Đọt Chuối Non |
- Họp Mặt Lần Cuối
- Tích cực vô điều kiện
- Người làm phim hãy nên biết “sợ” điện ảnh
- Chiếc vòng đeo tay
- Ngôi chùa gần 30 năm nuôi dạy trẻ bị bỏ rơi
- Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô đang bị tàn phá
- Hoá chất tràn ra môi trường tại công trình bôxít Tân Rai: Sự cố nhỏ, thiệt hại lớn!
| Posted: 25 Sep 2011 01:08 PM PDT
Mai chúng ta giã biệt người ơi! Tâm sự đi những gì chưa nói Câu ca này và tiếng thơ ngâm Mình mang một nỗi buồn xa xăm. Cùng chúc nhau những lời gì đây Tôi nghe bài hát ''Họp mặt lần cuối'' của nhạc sĩ Song Ngọc trong đĩa Paris By Night 103 chủ đề Tình sử trong âm nhạc Việt Nam, cũng gần lúc tôi chuẩn bị làm lễ tốt nghiệp đại học, và cũng gần buổi ''họp mặt lần cuối'' của lớp trước khi mỗi đứa mỗi ngả lưu vào cuộc mưu sinh. Lời nhạc có ''già'' và sâu hơn tình thế thật của tôi, vì nhạc sĩ Song Ngọc viết bài hát vào những năm thập niên 60, cho lứa thanh niên trí thức lúc rời trường lớp, cũng như tôi, nhưng mang nặng nỗi buồn tri âm hơn so với lứa bạn bè trẻ trung, hồn nhiên như chúng tôi ngày nay. Ở nhà tôi cũng hay nghe ba tôi kể về tình bạn học trò của giới trí thức trẻ trước giải phóng ngày xưa, và cũng được đọc những cuốn kỉ yếu của các cô chú bác lứa tuổi ba tôi viết lại thời đi học và chia tay ngày xưa, thấy nó buồn da diết hơn, và có gì trưởng thành hơn lứa tuổi tôi và mấy đứa bạn bây giờ. Chắc vì ngày đó vật chất không đầy đủ, tình cảm con người là thứ đáng trân trọng nhất, và cũng vì thời đại của giới thanh niên trẻ phải chịu nhiều áp lực của đất nước chia đôi xẻ dọc, cái nỗi sầu thời đại nó ngấm vào người những con người thời đó nên khi đọc lại văn thơ, kí truyện của lớp người xưa đó, bao giờ tôi cũng gặp nỗi buồn man mác của con người trước thế sự nhiễu nhương. Bài hát ''Họp mặt lần cuối'' của nhạc sĩ Song Ngọc viết cho lứa tuổi học trò, sinh viên chia tay nhau khi rời trường, xa lớp, nhưng nó buồn vì thời đó đất nước loạn lạc, lại chẳng hiện đại như bây giờ, bạn bè chia xa nhau rồi khó trông ngày gặp lại được, như trong lời nhạc có chỗ ''Anh về nơi cuối trời thương nhớ – Riêng tôi ngược về chốn kinh đô'', dường như sau những cuộc chia li ngày ấy, con người, bạn bè sẽ rất khó có dịp được gặp lại nhau hàn huyên, hay cùng ôn lại những kỉ niệm xưa một thời mài ghế nhà trường và chia nhau dăm ba cuốn sách. Còn bây giờ, lứa tuổi trẻ của tôi, bạn bè có xa nhau rồi thì cũng dễ dàng gặp lại, không ngoài đời thì cũng trên mạng, internet, điện thoại, đủ cách liên lạc trên đời. Cuộc sống bây giờ đầy đủ hơn nhiều nên con người cũng có nhiều niềm quan tâm mới, tình bạn được mở rộng xuyên biên giới với một vòng mắt xích có quá nhiều người, không dễ gì mà chăm chút được cho tốt những mối quan hệ đặc biệt với những người bạn chí cốt như thời xưa ấy còn ít ỏi bạn bè. Tôi nghe ''Họp mặt lần cuối'' mà tưởng nhớ lại một thời xa xăm nào đó với cái siết tay nồng ấm với bạn, và hoa phượng hồng rơi lả tả réo gọi một mùa hè chia li nào.
Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa | ||||
| Posted: 25 Sep 2011 01:06 PM PDT Chào các bạn, Các bạn nên nhớ rằng 3 điều này chẳng có gì là mới mẻ cả, tất cả các trẻ em của Việt Nam và của thế giới đều đã được bố mẹ thầy cô dạy như thế. Thế thì cách sống của chúng ta có gì lạ? Thưa, có. Đa số thiện hạ sống kiểu có điều kiện, có qua có lại, và chúng ta sống ở một mức hiểu biết sâu thẳm hơn về trái tim linh thiêng (tâm linh) của con người, và ta thực hành tích cực vô điều kiện. • Khiêm tốn: Đa số mọi người khiêm tốn với người hơn họ (xếp, chủ, bố mẹ, thầy cô…) và kiêu căng với người thấp hơn và ngang hàng (oshin, người bán hàng rong, nhân công, người nghèo, người làm thuê làm mướn, người hành khất…. đôi khi với cả bạn bè của mình). • Thành thật: Đa số mọi người thành thật khi họ thích thành thật, và nói dối khi họ thích nói dối, nhất là khi họ nghĩ rằng nói dối có được lợi ích gì đó cho họ, hoặc họ nói thật với người nói thật và nói dối với người nói dối… • Yêu người: Đa số mọi người yêu người yêu mình, ghét người ghét mình; yêu người làm lợi cho mình, ghét người làm hại cho mình; yêu người nằm trong loại mình thích, ghét người nằm trong loại mình ghét… Người tư duy tích cực của chúng ta sống ở một tầng tâm linh sâu thẳm hơn: Ta khiêm tốn, thành thật và yêu người với tất cả mọi người, ở tất cả mọi nơi, và tất cả mọi lúc. Đó là con đường của các thánh nhân. Các thánh nhân thực ra thì cũng chỉ là người phàm mắt tục như chúng ta, không hơn ta được một cọng lông. Các vị chỉ chọn đi con đường của các thánh nhân mà thôi. Ngày nay đến lượt chúng ta cũng thế. Một trong những lý do con đường tâm linh sâu sắc là con đường chúng ta phải đi là: Chúng ta học hành rất mệt, xong cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ… nhưng tại sao ta lại có tác phong kiểu con nít hay trộm cướp cũng làm—khiêm tốn hay kiêu căng tùy theo người, thành thật hay dối trá tùy theo lợi, yêu người hay ghét người tùy theo cảm. Tại sao? Nếu ta đã tốn công ăn học nhiều đến thế tại sao không sống kiểu xứng đáng với công lao ăn học đó, bước lên con đường sống với thái độ và tác phong cao hơn kiểu ngoài đường một bậc? Lý do khác để chúng ta chọn con đường sống tâm linh sâu sắc là thế giới quanh ta có quá nhiều vấn đề với những người địa vị và bằng cấp thì cao, nói thì hay, nhưng trái tim thì không trưởng thành hơn teen một chút nào (Thực ra là trái tim họ còn tệ hơn trái tim trong sáng của đa số teen). Thế giới cần những trái tim vững mạnh và trong sáng để phục vụ thế giới. Cho nên các bạn nhớ, chúng ta không chỉ tư duy tích cực kiểu "ta phải thành công, ta phải thành công". Chúng ta đặt thành công trên căn bản tích cực vô điều kiện—tức là khiêm tốn, thành thật và yêu người vô điều kiện, mọi nơi, mọi lúc, với tất cả mọi người. Chúc các bạn một ngày tích cực vô điều kiện. Mến, Hoành © copyright 2011 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | ||||
| Người làm phim hãy nên biết “sợ” điện ảnh Posted: 25 Sep 2011 01:05 PM PDT
Nhân xem bộ phim “Bi, đừng sợ”
“Điện ảnh là một vũ khí nguy hiểm nhưng cũng tuyệt vời biết bao trong tay của các nhà thơ…” ( Jean Cocteau – đạo diễn Pháp )
Thành công về mặt nghề nghiệp của bộ phim này cùng những bất cập của nó về nội dung tư tưởng đã được nhiều cây bút phê bình chuyên và không chuyên, của không ít người trong nghề lẫn đông đảo khán giả vạch ra khá cụ thể. Tôi chỉ xin làm công việc điểm báo, trích lại đôi ba dẫn chứng từ hàng ngàn ý kiến đã được đăng tải trên nhiều báo chí, trang mạng ( Để bài viết đỡ lòng thòng, xin phép không ghi tên người viết và xuất xứ đoạn trích). Khen nhiều: - “Bi, đừng sợ” có những khuôn hình đẹp và những góc quay tinh tế gây ấn tượng sâu sắc về mặt thị giác. Trạng thái tâm lý tình cảm giữa các nhân vật… cũng được khai thác tới tận cùng bằng những hình ảnh mạnh. ” - “Nỗi dày vò, bứt rứt của người