Thursday, September 8, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Czardas – Khúc nhạc lẫy lừng của Vittorio Monti

Posted: 08 Sep 2011 01:07 PM PDT


 

Czardas là một điệu múa dân gian của Hungary. Điệu múa này có thể có nguồn gốc từ điệu verbunkos của thế kỷ 18 vốn được quân đội Hungary sử dụng làm điệu múa tuyển mộ binh lính. Czardas chỉ trở nên phổ biến và được ưa chuộng qua sự trình diễn của các ban nhạc Roma (các ban nhạc người Romani hay thường được gọi là người Gypsy). Các ban nhạc Roma đã mang Czardas tới các nước khác như Slovenia, Croatia, Bulgaria…

Đặc trưng của Czardas là sự biến đổi về nhịp độ (tempo). Một bản Czardas bắt đầu với nhịp độ chậm (lassú) và đến những đoạn cuối thì nhịp độ rất nhanh (friss). Trong Czardas có nhiều kiểu nhịp độ khác nhau: ritka csárdás, sűrű csárdás và szökős csárdás. Nhạc với nhịp hai bốn hoặc bốn bốn. Người múa gồm cả nam và nữ. Người nữ mặc váy rộng truyền thống thường là màu đỏ và mỗi khi họ xoay tròn thì chiếc váy lại tạo ra một hình ảnh rất đặc trưng.

Các nhà soạn nhạc theo trường phái cổ điển như Emmerich Kálmán, Johann Strauss, Franz Liszt, Tchaikovsky… đã sử dụng những chủ đề của điệu múa Czardas trong tác phẩm của họ. Tuy nhiên, có lẽ bản Czardas nổi tiếng nhất là bản nhạc của Vittorio Monti soạn cho violin và piano.

Tác phẩm này gồm có năm tempo.

Vittorio Monti (1868 – 1922) là một nhà soạn nhạc Ý và là nghệ sĩ violin.

Monti viết rất ít, và Czardas (hay còn gọi là Csárdás) là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, được viết khoảng năm 1904.

Một bản nhạc rất hay mà chưa được giới thiệu trên Dotchuoinon thì quả là…hơi tiếc. Các bạn nghe Paul Maurat chơi thử xem nó quyến rũ đến cỡ nào nhé…


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Tự chủ

Posted: 08 Sep 2011 01:06 PM PDT

Chào các bạn,

Tranquil Mind, by Jennifer Bonaventura


Các bạn đọc tư duy tích cực mỗi ngày, nhưng có bao giờ bạn hỏi thực hành tư duy tích cực để làm gì không?

Nếu bạn trả lời để thành công trong đời, thì đó là cấp nhập môn. Cũng đúng, nhưng là câu trả lời của đai trắng.

Câu trả lời của đai xanh có lẽ là: "Để tích cực".
Nhưng tích cực là gì?
Tích cực là khiêm tốn, thành thật, yêu người.
Để làm gì?
Để được tĩnh lặng.
Tĩnh lặng để làm gì?

Và đây là câu trả lời đai đen: "Thực hành tư duy tích cực mỗi ngày để ta tĩnh lặng. Và tĩnh lặng là tự chủ".

"Tự chủ" là đích điểm cuối cùng.
Vì sao?
Thưa, vì ngày nào mình chưa đến đích điểm cuối cùng thì mình vẫn chưa tự chủ.

Chưa đến đích thì ai mới nói đụng lông chân, là đã nhảy chồm chồm, hay nếu cố tạo một nụ cười lạnh như nước đá thì tối về cũng điên đầu không ngủ được.

Chưa đến đích thì bạn thân với nhau, nhưng bạn đạt được học bổng đi Úc, mình cũng góp đơn nhưng không được, nên rất đau với bạn.

Chưa đến đích thì trong liên hệ hàng ngày có đủ mọi thứ stress: Vì thằng kia lái xe dành đường của mình, có bé cùng phòng nói mát một câu, boss không vui vì chất lượng công việc này của mình có vẻ thấp, cơm trưa có mấy miếng thịt dai nhách, mấy đứa nhỏ tháng này sổ điểm thấp… Nói chung là chưa đến đích thì bạn có đủ một trăm l‎ý do để giận, tức, sợ, ghen, lo… và stress cả ngày.

Phật gia nói đó là tâm xung động.

Nếu bạn có tâm xung động thì bạn chẳng có tự chủ gì cả. Tối ngày bị tâm xung động của mình làm cho mình giận, tức, sợ, ghen, lo… và stress, dù là mình chẳng có lỗi gì cả và cũng chẳng muốn stress thường xuyên như vậy. Cứ phải stress, cứ phải làm cái lòng mình không muốn, tức là thiếu tự chủ, là nô lệ. Ta luôn luôn là nô lệ cho tâm xung động của ta. Điều đó rất rõ ràng.

Tự chủ là chiến thắng tâm xung động, biến nó thành tâm tĩnh lặng.

Đó chính là đich điểm tối hậu của tư duy tích cực.

Chiến thắng tâm xung động chính là "giải thoát" của Phật gia. Giải thoát con người nô lệ của mình khỏi vòng kềm tỏa của tâm xung động.

Giải thoát cũng cùng một nghĩa với giải phóng—liberation.

Đich điểm cuối cùng của tư duy tích cực là: Giải thoát, giải phóng, tự chủ.

Chúc các bạn một ngày tự chủ.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – ‘những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ dần dần tan biến’ – Tướng Douglas MacArthur

Posted: 08 Sep 2011 01:05 PM PDT

Tướng Douglas MacArthur biện hộ
Cách lãnh đạo chiến tranh của ông trong cuộc chiến Triều Tiên
19 tháng 4, 1951

Thưa Tổng thống, Chủ tịch Hạ viện và các Nghị Sĩ đại diện trong Quốc hội:

Tôi đứng trên bục đài này với một cảm giác vô cùng khiêm nhường và với niềm tự hào to lớn – khiêm nhường dưới bóng những kiến trúc sư vĩ đại trong lịch sử của chúng ta đã đứng đây trước tôi, tự hào trong suy niệm rằng đây là tòa nhà thảo luận lập pháp đại diện cho quyền tự do của loài người trong hình thức tinh khiết nhất đã từng được sáng tạo.

Đây là nơi hy vọng và ước vọng và đức tin của toàn bộ loài người quy tụ.

Tôi không đứng đây như là người biện hộ cho mục đích đảng phái nào, bởi vì các vấn đề [của chúng ta] rất cơ bản và hoàn toàn vượt ra ngoài lĩnh vực cân nhắc đảng phái. Chúng phải được giải quyết với mức độ tối cao của lợi ích quốc gia nếu ta muốn chứng minh rằng chúng ta đang đi đúng hướng, đồng thời bảo vệ tương lai của chúng ta.

Do đó, tôi tin tưởng, rằng các bạn sẽ công bình chấp nhận lời tôi nói là chỉ thể hiện quan điểm của một đồng bào Mỹ.

Tôi nói với các bạn, không hận thù cũng như không cay đắng vào lúc hoàng hôn xế bóng của cuộc đời, với một mục đích trong tâm: để phục vụ đất nước tôi.

