(You found me là một trong những hit lớn nhất của The Fray. Thủ lĩnh nhóm The Fray Isaac Slade nói ý tưởng về góc phố trong bài hát và hình ảnh Chúa hút thuốc đến với anh trong một giấc mơ. Bài hát nói về sự tuyệt vọng, và tôi thấy trong bài hát hình ảnh của mình.Đôi khi cũng cần tuyệt vọng mới thấy sự quý giá của ánh sáng hi vọng—Kỳ Nam)
"Góc đường số 1 và Amistad "
Đôi khi, tôi tự hỏi trên đời này liệu có chúa hay không , liệu người có nghe thấy những lời cầu nguyện , có nhìn thấy những nỗi đau của tôi, có giúp tôi thoát ra khỏi sự tuyệt vọng của mình.
Và rồi, tôi đã tìm thấy chúa.
I found God on the corner of First and Amistad where the west was all but one. All alone,smoking his last cigarette, I said “where you been?” He said, “ask anything.”
Tôi đã tìm thấy chúa ở góc đường số một và Amistad Nơi phương tây là chỉ thiếu một người tôi yêu Hoàn toàn đơn độc, hút điếu thuốc cuối cùng của người. " Người đã ở đâu ? "— Người nói " Cứ hỏi bất cứ điều chi "
Một số người nói rằng trước khi chết , bạn sẽ nhìn thấy toàn bộ cuộc đời hiện lên trước mắt một lần nữa . Một số người khác thì nói, khi bạn đối diện với tử thần , bạn sẽ nhìn thấy đức tin của mình ,Chúa .Và tôi đã thấy cả hai . Tôi thấy chúa đang hút điếu thuốc cuối cùng , nhưng không phải là điếu thuốc cuối của người , chỉ là đây là lần cuối tôi được nhìn thấy ánh sáng của cuộc sống mà thôi. Cuộc đời tôi không kéo dài nữa.
Where were you when everything was falling apart? All my days,spent by the telephone. that never rang.All i needed was a call that never came.The corner of First and Amistad…
Người đã ở đâu, khi cuộc sống quanh con từ từ sụp đổ Trọn ngày con có, chỉ để chờ đợi bên cạnh chiếc điện thoại Dẫu con biết sẽ chẳng bao giờ vang lên, Con chỉ cần một cuộc gọi thôi Một cuộc gọi chẳng bao giờ có Góc phố Số 1 và Amistad….
Góc phố số một và Amistad—Bạn bè. Con không phải là số một .Con chỉ là một người đơn độc, người bạn lớn nhất của con ư ? Mãi mãi không bao giờ trở lại.Người có biết cảm giác đợi chờ một thứ dù biết nó sẽ chẳng bao giờ đến không. Cũng giống như đợi chờ ngày hôm qua vậy. Tất cả những gì con muốn chỉ là một cuộc điện thoại thôi, để giúp con thoát khỏi sự tuyệt vọng này , để giúp con thắp lại niềm tin còn sót lại vào cuộc sống.Khi mọi thứ quanh con đang sụp đổ trước mắt, người đã ở đâu. Tất cả những gì người làm ở đứng ở góc phố và dõi theo con , với điếu thuốc trên tay, đang cháy dần ,lụi dần giống như cuộc sống và niềm tin trong con vậy.
In the end,everyone ends up alone. Losing her,the only one who’s ever known who i am, who im not, who i wanna be. The way to know,how long she will be next to me…
Con biết, ai cũng phải kết thúc cuộc sống một cách đơn độc Mất đi cô ấy, người duy nhất con từng thấu hiểu. Con là ai, con không phải là ai, và con muốn là ai. Phải bao lâu nữa cô ấy mới có thể trở lại bên con
Con biết ai cũng phải kết thúc cuộc đời trong đơn độc, nhưng tại sao con lại phải sống trong đơn độc quá lâu như vậy. Có thể người sẽ nói « Cô ấy là ai mà đáng để con phải vứt bỏ cả cuộc đời như vậy « . Người không biết rằng : Chính cô ấy mới là cả cuộc đời con , người duy nhất con thấu hiểu, người duy nhất con yêu thương và là người duy nhất cho con biết rõ bản thân mình .
Lost and insecure,You found me, you found me Lying on the floor, surrounded, surrounded. Why’d you have to wait? Where were you? Where were you? just a little late…You found me, you found me
Lạc lối và mỏng manh.Người đã tìm ra con Nằm sóng soài trên đường Mọi người vây quanh Tại sao người phải đợi lâu thế ,Người đã ở đâu, Người đã tìm ra con .Nhưng đã trễ một chút rồi
Thân xác con nằm giữa mọi người nhưng tâm hồn con thì đã lạc lối từ lâu.Người ta vây lấy con, cố để giành lại cho con sự sống .Nhưng họ đâu biết rằng, con người đâu thể sống thiếu niềm tin và hi vọng, điều mà con đã đánh mất, bay đi như làn khói thuốc kia của người .Tại sao người lại phải thờ ơ , người có thể cứu cô ấy . Người có thể giúp con tìm lại mình sớm hơn . Tại sao người phải chờ đợi , đến khi con nằm trên góc đường ,nơi giao nhau giữa cuộc đời đơn độc- First và người bạn duy nhất –Amistad , người mới xuất hiện ?
Early morning,city breaks. I’ve been callingfor years and years and years and years. You never left me no messages; you never send me no letters; you got some kind of nerve taking all of our love.
Từ khi bình minh ló dạng Đến khi thành phố chìm vào giấc ngủ Con đã gọi người , Hằng năm , năm trời và rất rất nhiều năm Người không hề gởi con một thông điệp nào Tại sao người lại nhẫn tâm Lấy đi tất cả tình yêu của cuộc đời chúng con
Tại sao rất nhiều năm nay , người không hề đáp trả lời cầu nguyện của chúng con. Tại sao nỗi đau, sự dằn vặt luôn đeo đuổi chúng con.Tại sao người lại tạo ra nỗi đau và cái chết . Tại sao người lại lấy đi tình yêu của chúng con. Có thể luôn có ánh sáng cuối đường hầm , nhưng cuộc đời con đã kết thúc khi còn ở trong bóng tối. Có thể chúa tồn tại thật, nhưng trong lòng con , chỉ có sự tồn tại đau khổ . Để giờ đây, không còn gì ngoài cảm giác đau đớn bên ngực trái , Nơi đã từng có nhịp đập . Nhịp đập trái tim một con người
Chào các bạn, Ethics thường được dịch là "đạo đức", nhưng từ work ethics có lẽ là dịch "văn hóa làm việc" thì chính xác hơn—đó là một thói quen tư duy của ta về công việc ta làm. Ở Mỹ, các quảng cáo tuyển người thường đòi hỏi “good work ethics”, tức là người có thói quen làm việc siêng năng, chăm chỉ, hăng hái. Nhưng thực ra, từ work ethics có ý nghĩa sâu xa hơn vậy rất nhiều.
Bạn học xong đại học và tìm việc làm, cố tìm việc thích hợp ngành học, công ty có uy tín, lương cao. Có bao giờ bạn nghĩ đến công việc của mình là gì của mình không?
Đó là cách kiếm tiền sinh sống.
Còn gì nữa?
Đó là cách để phục vụ mọi người, phục vụ xã hội.
Còn gì nữa?
Nếu suy nghĩ kỹ một chút, ta thấy công việc của ta chính là một phần rất lớn của ta. Mỗi ngày, kể cả thời gian từ nhà đến sở và từ sở về nhà, có thể trung bình ta tốn khỏang 10 giờ cho công việc. Đối với các bạn bận rộn, có thể lên đến 12 hay 14 giờ là thường.
Công việc của ta là một phần rất lớn của ta, của sự trưởng thành nghề nghiệp, và sự trưởng thành tâm linh của ta.
