Friday, September 23, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Morin Khuur: Nhạc cụ đầy chất thơ của người Mông Cổ…

Posted: 23 Sep 2011 02:37 PM PDT

 

Mã đầu cầm (tiếng Anh: Matouqin / horse-headed fiddle), tiếng Mông Cổ: Morin khuur) là một nhạc cụ truyền thống đầy chất thơ của người Mông Cổ.

Morin khuur nổi tiếng đến mức được UNESCO công nhận là một trong những kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.

Người Mông Cổ xưa là một dân tộc du mục, sống trong những chiếc lều tròn gọi là “yourte” và rong ruổi vó ngựa trên khắp các thảo nguyên bao la. Loài ngựa gắn bó với họ như hình với bóng, góp phần đưa Mông Cổ trở thành một đạo quân bách chiến bách thắng từ năm 1206 thời Gengis Khan (Thành Cát Tư Hãn) và mở rộng lãnh thổ của mình từ Á sang Âu.

Âm thanh của Mã đầu cầm khá lạ, cảm tưởng như nó pha trộn giữa đàn Nhị và đàn Vĩ cầm, hơi não nề, da diết mà lại rất phóng khoáng, mênh mang như tâm hồn dân du mục vùng thảo nguyên bát ngát.

Mã đầu cầm còn là một nhạc cụ có nhiều giai thoại. Mình sưu tầm được câu chuyện kể của bác Trần Văn Khê rất hay và…lãng mạn.

Xin kể lại cho các bạn Vườn Chuối nhà mình: :D

“Các bạn có dịp đến Mông Cổ, trong một buổi trình bày văn nghệ, thế nào bạn cũng nghe những bài trường ca urtiin duu, có tiếng đàn trầm hơn đàn gáo (ngoài Bắc gọi là đàn hồ), tương tợ như đàn violoncello của phương Tây – phụ hoạ. Đó là đàn “morin-khuur” (đọc là “mô rin khua”, morin là con ngựa, khuur là cây đàn, viết theo chữ Hán đọc là “Mã đầu cầm” 马头琴 – nghĩa là cây đàn có hình đầu con ngựa).

Đàn thuộc loại nhạc khí có cung kéo trên hai sợi dây trước kia bằng lông đuôi ngựa, ngày nay bằng ni-lông. Thùng đàn bằng gỗ, hình thang, cần dài, đầu cần chạm hình đầu con ngựa. Vì vậy đàn mang tên là “Mã đầu cầm”.

Có nhiều truyền thuyết về cây Mã đầu cầm. Hôm nay, tôi thuật cho các bạn nghe một trong những truyền thuyết đó. Xin mời các bạn theo tôi đến Mông Cổ và đi ngược dòng thời gian…

Ngày xửa ngày xưa, trên Thiên đình có 28 vì sao, gọi là Nhị thập bát tú. Đêm đêm, thường xuống phàm trần, dưới dạng 28 tướng kim giáp, kim bào, cưỡi ngựa chạy rong chơi, ngắm xem phong cảnh, xuyên qua đồng rộng, lên đỉnh núi cao, khi hưởng gió mát trăng thanh, khi nếm rượu bên bờ suối. Nhưng luôn luôn phải nhớ, khi nghe gà gáy canh ba thì phải trở về trời, trước khi vừng ô ló dạng. Nếu không kịp, cửa trời sẽ đóng và phải bị đọa mãi mãi dưới trần.

Vị tướng lãnh của 28 vì sao, nhờ có con Thiên lý mã, chớp mắt chạy xa ngàn dặm, nên trời vừa nhá nhem tối đã đến hồng trần, và có thể nấn ná đến khi gà gáy canh năm trở về trời cũng kịp. Đến sớm về muộn nhờ con Thiên lý mã, chàng có đủ thời gian gặp một nàng thôn nữ, và đã cùng nàng trao đá đổi vàng. Đêm đêm, người thiếu nữ đợi chờ người yêu…

Khi màn đêm buông xuống, nghe tiếng vó ngựa, người tình đã hiện ra trước cửa lều . Nàng không còn cảnh cô phòng chiếc bóng, có bạn vàng để pha trà đối ẩm, ngâm thơ xướng hoạ.

Một đêm, tò mò nàng hỏi:

– Chàng từ đâu đến?
– Ta đến tự Thiên đình.
– Rồi mỗi sáng chàng đi về đâu?
– Ta trở về thượng giới.

Nghe qua, nàng bán tín bán nghi. Lén chàng, nàng chuẩn bị một con tuấn mã. Khi chàng từ giã nàng, leo lên lưng ngựa, nàng cũng giục con tuấn mã chạy theo để xem chàng đi về đâu.

Nhưng làm sao một con tuấn mã ở hạ giới theo kịp con Thiên lý mã chốn Thiên đình?

Trong nháy mắt chàng đã khuất dạng và nàng trở về lều đợi chàng đến hôm sau.

Nàng băn khoăn tự hỏi: “Con Thiên lý mã của chàng trông gầy còm, mà sao có sức chạy như bay?”.

Đêm nay, khi chàng say giấc điệp, nàng lén ra ngoài lều đến cạnh Thiên lý mã… “À thảo nào! Như vầy mà chẳng chạy mau sao được!”. Thì ra phía sau mỗi chân ngựa có một cặp cánh nhỏ.

Đã bao lần, nàng năn nỉ chàng ở lại với nàng, mà chàng chỉ vuốt má nàng và nói: “Công việc của ta rất nhiều trên Thiên đình, ta không thể bỏ cả để ở lại dưới trần. Mỗi đêm, chúng ta được gặp nhau như vầy đã là hạnh phúc lắm rồi!”.

Vì quá yêu chàng, nàng nghĩ rằng: “Nếu không có cặp cánh, ngựa thần không thể đưa chàng về trời. Nàng sẽ giữ chàng ở mãi cạnh bên nàng”. Không nghĩ thêm xa xôi chi nữa, nàng lấy dao cắt cả 4 cặp cánh nhỏ.

Chàng đâu có ngờ chuyện chi đã xảy ra lúc chàng đang an giấc nồng. Đến sáng, như thường lệ, khi gà gáy canh năm, chàng từ giã nàng và lên ngựa để về trời.

Nhưng… sao lạ quá? Hôm nay, Thiên lý mã không còn vượt qua ngàn dặm trong nháy mắt. Mặc dầu đã cố hết sức phi mau, nhưng đường về Thiên đình thấy còn diệu viễn, và chân trời đã bắt đầu “thoa son thắm” rồi!

Chàng vuốt lưng Thiên lý mã và hỏi: “Tuấn mã ơi! Sao hôm nay, ngươi không còn sức phi mau như gió? Cố gắng lên đi! Ngươi có thấy vừng ô sắp ló dạng rồi chưa? Khi “đêm biếc sẽ tàn, vừng hồng sẽ tắm nắng chân mây xa” thì chúng ta sẽ không thể đến kịp trước khi cửa trời khép kín. Mau đi tuấn mã!!! Cố gắng thêm đi! Cố gắng thêm nữa đi!…”.

