh sáng của chú chim non mà cô nuôi dưỡng bầu bạn!

Chúng tôi không cần viện dẫn ra những lý thuyết phân tâm học của S.Freud nói về "hành vi triệu chứng" hoặc "siêu ý thức cá nhân" để biện hộ cho hành động của cô gái, bởi vì chúng ta đã nhận thấy một cách rõ ràng cái tình thế đã đẩy cô tới chỗ đó. Cảnh ngộ riêng trong một thời gian dài đã khiến một cô gái vốn có bản tính "siêu nhạy cảm" (chữ dùng của Freud) trở nên dữ dội, cô đã hành động như một thứ bản năng mách bảo (và do cả cái thực tế phũ phàng chỉ dẫn nữa: con chim bị vặn gãy cổ). Càng nhút nhát, yếu đuối bao nhiêu, trong cơn bột phát cuồng nộ bất thình lình, cô càng quyết liệt bấy nhiêu.

Thưa quý toà, dù muốn hay không, chúng tôi ở đây bắt buộc phải nhắc đến cái "bản năng siêu ý thức tập thể" của C. Jung, bởi hành động giết chồng của cô gái cần phải được soi sáng bởi một lý thuyết của phân tâm học có liên quan tới ký ức cộng đồng từ thuở thơ ấu của nhân loại. Đó là cái thời mà đối với con người, "vạn vật hữu linh" – mọi vật đều có linh hồn. Đối với một số dân tộc, con chim là vật tổ Tôtem giáo, chúng linh thiêng và có vị trí cao hơn hẳn đời sống cộng đồng. Cái ý thức đó hằn sâu trong tâm khảm nhân loại qua nhiều thế kỷ, nhất là khi chúng đi vào hệ thống tâm linh. Phật giáo cấm sát sinh ngay cả con sâu cái kiến, điều đó làm thành một trong những nền tảng của triết lý từ bi hỉ xả đáng trân trọng của tôn giáo này. Những học thuyết triết học – giáo dục đáng chú ý nhất của thời Phục hưng và thời Ánh sáng đều có liên quan đến việc kêu gọi con người trở về với thiên nhiên (Montenhơ, J. Rutsô, Rabơle, v.v.) Thiên nhiên trong lành đồng nghĩa với tuổi thơ, sự hồn nhiên, sự tinh khiết cao cả, đối lập với xã hội của sắt thép và máu lửa. Thưa quý toà, rõ ràng là cái thiên nhiên theo quan niệm ấy là một phần quan trọng trong tâm hồn cô gái. Con chim cô đã nuôi nấng là cái thiên nhiên đã được tượng hình lại, được chưng cất, và một khi nó bị huỷ hoại thì cũng tức là chính cô bị huỷ diệt. Cái niềm tin ngây thơ mang ý nghĩa nguyên thủy và tôn giáo từ cổ xưa ấy đã từng làm nên ý nghĩa đời cô, và chính là cái bản chất dễ thương, đáng yêu của cô. Chúng ta có nên đứng ở trên một hệ thống luân lý đạo đức sặc mùi kim tiền và khét lẹt vì huỷ hoại thiên nhiên mà lên án cái bản chất đáng yêu đó? Chúng tôi muốn nhấn mạnh điều này: cái bản chất rất người, rất nhân bản kia đã bị vùi dập, nó đã buộc phải nổi loạn một cách não lòng như thế để tự bảo vệ mình. Đó là tiếng gọi "Trở về nơi hoang dã" (Tên một tác phẩm của J. Lơnđơn). Đó cũng là sự nổi loạn của Nora trong vở kịch nổi tiếng "Nhà búp bê" của H. Ibsen – không chấp nhận sự giả dối, đớn hèn, ích kỷ, độc ác để mong vươn tới một cái gì trong sạch, tốt lành như chính thiên nhiên vĩnh cửu.

Cô gái khi hành động giết chồng, chắc chắn là không hề biết mình đang làm công việc của một kẻ sát nhân. Kéo dài một cuộc sống khủng khiếp bên người chồng, cô đã phải câm bặt tiếng hát – dù cô là người hát hay và hay hát. Cũng may là có con chim đã hát thay cho cô, hát cho cô nghe. Chỉ sau khi không còn bóng dáng của người chồng nữa, cô mới được hát, mới có thể hát. Nhưng mong quý toà nhớ giúp cho, lúc này tiếng hát của cô ta ra sao? Khi hai người hàng xóm hỏi cô, cô mới cất nổi tiếng hát ngây ngô, không biết là mình hát, tiếng hát điên loạn của một thiếu nữ làm vợ mà không được làm vợ, làm người mà sống không ra con người, tiếng hát thê thảm của chim thiên nga trước giờ giãy chết ta từng biết trong cảm xúc của nhạc sĩ Pháp Xanh Xăng và nhạc sĩ Nga Traicovski. Vậy đó, thưa quý toà, một lời kết án dù là nhẹ nhất đối với cô gái vô tội kia sẽ là một sự trả thù đối với cái Đẹp đã hơn một lần bị lăng nhục, bị giày xéo. Theo chúng tôi, cô gái đáng thương, chứ không hề có tội!"

Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn


Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa

Sài Gòn hè

Posted: 21 Jul 2011 02:04 PM PDT

 

Sài Gòn đã vào hè với những mảng màu đỏ rực của bướm phượng trên các tán cây.

Phảng phất mưa rào vào những chiều tan ca giữa dòng người đi vội, em đứng lại giữa dòng xe thả hồn cho mưa mải miết tạt vào da mặt. Cơn mưa vội bỏng rát phút ban đầu bỗng chốc lát dịu đi trong một màu trắng xóa giữa con phố dài mất hút giữa làn mưa.

Và những trưa hè nắng rực những hàng cây, em bước dọc con đường rợp bóng cây để hít lấy mùi nắng oi nồng pha lẫn chút gắt của nhựa đường nóng rộp dưới chân đi, em vẫn gọi là mùi Sài Gòn hè xanh.

Nhớ lại những mùa hè năm xưa khi cặp sách quẳng sang một bên, tung tăng cùng mấy đứa bạn cùng lứa trẻ con chơi đuổi bắt giữa đồng cỏ xanh, dựng lều tạm, nấu ăn bằng đồ chơi nhựa và nhảy dây, bắt cóc, u, ken, tạt lon,… sao mà yêu quá hai tiếng gọi “trẻ thơ”.

Tuổi thơ em lớn lên ở một quận vùng ven của Sài Gòn ngày đó, tuổi thơ nghêu ngao những câu ca “Sài Gòn cô tiên năm 2000″, còn lắm những cánh đồng trơ chưa có nhà xây cất. Những ngày hè bọn trẻ gần nhà bày đủ kiểu trò chơi trẻ thơ có em cùng lao vào hò hét. Đó là những buổi chiều rượt đuổi ngoài đồng, hết đếm năm mười lại lấy cỏ lông gà chơi trò đánh giặc, và rồi hát ca ỏm tỏi đóng kịch công chúa và nhà vua, cũng cắt lá dừa làm cờ lọng che hai bên, bứt lá xoài gấp nếp đính chặt bằng tăm nhang làm mũ nhà vua xấp vòng tròn trên tóc, và quân hầu làm kiệu cồng kênh công chúa ngồi trên vai. Đêm đến trăng sáng lại rủ nhau tụm năm tụm ba đạp xe ra đường hái trộm, ghé thăm ngôi nhà thật to có dàn chanh dây thòng ra ngoài bờ tường bọc, thế rồi cứ để 3 đứa con trai cõng nhau đứng trên lưng rướn người hái mấy trái chanh căng tròn và chực ù té chạy khi nghe con chó trong nhà thấy động sửa vang.

Còn nữa những buổi chiều canh bóng nắng sắp tàn lại đem diều đi thả. Ngoài khoảnh đất rộng sau nhà toàn lũ trẻ từ các xóm vài chục đứa mũi thò lò tranh nhau giữ cuộn dây tròng diều và ồn ào la hét. Tị nạnh nhau là thế nhưng đến lúc gió thổi cánh diều no tròn bay cao lại chỉ cho nhau xem và cùng chạy kéo dây hòa những tiếng cười trong vắt. Tiếng cười ấy cứ vang suốt những năm tháng xa xăm và những cơn mơ về một thời đã khuất.