Khi ta nghĩ đến công việc như là một "cách" để sinh sống, một "cách" để tiến thân, ta nhìn công việc như là "phương tiện" để làm gì đó. Nhưng cái nhìn đó rất thiếu sót và không chính xác.
Công việc của ta chính là đời sống của ta. Mỗi ngày ta sống ở sở nhiều giờ hơn cả sống ở nhà.
Làm việc là sống.
Làm việc là trưởng thành.
Làm việc là phát triển đời sống tâm linh: - khiêm tốn, - thành thật, - yêu người, - nhẫn nhịn, - hòa ái, - tĩnh lặng (tâm tĩnh lặng, trong khi tay chân và trí thì hoạt động mạnh!)
Làm việc là phát triển các kỹ năng: - giao tiếp, - ngoại giao (nói, viết, thân ngữ) - làm việc nhóm, - phục vụ, - quản lý và lãnh đạo, - kỹ thuật chuyên ngành.
Sở làm là môi trường sống của ta mà ta phải dùng một phần lớn của mỗi ngày trong đó. Đó là môi trường ta học và thực hành hàng ngày mọi kỹ năng tâm linh cũng như kỹ năng nghề nghiệp, với tất cả mọi người chung quanh.
Công việc chính là cái ta làm hàng ngày để trưởng thành tâm linh và nghề nghiệp. Mỗi ngày hãy đến sở làm với cái nhìn đó về công việc—dù là loại công việc gì, dù là việc tạm thời hay dài hạn, dù là việc ta rất thích hay không thích lắm—công việc là cái ta làm hàng ngày để trưởng thành tâm linh và nghề nghiệp.
Đừng quá quan tâm vào số tiền lương. Vì nếu ta xung phong làm việc từ thiện không lương với một tổ chức từ thiện thì bản chất của công việc không thay đổi—công việc vẫn là cái ta làm hàng ngày để trưởng thành tâm linh và nghề nghiệp.
Cho nên các bạn, hãy làm việc như một nghệ sĩ, tập trung vào làm việc để có sản phẩm công việc tốt nhất mà bạn có thể có, mỗi ngày kỹ năng kỹ thuật của bạn tăng cao hơn một chút, và nghệ thuật sống của bạn tăng cao hơn một chút–khiêm tốn hơn một chút, thành thật hơn một chút, yêu người hơn một chút, nhịn nhục hơn một chút, tĩnh lặng hơn một chút…
Công việc chính là con đường tu luyện tiến đến giác ngộ.
Rồi mọi thứ khác tiền bạc, chức vụ, quyền lực… sẽ theo công việc tốt của ta mà ùa vào, không cần phải cầu.
Mục tiêu là làm việc với trái tim của một nghệ sĩ vừa tâm linh vừa nghệ thuật. Và mọi phần thưởng sẽ đến chỉ là hậu quả.
Đừng hỏi tổ quốc có thể làm gì cho bạn; hãy hỏi bạn có thể làm gì cho tổ quốc Diễn văn nhậm chức của John F. Kennedy – 20 tháng 01 năm 1961
Thưa phó Tổng Thống Johnson, Chủ tịch Hạ viện, Chánh Án Tối Cao Pháp Viện, Tổng thống Eisenhower, Phó Tổng thống Nixon, Tổng thống Truman, các giáo sĩ tôn kính, toàn thể đồng bào, hôm nay không phải để kỷ niệm chiến thắng của đảng, nhưng để ăn mừng cho tự do – tượng trưng cho một kết thúc, cũng là một khởi đầu – báo hiệu sự đổi mới, cũng như sự thay đổi. Vì tôi đã tuyên thệ nhậm chức trước các bạn và Đấng Toàn Năng với cùng lời thề nguyện trang trọng mà tổ tiên của chúng ta đã quy định gần một và 3/4 thế kỷ trước đây.
Thế giới ngày nay thay đổi rất nhiều. Vì loài người nắm trong bàn tay giới hạn của mình năng lực để xóa bỏ mọi hình thức nghèo đói cũng như tất cả mọi hình thức sống của con người. Tuy nhiên niềm tin cách mạng mà tổ tiên chúng ta đã chiến đấu để phục vụ vẫn còn là một vấn đề trên toàn thế giới – niềm tin rằng các quyền của con người không phải đến từ sự rộng lượng của nhà nước, mà từ bàn tay của Chúa.
Hôm nay chúng ta không dám quên rằng chúng ta là người thừa kế cuộc cách mạng đầu tiên đó. Hãy để tiếng nói lan tỏa từ bây giờ và nơi đây, đến với bạn bè cũng như kẻ thù, rằng ngọn đuốc đã được sang tay một thế hệ mới của người Mỹ – sinh ra trong thế kỷ này, tôi luyện bởi chiến tranh, kỷ luật bằng hòa bình khó khăn và cay đắng, tự hào với di sản cổ đại – và không muốn chứng kiến hoặc cho phép sự thoái lui của nhân quyền mà Quốc gia này đã luôn luôn cam kết, và chúng ta cam kết hôm nay tại nước nhà cũng như trên toàn thế giới.
Hãy để mỗi quốc gia biết , cho dù quốc gia chúc lành hay trù ếm chúng ta, rằng chúng ta sẽ trả bất cứ giá nào, chịu bất cứ gánh nặng nào, gặp bất cứ khó khăn nào, hỗ trợ bất cứ người bạn nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào, để đảm bảo sự sống còn và sự thành công của tự do.
Chúng ta cam kết nhiều như vậy – và hơn thế nữa.
Đối với những đồng minh cũ có cùng nguồn gốc văn hóa và tâm linh, chúng ta cam kết sự trung thành của những người bạn trung thành. Đoàn kết, có rất ít điều mà chúng ta không thể làm trong một loạt phiêu lưu hợp tác. Chia rẽ, có rất ít điều mà chúng ta có thể làm – vì chúng ta không dám đáp ứng một thách thức mạnh mẽ đối nghịch và tách chìm xuống đáy.
Với những quốc gia mới mà chúng ta chào đón vào đẳng cấp của các nước tự do, chúng ta cam kết lời của chúng ta rằng một hình thức thuộc địa sẽ không chết đi chỉ để thay thế bằng một chế độ độc tài sắt thép hơn nhiều. Chúng ta không luôn trông mong rằng họ hỗ trợ quan điểm của ta. Nhưng chúng ta luôn hy vọng họ sẽ hỗ trợ mạnh mẽ chính tự do của họ – và hãy nhớ rằng, trong quá khứ, những người điên rồ tìm kiếm sức mạnh bằng cách cưỡi lưng cọp rốt cuộc nằm trong thân cọp.
Với những ai cư ngụ trong những túp lều và làng mạc trên quả địa cầu đang vùng vẫy để tháo gỡ những ràng buộc của sự nghèo khổ cùng cực, chúng ta cam kết những nỗ lực tốt nhất hầu giúp họ để họ tự giúp bản thân, bất kể thời gian cần thiết là bao lâu – không vì Cộng sản có thể làm việc này, không vì chúng ta muốn họ bỏ phiếu cho chúng ta, nhưng bởi vì điều đó là đúng. Nếu một xã hội tự do không thể giúp đỡ nhiều người nghèo, xã hội đó không thể cứu vãn một vài người giàu.
Với các nước chị em cộng hòa về phía nam biên giới của chúng ta, chúng ta hiến tặng một cam kết đặc biệt – để biến lời nói tốt của chúng ta thành hành động tốt – trong một liên minh mới cho sự tiến bộ – để hỗ trợ những người tự do và chính quyền tự do trong việc phá gỡ những gông cùm của nghèo đói. Nhưng niềm hy vọng cho cách mạng hòa bình không thể trở thành miếng mồi cho các cường quốc thù nghịch. Hãy để tất cả các nước láng giềng của chúng ta biết rằng chúng ta sẽ tham gia với họ để chống lại sự xâm lược hay sự lật đổ tại bất cứ nơi nào ở châu Mỹ. Và hãy cho tất cả các cường quốc khác biết rằng bán cầu này vẫn còn có ý định làm chủ ngôi nhà của chính mình.