Thiên lý mã đã đem hết tàn lực phi mau phi mau… Nhưng mặt trời đã lên. Nắng vàng đã chiếu! Người ngựa rơi trên bãi sa mạc!!! Chàng ôm Thiên lý mã vào lòng, lấy áo lau mồ hôi đầm đìa trên thân ngựa quí.

Thiên lý mã kiệt sức, nhìn chàng bằng đôi mắt u buồn, rồi khép hẳn mắt lại, trút hơi thở cuối cùng trên cánh tay chàng.

Chàng khóc lớn và kêu to: “Thiên lý mã ôi! Thiên lý mã…..ôi!” Vừa khóc chàng vừa nhìn lên trời, trời xa vòi vọi. Nhìn sa mạc, cát trắng trùng trùng! Người yêu ơi! Giờ nầy nàng ở nơi nao?

Chàng khóc Thiên lý mã, ôm đầu ngựa vào lòng. Khi giọt lệ của chàng rơi trên mình ngựa, ngựa biến thành đàn. Đầu ngựa thành đầu đàn. Đuôi ngựa thành dây đàn. Lấy lông đuôi làm bả cung kéo lên dây đàn phát ra những tiếng kêu thương.

Từ ấy đến giờ, Mã đầu cầm đã vượt thời gian, được cha truyền con nối, đến nay thanh niên Mông Cổ còn biết đàn Morinkhuur. Nhưng mỗi khi tiếng đàn cất lên phụ hoạ cho những bài trường ca “urtiin duu”, ai có thể dằn lòng xúc động khi nghe tiếng đàn ai oán hòa theo giọng hát như khóc như than?”

Các bạn nghe và xem cảnh sắc tuyệt đẹp của thảo nguyên Mông Cồ với tiếng đàn Morin Khuur nhé:


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Làm sao ta có thể yêu tất cả mọi người vô điều kiện?

Posted: 23 Sep 2011 02:36 PM PDT

Chào các bạn,

Khi chúng ta nói "khiêm tốn, thành thật, yêu người", "yêu người" ta nói ở đây là "yêu tất cả mọi người, vô điều kiện". Câu hỏi đặt ra là, làm sao ta có thể yêu tất cả mọi người vô điều kiện được?

Trước khi trả lời, có vài điểm quan trọng chúng ta cần duyệt qua.

1. "Yêu tất cả mọi người, vô điều kiện" không phải là một l‎ý thuyết không tưởng như nhiều người chúng ta thường nghĩ. "Yêu tất cả mọi người, vô điều kiện" là giáo huấn căn bản hàng đầu của Phật giáo, Ki Tô giáo (Công giáo, Chính thông giáo, Tin Lành), Do thái giáo, Hồi giáo, và nhiều tôn giáo lớn khác của thế giới.

Rất tiếc là đa số các tín đồ của các tôn giáo này không thực hành giáo huấn căn bản này, và một số tín đồ lại dùng tôn giáo của họ để gây lộn và đánh nhau với thiên hạ. Nhưng cũng có một số đông cố gắng thực hành mỗi ngày. Họ đạt được đến đâu thì không chắc, nhưng chắc chắn là họ cố gắng thực hành mỗi ngày, vì ta thấy họ nói đến thường xuyên trong các bài thuyết giảng và trên các diễn đàn Internet hàng ngày. Các bạn thử vào các websites tôn giáo sẽ gặp trong một số sites.

2. "Yêu người có điều kiện"—yêu tôi thì tôi yêu lại, ghét tôi thì tôi ghét lại; tốt thì tôi yêu, xấu thì tôi không yêu; có qua có lại, quid pro quo—thì chẳng có gì đáng để nói, vì con nít 5 tuổi cũng sống như thế, kẻ trộm cướp cũng sống như thế. Đó không phải là chuẩn mực của người tỉnh thức. Người có tri kiến sâu sắc đương nhiên là cố gắng sống ở tầng cao hơn, tức là tầng "yêu tất cả mọi người, vô kiều điện".

3. "Yêu tất cả mọi người, vô điều kiện" là đời sống tâm linh sâu thẳm, có tính hoàn vũ, vượt qua tất cả mọi biên giới tôn giáo, vì tôn giáo lớn nào cũng nhấn mạnh vào điểm đó, và rất nhiều triết lý không tôn giáo cũng nhấn mạnh vào nó.

Bây giờ chúng ta trả lời câu hỏi, làm sao ta có thể yêu tất cả mọi người vô điều kiện được?

Mình sẽ trả lời câu hỏi này trong hai truyền thống tâm linh lớn mà mình rành nhất—Ki tô giáo và Phật giáo. Các bạn có thể đóng góp thêm về nhũng luồng tư tưởng khác mà các bạn đã có kinh nghiệm.

1. Tình yêu vô điều kiên trong Ki tô giáo

Chúng ta yêu tất cả mọi người không phải vì mọi người đáng yêu, mà vì Chúa dạy ta làm thế.

    "Các bạn đã nghe nói, 'Yêu láng giềng của bạn và ghét kẻ thù của bạn.' Nhưng tôi bảo các bạn, yêu kẻ thù của bạn và cầu nguyện cho những người ngược đãi bạn, để bạn có thể là con của Cha của bạn trên trời" Matthew 5:43-45.

Chúng ta yêu mọi người vô điều kiện, chỉ vì Chúa đã yêu tất cả chúng ta vô điều kiện, chịu chết cho tất cả chúng ta, không trừ ai, và dạy ta yêu tất cả mọi người, kể cả kẻ thù, không trừ ai.

Nguồn lực tâm linh cho ta sức mạnh để yêu mọi người vô điều kiện là lòng tin mạnh mẽ vào Chúa, (và chẳng liên hệ gì đến chuyện mọi người có đáng yêu không, có tốt không, có đáng tin không…)

2. Tình yêu vô điều kiên trong Phật giáo

Từ tâm với tất cả mọi người, không trừ ai, đó là lời Phật dạy trong Kinh Từ Tâm.

Thế Tôn thuyết giảng những lời,
Liên quan tu tập nên người từ tâm,
Là người rất đỗi ân cần,
Thương yêu trải khắp kẻ gần người xa.
Tấm lòng nhân ái bao la,
Thật là thuần khiết, thật là cao thâm.
Hướng về tất cả chúng sinh,
Người từ tâm trọn quên mình mà thương.

    Kinh Từ Tâm

Và lời dạy này đương nhiên là đặt trên căn bản Phật triết là tất cà mọi chúng ta đều là một, là những lượn sóng phù du của một đại dương sự thật, gọi là Không, Phật, Phật tính…

• Tình yêu đòi hỏi nghĩa vụ. Ta không thể chỉ nói yêu bằng miệng. Tình yêu đòi hỏi ta làm điều gì đó cho người kia—cảm thông, tha thứ, chăm sóc, lo lắng, cầu nguyện… Tùy theo mỗi trường hợp, ta có những cách hành động khác nhau. Nhưng tình yêu đòi hỏi hành động của tình yêu.