cô và sự nhẫn nại, tấm tức bên trong của người mẹ được lột tả qua những suy nghĩ, hành động đầy táo bạo đến rùng mình. “Bi, đừng sợ” ví von những mối quan hệ tình cảm của con người giống như viên nước đá – có thể chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác để rồi sau đó tan chảy và biến mất vào hư không.” - ” Những hình ảnh trên phim trong veo, như một dòng chảy chậm, phản ánh cuộc sống như chính nó đang diễn ra. Diễn viên cũng sống thật, thoải mái trong không gian thật của cuộc sống. Phan Đăng Di đã chuyển tải hình ảnh bằng một góc máy dài để người xem có thể tự do đảo mắt nhìn xung quanh, quan sát và cảm nhận cuộc sống của các nhân vật; mọi góc cạnh của cuộc sống khách quan và thật nhẹ nhàng như những gì diễn ra trong cuộc sống hằng ngày, lặng lẽ như mọi việc, mọi vật vốn vậy" - ” Những con người như thế, vừa an phận, vừa mong manh chờ đợi để duy trì gia đình, duy trì đời sống. Trong quan niệm chung, đời sống cần được tiếp nối, trôi chảy, nhưng với họ, chẳng biết thế nào – có lẽ đó chỉ là nghĩa vụ!” - ” Những hình ảnh còn thể hiện tính bức bối rõ ràng thông qua việc dàn cảnh có phần méo mó và ánh sáng mù mờ, chỉ phản chiếu nhân vật giữa một phông nền đen.” - “Bi đừng sợ” không “truyền thống” kiểu phải có bài học rút ra, tuyên truyền này nọ, nhưng ít nhất xét về tính sáng tạo, tôi thấy ăn đứt nhiều bộ phim khác… so với bộ phim “Đời cát” từng nổi đình nổi đám một thời và cũng đã đoạt giải tại LHP Châu Á Thái Bình Dương thì tôi thấy phim này hay hơn.” - “Phan Đăng Di đã lựa chọn một cách kể chuyện tưởng như đơn giản, nhưng thực chất, đã pha trộn một cách xuất sắc những hình ảnh tương phản, đôi lúc khốc liệt trong bộ phim của mình.” - “Cái tôi quan tâm là bộ phim đã tạo ra cái cảm giác rất chân thực. Nó nhắc lại cho tôi một lần nữa rằng tôi đang sống trong một môi trường như thế, tôi phải sống như thế nào, và, sau này, con cái của tôi nên được nuôi dạy ra sao?!” - “Bộ phim không đi theo quy chuẩn điện ảnh thông thường, mà hướng vào việc tạo ra cảm giác trong từng cảnh quay.” - ” Có thể thấy trong mỗi khuôn hình, sự cầu kỳ, chỉn chu của đạo diễn. ” - “Bộ phim được dựng cắt, chuyển cảnh một cách đột ngột, như thể chuyển từ trạng thái cảm xúc này qua trạng thái cảm xúc khác, như thể mô tả bản chất thực sự của cuộc sống, của tình cảm của con người. Đạo diễn cũng cố tình lảng tránh các yếu tố cơ bản để tạo nên kịch tính, không đặt nhân vật trước trước thử thách để họ phải giải quyết, không giải thích những biến chuyển tâm lý của họ…” - “đi ngược với số đông “bình dân học vụ”. - “Tôi nghĩ phim này là một cái tát vào những lới mòn của tư duy cũ kỹ và đạo đức giả.” - “Bộ phim không đi theo quy chuẩn điện ảnh thông thường, mà hướng vào việc tạo ra cảm giác trong từng cảnh quay.” - “Thế nhưng, cái mà Bi, Đừng Sợ tạo ra chính là những cảm giác rất hiện thực nhưng đồng thời cũng rất khó giải nghĩa trong các mối quan hệ của con người, thông qua việc trộn lẫn nhiều câu chuyện của nhiều nhân vật vào với nhau, gói ghém vào chung một gia đình. “ - “dù bộ phim như một sự thách thức với những khán giả chưa có điều kiện tìm hiểu sâu, nhưng hy vọng sau những bộ phim như thế này, văn hóa xem phim của khán giả Việt Nam sẽ được nâng cao hơn nữa.” Và chê cũng lắm: - “Đa số nhà chuyên môn đều chê “Bi, đừng sợ”, thậm chí có người còn cho rằng nó như một "cú tát vào mặt khán giả" - "Phim phản ánh một đời sống quá đen tối và bức bối của tầng lớp thị dân, xoay tròn trong một gia đình mà tất cả các giá trị truyền thống đang bị phá vỡ. Những con người bình thường tự đi vào ngõ cụt cảm xúc của họ và không có lối ra". - "Xem phim chẳng thấy giống con người Việt Nam gì cả. Những con người như thế không tiêu biểu ở miền đất vốn dĩ rất luôn coi trọng nề nếp, nền tảng gia đình như Hà Nội". - "Bi, đừng sợ” đã rơi vào chủ nghĩa tự nhiên, theo góc nhìn phiến diện của đạo diễn về