Với thế giới tập hợp bởi các nước có chủ quyền, Liên Hiệp Quốc, hy vọng cuối cùng tốt nhất trong một thời đại mà các công cụ chiến tranh đã vượt xa công cụ hòa bình, chúng ta làm mới cam kết của chúng ta để hỗ trợ – để ngăn chặn nó trở thành một diễn đàn của công kích – để tăng cường sự bảo vệ cho các nước mới và yếu – và để mở rộng khu vực mà mệnh lệnh của Liên Hiệp Quốc có thể hoạt động.
Cuối cùng, với những quốc gia tự cho là kẻ thù của chúng ta, chúng ta hiến tặng không phải là một cam kết mà là một yêu cầu: rằng cả hai bên bắt đầu lại bằng một tìm kiếm hòa bình, trước khi những sức mạnh đen tối của sự hủy diệt mà khoa học đã tung ra sẽ nhận chìm tất cả loài người trong sự tự hủy diệt, dù có tính toán hay chỉ là tai nạn.
Chúng ta không cám dỗ những sức mạnh hủy diệt đó bằng sự yếu đuối của ta. Vì chỉ khi vũ khí của chúng ta đầy đủ không một chút nghi ngờ, thì chúng ta mới có thể chắc chắc, không một chút nghi ngờ, rằng vũ khí của ta sẽ không bao giờ được sử dụng.
Nhưng cả nhóm hai cường quốc vĩ đại không thể thoải mái với hoàn cảnh hiện tại – cả hai bên đều hao tốn quá nhiều cho vũ khí hiện đại, cả hai được báo động một cách đúng đắn bởi sự phát triển của nguyên tử giết người, nhưng cả hai đều đua nhau để thay đổi quân bằng chơi vơi của tai họa đó, cái quân bằng hiện đang nắm giữ bàn tay của cuộc chiến cuối cùng của nhân loại.
Vì vậy chúng ta hãy bắt đầu lại – cả hai bên nên nhớ rằng cư xử văn minh không là dấu hiệu của yếu đuối, và tính thành thật luôn luôn đòi bằng chứng. Hãy không bao giờ thương lượng vì sợ hãi. Nhưng hãy không bao giờ sợ hãi để thương lượng.
Hai bên hãy khám phá ra những vấn đề có thể đoàn kết chúng ta thay vì cứ nện vào những vấn đề làm chia rẽ chúng ta.
Hai bên hãy, cho lần đầu tiên, định hình những đề án nghiêm trọng và chính xác trong sự kiểm tra và kiểm soát vũ khí – và đưa sức mạnh tuyệt đối để tiêu diệt những quốc gia khác vào dưới sự kiểm soát tuyệt đối của mọi quốc gia.
Hai bên hãy tìm tòi để khám phá những kỳ diệu của khoa học thay vì những khủng khiếp của khoa học. Chúng ta hãy cùng nhau khám phá những vì sao, chinh phục sa mạc, tiêu trừ bệnh tật, khai thác lòng đại dương, và khuyến khích nghệ thuật và thương mại.
Hai bên hãy đoàn kết để chú tâm đến, tại mọi xó xỉnh của trái đất, mệnh lệnh của Isaiah – "tháo gở gánh nặng -. Và để người bị áp bức đi tự do."
Và nếu một mũi tấn công của hợp tác có thể đẩy lui một rừng ngờ vực, hai bên hãy cùng nhau xây dựng một nỗ lực mới, không phải là một sự so đo quyền lực mới, nhưng là một thế giới mới của pháp luật, mà trong đó kẻ mạnh thì công chính và kẻ yếu được an toàn và hoà bình được bảo tồn.
Tất cả điều này sẽ không được hoàn thành trong 100 ngày đầu. Cũng không được hoàn thành trong 1.000 ngày đầu, cũng không phải trong đời của chính phủ này, hay thậm chí có lẽ cả đời của chúng ta trên hành tinh này. Nhưng chúng ta hãy bắt đầu.
Bàn tay của các bạn, hỡi đồng bào thân yêu, hơn là tay tôi, sẽ nắm giữ sự thành công hay thất bại cuối cùng của chúng ta. Từ khi đất nước này được hình thành, mỗi thế hệ của người Mỹ đã được triệu tập để làm chứng cho lòng trung thành đối với quốc gia. Những ngôi mộ của những người Mỹ trẻ đáp lời kêu gọi phục vụ đã vòng quanh địa cầu.
Giờ đây tiếng còi triệu tập chúng ta một lần nữa – không phải lời kêu gọi để trang bị vũ khí, dù vũ khí chúng ta cần; cũng không phải lời kêu gọi để ra trận, dù dàn trận chúng ta sẵn sàng – nhưng là lời kêu gọi để chịu đựng gánh nặng của cuộc tranh đấu dai dẳng mù mờ, năm này qua năm khác, "vui mừng trong hy vọng, kiên nhẫn trong khổ cực" – một cuộc đấu tranh chống lại những kẻ thù chung của con người: độc tài, nghèo đói, bệnh tật, và ngay cả chiến tranh.
Chúng ta có thể nào tạo lập một liên minh lớn và toàn cầu, Bắc và Nam, Đông và Tây, để chống lại những kẻ thù này, một liên minh có thể bảo đảm một đời sống phong phú hơn cho cả nhân loại? Bạn sẽ tham gia vào nỗ lực lịch sử đó không?
Qua lịch sử lâu dài của thế giới, chỉ có vài thế hệ được ban cho vai trò bảo vệ tự do trong giờ phút nguy hiểm nhất. Tôi không trốn tránh nhiệm này – Tôi chào đón nó. Tôi không tin rằng bất cứ ai trong chúng ta muốn trao đổi vị trí của mình với bất cứ người nào hay thế hệ nào khác. Năng lượng, đức tin, lòng sùng tín mà chúng ta đem đến cho nỗ lực này sẽ thắp sáng đất nước chúng ta và tất cả những ai phục vụ cho đất nước – và ánh sáng từ ngọn lửa đó có thể thật sự soi sáng thế giới.
Và vì vậy, hỡi đồng bào Mỹ của tôi: đừng hỏi tổ quốc có thể làm gì cho bạn – hãy hỏi bạn có thể làm gì cho tổ quốc.
Hỡi những công dân trên thế giới của tôi: đừng hỏi nước Mỹ sẽ làm gì cho bạn, nhưng hãy hỏi cùng nhau chúng ta có thể làm gì cho tự do của nhân loại.
Cuối cùng, cho dù bạn là công dân Mỹ hay công dân của thế giới, hãy yêu cầu chúng tôi có cùng tiêu chuẩn của sức mạnh và của lòng hy sinh mà chúng tôi yêu cầu nơi các bạn. Với một lương tâm tốt là phần thưởng chắc chắn duy nhất cho chúng ta, với lịch sử là thẩm phán cuối cùng cho hành động của chúng ta, chúng ta hãy tiến tới để lãnh đạo mảnh đất chúng ta thương yêu, cầu xin phước lành và hộ trì của Ngài, nhưng biết rằng nơi đây trên trái đất này việc làm của Chúa thật sự phải là việc làm của chính chúng ta.