Trong trường hợp kẻ thù thực sự, như trên chiến trường, hành động của tình yêu thường là cầu nguyện để Trời/Phật/Thượng đế giảm đau khổ cho tất cả mọi người trong cuộc chiến, và cư xử với tù binh phía bên kia một cách nhân hậu.

Các bạn, mình nghe nói đến "yêu kẻ thù" từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng trong rất nhiều năm mình tin rằng đó là kiểu nói chuyện phóng đại lý‎ tưởng, không có thật, vì mình chẳng thấy một người nào thực hành nó và nhấn mạnh đến nó cả. (Và trong không khí chiến tranh Việt Nam thời trước, mọi người chỉ chú trọng vào dạy nhau chém giết và thù hận. Các tiếng nói hòa bình thường được mời vào tù giảng cho bốn bức tường tối đen ẩm mốc).

Nhưng những năm về sau này mình thấy có rất nhiều người trên thế giới cố gắng thực hành tình yêu vô điều kiện hàng ngày. Được hay không là chuyện của họ, nhưng mình thấy ít ra là họ cố gắng thực hành. Và mình hiểu ra là đó là một tầng sống trưởng thành, cao hơn tầng sống tự nhiên có qua có lại của ta từ thuở bé.

Trong Phật giáo thế giới ta có, hai người rất nổi tiếng thực hành và giảng dạy tình yêu vô điều kiện. Đó là Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, và thiền sư Thích Nhất Hạnh. Trong Ki tô giáo ta có Mẹ Teresa. Hindu ta có Mahata Gandhi…

Đây là những người nổi tiếng trên thế giới, nhưng thế giới có rất nhiều người cố gắng thực hành "yêu tất cả mọi người, vô điều kiện, hàng ngày" mà không ai biết đến họ.

Tình yêu vô điều kiện không phải là một loại nói phóng đại lý tưởng. Đó là tầng sống trưởng thành về tâm linh.

• Nếu bạn cố găng thực hành "yêu tất cả mọi người, vô điều kiện" bạn sẽ nhận ra rất nhanh là

(1) "mọi người" được bạn yêu trong lòng có lẽ là nhận được rất ít từ bạn, vì đa số họ chẳng biết gì về bạn cả,

(2) những người quanh bạn hàng ngày nhận được thái độ dịu dàng tử tế của bạn thường xuyên,

(3) nhưng bạn là người nhận được nhiều nhất—

    (a) bạn cảm thấy an lạc thoải mái trong đời sống hàng ngày,

    (b) khám phá ra những phương cách ứng xử với người khác mà xưa nay bạn chưa hề biết là mình có thể làm, và

    (c) hiểu được người khác, và đôi khi cả dân tộc khác, một các sâu xa hơn xưa rất nhiều, và do đó hiểu về các liên hệ cá nhân hoặc các hiện tượng chính trị quốc gia hoặc quốc tế một cách rất là sâu sắc.

Chúc các bạn một ngày yêu vô điều kiện.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Họ đều là những người tốt” – Eamon de Valera

Posted: 23 Sep 2011 02:35 PM PDT

 

Lịch sử của Ireland trải dài suốt 800 năm từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 20 là 1 giai đoạn xung đột và bất ổn kéo dài của người dân Ireland chống lại ách đô hộ của Vương Quốc Anh, lồng thêm vào đó là cuộc xung đột tôn giáo giữa Công Giáo La Mã và Kháng Cách (hay trong trường hợp này là Anh Giáo):

Cuối thế kỷ 12, nước Anh xâm chiếm toàn bộ Ireland và áp đặt ách đô hộ của mình lên Ireland.

Một thế kỷ sau đó, Giáo Hội Thiên Chúa Giáo tại châu Âu bắt đầu có những bất đồng, dẫn đến sự tồn tại của 2 Giáo Hoàng song song, phát sinh cuộc chiến giữa các vương hầu. Điều này ảnh hưởng đến hình ảnh thiêng liêng, quyền lực của Giáo Hoàng, rồi nhiều người bắt đầu "suy nghĩ thêm" về bản chất của giáo hội, nguồn gốc và giới hạn của thẩm quyền dành cho giáo hoàng và các vương hầu.

Rồi xuất hiện nhu cầu "vẫn tin Kinh Thánh, nhưng không muốn chịu ảnh hưởng của Giáo Hoàng" và phong trào Kháng Cách xuất hiện, ban đầu với mục tiêu tạo áp lực để cải cách Giáo Hội Công Giáo, nhưng sau đó chuyển thành ly khai khỏi Công Giáo. 1 loạt nhánh của Thiên Chúa Giáo xuất hiện: Tin Lành, Anh Giáo, Phái Thanh Tẩy (phần này quá dài và rộng để viết xuống đây)

Năm 1542, Anh Giáo được áp đặt lên Ireland, nhanh chóng làm bùng nổ cuộc chiến tranh tôn giáo giữa những người theo Công Giáo và Anh Giáo. Nước Anh đàn áp dã man những người theo Công Giáo, sáp nhập hẳn Ireland vào Anh và giải tán Quốc Hội Ireland, càng khơi sâu thêm xung đột giữa "Người Cai Trị ngoại lai – Dân Địa Phương"

1916, diễn ra cuộc nổi dậy Lễ Phục Sinh của những người theo chủ nghĩa quốc gia Ireland nhằm đánh đuổi người Anh và thành lập Cộng Hoà Ireland. Cuộc nổi dậy bị đàn áp đẫm máu: 15 lãnh đạo bị hành hình và hơn 1000 người bị cầm tù. Nhưng chính sự đàn áp này khơi dậy tinh thần yêu nước của dân Ireland làm phong trào bùng nổ dữ dội hơn dưới sự lãnh đạo của Eamon De Valera. Nước Anh sau nhiều cố gắng đàn áp không được, cuối cùng đồng ý đình chiến với Ireland vào năm 1921, làm tiền đề cho tiến trình trả tự do cho Ireland.

Bài diễn văn dưới đây được đọc nhân kỷ niệm 50 năm ngày diễn ra cuộc nổi dậy Lễ Phục Sinh, bước khởi đầu cho kết thúc của nền cai trị Anh. Đây là 1 bài diễn văn ngắn, lập luận giản dị nhưng vẫn có sức thuyết phục.