Dòng sông thời gian vẫn trôi, và tuổi thơ trôi cùng nó từ những khúc khuỷu hoang sơ nơi đầu nguồn bé bỏng.

Em cũng chẳng còn những buổi chiều thong dong đạp xe ra khoảng trời mênh mông sau sân bay Tân Sơn Nhất, tìm lại con đập đá nước trong lành và rừng cỏ may thấp thoáng gợn sóng giữa chiều hôm. Em nhớ đến quắt quay khúc nhạc dạo phim thầy trò Đường tăng liêu xiêu đi giữa trời du lãng, mỗi chiều hè ti vi vẫn chiếu cho bọn nhóc tì xem. Em nhớ đến là vô cùng vì biết chẳng còn bao giờ mình được quay về những mùa hè vừa êm đềm, mà rộn rã ấy. Như đã xa lắm rồi cái thuở đến trường, áo trắng học trò và khăn quàng mực tím. Xa lắm:

Những đêm hè
Khi ve ve
Đã ngủ
Tôi lắng nghe
Trên đường Trần Phú
Tiếng chổi tre
Xao xác
Hàng me
Tiếng chổi tre
Đêm hè
Quét rác.

Thời gian như lốc xoáy. Em chẳng còn nơi nao.

Hạnh, Quý ròm và Tiểu long cùng những câu chuyện hè của tuổi học sinh đã trôi xa về một miền cổ tích, có còn lại chăng chỉ là chút nuối tiếc, chút ngơ ngác của tuổi nhỏ ngọt ngào, chút bâng khuâng rạo rực của tuổi mới lớn hồn nhiên, và chút dịu nhẹ đam mê của những mùa hè rực lửa.

Em đi nhé, mùa hè!

Em ép vào lòng những dại khờ và khát vọng, em cất vào kỉ niệm những hình bóng yêu thương, và thả những bông cỏ may đi cùng cánh phượng hồng chấp chới, mang những ánh mắt, nụ cười tuổi nhỏ lắng chìm vào cơn mơ…..

Ngọc Vũ


Filed under: Văn Tagged: Văn

Tiếng thở dài

Posted: 21 Jul 2011 02:03 PM PDT

 

Tiếng thở dài trút vào đêm thành một cơn gió nhẹ. Nó lang thang trên những miền đất trống. Nó lại len lỏi giữa muôn trùng rậm rạp, rối rắm của lá cành. Nó dội vào những bức tường câm nín, âm u rồi phả lại vào mặt người cho đi tiếng thở dài cái âm u ghê rợn, cái nín lặng đến choáng ngợp.

Đầu óc cô ta đang căng hay đang chùng cực độ? Nó như không biết suy nghĩ nữa. Nó giờ là chiếc máy chạy hết công suất đang "nằm mệt nghỉ". Là sự quá tải đến trơ ra đấy, ì một cục, nặng như chì, và có thể vang, có thể nhức như tiếng búa người thợ bổ chan chát vào khối kim loại vừa được nguội.

Tiếng thở dài hình như không dài. Nó là tiếng thở ngắn được lấy thêm một chút hơi và thở ra bằng sự thả lỏng của một lồng ngực không còn muốn níu giữ và một đôi vai không còn muốn gánh gồng. Cơ thể trút ra chỉ bấy nhiêu đấy:…một tiếng thở dài! Nó đờ đẫn, nó mệt nhọc. Nó, là một sự nghỉ ngơi!

Tiếng thở dài không là gì cả! Nó không mang suy nghĩ, cũng chẳng mang tâm trạng. Nó là trống rỗng, là âm thanh của một trái tim và khối óc đã căng quá độ đến chùng ra, không muốn thu lại nữa. Tiếng thở dài là một sợi dây mềm có cảm tưởng như cứ kéo dài ra mãi. Sợi dây mềm và trơn mà tay chỉ muốn vuốt xuôi theo chiều hai đầu của nó, chẳng biết đâu là điểm dừng. Sợi dây nằm giữa hư không vô tận và yên tĩnh, dày đặc đêm đen.

Tiếng thở dài đưa cơn buồn ngủ đến. Mà dẫu sao, chẳng còn hơi sức nữa. Cứ thả mình xuống đấy, thật nhẹ, và ngủ ngay, ngủ chẳng còn biết gì. Tiếng thở dài không giải quyết được vấn đề nhưng nó là sự nghỉ ngơi. Cơ thể sẽ tự bơm căng trở lại sau giấc ngủ. Và khi ngày mới lên, lại đương đầu. Cuộc sống là một hành trình dài hối hả như vậy. Vẫn sẽ yêu cuộc sống. Vẫn sẽ mạnh mẽ vươn lên. Ô kìa, bình minh đang thức dậy!

Ngọc Nho


Filed under: Văn Tagged: Văn

Đời bi kịch của một vị tướng

Posted: 21 Jul 2011 02:02 PM PDT

Bùi Văn Phú

Gửi cho BBC từ California

Đại tá Đặng Văn Quang được phong Chuẩn tướng rồi Thiếu tướng năm 1964 và Trung tướng năm 1965
Ông Đặng Văn Quang được phong Trung tướng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa năm 1965

Trung tướng Đặng Văn Quang, nguyên cố vấn quân sự và an ninh quốc gia của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu qua đời tại Hoa Kỳ, khép lại cuộc đời một vị tướng miền Nam phản ánh của bi kịch chính trường Sài Gòn và quan hệ giữa Hoa Kỳ với Việt Nam Cộng hòa

Ông rời Việt Nam trong những ngày cuối tháng 4-1975, đến trại tị nạn ở bang Arkansas. Sau đó tướng Quang vội vã rời đây vì e ngại nỗi uất hận của đồng hương bột phát sẽ không an toàn cho bản thân ông, vì có một số lời đồn đại không tốt từ thời chiến.

Ông sang Canada thăm con và khi trở lại Hoa Kỳ thì chính phủ Mỹ không cho nhập cảnh mà không nêu lý do. Canada cũng không muốn sự có mặt của tướng Quang trên đất nước họ vì những cáo buộc liên hệ đến ông và muốn trả ông về Việt Nam.

Sự việc đã làm xôn xao dư luận người Việt hải ngoại trong thời gian đầu định cư ở nước ngoài.

Ra đi vất vả

Theo cựu trưởng phân tích gia của CIA Frank Snepp viết trong tác phẩm Decent Interval xuất bản năm 1977, ngày 29-4 tướng Quang đến trước Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong lúc đông người đang chen lấn mong được di tản.

Từ trong sân toà đại sứ, giám đốc CIA tại Việt Nam Tom Polgar nhận ra tiếng tướng Quang gọi và ra lệnh cho lính thủy quân lục chiến mở cổng cho vào. Vào bên trong, tướng Quang tiếp tục tìm cách cầu cứu vì đã bỏ lại người con và cháu bên ngoài.

Theo Snepp, lúc này tướng Quang chẳng còn là người quan trọng đối với Hoa Kỳ vì ông đã "phản bội người Mỹ" khi không báo cho CIA biết về kế hoạch bỏ cao nguyên của Tổng thống Thiệu. Chiều hôm đó tướng Quang được di tản ra khỏi Việt Nam bằng trực thăng.

Trong Decent Interval còn ghi chi tiết là trước đó vài hôm tướng Nguyễn Cao Kỳ đã muốn bắt giam tướng Quang khi các tướng có mặt tại Bộ Tổng tham mưu, nhưng ông đã lẩn thoát được.

Những bất đồng giữa tướng Kỳ và Tổng thống Thiệu trong thời gian nắm quyền lãnh đạo miền Nam, trong khi tướng Quang lại được ông Thiệu tín cẩn, đã gây nhiều hiềm khích giữa tướng Kỳ và tướng Quang với nhiều đồn đoán. Có dư luận cho rằng do phe tướng Kỳ đưa ra, về tham nhũng, buôn bán bạch phiến dính tới tướng Quang mà người dân miền Nam có một thời gian được nghe biết.

Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và Tổng thống Mỹ Johnson tại Đại bản doanh Thái Bình Dương của Mỹ ở Honolulu ngày 19/7/1968
Hai tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Johnson tại Honolulu năm 1968 trong thời kỳ rất khó khăn của VNCH

Tuy nhiên những ghi nhận trong các tác phẩm Decent Interval xuất bản năm 1977 và CIA and the Generals của Thomas L. Ahern, Jr. xuất bản năm 2009 đưa ra những tài liệu được giải mật cho thấy tướng Quang không liên hệ đến các cáo buộc buôn bạch phiến.

Vì tướng Quang được ông Thiệu tin cẩn và ông còn là người liên lạc giữa Dinh Độc lập với CIA nên cơ quan tình báo Mỹ đã có những điều tra riêng về nhân cách và biết rõ ông không liên quan đến bạch phiến như những tin đồn hay thông tin được nhà báo Mỹ Alfred W. McCoy viết trong tác phẩm The Politics of Heroin in Southeast Asia xuất bản vào đầu thập niên 1970.

Nhiều thông tin trong sách này đã được các nhóm chống đối chính quyền của ông Thiệu, điển hình như phong trào chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh, dịch và phát tán tại Việt Nam trong những năm sau khi Hiệp định Paris được kí kết vào tháng 1-1973.

Tổng thống Thiệu lúc đó cho rằng các phong trào chống chính phủ của các tôn giáo Phật giáo, Công giáo là có người Mỹ đứng sau giật dây.

Theo Frank Snepp, tướng Quang là người giao tiếp giữa Dinh Độc lập và Đại sứ quán Mỹ. Ông đã có rất nhiều cuộc gặp với giám đốc cũng như nhân viên cao cấp của CIA ở Sài Gòn để trao đổi tin tức, phân tích tình hình chính trị, quân sự và chính sách của lãnh đạo Việt Nam Cộng hoà với người Mỹ. Snepp nhận xét tướng Quang có nếp sống với chuẩn mực đạo đức cao, sòng phẳng về tiền bạc.

Vì thế câu chuyện tướng Đặng Văn Quang sau khi rời Việt Nam không được chính phủ Mỹ cho định cư, còn Canada đòi trục xuất đã làm xôn xao dư luận một thời.

Sống tạm dung ở Canada tướng Quang đã làm đủ mọi việc để kiếm sống.

“Trong đời tôi mang ơn nhất Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”

Trung tướng Đặng Văn Quang

Phục hồi danh tiếng

Năm 1988, một sĩ quan Lực lượng Đặc biệt của Mỹ, cựu Trung tá Dan Marvin từng phục vụ tại Quân đoàn IV khi tướng Quang là tư lệnh, biết được việc chính phủ Hoa Kỳ không cho phép ông vào Mỹ nên đã vận động để trả lại sự thực và đòi công đạo cho một vị tướng Việt Nam Cộng hoà bị quá nhiều tai tiếng.

Marvin coi tướng Quang là người đã cứu mạng ông trong một tranh chấp lúc chiến tranh khi ông làm cố vấn tại làng Hoà hảo An Phú trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sự kiện này được Dan Marvin ghi trong tác phẩm Expandable Elite xuất bản năm 2003.

Tác giả đưa ra giả thuyết chính phủ Mỹ không cho tướng Quang nhập cư vì ông đã không tán đồng kế hoạch của Hoa Kỳ nhằm ám sát Thái tử Norodom Sihanouk của Cam Bốt vào năm 1966.

Dan Marvin đã kiến nghị đến các dân cử, ban ngành liên hệ và cả với Tổng thống George H.W. Bush (Cha). Cựu giám đốc CIA tại Sài Gòn Tom Polgar, người đã có rất nhiều dịp gặp gỡ, tham khảo với tướng Quang khi còn làm việc trong một bản tường trình ủng hộ cho ông được vào Hoa Kỳ.

Cựu trung tướng Đặng Văn Quang trong lần đến Austin, Texas hè năm 2010 - hình của Bùi Văn PhúTướng Đặng Văn Quang có cuộc sống khá vất vả kể cả sau khi được định cư tại Hoa Kỳ

Ông Marvin đưa ra nhận xét là tướng Quang và gia đình lúc ở Việt Nam đã không có một cuộc sống giầu sang, phú quý và những cáo buộc liên quan đến chuyện ông buôn bán bạch phiến là không có cơ sở vì theo những điều tra riêng của CIA thời đó, trước khi tổ chức này tin và liên lạc với ông, tướng Quang không có dính líu gì đến bạch phiến.

Sau đó chính quyền Canada hủy bỏ những cáo buộc liên quan đến tướng Quang và chính phủ Mỹ đồng ý cho ông định cư.

Đến Mỹ vào tháng 9-1989, hai ông bà có lúc sống ở Atlanta, khi ở nam California. Ông tiếp tục làm những việc lao động và vợ là bà Đỗ Thị Năm cũng làm bánh bán để kiếm sống.

Sau này vì tuổi già sức yếu, hai ông bà được sự giúp đỡ của cựu Thiếu tá Trần Văn Ngà, nguyên Trưởng ban Thông tin Báo chí Quân đoàn IV, đưa về sống trong một chung cư dành cho người già ở Sacramento, thủ phủ của bang California.

Mùa hè năm ngoái tôi có dịp đến thăm tướng Quang nhân cùng đi với đoàn quay phim của Hội Bảo tồn Lịch sử và Văn hoá Người Mỹ Gốc Việt (VAHF) đang thực hiện phỏng vấn 500 người để lưu lại trong thư viện Đại học Texas ở Austin. Tướng Quang đã yếu và trí nhớ kém nhiều vì tuổi già.

Hỏi ông về những biến cố trong đời có điều ông nhớ, có điều không. Tôi có hỏi ông trong đời ông mang ơn ai nhất, tướng Quang nói đó là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Đối với những người đã gây phiền lụy, tướng Quang nói ông tha thứ hết.

Cựu Trung tướng Đặng Văn Quang sinh ngày 21-6-1929 tại Sóc Trăng.

Ông là một vị tướng trẻ nhất của quân đội Việt Nam Cộng hoà, từng giữ chức tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh, tư lệnh Quân đoàn IV Vùng IV Chiến thuật. Chức vụ sau cùng của ông là phụ tá đặc biệt về quân sự và an ninh quốc gia cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Ông qua đời hôm 15-7 tại Sacramento, California, hưởng thọ 82 tuổi, để lại vợ, 7 người con và 9 cháu nội ngoại.

Tang lễ cựu Trung tướng Đặng Văn Quang đã được cử hành theo nghi thức công giáo tại nhà thờ Các Thánh Tử đạo Việt Nam ở Sacramento, California vào chiều ngày 20-7-2011 và nghi thức hoả táng diễn ra vào trưa ngày hôm sau.

Tác giả Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và sống tại vùng Vịnh San Francisco.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

Lý Quang Diệu: TQ là ‘thách thức’ – Trung Quốc: ‘Chúng tôi muốn làm bạn tốt’ – Asean-TQ thống nhất văn bản về Biển Đông

Posted: 21 Jul 2011 02:01 PM PDT


Lý Quang Diệu: TQ là ‘thách thức’

Ông Lý Quan Diệu giơ tay vẫy chào
Ông Lý Quang Diệu nói cần có cân bằng quyền lực ở Thái Bình Dương với Hoa Kỳ và Nhật Bản cân bằng lại Trung Quốc

Ông Lý Quang Diệu, chính trị gia lớn nhất của Singapore, nói sự trỗi dậy của Trung Quốc là một thách thức ở Thái Bình Dương.