(Diệu Sương dịch)
Ask Not What Your Country Can Do For You speech Inaugural Address by John F. Kennedy – January 20th 1961
Vice President Johnson, Mr. Speaker, Mr. Chief Justice, President Eisenhower, Vice President Nixon, President Truman, reverend clergy, fellow citizens, we observe today not a victory of party, but a celebration of freedom – symbolizing an end, as well as a beginning – signifying renewal, as well as change. For I have sworn before you and Almighty God the same solemn oath our forebears prescribed nearly a century and three quarters ago.
The world is very different now. For man holds in his mortal hands the power to abolish all forms of human poverty and all forms of human life. And yet the same revolutionary beliefs for which our forebears fought are still at issue around the globe – the belief that the rights of man come not from the generosity of the state, but from the hand of God.
We dare not forget today that we are the heirs of that first revolution. Let the word go forth from this time and place, to friend and foe alike, that the torch has been passed to a new generation of Americans – born in this century, tempered by war, disciplined by a hard and bitter peace, proud of our ancient heritage – and unwilling to witness or permit the slow undoing of those human rights to which this Nation has always been committed, and to which we are committed today at home and around the world.
Let every nation know, whether it wishes us well or ill, that we shall pay any price, bear any burden, meet any hardship, support any friend, oppose any foe, in order to assure the survival and the success of liberty.
This much we pledge – and more.
To those old allies whose cultural and spiritual origins we share, we pledge the loyalty of faithful friends. United, there is little we cannot do in a host of cooperative ventures. Divided, there is little we can do – for we dare not meet a powerful challenge at odds and split asunder.
To those new States whom we welcome to the ranks of the free, we pledge our word that one form of colonial control shall not have passed away merely to be replaced by a far more iron tyranny. We shall not always expect to find them supporting our view. But we shall always hope to find them strongly supporting their own freedom – and to remember that, in the past, those who foolishly sought power by riding the back of the tiger ended up inside.
To those peoples in the huts and villages across the globe struggling to break the bonds of mass misery, we pledge our best efforts to help them help themselves, for whatever period is required – not because the Communists may be doing it, not because we seek their votes, but because it is right. If a free society cannot help the many who are poor, it cannot save the few who are rich.
To our sister republics south of our border, we offer a special pledge – to convert our good words into good deeds – in a new alliance for progress – to assist free men and free governments in casting off the chains of poverty. But this peaceful revolution of hope cannot become the prey of hostile powers. Let all our neighbours know that we shall join with them to oppose aggression or subversion anywhere in the Americas. And let every other power know that this Hemisphere intends to remain the master of its own house.
To that world assembly of sovereign states, the United Nations, our last best hope in an age where the instruments of war have far outpaced the instruments of peace, we renew our pledge of support – to prevent it from becoming merely a forum for invective – to strengthen its shield of the new and the weak – and to enlarge the area in which its writ may run.
Finally, to those nations who would make themselves our adversary, we offer not a pledge but a request: that both sides begin anew the quest for peace, before the dark powers of destruction unleashed by science engulf all humanity in planned or accidental self-destruction.
We dare not tempt them with weakness. For only when our arms are sufficient beyond doubt can we be certain beyond doubt that they will never be employed.
But neither can two great and powerful groups of nations take comfort from our present course – both sides overburdened by the cost of modern weapons, both rightly alarmed by the steady spread of the deadly atom, yet both racing to alter that uncertain balance of terror that stays the hand of mankind’s final war.
So let us begin anew – remembering on both sides that civility is not a sign of weakness, and sincerity is always subject to proof. Let us never negotiate out of fear. But let us never fear to negotiate.
Let both sides explore what problems unite us instead of belabouring those problems which divide us.
Let both sides, for the first time, formulate serious and precise proposals for the inspection and control of arms – and bring the absolute power to destroy other nations under the absolute control of all nations.
Let both sides seek to invoke the wonders of science instead of its terrors. Together let us explore the stars, conquer the deserts, eradicate disease, tap the ocean depths, and encourage the arts and commerce.
Let both sides unite to heed in all corners of the earth the command of Isaiah – to “undo the heavy burdens -. and to let the oppressed go free.”
And if a beachhead of cooperation may push back the jungle of suspicion, let both sides join in creating a new endeavour, not a new balance of power, but a new world of law, where the strong are just and the weak secure and the peace preserved.
All this will not be finished in the first 100 days. Nor will it be finished in the first 1,000 days, nor in the life of this Administration, nor even perhaps in our lifetime on this planet. But let us begin.
In your hands, my fellow citizens, more than in mine, will rest the final success or failure of our course. Since this country was founded, each generation of Americans has been summoned to give testimony to its national loyalty. The graves of young Americans who answered the call to service surround the globe.
Now the trumpet summons us again – not as a call to bear arms, though arms we need; not as a call to battle, though embattled we are – but a call to bear the burden of a long twilight struggle, year in and year out, “rejoicing in hope, patient in tribulation” – a struggle against the common enemies of man: tyranny, poverty, disease, and war itself.
Can we forge against these enemies a grand and global alliance, North and South, East and West, that can assure a more fruitful life for all mankind? Will you join in that historic effort?
In the long history of the world, only a few generations have been granted the role of defending freedom in its hour of maximum danger. I do not shank from this responsibility – I welcome it. I do not believe that any of us would exchange places with any other people or any other generation. The energy, the faith, the devotion which we bring to this endeavour will light our country and all who serve it — and the glow from that fire can truly light the world.
And so, my fellow Americans: ask not what your country can do for you – ask what you can do for your country.
My fellow citizens of the world: ask not what America will do for you, but what together we can do for the freedom of man.
Finally, whether you are citizens of America or citizens of the world, ask of us the same high standards of strength and sacrifice which we ask of you. With a good conscience our only sure reward, with history the final judge of our deeds, let us go forth to lead the land we love, asking His blessing and His help, but knowing that here on earth God’s work must truly be our own.
“Tôi là người Berlin” Diễn văn của Jhon F. Kennedy tại West Berlin, ngày 26.6.1963
Tôi tự hào đến thành phố này như một người khách của Thị trưởng ưu tú của bạn, người tiêu biểu cho tinh thần chiến đấu của West Berlin trên khắp thế giới. Và tôi tự hào – Và tôi tự hào đến thăm Cộng hòa Liên bang với Thủ tướng xuất sắc của bạn là người trong rất nhiều năm đã cam kết cho nước Đức nền dân chủ và tự do và tiến bộ, và tôi đến đây cùng với người bạn Mỹ của tôi, Tướng Clay, người đã từng ở đây trong những khoảnh khắc vĩ đại của thời khủng hoảng và sẽ trở lại bất cứ khi nào cần thiết.
Hai ngàn năm về trước – Hai ngàn năm về trước, niềm kiêu hãnh tự hào nhất là "civis Romanus sum (Tôi là người Rome.)". Ngày nay, trong thế giới tự do, niềm kiêu hãnh tự hào nhất là "Tôi là người Berlin."
(Tôi cảm ơn thông dịch viên dịch sang tiếng Đức dùm tôi).
Có rất nhiều người trên thế giới thật sự không hiểu, hay nói là họ không hiểu, vấn đề lớn giữa thế giới tự do và thế giới Cộng sản là gì.
Hãy để họ đến Berlin.
Vài người nói – Vài người nói rằng cộng sản là làn sóng của tương lai.
Hãy để họ đến Berlin.
Và vài người nói, ở châu Âu và các nơi khác, chúng ta có thể làm việc với Cộng sản.
Hãy để họ đến Berlin.
Và thậm chí vài người nói rằng chế độ cộng sản thật sự là hệ thống xấu ác, nhưng cộng sản cho phép chúng ta thực hiện việc phát triển kinh tế.
Lass' sie nach Berlin kommen.
Hãy để họ đến Berlin.