Các vấn đề [của chúng ta] là toàn cầu, và liên kết rất chặt chẽ với nhau, nên quan tâm đến vấn đề của một lãnh vực mà không hề biết đến vấn đề của các lãnh vực khác là mời mọc thảm họa cho toàn bộ. Trong khi châu Á thường được cho là cửa ngõ vào châu Âu, sự thật không kém thật một chút nào là châu Âu cũng là cửa ngõ đến châu Á, và ảnh hưởng rộng lớn của nơi này không thể không có tác động đến nơi kia.

Có những người cho rằng chúng ta không có đủ sức mạnh để bảo vệ cả hai mặt trận, rằng chúng ta không thể phân chia nỗ lực của chúng ta. Tôi không thể nghĩ có biểu hiện nào của bại chiến luận to tát hơn thế.

Nếu một kẻ thù nào đó có thể phân chia sức mạnh của hắn trên hai mặt trận, chúng ta phải chống lại những nỗ lực. Mối đe dọa Cộng sản là mối đe dọa toàn cầu. Sự bành trướng thành công của Cộng sản trong một lĩnh vực đe dọa sự hủy hoại của tất cả các lĩnh vực khác. Bạn không thể nhân nhượng hay nói cách khác là đầu hàng Cộng sản ở châu Á mà không đồng thời làm suy yếu những nỗ lực của chúng ta để ngăn chặn sự bành trướng của Cộng sản ở châu Âu.

Ngoài việc chỉ ra những lẽ thật phổ thông này tôi sẽ giới hạn thảo luận của tôi đến các khu vực chung của châu Á …

Trong khi tôi không được tham khảo ý kiến trước về quyết định của Tổng thống can thiệp để ủng hộ Cộng hòa Hàn quốc, quyết định đó, từ quan điểm quân sự, được chứng minh là đúng đắn. Như tôi nói, quyết định đó đã được chứng minh là đúng đắn, khi chúng ta đẩy lui kẻ xâm lược và làm tiêu hao quân đội của hắn. Chiến thắng của chúng ta đã hoàn tất, và mục tiêu của chúng ta nằm trong tầm tay, khi Trung Quốc Đỏ can thiệp với lực lượng bộ binh hùng hậu đông đảo hơn chúng ta.

Điều này tạo ra một cuộc chiến mới và một tình hình hoàn toàn mới, một tình huống chúng ta không dự tính khi các lực lượng của chúng ta được đưa vào chống lại quân xâm lược Bắc Triều Tiên; tình hình kêu gọi các quyết định mới trong lĩnh vực ngoại giao để cho phép các điều chỉnh thực tế về chiến lược quân sự. Những quyết định như vậy vẫn chưa có.

Trong khi không có ai tỉnh táo lại ủng hộ việc gửi các lực lượng bộ binh của chúng ta vào lục địa Trung Quốc, và không ai từng nghĩ đến việc đưa quân như vậy, tình hình mới đã cấp bách đòi hỏi một sửa đổi lớn trong kế hoạch chiến lược nếu mục đích chính trị của chúng ta là để đánh bại kẻ thù mới này như chúng ta đã đánh bại kẻ thù cũ.

Ngoài các nhu cầu quân sự, như tôi đã nhìn thấy, để vô hiệu hóa vùng bảo dưỡng của kẻ thù ở phía bắc sông Áp Lục, tôi thấy rằng nhu cầu quân sự trong cuộc chiến đòi hỏi –

(1) Tăng cường phong tỏa kinh tế Trung Quốc.

(2) Áp dụng phong tỏa hải quân tại bờ biển Trung Quốc.

(3) Loại bỏ các hạn chế về máy bay trinh sát vùng duyên hải Trung quốc và Mãn Châu.

(4) Loại bỏ các hạn chế đối với các lực lượng của nước Cộng Hòa Trung Hoa ở Đài Loan, với hỗ trợ hậu cần để đóng góp vào những hoạt động hiệu quả chống lại Trung Quốc đại lục.

Vì có những quan điểm, những quan điểm đã được hoạch định chuyên nghiệp để hỗ trợ các lực lượng mà chúng ta đã đưa vào Hàn Quốc và chấm dứt chiến tranh với ít trì hoãn nhất và bảo vệ vô số mạng sống của Mỹ và đồng minh, tôi đã bị chỉ trích kịch liệt bởi các nhóm dân sự, chủ yếu là ở nước ngoài, bất kể sự hiểu biết của tôi là, theo quan điểm quân sự, những quan điểm trên [của tôi] đã được hoàn toàn chia sẻ trong quá khứ bởi hầu hết tất cả các nhà lãnh đạo quân sự quan tâm tới chiến trường Hàn Quốc, bao gồm ngay cả Bộ trưởng Tham mưu của chúng ta.

Tôi đã kêu gọi quân tiếp viện, nhưng được thông báo rằng không có quân tiếp viện không. Tôi đã nói rõ là nếu không được phép để tiêu diệt các căn cứ dồn quân của kẻ thù ở phía bắc của sông Áp Lục, nếu không được phép sử dụng các lực lượng Trung Quốc thân thiện gồm khoảng 600.000 người trên đảo Đài Loan, nếu không được phép phong tỏa bờ biển Trung Quốc để ngăn chặn Trung Quốc Đỏ nhận viện trợ bên ngoài, và nếu không có hy vọng có nhiều quân tiếp viện, trên quan điểm quân sự, vị trí lãnh đạo như vậy ngăn cấm sự chiến thắng.

Chúng ta có thể cầm quân ở Hàn Quốc bằng cách vận hành liên tục và ở tại khu vực mà lợi thế tiếp liệu của ta thì bằng bất lợi thế tiếp liệu của kẻ thù, nhưng cùng lắm là chúng ta chỉ có thể hy vọng cho một chiến dịch thiếu quyết đoán với sự hao mòn khủng khiếp và thường trực áp đặt lên lực lượng của chúng ta nếu kẻ thù sử dụng tất cả khả năng quân sự của hắn.

Tôi đã liên tục kêu gọi cho các quyết định chính trị mới cần thiết cho một giải pháp.

Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để làm bóp méo quan điểm của tôi. Đến mức có người đã nói tôi là một kẻ mê chiến tranh. Không gì có thể khác xa sự thật hơn vậy.

Tôi biết chiến tranh như chỉ môt ít người hiện còn sống biết chiến tranh, và đối với tôi không có gì đáng ghê tởm hơn chiến tranh. Từ lâu tôi đã hoàn toàn ủng hộ việc bãi bỏ chiến tranh, vì chiến tranh hủy diệt cả hai, bạn và thù, khiến chiến tranh trở thành vô dụng như một phương tiện để dàn xếp những tranh chấp quốc tế.

Thật vậy, vào ngày 2 tháng Chín, năm 1945, ngay sau khi quốc gia Nhật Bản đầu hàng ở trên chiến hạm Missouri, tôi đã chính thức cảnh báo như sau:

“Loài người kể từ thời khởi thủy đã tìm kiếm hòa bình. Nhiều phương pháp khác nhau qua nhiều thời đại đã được thử để đưa ra một quá trình quốc tế để ngăn chặn hoặc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia. Ngay từ khi bắt đầu cho đến nay, những phương pháp khả thi đã được tìm thấy là dành cho cá nhân các công dân, nhưng cơ chế của một công cụ hữu hiệu lớn hơn trên phạm vi quốc tế chưa bao giờ thành công."