cuộc sống, hoàn toàn xa lạ với nghệ thuật. Điện ảnh có quyền chọn thể hiện cái cá biệt nhưng nó phải phản ánh được cái chung". - “Thật đáng thất vọng… xem phim xong tôi cảm thấy sợ thực sự, sợ cho con cháu mình, cho những thế hệ sau của chúng tôi, nếu như chúng vô tình xem phim này, nếu như chúng sống và lớn lên trong một xã hội mà giá trị đạo đức suy đồi, điên đảo và nhớp nhúa đến vậy…” - “Bôi nhọ luân thường đạo lý trong quan hệ gia đình, giữa cha – con, vợ – chồng, bố chồng – con dâu, quan hệ giữa chủ và người làm thuê ghê tởm, bôi nhọ hình ảnh cao quý của nghề giáo bằng nhân vật cô giáo Hương, một xã hội tối tăm và nhơ bẩn nhất dưới gầm cầu … Bằng những hình ảnh trần truồng như nhộng, tục tĩu như phim khiêu dâm…rồi cuối cùng lại chẳng nói lên được điều gì…” - “Đừng sợ, đừng sợ cái gì, đừng sợ thì cũng thật lạ đối với những tâm hồn trong trẻo, trẻ thơ như Bi, khi những điều đó làm chúng tôi, đã hai phần ba tuổi đời trải nghiệm… quá khiếp sợ!” - “Xã hội mà chúng ta đang sống có thể có những điều xấu xa đó, nhưng cũng chỉ là một số rất nhỏ hiếm hoi trong những điều tốt đẹp đang diễn ra hàng ngày, thì tại sao những thứ nhỏ mọn xấu xa đó được đưa lên phim như đại diện của những con người đang sống ở Thủ Đô Hà Nội nói riêng, người Việt Nam nói chung…” - “xin thú thật là tôi chẳng hiểu nội dung phim nói gì ? Diễn biến, cốt truyện của phim rời rạc, những tình huống nhạy cảm trong phim rất “phô” và phải nói là rất dung tục.” - “Thất vọng Bi, đừng sợ! … Điểm sáng duy nhất cho bộ phim chỉ có thể là nhân vật Bi (diễn viên nhí Phan Thành Minh) với gương mặt thơ ngây, trong trẻo trước tất cả mọi thay đổi của cuộc sống.” - "Bi, đừng sợ” đã bóp méo sự thật, không coi trọng con người. Phản ánh hiện thực cuộc sống phải làm sao để khán giả có thể nhìn thấy họ trong đó nhưng xem phim, khán giả không chia sẻ được với đạo diễn mà chỉ cảm thấy con người đang bị xúc phạm đến tận cùng. Không ai phản ứng chuyện điện ảnh nêu lên những vấn đề về tình yêu, tình dục và phản ánh nó bằng ngôn ngữ điện ảnh mượt mà, bằng những tư tưởng lớn lao, nhưng ở phim này, tôi chẳng thấy được ở chỗ nào cả". - “Bức bình phong "giải thưởng quốc tế"… Một bộ phim khi đã nhận được nhiều giải thưởng quốc tế thì nghiễm nhiên chiếm một "vị thế" nhất định, ngay cả khi nó khó hiểu cũng không nhiều người dám "nói thẳng, nói thật". Tâm lý chung này đã vô tình mặc định cho những bộ phim "xem không hiểu được, không cảm được" trở thành tác phẩm "có tư tưởng lớn". - “Nó hoàn toàn chẳng có gì Việt Nam và chỉ xoay quanh mỗi vấn đề tình dục… hiện thực cuộc sống có hàng trăm, ngàn thứ cần quan tâm, không hiểu sao các đạo diễn chỉ bám vào “tình dục thô thiển” chả lẽ chẳng còn gì để phản ánh sao? chả lẽ người dân Việt Nam từ già trẻ bé lớn đàn ông đàn bà chỉ chăm chăm mỗi chuyện đó sao?” - “Thế nhưng bạn không bao giờ có thể đi dạy cho người xem biết là cái này hay lắm, được nhiều giải lắm để người ta cũng đồng cảm với mình… mà chỉ có thể chứng minh bằng tự tác phẩm đó có thể có. Mọi người không thể bới đống bùn ra mà tìm viên ngọc mà bạn cho là có được.” - “Phim cũng là lĩnh vực kinh doanh, tôi cho những ai làm phim có các cảnh tình dục đều là hành vi lợi dụng tình dục vào mục đích kinh doanh cả thôi. Nó giống với các web xex. “ - “Xem phim chẳng thấy giống con người Việt Nam gì cả. Phim đã bóp méo sự thật, không coi trọng con người. Phim đã rơi vào chủ nghĩa tự nhiên, theo góc nhìn phiến diện của đạo diễn về cuộc sống, hoàn toàn xa lạ với nghệ thuật. Phim gây sốc vì cảnh "nóng…” - “Nếu coi mỗi cảnh phim là một viên gạch thì Bi, đừng sợ giống như một đống gạch chứ không phải cái người ta mong muốn có thể nương náu, thỏa mãn – một ngôi nhà…” - “Những nhân vật trong phim với câu chuyện lập lờ thiên về bề mặt của mình, chứ không phải lấp lửng hóa như một thủ pháp, hoàn toàn không có khả năng gợi lên bất cứ sự đồng