Tự do có rất nhiều khó khăn và chế độ dân chủ là không hoàn hảo. Nhưng chúng ta không bao giờ dựng bức tường lên để giữ người của chúng ta lại — để ngăn ngừa họ rời khỏi chúng ta. Tôi muốn nói thay cho đồng bào của tôi những người sống xa nhiều dặm ở phía bên kia của Đại Tây Dương, những người có khoảng cách rất xa với bạn, rằng họ có niềm tự hào vĩ đại nhất, rằng họ có thể chia sẻ với bạn, thậm chí từ khoảng cách thật xa, câu chuyện của 18 năm qua. Tôi biết không có thị trấn nào, thành phố nào, đã bị bao vây trong 18 năm mà vẫn sống với sức sống mãnh liệt, và hy vọng, và quyết tâm như thành phố West Berlin.
Trong khi bức tường là một chứng minh rõ ràng và sinh động nhất của những thất bại của hệ thống Cộng sản – cho cả thế giới thấy – chúng ta không có sự toại nguyện trong đó; vì nó là, như Thị trưởng của các bạn đã nói, một tội phạm không những chống lại lịch sử mà còn là tội phạm chống lại nhân loại, chia rẽ gia đình, ly tán chồng vợ và anh chị em, và chia cách một dân tộc muốn được đoàn tụ với nhau.
Điều gì là — Điều gì là thật với thành phố này cũng là thật với nước Đức; hòa bình lâu dài ở Châu Âu không bao giờ có thể được bảo đảm trong khi một phần tư người Đức bị từ chối quyền cơ bản của những người tự do, và đó là quyền để được thực hiện sự lựa chọn tự do. Trong 18 năm của hòa bình và đức tin, thế hệ của những người Đức này có quyền để được hưởng tự do, bao gồm cả quyền đoàn tụ với gia đình và đất nước của họ trong tự do lâu dài, với niềm mong muốn tốt đẹp cho tất cả mọi người.
Các bạn sống trong một ốc đảo tự do được bảo vệ, nhưng đời sống của các bạn là một phần của toàn thể. Vì vậy, để kết thúc, hãy cho tôi yêu cầu các bạn ngước mắt lên với tầm nhìn xa vượt ra ngoài những nguy hiểm của ngày hôm nay, đến những hy vọng của ngày mai, ra ngoài sự tự do đơn thuần của thành phố Berlin, hay nước Đức của bạn, để bành trướng tự do khắp mọi nơi, vượt qua bức tường đến ngày tự do với công lý, vượt qua chính các bạn và chính chúng ta đến tất cả nhân loại.
Tự do không thể bị phân chia, và khi một người bị nô lệ, mọi người không thể được tự do. Khi tất cả được tự do, thì chúng ta mong – có thể mong mỏi đến ngày đó, khi thành phố này được thống nhất và đất nước này và lục địa châu Âu vĩ đại này kết hợp trong một quả địa cầu hòa bình và hy vọng. Khi ngày đó cuối cùng đến, như nó sẽ đến, người của West Berlin có thể có sự toại nguyện tỉnh táo trong thực tế rằng họ đã đứng tuyến đầu trong gần hai thập kỷ.
Tất cả — Tất cả người tự do, dù đang sống ở bất cứ nơi nào, đều là công dân của Berlin.
Và, vì vậy, là một người tự do, tôi hãnh diện với câu "Ich bin ein Berliner." ("Tôi là người Berlin”).
(Diệu Sương dịch)
“I am Berliner” John F. Kennedy’s speech in West Berlin, on June 26, 1963
I am proud to come to this city as the guest of your distinguished Mayor, who has symbolized throughout the world the fighting spirit of West Berlin. And I am proud — And I am proud to visit the Federal Republic with your distinguished Chancellor who for so many years has committed Germany to democracy and freedom and progress, and to come here in the company of my fellow American, General Clay, who – — who has been in this city during its great moments of crisis and will come again if ever needed. Two thousand years ago — Two thousand years ago, the proudest boast was “civis Romanus sum.”¹ Today, in the world of freedom, the proudest boast is “Ich bin ein Berliner.” (I appreciate my interpreter translating my German.) There are many people in the world who really don’t understand, or say they don’t, what is the great issue between the free world and the Communist world. Let them come to Berlin. There are some who say — There are some who say that communism is the wave of the future. Let them come to Berlin. And there are some who say, in Europe and elsewhere, we can work with the Communists. Let them come to Berlin. And there are even a few who say that it is true that communism is an evil system, but it permits us to make economic progress. Lass’ sie nach Berlin kommen. Let them come to Berlin. Freedom has many difficulties and democracy is not perfect. But we have never had to put a wall up to keep our people in — to prevent them from leaving us. I want to say on behalf of my countrymen who live many miles away on the other side of the Atlantic, who are far distant from you, that they take the greatest pride, that they have been able to share with you, even from a distance, the story of the last 18 years. I know of no town, no city, that has been besieged for 18 years that still lives with the vitality and the force, and the hope, and the determination of the city of West Berlin. While the wall is the most obvious and vivid demonstration of the failures of the Communist system — for all the world to see — we take no satisfaction in it; for it is, as your Mayor has said, an offense not only against history but an offense against humanity, separating families, dividing husbands and wives and brothers and sisters, and dividing a people who wish to be joined together. What is — What is true of this city is true of Germany: Real, lasting peace in Europe can never be assured as long as one German out of four is denied the elementary right of free men, and that is to make a free choice. In 18 years of peace and good faith, this generation of Germans has earned the right to be free, including the right to unite their families and their nation in lasting peace, with good will to all people. You live in a defended island of freedom, but your life is part of the main. So let me ask you, as I close, to lift your eyes beyond the dangers of today, to the hopes of tomorrow, beyond the freedom merely of this city of Berlin, or your country of Germany, to the advance of freedom everywhere, beyond the wall to the day of peace with justice, beyond yourselves and ourselves to all mankind. Freedom is indivisible, and when one man is enslaved, all are not free. When all are free, then we look — can look forward to that day when this city will be joined as one and this country and this great Continent of Europe in a peaceful and hopeful globe. When that day finally comes, as it will, the people of West Berlin can take sober satisfaction in the fact that they were in the front lines for almost two decades. All — All free men, wherever they may live, are citizens of Berlin. And, therefore, as a free man, I take pride in the words “Ich bin ein Berliner.”
¹”I am a citizen of Rome” or “I am a Roman citizen”
Trần Vân Hạc: Nếu như cờ Tướng, cờ Vua huy động sức mạnh của người và phương tiện chiến tranh để bảo vệ "ngai vàng", thì "Cờ Tư lệnh" do đại tá – nhà văn Quí Hải phát minh và được cấp bằng sáng chế lại huy động sức mạnh toàn dân, dưới sự lãnh đạo của "tư lệnh" để bảo vệ đất nước. Đây là sản phẩm trí tuệ của một dân tộc yêu chuộng hòa bình và biết cách bảo vệ hòa bình, góp phần tạo nên bản lĩnh chỉ huy cho lớp trẻ.
Do sự mới lạ không gò bó bởi luật chơi khắt khe, lại tạo điều kiện cho người chơi ở mọi độ tuổi phát huy được trí tuệ của mình trong các thế trận và trực tiếp sáng tạo nên các thế cờ mới, nên ngay từ khi mới xuất hiện đã thu hút sự chú ý của người chơi và dư luận trong và ngoài nước. Nhiều phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin, bài.