“Liên minh quân sự, cân bằng quyền lực, các liên đoàn quốc gia, tất cả đều lần lượt thất bại, để lại con đường duy nhất là con đường thử thách của chiến tranh. Giờ đây, sự hủy diệt hoàn toàn của chiến tranh ngăn chặn sự lựa chọn này. Chúng ta đã có cơ hội cuối cùng. Nếu chúng ta không lập ra một hệ thống lớn hơn và công bằng hơn, Trận Chiến Hủy Diệt Cuối Cùng sẽ có mặt ngay ngưỡng cửa của chúng ta. Vấn đề cơ bản là thần học và liên quan đến sự hoạt động tâm linh, một sự cải tiến nhân tính đi đồng bộ với sự tiến bộ gần như không thể bì kịp trong khoa học, nghệ thuật, văn học, và tất cả các phát triển vật chất và văn hóa của 2000 năm qua. Phải là phần hồn, nếu chúng ta muốn cứu rỗi phần xác.”

Nhưng một khi chiến tranh đã bị áp đặt lên chúng ta, không có sự chọn lựa nào hơn là áp dụng mọi phương tiện sẵn có để chấm dứt chiến tranh nhanh chóng. Đối tượng chính của chiến tranh là chiến thắng, không phải là sự kéo dài do dự.

Trong chiến tranh không có gì để thay thế chiến thắng.

Có một số người vì những lý do khác nhau sẽ làm hài lòng Trung Quốc Đỏ. Họ mù lòa trong bài học rõ ràng của lịch sử, lịch sử dạy với sự nhấn mạnh không thể nhầm lẫn rằng nhượng bộ chỉ lại sinh ra chiến tranh mới và đổ máu nhiều hơn. Không có trường hợp nào trong lịch sử mà mục đích này biện minh cho phương tiện đó, mà nhượng bộ đã dẫn đến cái gì hơn là một hòa bình giả tạo.

Giống như tống tiền, nó đặt cơ sở cho đòi hỏi mới và liên tục gia tăng cho đến khi, như trong tống tiền, bạo lực trở thành một lựa chọn duy nhất. Tại sao, những người lính của tôi đã hỏi, hiến dâng những lợi thế quân sự cho kẻ thù trên chiến trường? Tôi không thể trả lời.

Vài người có thể nói để tránh sự lây lan xung đột vào một cuộc chiến toàn diện với Trung Quốc. Những người khác, để tránh sự can thiệp của Liên Xô. Cả hai giải thích đều dường như không hợp lý, vì Trung Quốc đã ứng chiến vào với lực lượng tối đa nhất mà Trung Quốc có thể sử dụng, và Liên Xô sẽ không nhất thiết phải xía vào đường đi của chúng ta. Giống như rắn hổ mang, một kẻ thù mới nào cũng thích tấn công nơi nào nó có thuận lợi hơn về quân sự hay về tiềm lực nào đó trên bình diện quốc tế.

Thảm kịch của Hàn Quốc tiếp tục gia tăng bởi thực tế rằng hoạt động quân sự của Hàn Quốc bị giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Hàn Quốc. Điều đó đã kết án Hàn quốc, mà chúng ta muốn cứu, kết án Hàn quốc phải chịu đựng toàn bộ những tác động tàn phá của bom đạn của hải quân và không quân, trong khi các khu vùng bão dưỡng của đối phương hoàn toàn được bảo vệ để khỏi bị tấn công và tàn phá như vậy.

Trong số các quốc gia trên thế giới cho đến nay, chỉ Hàn Quốc là nước duy nhất liều lĩnh tất cả để chống lại chủ nghĩa cộng sản. Sự vĩ đại của lòng can đảm và ý chí dũng cảm của người dân Hàn Quốc thật là không thể diễn tả được. Họ đã chọn liều mạng sống chứ không chọn chế độ nô lệ. Lời cuối cùng của họ với tôi: “Xin đừng vội vã rời bỏ Thái Bình Dương.”

Tôi mới rời những người con chiến đấu của các bạn tại Hàn Quốc. Họ đã vượt qua tất cả những thử thách, và tôi có thể báo cho bạn biết mà không cần do dự rằng họ rất tuyệt vời trên mọi phương diện.

Đây là nỗ lực liên tục của tôi để bảo vệ những người lính này và kết thúc cuộc xung đột dã man này một cách vinh dự trong thời gian ngắn nhất và với sự hy sinh mạng sống ít nhất. Sự đổ máu càng ngày càng gia tăng làm cho tôi vô cùng đau khổ và lo lắng. Những người hào hiệp này sẽ vẫn thường ở trong ý nghĩ của tôi và luôn luôn trong lời cầu nguyện của tôi.

Tôi đang khép lại 52 năm nghĩa vụ quân sự. Khi tôi gia nhập quân đội, ngay cả trước khi bước sang thế kỷ này, là để thực hiện tất cả những hy vọng và ước mơ nam nhi của tôi.

Thế giới đã biến chuyển nhiều lần từ khi tôi tuyên thệ nhậm chức trên đồng bằng West Point, và những hy vọng và ước mơ từ lâu đã biến mất, nhưng tôi vẫn nhớ điệp khúc của một trong những bản ballad trong trại binh phổ biến nhất của ngày đó với lời tuyên bố rất hào hùng rằng những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ dần dần tan biến.

Và cũng giống như người lính già của bản ballad đó, giờ đây tôi khép lại cuộc đời binh nghiệp của tôi và chỉ dần dần tan biến. Một người lính già đã cố gắng làm nhiệm vụ của mình như Chúa đã ban cho người ấy ánh sáng để thấy nhiệm vụ đó. Xin tạm biệt.

(Diệu Sương dịch)

General Douglas MacArthur Defends
His Conduct of the War in Korea
April 19, 1951

“Old soldiers never die; they just fade away.”

General Douglas MacArthur’s speech before the joint session of Congress on April 19, 1951, after his abrupt dismissal as Commander in Chief of the United Nations forces in Korea, provoked a nation-wide controversy that recalled the fury over the Kansas-Nebraska Act of 1854.

The son of the distinguished army officer Arthur MacArthur, Douglas MacArthur (1880-1964) was born in Little Rock, Arkansas, was brought up in various army posts, and was graduated from West Point at the head of his class in 1903. He served in the Philippines and Japan, and in the first World War achieved a notable record as Chief of Staff of the famous Rainbow Division and later as Commander of the 84th Infantry Brigade. After the war he was Superintendent of West Point (1919-22), Commander in the Philippines (1922-25), and Chief of Staff (1930-35), during which time he had the unpleasant task of directing troops against the depression “bonus army” that marched against Washington. He went again to the Philippines in 1935 to organize the islands against possible Japanese aggression. He retired from the army in 1939, but returned to duty in July, 1941, barely in time to head the defense of the Philippines after the attack on Pearl Harbor. On order from President Roosevelt, General MacArthur escaped to Australia, there to take command of the Allied forces in the South Pacific and to begin the long road back to Manila – and to Tokyo. At the time of the Japanese surrender on the U.S.S. Missouri General MacArthur broadcast to the world a plea for peace in a high, sonorous vein.