Trong bài viết trên tạp chí Forbes của Hoa Kỳ, ông Diệu cho rằng chính sự hiện diện của Hoa Kỳ ở tây Thái Bình Dương từ khi kết thúc Cuộc chiến Triều Tiên hồi năm 1953 tới khi kết thúc cuộc chiến Việt Nam hồi năm 1975 đã mang lại ổn định và an ninh trong khu vực.

Sự ổn định và an ninh này, ông nói, đã tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế qua việc trao đổi đầu tư và thương mại.

“Singapore là ví dụ điển hình. Đất nước đã phát triển nhanh chóng trong thập niên 60, tổng sản phẩm quốc nội tăng từ 974 triệu đôla Mỹ hồi năm 1965 lên 223 tỷ trong năm 2010.

“Trong cùng giai đoạn, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 516 đôla lên 44.000 đôla Mỹ.”

Tuy nhiên, ông Diệu nói vai trò thống trị của Hoa Kỳ trong khu vực đang bị thách thức từ phía Trung Quốc, đất nước có sự phát triển kinh tế mà ông đánh giá là “sự kiện kịch tính nhất” của thế kỷ 21.

‘Chung mâm’

Người sáng lập Singapore nói sự phát triển kinh tế của Trung Quốc có nền móng từ sau Cách mạng Văn hóa 1966-1676.

Ông Diệu nhớ lại chuyến thăm hồi năm 1978 tới Singapore của ông Đặng Tiểu Bình, khi đó là Phó Thủ tướng Trung Quốc, và nói rằng ông Đặng đã thấy một hòn đảo không có tài nguyên thiên nhiên mà có thể phát triển được nhờ liên kết với các nền kinh tế phát triển, mời gọi đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia, lập những trung tâm hậu cần, ngành dịch vụ mà trong đó có ngành rất quan trọng là dịch vụ tài chính.

“Để giữ ổn định tại Thái Bình Dương, cần phải có sự cân bằng quyền lực, với Hoa Kỳ và Nhật Bản ở một bên và Trung Quốc ở bên kia.”

Lý Quang Diệu

Chính sau chuyến đi này của ông Đặng, Trung Quốc đã có chính sách “mở cửa” và lập ra các đặc khu kinh tế và dần tiến tới mở cửa cả nước cho buôn bán và đầu tư với bên ngoài từ năm 2001, khi Trung Quốc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Ông Diệu nói tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ trong vòng 20 năm tới và Hoa Kỳ sẽ phải “ngồi chung mâm trên” với một siêu cường khác.

Người làm thủ tướng Singapore trong suốt ba thập niên nhận định về cục diện Thái Bình Dương trong thời gian tới đây:

“Để giữ ổn định tại Thái Bình Dương, cần phải có sự cân bằng quyền lực, với Hoa Kỳ và Nhật Bản ở một bên và Trung Quốc ở bên kia.

“Sự trỗi dậy của Ấn Độ cũng góp phần vào những thay đổi trong vùng. Ấn Độ có 1,2 tỷ người và trong vòng 20 năm nữa sẽ có số dân đông hơn Trung Quốc.

“Tốc độ tăng trưởng của Ấn Độ cũng khá ấn tượng và cùng với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước ASEAN, nước này sẽ góp phần chuyển trọng tâm kinh tế từ Đại Tây Dương tới Thái Bình Dương.”

Ở phần cuối của bài viết trên Forbes, ông Diệu nhắc lại tuyên bố của ông Mao Trạch Đông hồi năm 1949, năm ông thống nhất Trung Quốc: “Người Trung Quốc đã đứng lên.”

Ông Diệu nói Trung Quốc chắc chắn sẽ ngồi ngang hàng các siêu cường nếu họ giữ được mức tăng trưởng 10% một năm như trong những năm vừa qua.


Trung Quốc: ‘Chúng tôi muốn làm bạn tốt’

Cập nhật: 15:57 GMT – thứ năm, 21 tháng 7, 2011
Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân (phải) trả lời phóng viên tại hội nghị ở Bali hôm 20/7
Thứ trưởng Lưu Chấn Dân nói Trung Quốc muốn ‘làm bạn tốt’ của ASEAN

Ngoại trưởng Trung Quốc nói nước này muốn cải thiện quan hệ với các quốc gia ASEAN theo sau những sự cố gần đây.

Phát biểu tại cuộc họp thượng đỉnh của khối 10 nước ASEAN ở Bali, Indonesia, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân nói:

“Chúng tôi quyết tâm tăng cường hợp tác với các nước ASEAN.

“Chúng tôi hướng tới tương lai, chúng tôi có tương lai rộng mở và tươi sáng.

“Chúng tôi muốn là bạn tốt, đối tác tốt, láng giềng tốt với các nước ASEAN.”

Trong ngày họp hôm 20/7, Trung Quốc và các nước ASEAN đã thông qua những biện pháp thực hiện tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông.

Bắc Kinh và khối mười nước Đông Nam Á đã đưa ra tuyên bố từ hồi năm 2002, nhưng chưa đồng ý được về việc thực hiện trong suốt tám năm qua.

Trên thực tế tuyên bố này chỉ là bước để tiến tới một bộ quy tắc ứng xử có tính chất ràng buộc nhiều hơn mà hiện còn chưa biết khi nào đàm phán sẽ bắt đầu.

Ngoại trưởng Indonesia, nước chủ nhà Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN, nói ASEAN hài lòng với những gì mà khối này vừa đạt được với Trung Quốc.

Tuy nhiên, ông Marty Natalegawa cũng nói thêm: “Tôi không tự mãn, vẫn còn phải làm nhiều để xây dựng niềm tin.”

‘Bạn hàng lớn nhất’

Hãng tin AFP nói Việt Nam đã bày tỏ sự “lạc quan thận trọng” hôm thứ Tư nhưng Philippines nói Trung Quốc vẫn chưa cố gắng đúng mức và họ sẽ vẫn khiếu kiện lên Tòa án Quốc tế.

Philippines tố cáo Trung Quốc bắn ngư dân và gây hấn với tàu thăm dò dầu khí của họ ở Biển Đông.

“Chúng tôi muốn là bạn tốt, đối tác tốt, láng giềng tốt với các nước ASEAN.”

Thứ trưởng Lưu Chấn Dân

Về phía Việt Nam, Bộ Ngoại giao ở Hà Nội đã nhiều lần lên tiếng phản đối Trung Quốc bắt bớ và đánh đập ngư dân Việt Nam và gần đây là gây sự với các tàu ở các giàn khoan dầu khí tại khu vực Biển Đông.

Một số nhà quan sát nói cả Việt Nam và Philippines đều muốn Washington gây ảnh hưởng để Trung Quốc tự kiềm chế trên vùng biển mà thế giới gọi là biển Nam Trung Hoa.

Ngoại trưởng Clinton có kế hoạch tới Bali vào tối 21/7 sau chuyến thăm tới Ấn Độ, nơi bà kêu gọi nước này có vai trò lớn hơn trong khu vực.

Bình luận của bà Clinton đã được giới quan sát xem là thể hiện mong muốn của Hoa Kỳ rằng Ấn Độ sẽ trở thành đối trọng với Trung Quốc.

Trong khi đó Thư trưởng Ngoại giao Lưu Chấn Dân của Bắc Kinh nói Trung Quốc đang trở thành bạn hàng lớn nhất của ASEAN và hợp tác giữa khối này và Trung Quốc đang “phát triển rất nhanh”.

ASEAN vẫn được xem là một khối lỏng lẻo và có nhiều thành viên bị chỉ trích về cách đối xử với người dân của chính họ như Việt Nam hay Miến Điện.

Một trong những mục tiêu ban đầu của ASEAN khi thành lập hồi năm 1967 với năm thành viên là để chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản mà Trung Quốc và Việt Nam là đại diện.

 

Quan chức Việt Nam (phải) và Trung Quốc tại cuộc họp

Quan chức ngoại giao các nước Asean và Trung Quốc vừa đạt thống nhất về văn bản hướng dẫn thực hiện Tuyên bố chung về Biển Đông (DOC) tại cuộc họp đang diễn ra ở Bali, Indonesia.