cảm nào từ người xem.” - “Ở đây, chênh vênh một ranh giới giữa việc thể hiện trẻ con đúng tâm sinh lý, đặc điểm tính cách của chúng và từ đó đạt hiệu quả truyền tải, với sự gượng ép, cố “nặn” ra một đứa trẻ mang những ngôn ngữ, cử chỉ như của “người lớn dạy”, để rồi trông thì có vẻ thật mà hoá ra là “trẻ con giả”. *** Có thể nói: hầu hết những ý kiến đánh giá, khen chê tràn ngập công luận kể từ lúc phim ra đời tới nay- thậm chí kể cả những ý kiến có động cơ tô vẽ quảng cáo hoặc có động cơ trù ghét đố kị, xét cho cùng, đều chứa đựng hạt nhân sự thật. Thế nhưng, đâu mới là chân lý cuối cùng? Cần nhận định thế nào cho thật khách quan về tác phẩm này? Điều trước tiên, tôi muốn khẳng định ngay là: bộ phim “Bi, đừng sợ”, đứng về mặt đẳng cấp nghề nghiệp đã vượt trội so với nhiều phim Việt từng giành giải Bông sen vàng Quốc gia hoặc gặt hái những giải thưởng Quốc tế (Tôi không muốn so sánh với những phim đang “hot”và lấy được nhiều nước mắt khán giả gần đây, ví như “Cánh đồng bất tận”- một bộ phim làm theo kiểu mélodram hạng tồi nhất!) Những nhận xét về về thủ pháp điện ảnh chứng tỏ đẳng cấp đó của đạo diễn Phan Đăng Di qua mấy trích dẫn trên theo tôi là đã khá chuẩn xác và đầy đủ, tôi xin miễn phải bàn thêm. Một người bạn đạo diễn trẻ của tôi từng học qua trường điện ảnh của Pháp (Index) từng kể cho tôi nghe: ở bên đó, những đạo diễn trẻ có dự án hay ý tưởng sáng tác độc đáo đều được nhà nước ủng hộ, họ đều có thể có điều kiện quay lên tất cả những gì họ nghĩ ra. Song, đến khâu hậu kỳ- nghĩa là dính dáng tới guồng máy kinh doanh điện ảnh thì số phim được hình thành chỉ dưới 10%! Như vậy, trường hợp của Phan Đăng Di- một nhà làm phim độc lập nước ta là rất đáng nể, vì chỉ với số tiền thưởng LHP quốc tế Pusan về kịch bản và chạy vạy tìm thêm nguồn kinh phí từ các nhà tài trợ trong – ngoài nước, đạo diễn Phan Đăng Di đã đã thực hiện được một phim hoàn chỉnh, lại được gửi tới tham dự LHP Cannes lần thứ 63 và mang về cho điện ảnh Việt Nam giải thưởng Kịch bản hay nhất tại LHP này. Nhưng, phim chỉ được giải về kịch bản mà không được giải về phim hoặc về đạo diễn! Đây chính là điều đã không được nói đến – vô tình hay cố tình. Chưa kể, như một nhà phê bình& biên kịch điện ảnh có uy tín là Đoàn Minh Tuấn đã cho biết: "Các phim tố cáo hiện thực nêu lên những mặt trái của xã hội, những nghiệt ngã của con người lại rất thường được phương Tây trao giải. Các phim dạng này cũng không hiếm ở nhiều nước: Nga, Ba Lan, Cộng hòa Czech… Nhưng sẽ khó mà thấy được tương lai của đạo diễn nếu như mải theo đuổi dạng phim kiểu này". Còn khi đạo diễn kỳ cựu Nguyễn Vinh Sơn nhận xét: “Có thể thấy Phan Đăng Di nhập vào dòng phim hiện thực với những chuẩn mực của nó”, thì bất chợt chúng ta phải đặt câu hỏi: đó là dòng phim hiện thực nào? Theo kiểu Tân hiện thực Ý hay Làn sóng mới của Pháp? Hay Hiện thực XHCN mà người ta đã nói tới nhàm và thực ra cũng chẳng còn nội dung nghiêm túc thực sự? Và cái chuẩn mực đó là gì? Lấy gì làm thước đo, làm tiêu chuẩn? Đã trót đả động tới cái gọi là “chuẩn mực” thì cũng nên bàn cho ra nhẽ một chút! Đạo diễn Michelangelo Antonioni ( một trong những nhà cách tân sáng giá của điện ảnh Italia giữa thế kỷ trước, thuộc thế hệ khai phá chủ nghĩa Tân hiện thực) trong bộ phim “Sa mạc đỏ” nổi tiếng (sản xuất năm 1964) đã mổ xẻ một cách thấm thía sự cô đơn trong tâm hồn con người, sự tách rời giữa tâm hồn và trí tuệ, giữa cá nhân con người với quan hệ ruột thịt và cội rễ gia đình- khi các giai tầng xã hội phân chia sâu sắc và nền văn minh kỹ trị bắt đầu thống trị tất cả; cùng hàng loạt các phim của ông đều tỏ rõ thái độ bênh vực những con người nghèo khổ bất hạnh, căm thù tội ác và sự thối nát xã hội. Chính thái độ dứt khoát trong cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa nhân văn và phi tính người đã khiến sự nghiệp nghệ thuật của ông chói sáng trong