After the Japanese surrender he became Supreme Commander of the Allied forces in Japan and, on South Korea’s being invaded, Commander of the United Nations forces there. He was relieved of both commands on April 11, 1951, when it was feared his strategy would lead to general war with China and the Soviet Union. He immediately flew back to the United States, made a triumphant trip across the country, reminiscent of the triumph of a returning Roman general, and accepted the invitation to speak before both Houses of Congress – an unheard-of procedure in American history.

April 19, 1951

Mr. President, Mr. Speaker and distinguished members of the Congress:

I stand on this rostrum with a sense of deep humility and great pride – humility in the wake of those great architects of our history who have stood here before me, pride in the reflection that this home of legislative debate represents human liberty in the purest form yet devised.

Here are centered the hopes and aspirations and faith of the entire human race.

I do not stand here as advocate for any partisan cause, for the issues are fundamental and reach quite beyond the realm of partisan considerations. They must be resolved on the highest plane of national interest if our course is to prove sound and our future protected.

I trust, therefore, that you will do me the justice of receiving that which I have to say as solely expressing the considered viewpoint of a fellow American.

I address you with neither rancor nor bitterness in the fading twilight of life, with but one purpose in mind: to serve my country.

The issues are global, and so interlocked that to consider the problems of one sector oblivious to those of another is to court disaster for the whole. While Asia is commonly referred to as the gateway to Europe, it is no less true that Europe is the gateway to Asia, and the broad influence of the one cannot fail to have its impact upon the other.

There are those who claim our strength is inadequate to protect on both fronts, that we cannot divide our effort. I can think of no greater expression of defeatism.

If a potential enemy can divide his strength on two fronts, it is for us to counter his efforts. The Communist threat is a global one. Its successful advance in one sector threatens the destruction of every other sector. You cannot appease or otherwise surrender to communism in Asia without simultaneously undermining our efforts to halt its advance in Europe.

Beyond pointing out these general truisms, I shall confine my discussion to the general areas of Asia…

While I was not consulted prior to the President’s decision to intervene in support of the Republic of Korea, that decision, from a military standpoint, proved a sound one. As I say, it proved a sound one, as we hurled back the invader and decimated his forces. Our victory was complete, and our objectives within reach, when Red China intervened with numerically superior ground forces.

This created a new war and an entirely new situation, a situation not contemplated when our forces were committed against the North Korean invaders; a situation which called for new decisions in the diplomatic sphere to permit the realistic adjustment of military strategy. Such decisions have not been forthcoming.

While no man in his right mind would advocate sending our ground forces into continental China, and such was never given a thought, the new situation did urgently demand a drastic revision of strategic planning if our political aim was to defeat this new enemy as we had defeated the old.

Apart from the military need, as I saw it, to neutralize the sanctuary protection given the enemy north of the Yalu, I felt that military necessity in the conduct of the war made necessary –

(1) The intensification of our economic blockade against China.

(2) The imposition of a naval blockade against the China coast.

(3) Removal of restrictions on air reconnaissance of China’s coastal area and of Manchuria.

(4) Removal of restrictions on the forces of the republic of China on Formosa, with logistical support to contribute to their effective operations against the Chinese mainland.

For entertaining these views, all professionally designed to support our forces committed to Korea and to bring hostilities to an end with the least possible delay and at a saving of countless American and Allied lives, I have been severely criticized in lay circles, principally abroad, despite my understanding that from a military standpoint the above views have been fully shared in the past by practically every military leader concerned with the Korean campaign, including our own Joint Chiefs of Staff.

I called for reinforcements, but was informed that reinforcements were not available. I made clear that if not permitted to destroy the enemy built-up bases north of the Yalu, if not permitted to utilize the friendly Chinese force of some six hundred thousand men on Formosa, if not permitted to blockade the China coast to prevent the Chinese Reds from getting succor from without, and if there were to be no hope of major reinforcements, the position of the command from the military standpoint forbade victory.

We could hold in Korea by constant maneuver and at an approximate area where our supply-line advantages were in balance with the supply-line disadvantages of the enemy, but we could hope at best for only an indecisive campaign with its terrible and constant attrition upon our forces if the enemy utilized his full military potential.

I have constantly called for the new political decisions essential to a solution.

Efforts have been made to distort my position. It has been said in effect that I was a warmonger. Nothing could be further from the truth.

I know war as few other men now living know it, and nothing to me is more revolting. I have long advocated its complete abolition, as its very destructiveness on both friend and foe has rendered it useless as a means of settling international disputes.
Indeed, on the second day of September, 1945, just following the surrender of the Japanese nation on the battleship Missouri, I formally cautioned as follows:

“Men since the beginning of time have sought peace. Various methods through the ages have been attempted to devise an international process to prevent or settle disputes between nations. From the very start workable methods were found in so far as individual citizens were concerned, but the mechanics of an instrumentality of larger international scope have never been successful.

“Military alliances, balances of power, leagues of nations, all in turn failed, leaving the only path to be by way of the crucible of war. The utter destructiveness of war now blocks out this alternative. We have had our last chance. If we will not devise some greater and more equitable system, our Armageddon will be at our door.
The problem basically is theological and involves a spiritual recrudescence, an improvement of human character that will synchronize with our almost matchless advances in science, art, literature, and all material and cultural developments of the past two thousand years. It must be of the spirit if we are to save the flesh.”

But once war is forced upon us, there is no other alternative than to apply every available means to bring it to a swift end. War’s very object is victory, not prolonged indecision.

In war there is no substitute for victory.

There are some who for varying reasons would appease Red China. They are blind to history’s clear lesson, for history teaches with unmistakable emphasis that appeasement but begets new and bloodier war. It points to no single instance where this end has justified that means, where appeasement had led to more than a sham peace.

Like blackmail, it lays the basis for new and successively greater demands until, as in blackmail, violence becomes the only alternative. Why, my soldiers asked of me, surrender military advantages to an enemy in the field? I could not answer.

Some may say to avoid spread of the conflict into an all-out war with China. Others, to avoid Soviet intervention. Neither explanation seems valid, for China is already engaging with the maximum power it can commit, and the Soviet will not necessarily mesh its actions with our moves. Like a cobra, any new enemy will more likely strike whenever it feels that the relativity in military or other potential is in its favor on a worldwide basis.

The tragedy of Korea is further heightened by the fact that its military action is confined to its territorial limits. It condemns that nation, which it is our purpose to save, to suffer the devastating impact of full naval and air bombardment while the enemýs sanctuaries are fully protected from such attack and devastation.

Of the nations of the world, Korea alone, up to now, is the sole one which has risked its all against communism. The magnificence of the courage and fortitude of the Korean people defies description. They have chosen to risk death rather than slavery. Their last words to me were: “Don’t scuttle the Pacific.”

I have just left your fighting sons in Korea. They have met all tests there, and I can report to you without reservation that they are splendid in every way.

It was my constant effort to preserve them and end this savage conflict honorably and with the least loss of time and a minimum sacrifice of life. Its growing bloodshed has caused me the deepest anguish and anxiety. Those gallant men will remain often in my thoughts and in my prayers always.