Gần đây nhất ông Lê Minh Ngọc, nguyên sĩ quan quân đội, chuyên viên cao cấp – Bộ LĐ-TB & XH đến thăm Trung tâm văn hóa Tràng An, nơi độc quyền tổ chức phát hành bộ cờ "Tư lệnh", được ông Bùi Phúc Hải, giám đốc Trung tâm văn hoá Tràng An tặng bộ quân cờ và cuốn luật chơi cờ, đã dạy cháu nội là là Lê Vĩ Long mới 6 tuổi. Thật bất ngờ là đứa cháu còn chưa biết chữ lại vô cùng thích thú và nhanh chóng nắm được luật chơi và chơi cùng ông nội rất say mê. Chính vì vậy chiều 28/9/ 2011 hai ông cháu vinh dự được mời dự buổi trao tặng bộ cờ cùng sách dạy luật chơi cho Viện Bảo tàng Quân đội, đồng thời với lễ tiếp nhận một lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, do một cựu binh Mỹ có tên là Patrick McMakin từng tham chiến ở Việt Nam từ 1969-1970 gửi tặng, thông qua Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Xin trân trọng giới thiệu bài viết của ông Lê Minh Ngọc về cuộc chơi cờ lý thú của hai ông cháu.
ÔNG CHÁU TÔI CHƠI "CỜ TƯ LỆNH"
Đến thăm Trung tâm Văn hoá Tràng An, tình cờ tôi thấy cuốn sách "Luật chơi Cờ Tư lệnh" (NXB Đà Nẵng, quý III/2011) có kèm theo bộ quân cờ đặt trên bàn. Khi ông Bùi Phúc Hải, Giám đốc Trung tâm, đang pha trà tiếp khách, tôi tiện tay cầm cuốn sách và bộ cờ xem qua. Thấy cuốn sách in đẹp, đọc luật chơi cờ cũng dễ hiểu và nhất là rất hấp dẫn; còn bộ quân cờ thì đằm nặng, chắc chắn, lại có những hình in nổi rất đẹp các kí hiệu các quân binh chủng, tôi liền hỏi ông Hải:
- Ông kiếm ở đâu ra loại cờ mới và hay thế này? Ông cho tôi mượn nghiên cứu xem thế nào nhé!
- Ô, đây là loại cờ mới do đại tá – nhà văn Nguyễn Quí Hải vừa sáng chế ra, có tên là Cờ Tư lệnh. Cuốn "Luật chơi Cờ Tư lệnh" do chính Trung tâm Văn hoá Tràng An tổ chức xuất bản, vừa nhận sách ở nhà in về. Còn bộ quân cờ lại do chính nhà văn Quí Hải đặt sản xuất tại TP. Hồ Chí Minh, đây mới là bộ mẫu. Nếu bác thích, em xin biếu sách bác, còn bộ quân cờ để em hỏi qua bác Quí Hải một câu.
Thế là ông Hải gọi di động ngay cho nhà văn Quí Hải. Nhà văn thấy tôi đang háo hức nên ông vui vẻ tặng tôi luôn bộ quân cờ mẫu ấy. Tôi mừng như bắt được vàng và không nhớ rõ hôm nay ra ngõ có "gặp trai" không mà hên (may) đến thế?
Nhận sách tặng, đọc kỹ lời giới thiệu, tôi thích quá. Đọc tiếp 2 trang nội dung Luật chơi, tôi thấy càng cuốn hút. Tôi nói với ông Hải:
- Ồ, hoá ra cờ này chơi dễ quá! Hấp dẫn lắm, sinh động lắm (tất nhiên, với lối chơi nâng cao và cờ thế thì phải có mưu lược mới giành được chiến thắng). Nó rất mở và phóng khoáng, không gò bó tí nào. Nó kích thích trí tưởng tượng, năng động và sáng tạo. Chắc chắn cháu Dế nhà tôi (cháu nội tôi, tên thật là Lê Vĩ Long 6 tuổi, ông Hải thường khen cháu rất hiếu động) thích lắm đấy! Tôi sẽ mang sách và bộ quân cờ này về dạy cháu Dế chơi ngay!
Chiều hôm đó, lòng tôi khấp khởi chờ mong cháu Dế ở Trường Mẫu giáo về. Quả nhiên, vừa về đến nhà, được ông cho xem bộ cờ, cháu thích quá, liền vồ lấy từng quân và liên tục hỏi: "Là gì? Là gì?… Hở ông?". Tôi giới thiệu cho cháu biết kí hiệu từng quân, không ngờ, những khái niệm lạ thế mà cháu nhớ ngay được! Tôi thầm nghĩ rằng, có lẽ cháu cũng có "máu lính" như ông nội, nên mới nhanh nhớ kí hiệu các quân, binh chủng như vậy?
Tối hôm đó, tôi tạm lấy phấn không bụi vẽ bàn cờ lên chiếc bàn gỗ và hai ông cháu chơi thử. Cháu mắt sáng lên thích thú khi tôi để cho cháu ăn một vài quân, lại làm ra vẻ xót xa tiếc mấy quân đã bị cháu bắt. Vừa đánh cờ cháu vừa luôn miệng hỏi:
- Sao ông Hải lại tặng cho ông bộ cờ này thế? Sao ông Hải lại phát minh ra được? Sao ông Hải tài thế? Ông Hải thật là đại tài! Ông Hải thật là thiên tài! (Cháu vẫn thường dùng từ ngữ, cách nói như vậy với tôi trong những khi tôi sửa các đồ chơi cho cháu).
Đêm hôm đó, lúc đi ngủ cháu mang theo bộ quân cờ để bên cạnh mình. Sáng sớm vừa dậy, cháu đã gọi và bảo tôi:
- Hôm nay ông vẽ cho Dế bàn cờ nhé!
- Ừ, ông sẽ vẽ. Nhưng sáng hôm nay ông phải đi ăn giỗ, khi về ông về mới vẽ được.
- Thế ông vẽ trước khi đón Dế hay sau đón Dế về?
- Ông sẽ vẽ xong trước khi đón Dế về, nghĩa là khi Dế về đã có bàn cờ rồi, được chưa?
- Thật nhé! Ông nhớ nhé!
Thế rồi tôi đã lấy một góc bảng Foócmêca, vẽ bằng bút kính, thật xinh, thật đẹp.
Từ hôm đó trở đi, cứ sau khi được đón từ trường Mẫu giáo về, được tắm rửa xong, tập tô xong các con chữ (Chương trình của Mẫu giáo cho các cháu làm quen với con chữ, mặt chữ), rồi hai ông cháu lại bắt đầu chơi cờ!
Tôi vừa chơi vừa hướng dẫn cho cháu từng bước và dần dần nâng cao, biết tính toán lợi hại, được mất ra sao, đường tiến, đường lui thế nào? Cháu rất chăm chú, ra chiều suy nghĩ lắm cho mỗi nước đi.
- Đi lên đây để làm gì? Ăn quân nào? Tôi giải thích cho cháu cặn kẽ. Chẳng mấy lúc, cháu đã nắm được cơ bản chiến thuật điều quân, tiến công phòng thủ.
Thấy hai ông cháu chơi cờ vừa say sưa, vừa sôi nổi, thu hút sự chú ý của cả nhà. Bà nội cháu cũng ngạc nhiên, hỏi: "Dế mà cũng biết đi đúng nước cơ à?". Tôi trả lời: "Rất đúng là đằng khác. Chơi dễ thôi mà. Chỉ nghe giới thiệu một lần mà nó đã nhớ". Mẹ cháu thì bảo: "Dế chơi như ông Tư lệnh chỉ huy ấy. Oách thật!". Cháu hãnh diện: "Con sẽ tiêu diệt hết máy bay, xe tăng của ông!".
Có lần tôi mang tàu chiến diệt một quân trong đất liền và thế vào chỗ quân vừa bị tiêu diệt, cháu liền nói: "Ơ, tàu chiến làm sao vào đất liền được?". Tôi vội vàng nói: "Xin lỗi! Xin lỗi!" rồi rút ngay tàu chiến (Hải quân) về biển… Càng chơi, càng thấy hào hứng.