Quá trình đưa ra hướng dẫn Tuyên bố chung của các bên liên quan tại Biển Đông đã bắt đầu từ khi ký DOC năm 2002 mà tới nay mới đi đến được thỏa thuận.

Điều này cho thấy đích đến cuối cùng, một bộ Quy tắc Ứng xử của các bên tại Biển Đông (COC) có tính ràng buộc pháp lý, vẫn còn rất xa vời.

Tuy nhiên, quan chức các nước vẫn lên tiếng ca ngợi bản hướng dẫn vừa đạt được là “bước tiến quan trọng” trong tiến trình hướng tới COC.

Giới chức ngoại giao cao cấp Asean và Trung Quốc đã họp hôm thứ Tư trong khuôn khổ hội nghị Asean hàng năm, trước cuộc họp của các ngoại trưởng vào thứ Năm 21/07.

Sau cuộc họp buổi sáng, đại diện đoàn Việt Nam – trợ lý Bộ trưởng Phạm Quang Vinh, và đ̣ai diện Trung Quốc Lâm Chấn Minh đã xuất hiện trước báo chí để thông báo về kết quả đạt được.

Ông Phạm Quang Vinh, trưởng đoàn quan chức cấp cao SOM của Việt Nam, nói: “Qua thảo luận và đối thoại xây dựng và hiệu quả, chúng tôi đã đạt được ở cấp của chúng tôi một thỏa thuận về dự thảo văn bản hướng dẫn”.

‘Chung chung’

Ông Vinh ca ngợi: “Đây là bước khởi đầu quan trọng và tích cực cho tất cả chúng ta trong nỗ lực chung để tiếp tục đối thoại và hợp tác nhằm thúc đẩy hơn nữa sự ổn định và tin tưởng lẫn nhau ở trong khu vực”.

Tuy nhiên, một số quan chức ngoại giao tham gia cuộc họp cho hay văn bản hướng dẫn này qua thảo luận đã bị gia giảm khá nhiều, và nội dung trở nên chung chung chứ không có gì cụ thể.

Hãng thông tấn AFP trích lời một số người nói các khác biệt vẫn còn tồn tại xung quanh định nghĩa khu vực nào tại Biển Đông được coi là vẫn còn đang tranh chấp vì các nước như Trung Quốc hay Philippines không có cử chỉ gì gọi là nhượng bộ trong tuyên bố chủ quyền của mình.

Thứ trưởng Trung Quốc Lâm Chấn Minh nói các quan chức nay sẽ chuyển văn bản hướng dẫn đạt được cho các bộ trưởng xem xét và thông qua tại cuộc họp thứ Năm.

Tuy nhiên đây chỉ là hành động có tính nghi lễ.

Ông Lâm hết lời ca tụng văn bản vừa đạt được:” Đây là dấu mốc quan trọng trong hợp tác giữa Trung Quốc và Asean”.

“Tương lai của chúng ta thật rạng rỡ và chúng tôi trông chờ sự hợp tác tiếp tục trong tương lai.”


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

Mad World – Gary Jules

Posted: 20 Jul 2011 03:06 PM PDT

 

Cuộc sống cứ đầy những vòng tròn luẩn quẩn, những sự việc lặp đi lặp lại khiến con người có những lúc mệt mỏi và thấy mình như tan biến đi trong những vòng xoay không dứt.

"Mad world" là một bài hát buồn, nhưng rất chân thật mô tả nỗi niềm của con người ta ở một thời điểm đứng chựng lại, chiêm nghiệm cuộc sống qua lăng kính buồn chán của riêng mình.

All around me are familiar faces
Worn out places, worn out faces
Bright and early for the daily races
Going nowhere, going nowhere

Điều mà tác giả nhìn thấy trong 1 thế giới điên loạn – "mad world" của riêng mình là những gương mặt quen thuộc, nhưng lại là những gương mặt mòn mỏi và những nơi chốn tồi tàn. Và con người dường như chỉ bừng sáng lên, tươi tỉnh và thảnh thức trong những thời khắc sớm mai khi bắt đầu cuộc đua thường ngày của họ, cuộc đua sống để rồi chẳng đến đâu, đến những nơi vô định.

Their tears are filling up their glasses
No expression, no expression
Hide my head I wanna drown my sorrow
No tomorrow, no tomorrow

Nước mắt người rơi xuống tràn ngập cả những chiếc ly, những giọt nước mắt khô khan, vô tình và không chút cảm xúc lắng đọng. Và khi nhìn lại mình, tác giả chỉ muốn giấu đi những nỗi phiền muộn thầm kín vào sâu, sâu trong tâm khảm, nỗi phiền muộn của sự vô định không biết ngày mai rồi sẽ ra sao, nỗi phiền muộn vì không có một ngày mai.

And I find it kind of funny, I find it kind of sad
The dreams in which I’m dying are the best I’ve ever had
I find it hard to tell you, I find it hard to take
When people run in circles its a very, very
Mad world, mad world.

Đằng sau những gì thấy được, tác giả bỗng thấy có gì đó hài hước, sự hài hước nằm trong sự mâu thuẫn với nỗi buồn mà tác giả cảm nhận được. Nỗi buồn thêu dệt bởi điều tốt đẹp nhất mà tác giả nghĩ mình có, là những giấc mơ thấy mình được chết đi, dù tác giả biết điều ấy khó có thể nói ra, hay diễn tả cho người ta hiểu được, và thậm chí khó để chấp nhận được điều ấy.

Chỉ thấy khi con người cứ mải miết chạy theo những vòng quay của cuộc sống, đó sẽ là một thế giới điên loạn, một thế giới rất điên loạn mà thôi.

Bài hát "Mad world" được viết bởi Roland Orzabal, một nhà soạn nhạc người Anh viết cho ban nhạc Tears For Tears trình bày năm 1982.

Bài hát là tâm tình của một người trẻ tuổi trước cuộc sống buồn chán, và cũng là 1 bức tranh ghép nhiều hình ảnh chồng chéo, không liên kết về một thế giới thực. Tuy nhiên luồng cảm xúc chung của bài hát là sự mông lung, nỗi buồn, và những dòng suy tưởng lẫn lộn về cuộc sống…tất cả hợp lại làm nên một nét rất riêng, rất trầm mặc và có phần hơi điên loạn của Mad world.

Bài hát từ khi ra đời đã được đón nhận nồng nhiệt từ công chúng. Sau phiên bản ban đầu trình bày bởi ban nhạc Tears For Tears với tiết tấu nhanh, Mad World được trình bày lại với nhiều phong cách khác như acoustic, rock, ballad – like… Một trong những phiên bản hay nhất là Mad World với giọng hát Gary Jules với tiết tấu chậm rãi, trầm hòa cùng tiếng đàn piano nhẹ nhàng, lắng dịu, được sử dụng làm soundtrack phim Donnie Darko. (Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Mad_world).

Nghe Mad World cho một khoảnh khắc chùng lại với nỗi buồn cuộc sống, mọi người nhé!

(Ngọc Vũ)

Gary Jules – Mad World


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Resourceful – người có nhiều nguồn

Posted: 20 Jul 2011 03:05 PM PDT

Chào các bạn,

Resource là nguồn—nguồn tiền, nguồn tài vật, nguồn nguyên liệu, nguồn hỗ trợ, nguồn người… nói chung là những loại nguồn làm cho ta giàu có thêm, vì resources, số nhiều, có nghĩa là tổng tài sản của một người, một công ty, hay một quốc gia. Trong đời sống công việc hàng ngày, người resourceful là người biết được nhiều nguồn tài sản. Khỏi phải nói, đây là người rất quan trọng cho mọi dự án, vì có khả năng lôi nhiều nguồn nhân lực vật lực vào dự án.

Trong một dự án, người resourceful biết tìm tiền ở đâu, tìm máy móc dụng cụ ở đâu, tìm kỹ sư ở đâu, tìm chuyên viên ở đâu… Vì vậy, những người resourceful thường nắm các chức vụ lãnh đạo, vì họ là người mang các resources khác nhau lại và trộn thành sản phẩm.

Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ một chút thì sẽ thấy, dù là người resourceful biết đủ mọi thứ nguồn, thực ra họ chỉ có một nguồn mà thôi, đó là nguồn người—người có tiền, người có máy móc, người biết kỹ thuật, người biết luật…

Ngày nay các professional networks trên Internet, giúp người ta network và có những bạn bè chuyên gia trong network của mình, để khi cần thì biết ai mà gọi. Giúp cho mỗi người trở thành resourceful hơn một chút.

Nhưng có người trong network là một chuyện, có thể nhờ người ấy giúp được mình đến đâu lại là một việc khác. Nó lệ thuộc vào hai điều. (1) Người ta tin cậy mình đến đâu. Tin cậy tùy thuộc vào sự thành thật và ăn nói chính xác của mình. (2) Làm việc chung với mình có thích thú không. Có những người không làm việc chung với người khác tốt, vì kiêu căng quá, tham lam quá, tự ái quá… Thường thì những người càng khiêm tốn càng dễ làm việc với người khác.

Cho nên resourceful lệ thuộc vào kỹ năng liên hệ con người của chúng ta rất nhiều. Các computer networks không biến ta thành resourceful, trừ khi các "connections" bằng lòng làm việc tốt với ta.

Người resourceful làm gì thì cũng dễ thành công, vì họ luôn biết tìm ai giúp họ. Nhưng, điều chúng ta cần nhớ là chúng ta resourceful nhờ cách sống, không nhờ computer.

Chúc các bạn một ngày resourceful.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Làm phim… hay làm tiền ?

Posted: 20 Jul 2011 03:04 PM PDT

I. Thời gian vừa qua, công luận rộ lên về tình trạng bát nháo của phim Việt (đặc biệt là phim truyền hình chiếu “giờ vàng”), tất cả đều xác đáng- mà một “tít” phụ của báo Tuổi trẻ TPHCM đã thâu tóm được chỉ bằng hai chữ: “nhảm nhí”. Nhiều ý kiến đã phanh phui thực trạng cũng như nguyên nhân của tình trạng này. Có điều, một sự thật hiển nhiên mà chắc nhiều người cũng biết song không nỡ nói trắng phớ ra: đấy là, người ta không làm phim, nghĩa là không làm văn hóa, mà là làm tiền một cách trắng trợn! Việc làm tiền, đâu có gì đáng phải nói, nhưng ở đây, vấn đề là người ta đã làm tiền một cách thiếu sòng phẳng, không lương thiện, vô tình hoặc cố tình đánh cắp thời giờ, tiền bạc, lòng tin… của đông đảo khán giả!

Nhưng cái thực trạng đáng xấu hổ này (nhục nhã thì đúng hơn!) đã được ủ mầm bệnh từ hai chục năm trước (và đến bây giờ thì có điều kiện bung ra tất cả sự thối tha của nó ) khi điện ảnh Việt Nam rơi vào cơn khủng hoảng trầm trọng, từng phải lên tiếng cấp cứu thảm thiết, và cũng là lúc xuất hiện hàng loạt “phim mì ăn liền” với những cái tên phim câu khách lộ liễu trắng trợn! Thời kỳ đó, thậm chí một ông buôn bán đồ phòng cháy chữa cháy ở chợ giời Huỳnh Thúc Kháng may mắn chộp được ít tiền là cũng nhảy xô vào sản xuất phim- kể cả viết kịch bản, làm đạo diễn, để mua danh và hốt bạc một cách dễ dàng dựa trên sự dễ tính (và cũng dễ bị lừa) của đông đảo khán giả. Việc làm phim thời đó thật tưng bừng nhộn nhạo, “nhà nhà sản xuất phim, người người làm đạo diễn”, phim ảnh trở thành những vụ “áp-phe” béo bở. Nhiều ông “chủ phim” xuất hiện (than ôi, không phải là hình mẫu “Ông chủ Hôlyut” đáng nghiêng mình kính nể của nhà văn Mỹ Phit-giê-rơn!- Cuốn sách này đã có bản dịch tiếng Việt.) Những ông “chủ phim” này rất giỏi đánh hơi phần thị hiếu tầm thường của công chúng và quả đã lập được những kỷ lục khủng khiếp trong việc kiếm tiền chụp giật cũng như tiêu diệt những thị hiếu lành mạnh còn sót lại! Kẻ viết những dòng này cũng từng lang thang phía Nam nhiều năm ròng “tìm đường làm phim”, cũng đã từng phải nhún mình trước những ông chủ phim như thế, để có lần, khi một ông “chủ phim” ra điều kiện làm phim là: không được sửa kịch bản, phải lấy vợ ông ta vào sắm vai chính, thì hắn nổi khùng. Và hắn đã bị ông “chủ phim” đó hắt khinh miệt vào mặt: “Anh không làm thì thôi! Loại đạo diễn thất nghiệp như anh từ ngoài Bắc vào nhiều như chó con!”

Làm khổ độc giả bằng câu chuyện cũ rích như vậy là để từ chuyện làm “phim mỳ ăn liền” kia, khi liên hệ với chuyện làm phim nhố nhăng hiện tại (và việc phát hành nó tới đông đảo khán giả), chúng ta dễ dàng nhận diện những ông “chủ phim” kiểu mới (đã biến tướng đi ít nhiều). Họ bây giờ là những ai? Đó là những công ty truyền thông tư nhân, những hãng phim tư nhân mà mục tiêu chủ yếu trong hoạt động là lợi nhận, lợi nhận, và lợi nhuận – còn những thứ khác như: nội dung giáo dục, vì tương lai thế hệ trẻ, vì thuần phong mỹ tục, v.v. chỉ là đồ trang kim dán bên ngoài để dễ dàng trôi qua kiểm duyệt, để nhanh chóng được nghiệm thu sản phẩm (dĩ nhiên là phải kèm thêm khoản “hoa hồng” hoặc phong bì lót tay hậu hĩ!)

Khoảng 6 năm trước, khi được Nhà nước cho phép, các hãng phim tư nhân mọc lên như nấm sau mưa, các công ty cổ phần hay trách nhiệm hữu hạn làm truyền thông quảng cáo cũng mau chóng bổ xung chức năng làm phim. Lúc đó, Trung tâm dịch vụ & quảng cáo truyền hình (TVAD ) Đài THVN đã tổ chức một cuộc gặp mặt hoành tráng với các cơ sở sản xuất phim tư nhân toàn quốc, mở đầu cho giai đoạn xã hội hóa phim ảnh! (Thực ra từ trước đó cũng đã có sự xã hội hóa bằng cách Đài “bán cái” một số chương trình Saw game truyền hình cho tư nhân thực hiện). Rồi tiến tới, “mật ngọt chết ruồi”, đến ngay cả Trung tâm sản xuất phim truyền hình (VFC) – một cơ sở làm phim truyện truyền hình lớn nhất nước cũng hầu như “bán cả hồn lẫn xác” việc sản xuất phim cho tư nhân- và thời kỳ “hoàng kim” của VFC đã trở thành niềm tiếc nuối của không ít khán giả truyền hình khi “Văn nghệ chủ nhật” đã nhường chỗ cho một chương trình lạ hoắc và “lông bông” (nhận xét của một người xem truyền hình). Dựa trên một chủ trương đúng đắn (cần phải có 70% phim nội địa), dòng phim “mỳ ăn liền” đùng đùng sống dậy đã tác yêu tác quái các kênh truyền hình cả nước- và chiễm trệ tại “giờ vàng” của VTV Quốc gia!

Bên điện ảnh phim nhựa cũng rơi vào tình trạng bị “mua đứt bán đoạn” tương tự, đến nỗi người xem phim vào rạp có cảm tưởng phải buộc xem những post quảng cáo kéo dài, buộc xem trình diễn thời trang, buộc mở những trang web cá nhân xa lạ xem nam thanh nữ tú “lộ hàng nóng” khiến họ phải đỏ mặt; và diễn ra cái cảnh mà một nhà biên kịch nổi tiếng Mỹ đã hài hước kể lại trong những bài giảng về “Nghệ thuật kịch bản điện ảnh”: đó là lúc lượng tiêu thụ nước của thành phố thình lình tăng vọt!