I am closing my fifty-two years of military service. When I joined the army, even before the turn of the century, it was the fulfillment of all my boyish hopes and dreams.

The world has turned over many times since I took the oath on the plain at West Point, and the hopes and dreams have long since vanished, but I still remember the refrain of one of the most popular barracks ballads of that day which proclaimed most proudly that old soldiers never die; they just fade away.

And like the old soldier of that ballad, I now close my military career and just fade away, an old soldier who tried to do his duty as God gave him the light to see that duty. Good-bye.

http://www.rjgeib.com/thoughts/war/douglas-macarthur-farewell.html


Filed under: Các diễn văn làm thay đổi thế giới, Lịch sử, Văn Hóa Tagged: các diễn văn làm thay đổi thế giới, Lịch sử, Văn Hóa

Lỗi ở đâu?

Posted: 08 Sep 2011 01:04 PM PDT

 

Tìm được việc làm đúng nghề sau khi tốt nghiệp.

Có  việc làm thêm để bù đắp chi phí những ngày đi học.

Được bổ sung kiến thức trong  một khóa học miễn phí…

đều là những điều được nhiều bạn trẻ quan tâm. Vậy mà …trong những câu chuyện của tôi:

 

1-Cần một giáo viên dạy môn Địa lý cấp ba, Hiệu trưởng bảo "người dân tộc càng tốt, trường mình có tới hơn 40% học sinh dân tộc". Tôi nhờ các bạn sinh viên Tây Nguyên tìm giúp. Biết tin thông qua fecbook, H'L. phấn khởi gọi báo tin " em tìm được cho cô rồi. Vừa tốt nghiệp sư phạm địa năm nay cô ạ " . Chờ hoài chẳng thấy ai đến, tôi hỏi lại H'L.mới biết " Mẹ bạn ấy sợ làm việc trên thành phố chưa quen, nên không cho đến chỗ cô".

Yang ạ ! Nguyên tắc tuyển dụng là bạn phải mang hồ sơ đến, đơn vị có nhu cầu sẽ tổ chức phỏng vấn. Như trường tôi thì sau đó sẽ tổ chức cho dạy thử một tiết, rồi mới quyết định có nhận hay không? Chưa biết gì về trường, nhưng có cơ hội thử một việc làm đúng nghề đã được đào tạo , trong khi còn biết bao người thất nghiệp, hoặc phải "chạy" mới có việc làm…?

2- H'M. ra phố ở trọ luyện thi đại học hai năm liền không đủ điểm, nên học Trung cấp y ở Buôn Ma Thuột. Việc ăn ở tìm được người nhà giúp miễn phí. Mỗi kỳ  học , mẹ chạy vay khắp nơi mới có đủ hơn 3 triệu đồng để nộp học phí. Bởi dẫu cha bị tai nạn mất khả năng đi lại, mẹ một mình phải nuôi ba chị em đi học, nhưng địa phương so sánh với các hộ  trong buôn, vẫn không xếp gia đình vào loại khó khăn để được vay tiền chính sách.

Nghỉ hè, H'M. tìm được việc làm thêm ở cantin một trường học : ngày ăn ba bữa, lương tháng còn lĩnh 1,3 triệu. Ba mẹ thấy nói làm việc rửa ly chén thì gọi về, không cho đi làm nữa, vì " sợ con hư ".

Vừa làm mất lòng gia đình nuôi không con mình suốt một năm học. Vừa mất cơ hội có thêm chút tiền cho năm học mới. Mất cả cơ hội giao tiếp học lấy kỹ năng với cuộc sống bên ngoài.

3-Với mong muốn động viên thế hệ trẻ tiếp nối sự nghiệp làm công tác nghiên cứu văn hóa truyền thống, Ban chấp hành Hội văn nghệ dân gian Việt Nam ưu tiên Tây Nguyên một suất miễn phí, cho đối tượng trẻ chưa  phải hội viên, tham dự khóa tập huấn về công tác sưu tầm văn hóa dân gian tại miền Tây Nam Bộ. Chấp hành ý kiến của Chủ tịch Hội, em : vừa tốt nghiệp đại học tổng hợp, đã từng  làm tiểu luận nghiên cứu khoa học về đề tài văn hóa cổ truyền Tây Nguyên, lại thường bày tỏ sự hiểu biết  kha khá về ngôn ngữ và văn hóa các dân tộc Đông Nam Á, nên được chọn.

Nhận tiền và kế hoạch lớp học rồi, hướng dẫn từng bước qua điện thoại,  em còn đủ mọi " nỗi sợ" :

-          Sợ "người ta" ….không cho học

-          Sợ không có người trẻ, toàn người già học.

-          Sợ….không biết học để làm gì (?)

4- Y .G. được đào tạo chính quy 6 năm chuyên ngành âm nhạc : bốn năm trung cấp sư phạm và hai năm cao đẳng sáng tác. Được mời dạy nhạc. Hết năm học, em nói " không thích làm công tác giảng dạy ". Hai mùa xuân đã trôi qua, Y.G. ở nhà chạy quanh chơi nhạc đám cưới, chẳng có cơ hội tham gia môi trường âm nhạc chuyên nghiệp nào để sáng tác, cái nghề mà em đã tốt nghiệp loại giỏi. Cũng chẳng đủ can đảm vượt xa khỏi thành phố quê hương để làm " cái gì đó lớn hơn" như  em đã tưởng tượng…

Tôi có mua dây buộc mình không, khi cứ buồn với những việc không phải của mình như vậy nhỉ ? Nhưng mà lỗi ở đâu ra cơ sự thế chứ?

Linh Nga Niê Kdăm


Filed under: Các vấn đề xã hội Tagged: Các vấn đề xã hội

Tiền đồng sẽ tiếp tục mất giá?

Posted: 08 Sep 2011 01:03 PM PDT

(Bài tiếng Anh của Reuters theo sau bài tiếng Việt)


Tỷ giá VND/USD đỡ giao động mạnh hơn so với các tháng trước.

Tiền đồng của Việt Nam ở thế kẹt và bị coi là kém hấp dẫn nhất châu Á mặc dù Ngân hàng Nhà nước có động thái dùng nguồn dự trữ ngoại hối để giữ giá, hãng Reuters nhận định trong bài phân tích ngày 06/09.

Thực trạng tiền đồng yếu kinh niên làm nản các nhà đầu tư nước ngoài và cản trở chính phủ Việt Nam trong nỗ lực khắc phục nền kinh tế yếu kém vốn từng được coi là một trong những nền kinh tế triển vọng nhất châu Á cách đây 5 năm.

Cho đến khi Việt Nam gây dựng lại niềm tin thông qua các biện pháp khống chế lạm phát kỷ lục và thu hẹp thâm hụt ngân sách và thâm hụt mậu dịch thì rủi ro của việc giữ tiền đồng có khả năng vẫn nhiều hơn lợi thế giữ VND, bất kể Ngân hàng Nhà nước có tiếp tục làm gì đi nữa, giới phân tích và các nhà đầu tư cho hay.