Một cháu mẫu giáo như cháu tôi, mới bước sang tuổi thứ 6, chưa biết chữ mà cũng chơi được Cờ Tư lệnh, lại say sưa hơn cả trò chơi điện tử thì tôi thấy thật lạ lùng! Tôi boăn khoăn tự hỏi: "Vì sao Cờ Tư lệnh lại hấp dẫn được cả với trẻ thơ như vậy?".
Có lẽ vì:
Thứ nhất: Bộ quân Cờ Tư lệnh này, các quân đều có các kí hiệu rất bắt mắt, gần gũi, dễ hiểu như các quân, binh chủng trong quân đội mà cháu đã từng nghe thấy, nhìn thấy hàng ngày qua các phương tiện thông tin. Màu sắc lại tươi tắn, rõ ràng. Nhìn quân cờ dễ phân biệt, không nhầm lẫn.
Thứ hai: Lối chơi thoáng và mở. Không gian hoạt động rộng lớn, có đất, có biển, có sông. Khi "đánh nhau" thì cả các thứ quân dưới đất, trên trời, trên sông, trên biển đều rầm rầm chuyển động… Rồi hoả lực phối hợp đủ các quân binh chủng hợp thành. Người chơi có thể tự phát huy thế mạnh nào ở không quân, pháo binh, xe tăng, hải quân… mà mình thích. Việc điều quân cũng rất linh hoạt.
Thứ Ba: Khi chiến đấu, trí tưởng tượng tha hồ bay bổng. Người chơi cờ bỗng thấy mình trở thành vị Tổng tư lệnh, nên rất thích thú khi mình được toàn quyền điều khiển các quân binh chủng với các trang thiết bị và hoả lực vô cùng hiện đại… nếu liên tưởng (qua phim ảnh, triển lãm…) thì còn như nghe thấy cả âm thanh của bom rơi, đạn nổ, pháo bắn ùng oàng, xe tăng gầm rú, tàu chiến phóng ngư lôi… cực kì thú vị. Người lớn cũng sướng! Cứ gì tuổi teen?!
Thứ Tư: Tuy đây là chơi cờ giải trí, nhưng khi "lâm trận" người thấy mình có khác gì vị Tổng chỉ huy, tha hồ tỏ rõ tài thao lược của mình?
Tôi nghĩ: Từ sự yêu thích một trò chơi như thế này, có thể dẫn người chơi đến sự yêu thích nghề chỉ huy lúc nào không biết. Nước ta có lịch sử đánh giặc giữ nước đã từ ngàn đời nay, cho nên tuổi trẻ mơ ước mình thành vị Tổng tư lệnh là điều cần thiết, đáng khích lệ. Người chơi cờ, cũng như vị chỉ huy sau này, cần phải luyện rèn, tập dượt nhiều mới trở nên kiên cường, dũng cảm, tài ba, mưu trí, quyết đoán… để chiến thắng đối phương, quân thù.
Cờ Tư lệnh do đại tá – nhà văn Nguyễn Quí Hải vừa sáng chế là một môn thể thao giải trí rất hấp dẫn, có khả năng kích thích sự phát triển trí thông minh, tính linh hoạt, tài mưu lược; rèn luyện bản lĩnh kiên cường, quyết đoán và ý chí quyết thắng cho người chơi… Những tư chất quý báu ấy không chỉ cần trong chiến tranh mà trong cuộc sống bình thường cũng cần có để giúp cho mọi hoạt động mang lại hiệu quả cao hơn.
Ông cháu tôi hăng say chơi Cờ Tư lệnh cũng là vì lẽ đó.
Xin chân thành cảm ơn đại tá – nhà văn Nguyễn Quí Hải và TTVH Tràng An.
Hà Nội,22/9/2011
L M N (Nguyên sĩ quan quân đội, Chuyên viên cao cấp – Bộ LĐ-TB & XH)
Luật biểu tình là một trong 19 dự án luật về quyền con người và quyền tự do dân chủ của nhân dân mà Bộ trưởng Cường đề xuất lần này.
Trái với lệ thường là các dự án luật được các bộ, ngành liên quan đề xuất, ông Cường cho biết Luật biểu tình do đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề xuất.
Ông Cường còn nói thêm là ông Dũng giao cho Bộ Công an chuẩn bị dự luật này để trình Quốc hội xem xét.
"Khi Chính phủ bàn về những luật liên quan đến vấn đề này như Luật về Hội, Luật hội họp, chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có sáng kiến xây dựng Luật Biểu tình," báo mạng Dân trí dẫn lời Bộ trưởng Hà Hùng Cường.
"Thủ tướng đề nghị, cần thiết có luật điều chỉnh hoạt động tuần hành, biểu tình vì thực tế đang đòi hỏi," ông nói thêm.
“Thủ tướng đề nghị, cần thiết có luật điều chỉnh hoạt động tuần hành, biểu tình vì thực tế đang đòi hỏi”
Tổng cộng trong tờ trình, ông Cường đã đề xuất 115 dự án bao gồm bộ luật, luật và pháp lệnh để Quốc hội xây dựng trong khóa 13 này.
Bên cạnh Luật biểu tình, ông Cường cũng đề xuất xây dựng các dự án Luật Báo chí (sửa đổi) và Luật Tiếp cận thông tin trong lĩnh vực quyền con người.
Trung Quốc từng cử tàu Hải Tuần sang Singapore như một cử chỉ thăm dò thái độ của Asean
Trung Quốc có một loạt phản ứng nhằm “nhắc nhở” các nước đang tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông không vận động các cường quốc khác với hy vọng gây sức ép lên Bắc Kinh.
Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc cảnh báo các nước Đông Nam Á không khiêu khích Trung Quốc bằng việc nhờ sức mạnh quân sự của Mỹ để giải quyết tranh chấp
“Có những nước nghĩ rằng nếu có thể cân bằng với Trung Quốc bằng sức mạnh quân sự của Mỹ, họ được tự do làm những gì họ muốn.”
Bài xã luận của Nhân dân Nhật báo hôm thứ Tư nói tiếp: “Chúng ta không phủ nhận là một số nước châu Á có cảm giác bất an vì sự phát triển nhanh của Trung Quốc, nhất là sức mạnh quân sự của Trung Quốc sẽ phá vỡ cân bằng do Mỹ cố duy trì.”
“Nhưng châu Á ngày nay đã thay đổi…Không nước nào muốn trả lại tấm vé đi chuyến tàu cao tốc của sự phát triển kinh tế của Trung Quốc.”
Nói chuyện với hãng tin Bloomberg, ông Huang Jing, giáo sư của Trường Chính sách Công Lý Quang Diệu thuộc Đại học Quốc gia Singapore, cho rằng bài xã luận có thể ngụ ý rằng Bắc Kinh muốn thỏa hiệp với Asean về Biển Đông để ngăn sự can dự của Mỹ.
Đặc biệt, ông này ra giả thiết Trung Quốc có thể từ bỏ "đường 9 điểm" trên bản đồ (đường lưỡi bò).
Thay vào đó, Bắc Kinh sẽ nhấn mạnh chủ quyền ở khu vực quanh các bãi đá ngầm và bãi nước cạn nhằm xoa dịu Malaysia và Philippines.
Ông nói: “Trung Quốc biết họ không có căn cứ gì để đòi đường 9 điểm. Nếu Trung Quốc không nói rõ quan điểm, họ sẽ cho Mỹ có cớ hay lý do để can thiệp.”
Cùng ngày thứ Tư, tại một cuộc họp báo ở Bắc Kinh, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói nước ông phản đối việc nước khác can thiệp vào vùng biển mà Trung Quốc gọi là Nam Hải.
“Trung Quốc cương quyết phản đối cố gắng của bất kỳ nước nào muốn can thiệp vấn đề Nam Hải dưới chiêu bài tự do đi lại.”
Người phát ngôn quân đội Trung Quốc phát biểu một ngày sau khi Nhật Bản và Philippipnes ký thỏa thuận hợp tác hải quân.