Có vài điểm nổi bật của bài diễn văn này:

    - 2 vấn đề "Quốc Gia" và "Tôn Giáo" đan xen lẫn nhau, nhiều lúc đồng nghĩa, do hoàn cảnh lịch sử (đã đề cập ở trên): Họ đều là những con người tốt, sống trọn vẹn cho trách nhiệm của mình, và chính sự tin tưởng vững chắc nhất, đức tin đầy đủ nhất và tình yêu với đất nước đã thúc đẩy hành động của họ. Thời gian đã chứng minh những người này là các nhà tiên tri, và với sự ưu ái của Thiên Chúa…

    - Tác giả đã khéo léo dựa vào sự hy sinh anh dũng của các nhà lãnh đạo, để nhắc nhở mọi người phải hoà hợp, thống nhất xây dựng đất nước. vì đó là mơ ước của những người đã ngã xuống

    - Và tác giả cũng nhắc nhở việc gìn giữ tiếng Ireland như 1 niềm tự hào dân tộc, vì Ireland là 1 nước độc lập và có ngôn ngữ riêng. Cần biết sở dĩ tác giả phải kêu gọi như vậy, vì việc chuyển từ tiếng Anh sang tiếng Ireland vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn, và đến tận ngày nay, vẫn chưa được coi là thành công.

Về tác giả (Wikipedia)

Éamon de Valera (14/10/1882 – 29/8/1975) là một trong những nhà chính trị nổi bật nhất trong thế kỷ 20 của Ireland. Là người đứng đầu chính phủ Ireland. Ông cũng là người ban hành Hiến Pháp Ireland
De Valera là nhà lãnh đạo của phong trào giành độc lập từ tay người Anh trong Chiến Tranh Giành Độc Lập cho Ireland, là nhà lãnh đạo khuynh hướng không ủng hộ hiệp ước với Anh trong nội chiến Ireland (1922-1923). Ông là nhà lãnh đạo chính phủ 1932–48, 1951–54 và 1957–59 và là tổng thống Ireland giai đoạn 1959–73.

(Nguyễn Mai Anh Kiệt giới thiệu)

 

Phục Sinh này, chúng ta tưởng nhớ về Phục Sinh năm mươi năm trước đây, và tôn vinh những người khi đó đã trao mạng sống của mình, hoặc chấp nhận rủi ro với mạng sống của mình để Ireland có thể được tự do.

Đặc biệt, chúng ta mong muốn tôn vinh bảy con người dũng cảm đã bất chấp mọi cản trở vẫn kiên quyết khẳng định, một lần nữa với vũ trang, quyền độc lập chủ quyền của đất nước chúng ta. Đó là một quyết định định mệnh mà ngày nay chúng ta biết rằng là bước tiến táo bạo nhất và vượt xa nhất trong lịch sử của chúng ta.

Họ đều là những người tốt, sống trọn vẹn cho trách nhiệm của mình, và chính sự tin tưởng vững chắc nhất, đức tin đầy đủ nhất và tình yêu với đất nước đã thúc đẩy hành động của họ. Sự chuyên tâm và không vị kỷ của họ, sự hy sinh của họ và những hy sinh của những người đã mất trong Cuộc Nổi Dậy đã khơi mào cho sự trỗi dậy của cả nước tiếp theo. Nguyện xin Thiên Chúa tốt lành giữ tất cả họ trong sự che chở của Ngài.

Thời gian đã chứng minh những người này là các nhà tiên tri. Họ đã nhìn thấy những gì ít ai thời đó có thể tiên đoán, và với sự ưu ái của Thiên Chúa, các đặc ân chúng ta được hưởng ở đây hôm nay là do chúng ta nợ tầm nhìn xa của họ và sự thấu hiểu của họ về trái tim của dân tộc ta.

Tự do chính trị tự nó không phải là mục tiêu cuối cùng. Đúng hơn, tự do chính trị là điều kiện để từng bước xây dựng lên một cộng đồng, trong đó một số lượng thành viên càng ngày càng nhiều, nhờ được giảm nhẹ áp lực của các nhu cầu kinh tế nhiều đòi hỏi, nên được tự do để cỗng hiến đời họ cho tinh thần và tâm hồn càng ngày càng nhiều, và như vậy, họ có thể có được hạnh phúc của một cuộc sống đầy đặn. Đất nước ta khi đó có thể một lần nữa, như bao nhiêu thế kỷ trong quá khứ, trở thành một trung tâm mục vụ và trí tuệ vĩ đại, từ đó các chân lý cứu rỗi viên mãn của Mạc Khải của Thiên Chúa cũng như những thành quả của kiến thức chín chắn nhất về thế giới trần tục được phát triển.

Chúng ta không thể tôn vinh đầy đủ những con người của năm 1916 nếu chúng ta không làm việc và phấn đấu để mang lại cho Ireland những điều mà họ đã mong ước. Để làm được điều đó, mỗi người chúng ta phải làm phần của mình, và mặc dù các nhiệm vụ trước mắt chúng ta bây giờ khác những nhiệm vụ năm mươi năm trước đây, nếu chúng ta đủ tận tâm và ý chí của chúng ta kiên định, chúng ta có thể có ngày hôm nay sự hồi sinh của đất nước có thể sánh với sự hồi sinh sau năm 1916: chúng ta có thể khiến cho dân tộc chúng ta thống nhất như một gia đình – quốc gia của những người anh em – mỗi người làm việc trong sự hài hòa công nghiệp, không phải chỉ cho chính mình, mà vì điều tốt đẹp cho tất cả. Chúng ta khi đó có thể một cách tự tin tiến tới sự tôn cao đất nước ta giữa các nước khác, điều mà những con người năm 1916 đã tuyên thệ hiến thân phục vụ.

Trong việc thực hiện của tất cả các điều này, ngôn ngữ nước ta đóng một vai trò thiết yếu. Ngôn ngữ là một đặc tính chủ đạo của đất nước – là biểu hiện, như chính nó, của cá tính của quốc gia và là sự gắn kết chặt chẽ nhất giữa những người dân của đất nước. Không một quốc gia nào có một ngôn ngữ riêng của mình mà sẵn sàng từ bỏ ngôn ngữ đó. Ví dụ như người dân Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, học và biết rõ một hoặc nhiều ngôn ngữ khác, như chúng ta cũng nên như vậy, tất nhiên, vì lợi ích của truyền thông, thương mại quốc tế, và cho các mục đích văn hóa; nhưng họ sẽ không bao giờ từ bỏ ngôn ngữ bản địa của họ, ngôn ngữ của tổ tiên của họ, thứ ngôn ngữ đã cất giữ một cách thiêng liêng tất cả những ký ức quá khứ của họ. Họ biết rằng nếu không có ngôn ngữ đó, họ sẽ chìm vào một chủ nghỉa thế giới vô định hình không có một quá khứ hay tương lai riêng biệt. Để tránh một số phận như vậy, thế hệ này của chúng ta phải chắc chắn là ngôn ngữ của chúng ta sẽ tồn tại. Đó là quyết tâm của những con người của năm 1916. Liệu đó có là quyết tâm của những người trẻ của năm 1966 không?