Tiền đồng vào lúc này mạnh hơn hồi tháng Hai khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phá giá tiền đồng 8,5%.

“VND khó có thể duy trì được như mức hiện nay “

Dominic Bunning, HSBC

Tuy nhiên, tiền đồng đã bị mất giá hơn 20% kể từ giữa năm 2008 trong bối cảnh lạm phát chóng mặt, tăng trưởng tín dụng cao và thâm hụt lớn bào mòn lòng tin vốn đã ở mức thấp.

Kể thời điểm đó, tiền đồng bị mất giá hơn tất cả các đồng tiền khác ở châu Á.

“VND khó có thể duy trì được như mức hiện nay về lâu dài trong bối cảnh môi trường kinh tế vào lúc này ” Dominic Bunning, chuyên viên chiến lược ngoại hối tại ngân hàng HSBC cho hay.

Trong nỗ lực kết thúc một chu kỳ phá giá tiền đồng nhỏ giọt, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đi bước lớn nhằm ổn định tiền tệ vào ngày 11/02 khi phá giá tiền đồng một lần lớn nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á hồi 1997-8, với mức phá giá VND là 8,5%.

‘Có kết quả ngắn hạn’

Sau đó, Ngân hàng Nhà nước bắt các công ty nhà nước bán ngoại tệ cho họ để tăng dự trữ ngoại hối, dùng công an để dẹp thị trường chợ đen, siết chặt kinh doanh vàng khiến nhu cầu đôla tăng mạnh.

Giá vàng tại VN có thời điểm tăng hơn cả triệu VND so với giá vàng thế giới.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã tăng tỷ lệ dự dự trữ bắt buộc tại các ngân hàng lên ba lần.

Trong một vài tháng, các biện pháp này mang lại kết quả.

Hồi cuối tháng Hai tỷ giá hối đoái không chính thức lên quá 22.000 VND/ 1 đôla và trong tháng Tư đã trở lại xuống ngang tầm với hối đoái liên ngân hàng ở mức 20.900 VND/ 1 đôla và giao dịch trong biên độ Ngân hàng Nhà nước ấn định.

Nhưng vào đầu tháng Tám, tiền đồng lại trượt giá ngoài biên độ ấn định khi có cơn sốt giá vàng và cán cân mậu dịch thâm hụt trở lại sau khi có thặng dư hiếm hoi vào tháng Bảy.

Điều này làm nảy sinh các câu hỏi về tính bền vững của các chính sách Ngân hàng Nhà nước đưa ra.

Các nguồn tin cho biết kể từ giữa tháng Tám, Ngân hàng Nhà nước bán đôla một cách có chọn lọc đối với một số ngân hàng lớn.

“Không ai tin vào tiền đồng và lãi suất không đủ cao để bù đắp cho sự chờ đợi của người ta về thực trạng tiền đồng mất giá”

Jonathan Pincus, Chương trình Fulbright tại Tp HCM

Thống đốc Nguyễn Văn Bình và các quan chức Ngân hàng Nhà nước từ chối bình luận về tin này.

Các bước của Ngân hàng Nhà nước “dường như để trì hoãn vấn đề chứ không phải giải quyết vấn đề, bởi họ không có đủ nước ngoại hối để trao đổi theo tỷ giá chính thức”, kinh tế gia Jonathan Pincus, Hiệu trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP HCM cho biết.

Và ông nói đó một phần là kết quả của nỗ lực của nhà chức trách vừa muốn kiểm soát cả tỷ giá lẫn lãi suất.

“Về cơ bản, họ phải chọn một,” ông nói.

“Không ai tin vào tiền đồng và lãi suất không đủ cao để bù đắp cho sự chờ đợi của người ta về thực trạng tiền đồng mất giá".

Các ngân hàng đang trả lãi suất tiền gửi tiết kiệm bằng tiền đồng là 14%. Mức này nghe có vẻ cao, nhưng lạm phát tại Việt Nam tới ngưỡng 23% vào tháng Tám, là mức cao nhất trong 33 tháng.

‘Cần làm nhiều hơn’

Lạm phát phi mã khiến lãi tiền gửi cũng chẳng đủ đề lo cuộc sống.

Giới đầu tư nước ngoài và các nhà phân tích cho rằng chính phủ cần làm nhiều hơn để thúc đẩy nền kinh tế.

Mark Mobius, Tổng giám đốc Tập đoàn Templeton Emerging Markets nói kế hoạch ổn định “lâu dài” cần phải cắt giảm chi tiêu chính phủ, huy động dự trữ ngoại hối và nỗ lực lớn nhằm tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước, là khu vực hút tín dụng nhà nước nhiều nhất trong khi sử dụng vốn tương đối không hiệu quả.

“Những biện pháp này sẽ tăng lòng tin,” Mobius cho biết.

“Các chính sách điều chỉnh tiền tệ chóng mặt làm giới đầu từ khó ra quyết định".

Trong khi đó Benedict Bingham, đại diện cao cấp Quỹ Tiền tệ Quốc tế tại Việt Nam, cảnh báo rằng các niềm tin vào tiền đồng trong năm nay là “tích cực nhưng cũng mong manh.”

“Chính sách điều chỉnh tiền tệ chóng mặt làm giới đầu từ khó ra quyết định”

Mark Mobius, Templeton Emerging Markets Group

“Bất kỳ việc nới lỏng nào về chính sách tiền tệ quá sớm đều có thể làm suy yếu rằng tâm lý trên thị trường ngoại hối “, ông nói.

ANZ trong một ghi chú đã điều chỉnh lại dự báo tỷ giá với mức cho cuối năm là 21.000 VND/ 1 đôla thay vì 20.835 VND/1 đôla hiện nay.

Mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam được coi là bí mật nhà nước và Ngân hàng Nhà nước không công bố con số hiện thời.

Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, cho biết sụt xuống khoảng 7-8 tỷ đôla vào đầu năm nay từ mức 23 tỷ đôla trong năm 2008.

Khi tiền đồng tiền được bình ổn giá sau lần phá giá hồi tháng hai, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào 6 tỷ USD để tăng cường dự trữ ngoại hối, theo báo cáo của Chính phủ.

“Hầu hết các nhà quan sát nghĩ rằng trong các cuộc khủng hoảng ngoại hối trước đây, Ngân hàng Nhà nước chỉ cần can thiệp với số tiền khoảng 2 tỷ USD để phục hồi lại sự ổn định “, công ty môi giới chứng khoán VinaSecurities cho biết trong một ghi chú tuần trước.

“Đạn dự phòng mà Ngân hàng Nhà nước có hiện nay đã tăng gấp ba lần con số hai tỷ này".

Analysis: Vietnam taps reserves but dong still likely to slide

Reuters

By John Ruwitch

HANOI | Tue Sep 6, 2011 10:02pm EDT

HANOI (Reuters) – The Vietnamese dong looks stuck for now with the unappealing title of Asia’s worst performing currency, despite moves by the central bank to dip into foreign reserves to bolster it.

The dong’s chronic weakness has repelled foreign investors and hampered attempts by Vietnam’s policymakers to reverse the faltering fortunes of an economy that only five years ago was one of Asia’s most promising.