nền điện ảnh thế giới. Cũng thuộc nền điện ảnh Italia, đạo diễn Bernado Bertoluci có lần tranh luận với đồng nghiệp là đạo diễn Pháp Gean-Luc Godard: “Tại sao không có can đảm đứng cách xa với nguyên mẫu của anh, chấm dứt chuyện liên tục lặp lại những nhiễu loạn thần kinh mà hãy đối diện với số đông khán giả của mình?” Trên thực tế, Bertoluci đã đem một thứ điện ảnh giàu tính nhân văn tới đông đảo công chúng toàn thế giới- những tác phẩm mãi mãi làm rung động lòng người, như “Bản tăng-gô cuối cùng ở Paris”, “Thân phận con người”, “Hoàng đế cuối cùng”, “Tiểu Phật”… là những minh chứng rực rỡ của một nghệ thuật độc đáo và luôn quan tâm đến số phận con người ở bất kỳ tầng lớp nào, ở bất kỳ hoàn cảnh sống nào. Ingmar Bergman, đạo diễn Thụy Điển lại ưa dùng hình thức ngụ ngôn giàu bản sắc vùng Bắc Âu để thể hiện những vấn đề thời đại cấp bách, mà cấp bách nhất đối với người đạo diễn tài ba này chính là phải bảo vệ con người và môi trường sinh thái- văn hóa xung quanh con người, giữa khi tràn ngập chứng ngủ lịm về đạo đức, sự lên ngôi của bản chất giáo điều, thói nhẫn tâm, khi sự dửng dưng nguội lạnh trước thân phận con người được che đậy bằng các thứ mặt nạ. Bergman coi điều nguy hiểm chính của xã hội là những quan điểm chỉ vì cái quyền lợi cục bộ của một nhóm người mà bất chấp mọi sự sống khác của số đông người… Trong bộ phim được trao giải Oscar: “Fanni và Alekxandr”, những nhân vật nhỏ tuổi có tâm hồn đẹp đẽ nhiều mơ ước của ông cuối cùng đã buộc phải chấp nhận cuộc đấu tranh không cân sức với những con quỷ tồn tại trong tâm hồn của tên giáo chủ độc ác Vergơrut để bảo vệ lý trí, nghị lực và những tình cảm tốt đẹp của mình… Cũng nên nhắc tới “người khổng lồ” của điện ảnh Tây Ban Nha: Louis Bunuel- người được phong danh hiệu “Nhà điện ảnh bậc thầy” tại LHPQT Venise 1969, đoạt giải Oscar phim “Ước muốn mơ hồ” năm 1977. Ông là người đạo diễn luôn luôn bị trục xuất khỏi Tổ quốc mình, nhưng trái tim mãi mãi thuộc về Tây Ban Nha bởi trong tất cả các tác phẩm của mình, ông đã kiên trì say mê khám phá nội tâm đích thực của nhân vật, chúng mang tính nhân loại nên cũng liên quan đến Tổ quốc đau thương của ông- những nhân vật mang bản chất khổ đau bởi niềm tin mù quáng, giáo điều, bởi tàn nhẫn và bất công xã hội đã ngăn cản họ làm điều thiện, đã phá hủy nguyên tắc nhân đạo mà họ lựa chọn… Ông từng tâm sự: “Tôi không thích thú làm phim về những vấn đề cá nhân, bản ngã. Tôi quan tâm đến những vấn đề đó chỉ trong trường hợp chúng tác động lên tiến triển của một tính cách chung, có liên quan đến xã hội chúng ta… Tuổi thơ, rồi thời thanh niên của tôi diễn ra dưới ảnh hưởng những chuẩn mực hư hỏng, sa đọa và những nguyên tắc của xã hội đó. Chúng đã di căn trong tôi hậu quả có thật- ấn tượng về một thế giới đầy dục vọng luôn muốn trội hơn, muốn áp đảo kẻ khác… Những luận thuyết và những nguyên tắc không sờ tới được lại có khả năng tiêu diệt rất lớn. Chính vì những nguyên tắc ấy trở thành phương tiện để áp đảo và đè nén, nên tôi cần phải nhẩy vào cuộc đấu tranh không khoan nhượng vì tự do…” Qua một vài tên tuổi lớn của điện ảnh của thế giới, chúng ta có thể nhận thấy điểm chung nhất: tài năng bậc thầy được tôn vinh ở họ chính là cái chủ nghĩa nhân văn được nung lên tới độ cháy bỏng và được thể hiện một cách kỳ lạ trong những hình thức có một không hai; và tôi chỉ muốn góp phần khẳng định thêm cái điều hiển nhiên này: người nghệ sĩ cần sự độc đáo, cần vươn tới sự hoàn thiện về nghệ thuật của riêng mình, song tất cả sẽ là vô nghĩa, nếu như chúng không hướng tới một cái đích cao cả là bênh vực, bảo vệ, cổ vũ con người. Người đạo diễn điện ảnh thường được coi là “thầy phù thủy” nắm trong tay biết bao số phận, mảng đời, triết lý, cảm xúc, sắp xếp chúng một cách nghệ thuật nhất, ấn tượng nhất rồi trưng ra không gian hai chiều (giờ thì đang tiến tới không gian ba, bốn chiều) khiến