Thực ra, ngay cả những phim TH chưa đủ “tiêu chuẩn” để được gọi là “mỳ ăn liền” cũng đã mang những yếu tố của “mỳ ăn liền” đích thị! Vì không có trường quay, kinh phí quá bèo bọt, nên một số phim TH quay kéo dài hàng tháng trời đã mang tiếng là “lừa đảo” những chủ nhà cho thuê mượn bối cảnh (bởi hứa hẹn là chỉ quay có vài ngày!) Những người tham gia làm phim thì mắt trước mắt sau ngốn cho xong tiến độ để còn “chạy sô” phim khác; bộ phận kỹ thuật thường rất khó chịu khi đạo diễn muốn tìm tòi suy nghĩ cho phim thì có câu nói mỉa mai kinh điển: “định săn bắt cái con gì thế hở?”; còn diễn viên ( trừ một số ít người đứng tuổi) thì mắt nhắm mắt mở cầm cuốn kịch bản phân cảnh đọc mà chẳng cần biết đầu cua tai nheo thế nào, nhăn nhó năn nỉ với trợ lý: “Nhắc thoại tý!”- nhưng “một tý “ấy kéo dài hết cảnh này sang cảnh khác, khiến người lồng tiếng hậu kỳ phải chửi rủa ầm ĩ (còn nếu do chính mình đóng mà nhai lời lại thì đành ngậm bồ hòn làm ngọt), và người xem phim thì có ấn tượng rằng: đấy là những người lớn đang tập nói tiếng Việt!…Thảm cảnh của chuyện làm phim ở Việt Nam cũng có thể coi là một thứ phim truyền hình bi hài dài tập không có hồi kết!

II. Có mấy công đoạn liên kết chủ yếu để diễn ra cái tình cảnh phim Việt trở thành nỗi “kinh hoàng”, “ghê sợ”, làm đau đầu nhiều người hiện nay, tôi xin thử tháo gỡ và phân tích từng công đoạn:

1. Được các Nhà đài bật đèn xanh, các công ty sản xuất phim tư nhân năng nổ kêu gọi các nhà tài trợ (thường là những cơ sở sản xuất kinh doanh muốn quảng cáo sản phẩm trên TH)- bằng các dự án phim TH dài tập. Nghĩa là, Nhà đài cho phép đổi phim lấy quảng cáo. Còn công ty sản xuất phim bắt đầu đi thuê mướn đội ngũ làm phim, với hình thức “cò kè bớt một thêm hai”, và tất nhiên họ sẽ “ngã giá” với những ai có khả năng thực hiện “nhanh nhiều tốt rẻ” và chấp thuận những điều kiện có lợi nhất cho họ. Những người đổ tiền vào để quảng cáo (trong phim và ngoài phim) chỉ chăm chăm xem sản phẩm của mình có làm “mờ mắt thủng tai” người xem hay không. Ngay cái khâu đầu tiên này đã sặc mùi thương mại, chẳng thèm đếm xỉa đến nội dung tư tưởng nghệ thuật gì hết trọi, nếu còn mong phim có giá trị nhân bản sâu sắc hay nghệ thuật cao siêu thì thực là ảo tưởng!

2. Người làm phim (thường do đạo diễn, hoặc đối tác trung gian đứng ra “nhận thầu”), khi cầm đồng tiền tạm ứng làm phim thì phải so đo đong đếm để “gọt giày vừa chân”. Chưa kể, người làm phim trong khi lo xoay sở chuẩn bị tiền kỳ, lại phải đối phó với trung gian đương tìm mọi cách bớt xén phần kinh phí vốn đã quá èo uột… Nhưng không chấp nhận thì… đạo diễn thất nghiệp và “chợ người làm phim” chờ việc đang nhan nhản ra kia ở cổng các hãng phim lớn nhỏ! Và không ít người làm phim, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, đã chấp nhận làm phim bằng mọi giá, đồng thời cũng coi lương tâm nghề nghiệp chẳng đáng xu rỉ, đã thực hiện đúng phương châm: “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”! Sở dĩ trong dân gian lâu nay vẫn lưu truyền câu nói của bố mẹ với con cái: “Nếu con mà lười học, dốt nát, mai kia sẽ cho làm đạo diễn phim truyền hình!”, phải chăng có cơ sở thực tế là những “đạo diễn truyền hình, đạo diễn điện ảnh” kiểu này đang xuất hiện nhan nhản trên thương trường phim ảnh ? Chỉ cần có những mối quan hệ hữu hảo, biết “chi đẹp”, là dễ dàng được “cầm cờ” làm đạo diễn, hô diễn hô cắt máy rất oai, để vênh váo với bạn – hơn thế, có thể “hòa vốn” hoặc có lãi to chưa biết chừng trong cuộc mua bán hư danh! (Chỉ đơn cử ví dụ: một người chỉ mới làm vài cái Saw game đơn giản trên truyền hình bỗng dưng nảy nòi trên cương vị đạo diễn điện ảnh rất oách, trong một phim lịch sử cực kỳ đồ sộ và tai tiếng cũng đồ sộ không kém! Thật may cho khán giả là phim chưa kịp ra “lò” đã bị tuýt còi, xếp xó).

Nếu là một người làm nghề có lương tâm thì sẽ không bị đồng tiền chi phối một cách thảm hại, sẽ biết lịch sự hay thẳng thừng từ chối những kịch bản dở, từ chối lối làm phim chụp giật. Nhưng than ôi, người biết từ chối như vậy trong nghề xem ra ngày càng hiếm “như lá mùa thu”, và góp phần làm tràn ngập những bộ phim quái thai “khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào”!

3. Nhưng xét cho cùng, nếu những thứ phẩm của điện ảnh- truyền hình (đúng ra phải gọi là Rác văn hóa) bị chặn lại bởi hệ thống duyệt & phát hành đúng nghĩa thì đã không xảy ra chuyện dở cười dở khóc khiến bao người phải phí công sức để than phiền, phẫn nộ! Thực chất thế nào? Nhiều ý kiến đã vạch ra quá chi tiết và xác đáng, tôi chỉ xin nói thêm điều này: tôi thực sự kinh ngạc khi thấy người duyệt phim rất kỹ lưỡng, săm soi từng chi tiết, từng câu thoại mà họ coi là “nhạy cảm”, song lại tỏ ra thông thoáng dễ dãi đến đáng ngờ trước những sản phẩm nhạt nhẽo, vô duyên, ngớ ngẩn, và nhảm nhí! Bản thân tôi và một số đồng nghiệp cũng không chỉ một lần là nạn nhân của cái bệnh “cầm đèn chạy trước ô tô”, thói “bảo hoàng hơn vua” này của những người duyệt phim, khi phân cảnh thì được soi rất kỹ từng lời thoại, song khi diễn viên nói ra lại khiến họ sợ dúm, bắt đạo diễn phải cắt, hoặc “hiếp lời” (diễn viên nói một đằng, nhưng lồng tiếng lại một nẻo!) Và có những phim phải bị cắt đến không còn ra hình thù gì cả khi phát sóng khiến đạo diễn không nỡ, không dám xem lại phim của mình nữa!

Hệ lụy của tất cả những điều nói trên không chỉ là làm mất lòng tin của số đông khán giả với truyền hình- điện ảnh nước nhà, làm lãng phí công sức, thời gian tiền bạc của biết bao người, nó còn góp phần đắc lực tạo ra sự lệch lạc méo mó trong thị hiếu thẩm mỹ của thế hệ trẻ, góp vào sự suy đồi của đạo đức xã hội, tạo ra nguy cơ “sự trống rỗng văn hóa” như một số nhà hoạt động văn hóa nước ngoài đã từng cảnh báo!