Until Vietnam rebuilds trust by decisively taming the region’s worst inflation and narrowing sizable trade and budget deficits, the risks of holding dong are likely to continue to outweigh the benefits no matter what tinkering the central bank does, analysts and investors say.

The dong is stronger today than in February when the State Bank of Vietnam devalued it by 8.5 percent. Still, the currency has lost more than 20 percent in value since mid-2008, as waves of inflation, high credit growth and large deficits eroded already low levels of confidence. Since that time, it has shed more than any other Asian currency.

This year, the dong strengthened from February until August — but it doesn’t look likely to switch again and appreciate.

“The VND will find it difficult to maintain its current level indefinitely given the current economic environment,” said Dominic Bunning, a foreign exchange strategy associate at HSBC.

In an attempt to end a cycle of small devaluations, the State Bank of Vietnam launched a campaign to stabilize the currency on February 11 with the biggest single devaluation since the Asian Financial Crisis of 1997-8, an 8.5 percent move.

The SBV subsequently compelled state-owned firms to sell it their foreign exchange to bulk up reserves, teamed up with the police in a sustained crackdown on the black market, curtailed gold trading that fuels dollar demand and raised bank reserve requirement ratios for foreign currencies three times.

OVER-VALUED AND VULNERABLE

For a period of months, the measures bore fruit. In late February the unofficial exchange rate peaked above 22,000 dong per dollar and in April it was back down on par with the interbank exchange rate around 20,900 and trading within the central bank-mandated trading band.

But in early August, the dong fell back outside the band as gold prices soared — amid a new bout of gold fever — and the trade account slipped back into deficit after a rare surplus in July, raising fresh questions about the sustainability of central bank policies.

Sources say that since mid-August, the central bank has been selling dollars selectively to major banks. Central bank governor Nguyen Van Binh and other central bank officials declined to comment.

The SBV’s steps “seem to have frozen the problem, but don’t deal with the problem, which is that there’s not enough foreign exchange at the official rate,” said Jonathan Pincus, dean of the Fulbright Economics Teaching Program in Ho Chi Minh City.

And that, he said, is partly a result of attempts by authorities to control both the exchange rate and interest rates. “Basically they have to pick one,” he said.

“There’s no faith in the VND. No one trusts it and interest rates aren’t high enough to compensate for people’s expectations about devaluation.”

That appears to be borne out on the street, where many put spare cash into gold or dollars. Teacher Nguyen Thi Uyen stopped by to check prices at a crowded Hanoi gold shop on a recent day. “People don’t have much faith in the dong,” said Uyen.

For dong deposits, banks are allowed to pay interest of 14 percent. That might sound high, but annual inflation hit 23 percent — a 33-month-high — in August.

Foreign investors and analysts say the government needs to do more to boost the economy.

Mark Mobius, executive chairman of Templeton Emerging Markets group, said a “long-range” stabilization plan should involve government spending cuts, a bulking up of foreign reserves and a major drive to privatize state-owned enterprises, which suck up credit but often use it relatively inefficiently.

“These measures will instill confidence,” Mobius said. “Rapid currency movements make decision-making more difficult for an investor.”

STABILISING, NOT FIXING

Sweeping reforms seem unlikely in the short term, so the question is whether the SBV can keep the dong’s rate of weakening in check.

Binh, a career central banker and former deputy who was elevated to governor in July, is careful where he aims.

“Stabilizing the value of the Vietnam dong is our key goal. Stabilizing, not fixing (it),” the online news portal Vietnamnet.vn quoted him as saying in mid-August.

Much will depend on the macro-economic environment and the depth of Vietnam’s foreign reserves, economists say.

The authorities have continued to pay lip service to the inflation fight, but at the same time have started to push for lower interest rates and more lending to certain sectors, with some arguing that price pressures have peaked.

Benedict Bingham, the International Monetary Fund’s senior resident representative in Vietnam, warns that the improved sentiment toward the dong this year was “positive but fragile.”

“Any premature easing of monetary policy might undermine that sentiment in the foreign exchange market,” he said.

ANZ revised its forecast for the exchange rate last week, citing “further signs of back-peddling on inflation to favor growth.” The bank now sees the dong hitting 21,000 per dollar by year-end versus 20,835 currently, it said in a note.

MANAGING IT WEAKER

Matt Hildebrandt, an economist at J.P. Morgan in Singapore, said a 4-6 percent yearly decline in the value of the dong “would not raise eyebrows,” but a deeper fall would spark concerns about inflation and return on investment.

“They can manage it weaker slowly if they have the FX reserves to do it, but we don’t really know where those stand,” he said.

Vietnam’s level of reserves is considered a state secret and the central bank does not publish current figures.

Le Xuan Nghia, vice chairman of the National Financial Supervisory Committee, said reserves had sunk to $7 billion to $8 billion earlier this year from $23 billion in 2008.

When the currency was strengthening after the February devaluation, the SBV bought $6 billion to bolster reserves, the government reported.

“Most observers think that in past FX crises, an intervention by the central bank in an amount of $2 billion would be sufficient to restore stability,” the brokerage VinaSecurities said in a note last week.

“The current war chest built up by SBV is three times that amount.”

(Editing by Richard Borsuk)


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Lãnh đạo VKS Cần Giuộc ‘rượu bia xa hoa, bê tha’

Posted: 08 Sep 2011 01:02 PM PDT

vnexpress
Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Cần Giuộc (Long An), ông Phạm Chí Thành, cho biết quan điểm của Ủy ban là xử lý thật nghiêm 2 lãnh đạo Viện kiểm sát Cần Giuộc vì đã vi phạm đạo đức lối sống Đảng viên.
> Lời kể của nhân chứng vụ chết đuối trong cuộc nhậu / Viện trưởng kiểm sát trần tình / Cô gái chết đuối sau bữa nhậu trên phà cùng quan chức

- Ông nhận định thế nào về bản tường trình của 2 lãnh đạo VKS Cần Giuộc?

- Chúng tôi đã nhận được bản tường trình của ông Nguyễn Kim Đoạn và ông Nguyễn Hương Giang (Viện trưởng và Viện phó VKSND huyện Cần Giuộc). Theo đó, những việc diễn ra hôm ấy so với kết quả điều tra ban đầu của công an xã Tân Trụ (Long An) về thời gian, quy trình cũng như địa điểm ăn nhậu là tương đối chính xác.

- Các cô gái tham gia bữa nhậu được đề cập thế nào?

- Theo bản tường trình cũng như qua trao đổi với cán bộ của VKS huyện thì những cô gái này là do ông bạn đồng nghiệp của vợ chồng ông Đoạn mời tới bữa tiệc cùng những vị khách khác. Trước đó, những người này hoàn toàn không biết nhau. Tuy nhiên, đoàn kiểm tra Huyện ủy sẽ đi xác minh cụ thể và có hình thức xử lý sau.

Ông Nguyễn Chí Thành. Ảnh: Quốc Thắng.
Ông Nguyễn Chí Thành. Ảnh: Quốc Thắng.

- Theo thường trực Đảng ủy thì 2 vị lãnh đạo kiểm sát vi phạm đạo đức lối sống, cụ thể là như thế nào?