(Quỳnh Linh chuyển ngữ)

 

This Easter we are bringing to our minds the Easter of fifty years ago, and are seeking to honor the men who at that time gave, or risked their lives, that Ireland might be free.

We wish to honor, in particular, the seven brave men who, despite all the deterrents, made the decision to assert, once more in arms, our nation’s right to sovereign independence. It was a fateful decision which we now know to have been one of the boldest and most far-reaching in our history.

These were all good men, fully alive to their responsibilities, and it was only the firmest conviction, the fullest faith and love of country that prompted their action. Their single-mindedness and unselfishness, their sacrifice and the sacrifices of the others who gave their lives in the Uprising inspired the national resurgence which followed. May the good God have them all in His keeping.

Time has proved these men to have been prophets. They foresaw what few could then have foreseen, and to their foresight and their insight into the hearts of our people, under God’s favor, we owe the privileges we enjoy here today.

Political freedom alone was not the ultimate goal. It was to be, rather, the enabling condition for the gradual building up of a community in which an ever increasing number of its members, relieved from the pressure of exacting economic demands, would be free to devote themselves more and more to the mind and spirit, and so, able to have the happiness of a full life. Our nation could then become again, as it was for centuries in the past, a great intellectual and missionary center from which would go forth the satisfying saving truths of Divine Revelation, as well as the fruits of the ripest secular knowledge.

We cannot adequately honor the men of 1916 if we do not work and strive to bring about the Ireland of their desire. For this, each one of us must do his part, and though the tasks immediately before us now are different from those of fifty years ago, we can have today, if we are sufficiently devoted and our will be firm, a national resurgence comparable to that which followed 1916: we can have our people united as a family—a nation of brothers —each working in industrial harmony, not for himself only, but for the good of all. We could then march forward confidently to that exaltation of our nation amongst the nations to which the men of 1916 pledged themselves.

In the realization of all this, our national language has a vital role. Language is a chief characteristic of nationhood—the embodiment, as it were, of the nation’s personality and the closest bond between its people. No nation with a language of its own would willingly abandon it. The peoples of Denmark, Holland, Norway, for ex-ample, learn and know well one or more other languages, as we should, of course, for the sake of world communication, commerce, and for cultural purposes; but they would never abandon their native language, the language of their ancestors, the language which enshrines all the memories of their past. They know that without it they would sink into an amorphous cosmopolitanism—without a past, or a distinguishable future. To avoid such a fate, we of this generation must see to it that our language lives. That would be the resolve of the men and women of 1916. Will it not be the resolve of the young men and women of 1966?

Nguồn tham khảo:

http://uk.answers.yahoo.com/question/index?qid=20100124063643AAJmQvp
http://en.wikipedia.org/wiki/Irish_people
http://en.wikipedia.org/wiki/United_Kingdom_of_Great_Britain_and_Ireland
http://en.wikipedia.org/wiki/Easter_Rising
http://www.bbc.co.uk/history/british/easterrising/
http://www.theirishstory.com/category/the-1916-rising/


Filed under: Các diễn văn làm thay đổi thế giới, Văn Hóa Tagged: các diễn văn làm thay đổi thế giới, Lịch sử, Văn Hóa

‘Lạm phát có thể lên 24% nếu bơm tiền mạnh’ – Khó khăn hiện nay của kinh tế Việt Nam

Posted: 23 Sep 2011 02:34 PM PDT

‘Lạm phát có thể lên 24% nếu bơm tiền mạnh’

Sáng nay trong cuộc hội thảo bàn về kinh tế VN, các chuyên gia đưa ra hai kịch bản lạm phát cho năm 2011, đều e ngại khả năng lạm phát cuối năm có thể lên 24% trước chính sách bơm tiền mạnh, giá vàng cao…

Trong hội thảo kinh tế Việt Nam 2011 – triển vọng năm 2012 diễn ra ở TP HCM sáng nay, tiến sĩ Phạm Đỗ Chí, chuyên viên cấp cao chương trình Star Plus đưa ra hai kịch bản lạm phát năm 2011. Kịch bản thứ nhất, lạm phát có thể tăng tốc nhanh trong hai tháng cuối năm, ở mức 19-20%. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, lạm phát 8 tháng đầu năm đã là 15,68%.

Dự báo này dựa trên nhiều yếu tố. Trước hết là do nhu cầu tiêu dùng cao trong mùa lễ tết sắp tới. Cùng với đó là chính sách thắt chặt tiền tệ làm giảm nhu cầu khu vực tư nhân, nhưng không đủ để làm giảm tổng cầu trong nền kinh tế.

Sức mua trong dịp lễ tết cuối năm có khả năng đẩy chỉ số CPI tăng cao, gây áp lực lạm phát cao. Ảnh: Lệ Chi

Kịch bản thứ 2, ông Chí cho rằng lạm phát có thể lên tới 24% vào cuối năm nay. Trước hết là do giá vàng trong nước thời gian qua cao hơn thế giới nhưng người ta vẫn đổ xô mua vào, cho thấy tâm lý lo ngại lạm phát vẫn rất nặng nề trong lòng người dân. Bên cạnh đó, tỷ giá và việc điều chỉnh lương tối thiểu, giá xăng, dầu, điện… có thể tác động tiêu cực lên chỉ số giá tiêu dùng những tháng cuối năm do tâm lý “tát nước theo mưa”.

Kịch bản 2 về lạm phát 4 tháng cuối 2011

Tháng 9 22,64%
Tháng 10 23,31%
Tháng 11 23,48%
Tháng12 24,11%

Ngoài ra, theo chuyên gia này, tốc độ tăng dư nợ tín dụng, tổng phương tiện thanh toán những tháng cuối năm sẽ cao hơn nhiều so với đầu năm. Chính sách bơm tiền mạnh mẽ của Ngân hàng Nhà nước trong tuần thứ hai của tháng 9 (20.000 tỷ đồng) và tuần vừa qua (9.000 tỷ đồng) để các ngân hàng tuân theo việc áp dụng trần lãi suất huy động 14% và đưa lãi suất cho vay về 17-19%. Những yếu tố này đang thực sự dấy lên mối lo ngại lạm phát sẽ tăng tốc vào cuối năm.

“Do đó để chống lạm phát trong tình hình hiện nay thì sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết”, ông Chí nhấn mạnh.

Cùng chung lo lắng, nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển dự báo lạm phát năm 2011 không dưới 18%, vì bình quân 8 tháng đã rất cao mặc dù tháng 9 có khả năng kéo lạm phát xuống thấp hơn.

“Khả năng lạm phát năm nay khoảng 19%, do đó quản lý nhà nước không được đưa ra tín hiệu nới lỏng chính sách tiền tệ. Hiện nay, mặc dù Ngân hàng Nhà nước khẳng định không nới lỏng nhưng thực tế là có dấu hiệu nới lỏng chính sách tiền tệ”, ông Tuyển nói.