Nhân chuyến thăm Tokyo của Tổng thống Philippines hôm 27/09, hai nước ra tuyên bố có nhắc về Biển Đông.
Thông cáo chung bằng tiếng Anh sau hội nghị nói: “Hai nhà lãnh đạo xác nhận Biển Nam Trung Hoa (South China Sea) là tối quan trọng, vì nó kết nối thế giới và châu Á Thái Bình Dương, và rằng hòa bình cùng ổn định là lợi ích chung cho cộng đồng quốc tế.”
Chen Qinghong, nhà nghiên cứu thuộc Viện Trung Quốc về Quan hệ Quốc tế Đương đại, nói Nhật Bản muốn dùng vấn đề Biển Đông để khiêu khích Trung Quốc sau khi vị trí nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nay đã thuộc về Trung Quốc.
Ông này cũng cho rằng Tokyo có ý đồ xen vào Biển Đông cũng là vì hy vọng sẽ mặc cả tốt hơn với Bắc Kinh quanh tranh chấp ở đảo Điếu Ngư (mà Nhật Bản gọi là Senkaku).
Ngày 29/9, ở Bắc Kinh người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Hồng Lỗi nói “chẳng hề có câu hỏi về tự do hàng hải ở biển Nam Hải”, hàm ý vùng biển này hoàn toàn an toàn để lưu thông.
Ông cũng nói: “Các nước trong và ngoài vùng biển đều là những bên hưởng lợi ích.”
Phía Trung Quốc đáp lại quan điểm của Ngoại trưởng Nhật Yoshihiko Noda và Tổng thống Philippines Benigno S. Aquino III cùng nêu ra hôm thứ Ba rằng họ quan ngại về tự do hàng hải tại vùng biển này.
Việt Nam làm chủ một số đảo tại quần đảo Trường Sa
‘Phát triển hòa bình’
Trong một bài bình luận khác, vừa ra hôm nay, Nhân dân Nhật báo nhấn mạnh Trung Quốc đi theo con đường “phát triển hòa bình”.
Đề cập đến Biển Đông, tác giả Le Yucheng, ca ngợi nước ông đã “không lạm dụng ngôn ngữ hay sức mạnh quân sự” cho dù từ đầu năm nay, ông nói “một vài nước” đã có “tiểu xảo” để khiêu khích.
Tác giả bài viết, cũng là giám đốc Vụ Hoạch định Chính sách của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, nhắc lại Trung Quốc đã mời Tổng thống Philippines Aquino đi thăm và tiến hành “trao đổi đa cấp với chính phủ Việt Nam để xây dựng hiểu biết và niềm tin giữa hai nước”.
Đây không phải là lần đầu tiên báo chí chính thống của Trung Quốc đề nghị chính phủ làm rõ hơn các tuyên bố chủ quyền ở vùng biển tranh chấp.
Gần đây, bản tiếng Anh của People’s Daily có đăng bài từ bản tiếng Hoa của báo Hoàn Cầu tại Trung Quốc, cho rằng các bên còn lại cũng cần nêu rõ vấn đề.
Theo tác giả Ding Gang thì sau khi kiểm mọi thông tin do cả Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc công bố, ông cũng chưa thể tìm thấy bằng chứng rằng vụ khai thác của Việt Nam “vi phạm lãnh hải của Trung Quốc”, vì tất cả còn “rất mù mờ”.
Bài báo cũng kêu gọi chính phủ Trung Quốc, Việt Nam và Ấn Độ cùng công bố các bản đồ về các khu vực họ nói đến.
Kinh tế đang là chủ đề người dân quan tâm nhiều nhất trong bối cảnh cuộc đua vào các cuộc bầu cử tháng 11 năm 2012 đang được hâm nóng.
Ông Harry Reid, lãnh đạo khối đa số thượng viện thuộc đảng Dân chủ vào thứ Hai dự đoán rằng dự luật, hiện gặp phải phản đối của Tòa Bạch Ốc, sẽ được thông qua.
Tuy nhiên Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói họ hy vọng các nhà lập pháp sẽ không thông qua dự luật này.
“Chúng tôi hy vọng rằng hai nước có thể giải quyết vấn đề trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và bình đẳng và phù hợp với quy định của WTO (Tổ chức Mậu dịch Thế giới), chứ không chính trị hóa các vấn đề kinh tế thương mại và phải dùng đến biện pháp bảo hộ mậu dịch “, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Hồng Lỗi cho biết.
“Chúng tôi hy vọng các nhà lập pháp Hoa Kỳ duy trì sự phát triển thuận lợi trong quan hệ kinh tế Trung-Mỹ.. và sẽ xem xét lại quyết định đó và kiềm chế để không thông qua dự luật.”
Dự luật này tạo điều kiện cho Bộ Tài chính Mỹ dễ dàng hơn trong việc qui kết Bắc Kinh lũng đoạn tiền tệ của mình và tạo điều kiện cho các công ty Mỹ tìm kiếm các biện pháp thuế quan để trả đũa hàng hoá Trung Quốc.
Bộ Tài chính Mỹ từng có báo cáo nói mặc dù đồng tiền của Trung Quốc được định giá thấp, nước này không phải là quốc gia thao túng tiền tệ.
‘Bất lợi xuất khẩu’
Một nghiên cứu do Viện chính sách kinh tế công bố trong tuần này cho thấy rằng thâm hụt mậu dịch của Mỹ với Trung Quốc đã làm mất khoảng 2,8 triệu việc làm kể từ năm 2001.
Bộ Tài chính Mỹ từng có báo cáo nói mặc dù đồng tiền của Trung Quốc được định giá thấp, nước này không phải là quốc gia thao túng tiền tệ.
Và các nhà lập pháp Mỹ ngày càng chỉ trích mạnh Bắc Kinh về các vấn đề kinh tế khác, bao gồm cả thực trạng đánh cắp tài sản trí tuệ như vi phạm bản quyền phim tràn lan và cái gọi là “sáng tạo bản địa”, là chính sách ưu đãi cho các công ty nào sử dụng công nghệ của doanh nghiệp Trung Quốc.
Tuy nhiên, 51 nhóm kinh doanh của Mỹ vàp tuần này tăng cường nỗ lực để ngăn chặn dự luật, và cảnh báo trong một bức thư cho giới thượng nghị sĩ rằng dự luật này nó có thể gây cuộc chiến mậu dịch “phản tác dụng”.
Tại Hoa Kỳ lâu nay vẫn xuất hiện các lời kêu gọi được lặp đi lặp lại yêu cầu xếp loại Trung Quốc là một quốc gia thao túng tiền tệ, trước các chính sách tiền tệ và sự miễn cưỡng tới nay của Bắc Kinh để cho đồng nội tệ của mình được tự do trao đổi.
Tuy nhiên Trung Quốc duy trì lập trường rằng trong khi nước này sẵn sàng cho phép đồng Nhân dân tệ tăng giá, tốc độ gia tăng sẽ được thực hiện dần dần từng bước.
Bắc Kinh nói sự gia tăng đột ngột với đồng Nhân dân tệ sẽ không chỉ gây bất lợi cho xuất khẩu của nước này, mà cũng sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
Giới quan sát nói chính sách tiền tệ của Trung Quốc đã không chỉ tạo ra các vấn đề với các đối tác kinh doanh của nước này mà nó cũng góp phần gây ra các vấn đề ở trong nước.
Các phân tích gia nói trong khi Trung Quốc chăm sóc quyền lợi của các ngành xuất khẩu của mình, nước này cũng phải ghi nhớ rằng một đồng nội tệ thấp hơn giá trị thực của nó đang làm cho hàng nhập khẩu đắt hơn và làm tăng thêm lạm phát.
No comments:
Post a Comment