người xem trực tiếp khóc, cười, sau đó còn tiếp tục suy ngẫm… Nhưng cũng thực là tai hại nếu người đạo diễn tung ra những “âm binh” làm nhiễu loạn thêm cái cuộc sống vốn đang bị đảo lộn các giá trị, càng nguy hiểm hơn nữa khi người đạo diễn đó có tài! Lịch sử điện ảnh và ngành điện ảnh học thế giới từ trước tới nay không chỉ quan tâm đến diện mạo riêng chung, quy luật phát triển của nghệ thuật thứ bảy, mà còn tìm hiểu sức ảnh hưởng đối với sự hình thành nhân cách con người của một loại hình nghệ thuật mà theo học giả Georger Sadoul “là quan trọng nhất trong các nghệ thuật, đồng thời cũng là phổ cập nhất, tại các nước xã hội chủ nghĩa cũng như tại các nước tư bản chủ nghĩa…” Thực tế đã cho thấy, những tác phẩm điện ảnh có giá trị và có sức sống lâu bền trong lòng người là những tác phẩm mang nặng những suy tư về cuộc sống, về số phận con người, về giá trị và vị trí con người trong đời sống xã hội… Nghệ sĩ điện ảnh chân chính là người thù ghét những gì phản với đạo lý tự nhiên, họ miêu tả những nghịch cảnh, những xung đột tâm lý, thông qua hình tượng chân thực của những con người nhằm chống lại cái xấu, cái ác, sự giả dối và phi lý của xã hội… Cả cuộc đời hoạt động điện ảnh của nghệ sĩ thiên tài Charles Chaplin chỉ để nhằm chứng tỏ: “Hơn hết thảy mọi điều, đối với tôi, giá trị cao đẹp nhất chính là nhân phẩm con người.” Marcel Carné- một chủ soái của trường phái điện ảnh hiện thực lãng mạn Pháp đã tuyên bố hùng hồn: “Bộ phim phải là tấm gương phản ánh thời đại mình.” Đạo diễn Palesine Elia Suleiman tâm niệm: “Tôi tin điện ảnh có thể làm cuộc sống của chúng ta ít khó khăn hơn, nếu như mỗi người nghệ sĩ biết tự vấn và biết quan tâm đến số phận con người.” Nữ đạo diễn Israel Kerren Yedaya tin rằng: “Tôi quan niệm mỗi bộ phim-dù phim truyện hay phim tài liệu cần phải giúp đỡ (con người) để thay đổi điều gì đó trong xã hội”. Đạo diễn Tây Ban Nha Pedro Almodovar khẳng định: “Tôi tin rằng nếu chúng ta mang hiện thực đặt vào phim thì cũng có nghĩa là chúng ta đang tham gia cải tạo cuộc sống và giúp chúng trở nên tốt đẹp hơn.” Nhà phê bình điện ảnh Pháp Jean-Paul Torok viết về một đạo diễn lớn của Ba Lan: “Chủ nghĩa hình thức trong dàn dựng tác phẩm của Roman Polanski cũng như của các nhà điện ảnh lớn bao giờ cũng phản ánh hay chứa đựng một thái độ đạo đức, một cái nhìn nào đó về thế giới”. Bài học thất bại của đạo diễn danh tiếng Pháp René Clair cũng đáng để suy ngẫm: rời xa hiện thực để say mê với những công thức máy móc của tư tưởng thuần túy, ảo tưởng, ông đã dần đánh mất bầu nhiệt huyết của người nghệ sĩ, những phim của ông giai đoạn sau cùng mất hẳn đi sức sống và cuốn hút thời trai trẻ nên bị rơi vào quên lãng… Xin trở lại với phim “Bi, đừng sợ”. Phải công nhận rằng Phan Đăng Di là một đạo diễn có nhiều công phu suy nghĩ tìm tòi về thủ pháp điện ảnh, và có “gout” thẩm mỹ tốt trong cách lựa chọn khuôn hình, ánh sáng, động tác máy, chi tiết nghệ thuật… Ấn tượng nhất, và có khả năng gợi suy nghĩ nhiều nhất là các chi tiết về chiếc lá phong, quả táo đỏ bị đông cứng trong nước đá. Rồi cảnh người ông nôn ra máu sau khi ngửi một bông hoa đồng nội, cảnh hai đứa trẻ cào bới ruột quả dứa hấu một cách hoang dã sau nhiều ngày chúng nâng niu bảo vệ nó trong bụi kín… Theo thiển ý riêng, tôi cho rằng đó là những cảnh phim, chi tiết phim có thể trở thành kinh điển trong các bài giảng ở trường điện ảnh. Cái thế giới trẻ thơ được đạo diễn khá dày công chăm chút xây dựng, và nếu diễn viên Bi được thay bằng chú bé khác chứ không nhạt nhòa gần như vô cảm trên màn ảnh thì hiệu quả còn mạnh hơn nữa. Song, cái thế giới trẻ thơ đó dường như lạc lõng trong phim, và chúng có mối liên hệ lắp ghép về dựng phim bên ngoài hơn là mối quan hệ nội tại với tổng thể. Một trong những cây bút ca ngợi phim hết lời đã viết:”Lấy bối cảnh mùa hè HN và hình tượng viên đá xuyên suốt câu chuyện, phim