Trao đổi với VnExpress.net, ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế đánh giá Việt Nam rất khó chống được lạm phát trong dài hạn. Lý do là cách điều hành vĩ mô và chống lạm phát hiện nay quá nặng về hành chính, có tính chất chữa cháy quá nhiều, trong khi lại chưa mạnh dạn trong việc tái cơ cấu kinh tế. Nguy cơ lạm phát khứ hồi là rất cao.

Ông cũng cho rằng, việc cắt giảm đầu tư công Chính phủ tuyên bố thì mạnh nhưng triển khai chậm và hành động không rõ ràng. Điều này càng khiến lòng tin của dân suy giảm. Đồng thời, ông chỉ ra căn bệnh của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nghiện đầu tư, thêm dự án nhưng đói tài nguyên… Bằng chứng là các khu công nghiệp, khu chế xuất mọc lên tràn lan nhưng hiệu quả thì không cao.

Ông nói: “Không thể chống được lạm phát, tái lập ổn định vĩ mô, khôi phục và xác lập cơ sở tăng trưởng hiện đại nếu không thay đổi hệ thống phân bổ nguồn lực, cũng như không thể giảm nhập siêu chủ yếu bằng công cụ tỷ giá”.

Do đó, trong ngắn hạn, Viện trưởng Viện kinh tế kiến nghị cần phải thắt chặt chính sách tiền tệ, kiên quyết giảm mạnh chi tiêu và đầu tư công, giảm mạnh thu ngân sách.

Trong khi đó, tiến sĩ Lê Đăng Doanh “yêu cầu phải nhìn thẳng vào sự thật”. Bởi theo ông, muốn đánh giá đúng tình hình hiện nay thì phải nhìn thẳng vào sự thật của vấn đề.

Theo ông Doanh, nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều bệnh. Nếu trị đúng bệnh thì lạm phát mới không tái phát được. Ông cho rằng, căn bệnh chính là chi ngân sách, đầu tư kém hiệu quả, hoạt động yếu kém của các tập đoàn nhà nước. Do đó, cần phải tái cơ cấu và cải cách toàn diện trong ít nhất là hai năm 2012 và 2013. Mà trước tiên là cải cách các tập đoàn nhà nước, đẩy mạnh cổ phần hóa, thực hiện mô hình quản lý dựa trên kết quả, công khai minh bạch những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Lệ Chi

Khó khăn hiện nay của kinh tế Việt Nam

Giao dịch ở tiệm vàng
Vàng đã tăng giá đột biến trong thời gian vừa qua

Những biến động khó lường của kinh tế thế giới trong thời gian vừa qua đang tác động tiêu cực đến Việt Nam, theo lời của một số chuyên gia trong nước.

Theo số liệu của Tổng cục thống kê vừa công bố, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 9 tháng đầu năm cùa Việt Nam chỉ tăng có 5,7% so vợ́i cùng kỳ năm ngoái và là mức tăng thấp thứ hai trong năm năm trở lại đây (chỉ cao hơn mức 4,6% của năm khủng hoảng kinh tế 2009).

Cuộc khủng hoảng nợ đang ngày càng trầm trọng ở Châu Âu đang có nguy cơ đẩy thế giới vào một đợt suy thoái mới, trong khi kinh tế Hoa Kỳ vẫn chưa có dấu hiệu sáng sủa còn Nhật Bản vẫn đang chống chọi với những hậu quả của thảm họa động đất sóng thần hồi tháng Ba năm nay.

Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản đều là những đối tác thương mại và đầu tư chủ chốt của Việt Nam.

Đối với một đất nước mà nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu cũng như đầu tư nước ngoài như Việt Nam thì sức khỏe của kinh tế thế giới có tác động rất lớn đối với tình hình kinh tế trong nước, theo nhận định của Giáo sư Hà Tôn Vinh hiện đang giảng dạy tại Khoa Quản trị kinh doanh thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

"Sau đợt khủng hoảng năm 2008, qua năm 2009 và đến năm 2010 nhiều người cứ nghĩ là đã qua khó khăn và ổn định trở lại," GS Vinh nói với BBC.

"Nhưng đến năm 2011 thì tình hình lại trở nên hết sức khó khăn," ông nói.

"Bình thường nếu kinh tế thế giới vững thì Việt Nam cũng không gặp khó khăn nhiều lắm," ông nói thêm.

Bất ổn vĩ mô

Tuy nhiên hiện nay xuất khẩu cũng như lượng kiều hối của Việt kiều gửi về Việt Nam đều giảm sút.

Dấu hiệu rõ nét của những bất ổn của kinh tế vĩ mô là việc vàng tăng giá đột biến trong thời gian ngắn, từ dưới 30 triệu hiện đã đạt mức 47 đồng Việt Nam chỉ trong vòng 1 năm.

Theo GS Vinh, giá vàng trong nước tăng một mặt là tăng theo thị trường thế giới do Việt Nam phải nhập khẩu vàng, mặt khác do tâm lý lo sợ của người dân Việt Nam.

"Người dân Việt Nam rất nhạy cảm, bất cứ biến động gì cũng 'thủ' cho chắc ăn," ông nói.

“Chúng ta phải có giải pháp dài hơi chứ không phải giải pháp tình thế như hiện nay vốn chỉ tập trung vào ưu tiên ngắn hạn là chống lạm phát”

GS Hà Tôn Vinh, Đại học Quốc gia Hà Nội

"Đối với họ, đầu tư vào vàng lúc này là đúng bởi vì lạm phát cao nên họ không dám bỏ tiền vào ngân hàng," ông giải thích.

Tuy nhiên nền kinh tế Việt Nam không dựa vào vàng và đa số người dân Việt Nam cũng không đầu tư vào vàng nên giá vàng tăng chỉ có lợi cho rất ít người mà thôi, ông nói.

Bên cạnh những tác động từ bên ngoài, nền kinh tế Việt Nam đang phải gánh chịu những tác dụng phụ của việc thắt chặt tín dụng để kiềm chế lạm phát,

"Các doanh nghiệp không tiếp cận được vốn vay hoặc phải vay với lãi suất cao nên không có vốn sản xuất," ông nói.

"Thậm chí khi sản xuất được thì cũng không xuất khẩu được."

Sản xuất đình đốn nên doanh nghiệp phải cho lao động nghỉ việc dẫn đến thất nghiệp gia tăng.

"Doanh nghiệp không phát triển thì an sinh xã hội không thể bảo đảm mặc dù đây là mục tiêu Chính phủ rất muốn thực hiện," ông nói.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tiếp tục làm ăn thua lỗ thì thị trường chứng khoán sẽ kéo dài thời kỳ ảm đạm.

GS Vinh cho rằng việc Chính phủ tập trung vào chống lạm phát một cách quyết liệt sẽ để lại hậu quả lâu dài cho các doanh nghiệp vốn sẽ mất nhiều thời gian để phục hồi trở lại.