- Chúng tôi căn cứ vào các quy định, điều lệ Đảng, quy định của Bộ Chính trị, Đảng viên sai phạm sẽ bị xử lý. Quy định 115 và 94 đề cập rất rõ những điều đảng viên không được làm: Là đảng viên, nếu vi phạm về đạo đức lối sống thì phải xử lý.

Ông Đoạn và ông Giang đã vi phạm điều 17 trong quy định số 115 là đã tổ chức ăn nhậu, uống rượu bia xa hoa, bê tha, mất tư cách.

- Trong bản tường trình, 2 vị quan chức đã giải thích thế nào về việc xuống tắm sông?

- Lý do xuống sông tắm thì không có tường trình. Tuy nhiên theo công an thì trong lúc nhậu, một cô lên bờ đi vệ sinh và bị dính nhiều bùn đất nên xuống tắm. Số còn lại theo tôi nghĩ là nhậu nóng nực cũng lần lượt tắm theo.

Sau khi xảy ra sự việc, công an xã Nhựt Ninh (huyện Tân Trụ) đến hiện trường ghi nhận các cô gái ăn nhậu trong trang phục nào thì để nguyên xuống tắm. Còn những người đàn ông mặc quần ngắn.

- Thông tin hai quan chức kiểm sát đã bơi xa nhóm có phụ nữ khoảng 50 m để tránh gây tai tiếng được phía Ủy ban và công an xác minh thế nào?

- Hai cán bộ VKS không tường trình về điều này. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, công an xác định nhóm của ông Đoạn có 4 người gồm: ông Đoạn, ông Giang, anh Phố (làm nghề buôn bán tại huyện Cần Giuộc) và chị Hoa (người đã dẫn chị Phượng đi nhậu) tắm xa nhất, cách phà khoảng 12 mét.

Đây có thể do ngẫu nhiên thôi. Có thể gần phà mực nước sâu, nên nhóm này tiến xa một chút đến chỗ nước nông hơn để tắm.

- Ông Đoạn cho rằng đã rủ vợ mình đi theo nhưng bà này không đi và vì nể bạn quá nên miễn cưỡng đi. Ông nhìn nhận thế nào về việc này?

- Hôm đó vợ ông Đoạn đi cùng thì cũng có thể ít tai tiếng hơn. Nhưng về mặt Đảng trong chừng mực nào đó thì vẫn vi phạm, cho dù đó là ngày nghỉ. Đã là đảng viên thì đạo đức phải đi đầu.

Trước đó, ngày 20/8 chị Đinh Thị Kim Phượng (ở xã Trường Bình, huyện Cần Giuộc) được một người bạn tên Hoa rủ đi sinh nhật trên chuyến phà tại bến đò Bến Bạ (huyện Cần Đước) cùng 9 người đàn ông. Trong đó có một số "đại gia" kinh doanh xe máy, bất động sản… và ông Nguyễn Kim Đoạn, Nguyễn Hương Giang (Viện trưởng và Viện phó VKSND huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An).

Sau chầu nhậu, những người có mặt xuống tắm sông. Riêng chị Phượng không biết bơi nên ở lại phà. Công an huyện Tân Trụ cho rằng trong lúc mọi người đang tắm thì chị Phượng tự té xuống sông nên thiệt mạng do ngạt nước.

Quốc Thắng thực hiện


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

“Đinh tặc” tấn công xe tải: Chết như chơi!

Posted: 08 Sep 2011 01:01 PM PDT

SGTT.VN – Để đối phó với người đi đường và lực lượng công an, “đinh tặc” không còn nhằm vào các loại xe gắn máy như trước đây nữa mà sử dụng các loại đinh, miếng thép có kích thước lớn nhằm vào xe vận tải hàng hóa và các loại ô tô.

Chạy chưa đầy 30km vướng bẫy ba lần

Liên tỉnh lộ 25B, con đường xe tải bị cán đinh nhiều nhất, trở thành nỗi ám ảnh của giới tài xế xe tải.

Theo ông Đinh Nam Dinh, phó chủ tịch hiệp hội Vận tải hàng hóa TP.HCM, địa điểm rải đinh tập chung trên các trục đường lớn (dẫn vào các các cảng Cát Lái, Tân Thuận, khu công nghiệp Sóng Thần). Đã có hàng trăm xe tải của các doanh nghiệp thành vên hiệp hội bị vướng bẫy “đinh tặc” mỗi ngày.

Ông Đoàn Minh Thành, giám đốc doanh nghiệp vận tải Minh Thành (doanh nghiệp thành viên hiệp hội Vận tải hàng hóa TP.HCM) cho biết, mỗi ngày doanh nghiệp ông tốn hơn một triệu đồng để vá xe vì cán phải đinh.

Ông Thành nói: “Tuyến đường mà "đinh tặc" hoành hành nhiều nhất là tỉnh lộ 25B. Trung bình mỗi ngày công ty tôi có khoảng 22 chuyến hàng chở từ cảng Bến Nghé lưu thông theo tuyến cầu Phú Mỹ – liên tỉnh lộ 25B – xa lộ Hà Nội – ngã ba Tân Vạn. Đoạn đường trên chưa đầy 30km nhưng xe lưu thông qua tuyến này ít nhất cũng ba lần cán đinh ".

Nguy cơ chết người

Theo ông Thành, nạn “đinh tặc” ngoài gây thiệt hại về vật chất cho các doanh nghiệp vận tải, thì nguy cơ tai nạn chết người là rất lớn.

Trước những bức xúc trên, hiệp hội Vận tải hàng hóa TP.HCM đã gửi công văn đến giám đốc Công an TP.HCM, trưởng công an các quận 2, 7, 9 và Thủ Đức để cầu cứu các đơn vị này có biện pháp mạnh hơn đối với những kẻ rải đinh trên địa bàn mình quản lý.

Tuy nhiên, theo một CSGT thường xuyên tuần tra trên tuyến đường tỉnh lộ 25B và xa lộ Hà Nội thì rất khó phát hiện các đối tượng rải đinh. Những đối tượng này hoạt động hết sức tinh vi, thường chọn những thời điểm vắng người, ít lực lượng tuần tra để thực hiện. Vì vậy, để có thể xử lý các đối tượng rải đinh một cách hữu hiệu thì phải có kế hoạch phối hợp cụ thể và nếu cần thiết thì phải thành lập hẳn một chuyên án triệt phá.

bài, ảnh: Đào Lê

Đoạn đường chưa đầy 5km có tới 5 tiệm vá vỏ xe hơi?

Theo ông Đoàn Minh Thành, ông không dám khẳng định có sự dính dáng hay không giữa những kẻ rải đinh và các cửa hiệu chuyên vá vỏ xe ôtô, nhưng ông không khỏi thắc mắc là ở các tuyến đường dẫn vào các cảng biển trên địa bàn TP.HCM các tiệm vá xe ôtô mọc lên nhản nhản. Đơn cử, từ đường dẫn cầu Phú Mỹ đến liên tỉnh Lộ 25B dài chưa đầy 5km mà có đến 5 điểm vá xe hơi. Và đó thực sự là điều đáng ngờ.


Filed under: Các vấn đề xã hội Tagged: Các vấn đề xã hội

No comments:

Post a Comment