Tôi đã tẩy chay những “phim mỳ ăn liền” (hoặc phim thương mại lộ liễu- một biến thái tinh vi của loại “phim mỳ ăn liền”) khiến tôi bội thực thất vọng, bội thực xót xa bằng cách không bao giờ bước tới rạp xem chúng, hay lập tức chuyển kênh khi màn hình nhỏ xuất hiện bóng dáng của chúng; và tôi cũng mong cả xã hội cũng nên bắt đầu chiến dịch tẩy chay chúng, thay vì cứ kêu ca mà chẳng đi tới đâu – đó là một cách tuy khá tiêu cực trong khi chưa biết làm gì hơn thế, nhưng cũng có thể có một tác dụng trước mắt để nếu những nhà sản xuất, nhà tài trợ, người làm phim và người duyệt phim còn tiếp tục coi thường khán giả như thời gian vừa qua, họ sẽ nhận được hậu quả nhỡn tiền, sẽ bị “gậy ông đập lưng ông”! Bởi mục đích của họ là làm tiền một cách không lương thiện thì khi không đạt được mục đích, họ sẽ buộc phải chùn tay lại – hiệu quả hơn mọi sự phê phán hay cưỡng chế (như việc đình lại bộ phim đang phát sóng dở “Anh chàng vượt thời gian”, và một số bộ phim khác đang trong tình thế phải chung số phận đó- mà rõ ràng trước hết đây là thành công đáng kể của dư luận!)

Trong mối quan hệ chằng chịt giữa các công đoạn, các tổ chức để ném ra đời hàng đống phim nhảm nhí kia, là những âm mưu, những tính toán, những mục đích không “nhảm nhí” chút nào, còn người xem vô tội lương thiện thì lãnh đủ; và tôi đồ rằng, dường như có một hình bóng của quy luật “Maphia” đang len lỏi thao túng làm u ám thêm đời sống phim ảnh nước nhà vốn đang ốm yếu què quặt…

Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn


Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa

Báo Đại Đoàn Kết: Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Posted: 20 Jul 2011 03:03 PM PDT

 

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

 (20/07/2011)

Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Đảo Núi Le thuộc quần đảo Trường Sa

 

Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
“Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng".

 

Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan. Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược “lấn sân" của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.

 

Ngày 26-5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất. Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ “giải phóng" Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.

 

Ngoài bối cảnh “phức tạp và cấp bách" đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH –Trung Quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em". Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích “sâu xa" của họ trên Biển Đông nên đã “lồng ghép" thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.

 

Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên. Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

 

Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực. Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế. Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

 

Bức Công hàm ngày 14-9-1958 của
Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa
 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký

 

Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do. Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết “estoppel" để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.

 

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel". Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại “estoppel" phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại “estoppel" cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine", bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua", bản án “Ngôi đền Preah Vihear"…

 

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.

 

Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ “nuốt trọn" Biển Đông, theo kiểu “miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình".

 

Nhóm PV Biển Đông

Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

Bà Clinton khuyến khích vai trò của Ấn Độ

Posted: 20 Jul 2011 03:02 PM PDT

BBC
Ngoại trưởng SM Krishna đón bà Clinton ở Dehli hôm 19/7
Ấn Độ sẽ làm trụ cột châu Á? Ngoại trưởng SM Krishna đón bà Clinton ở Dehli hôm 19/7

Trước khi tới Bali họp ASEAN về an ninh vùng tuần này, Ngoại trưởng Hillary Clinton khuyến khích Ấn Độ nhận trách nhiệm “lãnh đạo chính trị” và có vai trò mạnh mẽ hơn ở châu Á – Thái Bình Dương.

Hiện đang ở thăm Ấn Độ, bà Clinton đã đọc bài diễn văn tại thành phố Chennai, nói rằng nước chủ nhà cần tăng sức mạnh chính trị cho xứng đáng với phát triển kinh tế.

Hoa Kỳ đưa ra quan điểm rằng mối quan hệ Mỹ – Ấn sẽ tạo dựng đối tác cho thế kỷ 21 ở khu vực.

Theo lời bà Hillary Clinton, “đây không phải là thời gian để bất cứ quốc gia nào có cái nhìn hướng nội, bỏ qua tầm nhìn ra bên ngoài. Đây là thời gian để nắm bắt các cơ hội của thế kỷ 21 và dẫn dắt nó.”

Các quan chức Hoa Kỳ nói diễn văn của bà Clinton một lần nữa xác tín viễn kiến về quan hệ của Washington với Dehli để thay đổi diện mạo châu Á.

Ủng hộ Ấn Độ

Tháng 11 năm ngoái, Tổng thống Barack Obama đã thăm Ấn Độ và công khai ủng hộ Dehli có một ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Ông Obama cũng nói Hoa Kỳ muốn thấy Ấn Độ, nền dân chủ đông dân nhất thế giới trở thành đối tác rõ rệt hơn để cùng giải quyết các vấn đề toàn cầu.

Nay, bà Clinton nêu ra một loạt các lĩnh vực hai bên đang hợp tác, từ công nghệ năng lượng sạch đến lo ngại về chương trình nguyên tử của Iran.

Có những vấn đề quan trọng mà chúng ta chưa cùng đồng ý, hoặc bất đồng riêng với nhau, nhưng chúng ta đều có các lĩnh vực chung quyền lợi

Bà Clinton nói về tam giác Mỹ – Ấn – Trung

Hồi năm 2008, hai nước đã ký hiệp ước về năng lượng nguyên tử dùng cho mục tiêu dân sự nhưng các công ty Mỹ vẫn chưa triển khai được dự án hợp tác với Ấn Độ.

Về địa chính trị, bà Clinton nay nhấn mạnh đến tính tương đồng Mỹ – Ấn trong việc phối hợp vai trò dẫn dắt châu Á và nêu cao các giá trị chung từ an ninh biển, dân chủ đến nhân quyền trong thời điểm Washington đang va chạm với Trung Quốc, theo bản tin của Reuters 20/7.

“Vì Ấn Độ chia sẻ các giá trị và quyền lợi đó, nên hoạt động mở rộng hợp tác với chúng ta [Hoa Kỳ] sẽ chỉ có lợi cho cả hai,”

‘Quyền lợi’

Nhưng bà Clinton cũng nói cả New Delhi và Washington sẽ vẫn phải có “quan hệ mạnh, mang tính xây dựng với Trung Quốc”.

Ngoại trưởng Mỹ cũng thừa nhận:

“Đây không phải là điều dễ dàng. Có những vấn đề quan trọng mà chúng ta chưa cùng đồng ý, hoặc bất đồng riêng với nhau, nhưng chúng ta đều có các lĩnh vực chung quyền lợi”.

Bà tin rằng cả Ấn Độ, Trung Quốc và Hoa Kỳ “đều phải phối hợp các nỗ lực”.

Bà Clinton bắt đầu chuyến thăm ba ngày đến Ấn Độ bằng cuộc gặp với lãnh đạo nước chủ nhà ở Dehli hôm thứ Hai.

Hai bên đã hội đàm cả về chương trình hạt nhân của Ấn Độ, và tình hình Pakistan, Afghanistan.

Theo phóng viên Suvojit Bagchi của BBC News từ Delhi thì Ngoại trưởng Krishna tỏ ý lo ngại với bà Clinton về kế hoạch Hoa Kỳ rút quân khỏi Afghanistan.

Ông nêu lý do chính quyền Karzai sẽ không đủ sức tự vệ trước phe Taliban, và nguy cơ hỗn loạn tại đây có thể lan rộng.

Ngoại trưởng Mỹ sau đó đến Madras (Chennai), nơi có đầu tư nhiều của Mỹ và thăm nhà máy xe hơi của hãng Ford.

Ấn Độ hiện là bạn hàng thứ 12 thế giới của Hoa Kỳ với trao đổi thương mại hai bên đạt gần 50 tỷ USD năm ngoái.

Hoa Kỳ muốn Ấn Độ vươn lên vị trí một trong 10 nước là đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ.


Filed under: Thế giới Tagged: Thế giới

No comments:

Post a Comment