"Chúng ta phải có giải pháp dài hơi chứ không phải giải pháp tình thế như hiện nay vốn chỉ tập trung vào ưu tiên ngắn hạn là chống lạm phát," ông nói.

Tuy nhiên GS Vinh cũng thừa nhận là rất khó để cân bằng giữa các mục tiêu chống lạm phát và phát triển sản xuất.

"Hiện nay cả Chính phủ và các doanh nghiệp đều đang cố gắng hết sức để chống chọi với tình hình khó khăn," ông nói.

Giảm đầu tư công


Doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn để tiếp cận vốn ngân hàng

Về tình hình thắt chặt đầu tư công theo Nghị quyết 11 của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội, GS Vinh cho biết trên thực tế không làm được bao nhiêu.

"Đầu tư công của Việt Nam rất lớn, đến hơn 90.000 tỉ, trong khi chỉ cắt giảm được khoảng 3%," ông nói.

"Đây là công việc mất nhiều thời gian xem xét để quyết định cắt giảm dự án nào ở địa phương nào," ông nói thêm, "Nếu không sẽ cắt giảm những dự án cần thiết cho những địa phương nghèo trong khi vẫn giữ nguyên những dự án không hiệu quả."

GS Vinh cho biết hiện ông chưa thấy tín hiệu gì khả quan của nền kinh tế Việt Nam cả và ít nhất phải đến năm 2013 hoặc 2014 thì kinh tế Việt Nam mới có triển vọng sáng sủa trở lại.

"Trong khi đó thì người dân Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục mua vàng," ông nói.

GS Vinh cũng nhận định là Chính phủ Việt Nam sẽ không phá giá tiền đồng một lần nữa mặc dù có thể sẽ nới rộng biên độ tỷ giá để hỗ trợ xuất khẩu.

Trong khi đó, GS Hà Huy Thành, nguyên viện phó Viện kinh tế học thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, có một cái nhìn lạc quan hơn GS Hà Tôn Vinh.

Theo GS Thành, giá vàng tăng sẽ không ảnh hưởng gì nhiều đến đời sống của người dân Việt Nam.

Ông cũng dự đoán rằng từ bây giờ đến cuối năm 2011, giá cả cũng không tăng gì đột biến. Tuy nhiên, mục tiêu lạm phát theo như Quốc hội đề ra thì không thực hiện được.

"Chính phủ đang quyết tâm kiềm chế lạm phát, nhưng mục tiêu tăng trưởng thì chắc chắn không đạt được như kế hoạch dù tôi hy vọng là sẽ không giảm nhiều lắm," ông nói.

Giá xăng có thể tăng

Về giá xăng dầu, GS Thành cho biết có thể sẽ tăng nhưng theo hướng không tạo cú sốc cho thị trường vì giá xăng dầu hiện nay đã được điều tiết theo thị trường nhưng vẫn có sự điều chỉnh của Chính phủ.

“Xây dựng cơ bản, nhà công vụ và mua sắm ô-tô cho các bộ ngành cũng giảm nhiều”

GS Hà Huy Thành, nguyên viện phó Viện kinh tế học

Ông cũng dự đoán là trong nhiều tháng tới giá điện sẽ không tăng vì Chính phủ đã dứt khoát nói không với đề xuất tăng giá của Tập đoàn điện lực Việt Nam.

Ông nói những khó khăn của kinh tế thế giới hiện nay mặc dù lớn nhưng cũng không thể làm cho nền kinh tế Việt Nam chao đảo hay sụp đổ được.

Về tình hình đầu tư công, ông cho rằng Chính phủ Việt Nam đang thực hiện rất quyết liệt.

"Xây dựng cơ bản, nhà công vụ và mua sắm ô-tô cho các bộ ngành cũng giảm nhiều," ông nói.

Theo chỉ tiêu Quốc hội đề ra cho năm 2011 trong phiên họp tháng 11 năm ngoái, thì lạm phát được khống chế dưới 7% còn mục tiêu tăng trưởng trong khoảng từ 7 đến 7,5%.

Sau đó, Chính phủ đã hai lần điều chỉnh giảm mục tiêu tăng trưởng xuống lần lượt là 6,5 và 6% trong năm nay.

Trong bản báo cáo về nền kinh tế toàn cầu vừa mới công bố, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2011 là 5,8% còn lạm phát cả năm là 19%.

IMF dự kiến đến năm 2012, lạm phát của Việt Nam sẽ giảm còn 12% và tăng trưởng kinh tế sẽ nhích lên 6,3%.


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Dân mất đất ở Trung Quốc bạo loạn

Posted: 23 Sep 2011 02:33 PM PDT

bbc
Nông dân Trung Quốc
Nhiều nông dân Trung Quốc đã mất đất cho các dự án bất động sản

Bạo loạn đã bùng nổ ở một thành phố miền nam Trung Quốc khi người dân phản đối chính quyền bán đất.

Các viên chức địa phương ở thành phố Lục Phong thuộc tỉnh Quảng Đông cho biết những kẻ bạo loạn đã làm bị thương cảnh sát và làm hư hại các tòa nhà chính phủ trong hai ngày bạo loạn.

Theo tin tức từ báo chí địa phương, hàng ngàn người dân đã tham gia vào một cuộc bạo loạn ở làng Vũ Khang thuộc thành phố Lục Phong.

Tuy nhiên, các quan chức địa phương cho biết chỉ có vài trăm người tham gia vào cuộc bạo loạn.

Nhật báo tiếng Anh Bưu điện Hoa Nam buổi sáng có trụ sở ở Hong Kong đưa tin những người bạo loạn đã tấn công một trụ sở của Đảng Cộng sản, một đồn cảnh sát và một khu công nghiệp và những nơi khác.

Những người bạo loạn cho rằng các quan chức đảng địa phương đã bán đất của họ cho các công ty phát triển bất động sản, theo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng.

“Chúng tôi rất tức giận bởi vì chúng tôi không còn đất để sinh sống nữa”

Nông dân biểu tình

Các đoạn video trên các diễn đàn internet chiếu hình ảnh các dân làng tuần hành với biểu ngữ “Hãy trả lại đất đai của tổ tiên chúng tôi”.

Trong một thông cáo, chính quyền địa phương cho biết mặc dù tranh chấp đất đai là nguyên nhân ban đầu làm bùng phát bạo loạn, nhưng những tin đồn rằng cảnh sát đã giết chết một trẻ em càng làm cho người dân thêm giận dữ.

"Vào khoảng 1 giờ chiều ngày 22/9, một số dân làng chưa rõ động cơ đã loan tin cảnh sát bắn chết một trẻ em, kích động một số dân làng tấn công một đồn cảnh sát," thông cáo viết.

Các quan chức địa phương cho biết 12 cảnh sát đã bị thương và sáu xe cảnh sát đã bị đốt. Người dân nói một số người biểu tình cũng bị thương.

Phóng viên BBC Michael Bristow ở Bắc Kinh cho biết mỗi tuần hàng trăm các cuộc bạo loạn và phản đối như thế xảy ra khắp Trung Quốc. Phần lớn chỉ có quy mô nhỏ và chỉ xoay quanh những bất bình địa phương.

Một trong những lý do chính khiến họ bất bình là các quan chức tham nhũng thông đồng với các nhà đầu tư bất động sản để bán ruộng đất của nông dân mà không bồi thường đầy đủ cho họ.

Phóng viên Reuters có mặt ở Lục Phong hôm thứ Sáu 23/9 cho biết vài trăm người vẫn đang tiếp tục bên ngoài các trụ sở chính quyền địa phương, kêu gọi chính quyền trả đất cho họ.

“Chúng tôi rất tức giận bởi vì chúng tôi không còn đất để sinh sống nữa," một nông dân nói.

Cảnh tượng căng thẳng nhưng không có bạo lực. Những người phản đối đã dùng xe gắn máy và chất gạch vụn thành đống để phong tỏa đường sá.

Trung Quốc có luật để bảo vệ nông dân, nhưng thường không được tôn trọng ở cấp chính quyền cơ sở.

Trong bài diễn văn khai mạc kỳ họp của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) hồi đầu năm, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã cảnh báo rằng nếu Trung Quốc muốn đảm bảo ổn định xã hội nước này cần giải quyết các vấn đề tham nhũng và bất bình đẳng kinh tế.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

Philippines kêu gọi ASEAN đoàn kết về Biển Đông

Posted: 23 Sep 2011 02:33 PM PDT

vnexpress
Philippines kêu gọi các nước ASEAN cùng đoàn kết giải quyết và giảm căng thẳng tại Biển Đông, thông qua cuộc hội thảo quốc tế về vấn đề này đang diễn ra tại thủ đô Manila.
> Philippines tổ chức hội thảo quốc tế về Biển Đông

Tàu của ngư dân Lý Sơn neo đậu tại cảng chờ ra khơi đánh bắt thủy sản. Ảnh: Trí Tín

Lời kêu gọi được Phó tổng thống Philippines Jejomar Binay đưa ra khi ông tiếp xúc với các chuyên gia luật hàng hải tại hội thảo quốc tế về Biển Đông ở Manila hôm qua. “Philippines không phải là nước duy nhất phải chịu những sự hiểu lầm liên tiếp và những ý đồ nhằm làm tổn hại quyền lợi hợp pháp tại Biển Đông”, AFP dẫn lời ông Binay nói với các đại biểu tại hội thảo.

Philippines coi cuộc gặp gỡ của các chuyên gia pháp lý tại nước này là nỗ lực nhằm tạo nên một mặt trận ASEAN đoàn kết nhằm đối phó với những diễn biến ngày một căng thẳng gần đây tại Biển Đông. Phó tổng thống Binay khẳng định kế hoạch của Philippines tập trung vào việc chỉ ra những vùng có tranh chấp tại Biển Đông, nơi mà các quốc gia có liên quan có thể đồng ý cùng hợp tác phát triển. Trong khi đó, những vùng không có tranh chấp sẽ thuộc đặc quyền riêng của những nước sở hữu chúng.

“Bằng cách làm như vậy, bế tắc vốn ngăn cản các nước liên quan trong việc đẩy nhanh hợp tác tại Biển Đông sẽ được hóa giải hoàn toàn”, phó tổng thống Philippines nhận định. “Từ góc nhìn của Philippines, điều này sẽ thực sự biến Biển Đông từ một điểm nóng tiềm ẩn trở thành một vùng hòa bình, tự do, hữu nghị và hợp tác”. Dù vậy, ông Binay cho rằng quá trình giải quyết tranh chấp có thể kéo dài hàng thế kỷ.

Sau bài phát biểu tại hội thảo, khi được hỏi liệu sự ủng hộ của các quốc gia ASEAN đối với kế hoạch của Philippines có khiến Trung Quốc phải cân nhắc các động thái tiếp theo tại Biển Đông hay không, ông Binay đáp rằng Manila “lạc quan về điều đó”.

Ghi nhận sau các phiên trao đổi đầu tiên tại hội thảo quốc tế về Biển Đông ở Manila cho thấy tất cả các đại biểu đều nghiêng về việc ủng hộ đề xuất của Philippines. Họ cho rằng đề xuất này phù hợp với luật pháp quốc tế. Các chuyên gia luật hàng hải của các nước ASEAN sẽ thúc giục các nước liên quan nhanh chóng gặp gỡ, để sớm làm rõ khả năng đưa ra định nghĩa về các vùng tranh chấp có thể tiến hành hợp tác chung.

Theo một văn bản được Bộ Ngoại giao Philippines công bố, Philippines đã nêu rõ đề xuất về một vùng hòa bình có thể được thiết lập trong khu vực hợp tác chung (JCA). “Đó sẽ là sự thực hiện cụ thể của quy tắc ứng xử (COC) và là sự khởi đầu cho một quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn tại Biển Đông”, văn bản của Bộ Ngoại giao Philippines có đoạn.

Văn bản của Bộ Ngoại giao Philippines còn cho rằng COC sẽ được áp dụng một cách đặc trưng trong JCA, và có thể được thiết kế để ngăn ngừa các cuộc giao tranh thông qua những quy tắc cụ thể về sự cam kết giữa các bên liên quan. Bộ Ngoại giao Philippines cho rằng JCA có thể sẽ là một vùng phi quân sự hóa, với cảnh sát hoặc các nhân viên bảo vệ bờ biển thay cho các binh sĩ quân đội.

Trong khi đó, AP dẫn lời hai nhà ngoại giao Philippines cho biết Bắc Kinh phản đối cuộc hội thảo của các chuyên gia luật hàng hải 10 nước ASEAN diễn ra trong hai ngày tại Manila. Trung Quốc cũng đặt câu hỏi tại sao ASEAN lại cùng giải quyết các tranh chấp trong một khối, khi phần lớn các thành viên của hiệp hội này không phải là các bên liên quan tại Biển Đông, hai nhà ngoại giao giấu tên cho biết thêm.

Hội thảo về Biển Đông được tổ chức để tạo diễn đàn thảo luận đề xuất của Philippines về một Khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác (ZoPFF/C), nhằm giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông. Cuộc gặp gỡ này còn được dựa trên quyết định của các bộ trưởng ngoại giao ASEAN trong Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 44 tại Bali, Indonesia, hồi tháng 7 năm nay.

Kết quả của hội thảo sẽ được báo cáo lên Hội nghị các quan chức cấp cao ASEAN (SOM), để từ đây các kiến nghị sẽ được trình lên cho các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN xem xét trước Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 19 diễn ra tại Bali, Indonesia, vào tháng 11/2011.

Phan Lê


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

No comments:

Post a Comment