truyện dài đầu tay của đạo diễn Phan Đăng Di dẫn dắt khán giả bước vào cuộc hành trình khám phá những bí mật sâu kín tồn tại trong mỗi con người.” Những bí mật nào đây? Trong phim, người xem rồi cuối cùng cũng đã hiểu: những bí mật đó thực ra chỉ là những ẩn ức dục vọng sinh lý bị kìm nén cần được giải tỏa- cái điều mà nhà phân tâm học Sigmund Freud đã lý giải từ lâu và nó đã được khai thác đến nhàm chán, đến “trơ khố tải” trong văn học nghệ thuật phương Tây đến cả một thế kỷ và hẳn chúng chẳng còn khả năng gây bất kỳ xúc động thẩm mỹ nào nữa! Tình tiết người cô của Bi thủ dâm bằng cục nước đá khiến ta liên tưởng đến hình ảnh cô gái thuyền chài móc cả chùm lưỡi câu vào cửa mình trong phim “Hòn đảo” của đạo diễn tài ba Hàn Quốc Kimkiduk. Song, với kiểu phim luận đề quen thuộc được sử dụng một cách cao tay, Kimkiduk đã phanh phui ra mặt trái đáng ghê tởm, phi nhân tính của xã hội thông qua những hình ảnh giàu tính triết lý, và tình tiết trên đã vượt qua được chủ nghĩa tự nhiên để cài cắm vào tâm trí người xem nỗi nhức nhối về những vấn đề toàn xã hội, thậm chí ở tầm vóc nhân loại. Còn tình tiết “mô phỏng” đó của “Bi, đừng sợ”, cùng hàng loạt cảnh làm tình thô thiển trong phim chỉ khiến rất nhiều khán giả các tầng lớp thấy bức bối phản cảm – và họ có lý! “Bi, đừng sợ” cũng khiến người xem trăn trở về mối quan hệ từ gia đình tới xã hội đã “đóng băng” một cách thê thảm, và đó cũng có thể là hồi chuông cảnh tỉnh xã hội mà những người làm phim muốn gióng lên. Có điều, hồi chuông cần thiết đó lại được bật ra từ những hình bóng vật vờ như bóng ma, tựa những nét vẽ phúng dụ mà đời sống tinh thần trong đó sao mà méo mó, thảm hại, bé nhỏ, không có chút âm hưởng nào của đời sống thực tại đang cộm lên bao điều gay gắt nóng bỏng! Cuộc đời thực có thể còn tồi tệ ảm đạm hơn thế nhiều, song nếu chỉ làm cái việc mô phỏng nó một cách nghệ thuật, tỉa tót nhấm nháp nó thì cần gì đến sứ mệnh của người nghệ sĩ?! Ngoài một chút ngậm ngùi, có đượm chua xót và mỉa mai của tác giả, người xem thèm biết bao thái độ uất hận đầy dũng khí của người làm phim trước sự tha hóa của tâm hồn – nhân cách mà thực ra phim cũng đã hé lộ ra được phần nào, song tác giả lại không đủ dũng cảm và bản lĩnh nghệ thuật để đi tới tận cùng sự cảnh tỉnh, vì vậy, tác phẩm hóa ra “Chơi vơi”- như tên một bộ phim mà Phan Đăng Di tham gia với tư cách tác giả kịch bản! Người xem đông đảo sẽ thu nhận được điều gì, ngoài sự xuýt xoa về những tiểu xảo, những chi tiết điện ảnh có tính nghệ thuật song xét cho cùng chỉ là những đóa hoa dại mọc trên một bãi cát khô cằn của tư tưởng tình cảm? Đó có phải là hướng đi lâu dài của một đạo diễn trẻ khá tài hoa và chịu khó lao động nghệ thuật? Đó có phải là con đường lớn của điện ảnh Việt Nam? Đó có phải là tác phẩm chứa đựng trong nó những giá trị để xứng đáng gia nhập vào kho tàng điện ảnh nhân loại? Nếu soi vào cái “chuẩn mực” của hiện thực trong nghệ thuật, qua sự nghiệp và tuyên ngôn của một vài nghệ sĩ điện ảnh thế giới đã nêu trên, phần đông người xem phim cũng có thể tự trả lời; và bản thân tôi buộc phải tự nhủ mình: “Người làm phim hãy nên biết “sợ” điện ảnh!” Nếu cắt “Bi, đừng sợ” ra làm những trích đoạn bài tập về đạo diễn, quay phim, thiết kế mỹ thuật… để sinh viên điện ảnh nghiên cứu, học tập, thì sẽ có khá nhiều bài tập thật xuất sắc; cũng giống như trường hợp của nhiều đạo diễn trẻ ở Pháp đã được thỏa sức thể nghiệm về nghề nghiệp mà tôi kể ở trên… Nhưng, để tạo ra một tác phẩm điện ảnh hoàn chỉnh có tác dụng đích thực đối với xã hội, rõ ràng là Phan Đăng Di- cũng như các nhà điện ảnh nước ta còn phải tự vượt lên trên mình nhiều lắm – không chỉ là vấn đề nghệ thuật thuần túy, kỹ thuật thuần túy mà bất cứ giáo trình điện ảnh nào của Mỹ cũng nhấn mạnh để giúp người làm nghề bước vào một công nghệ càng ngày càng đậm chất thương mại có cơ hội mau chóng chộp được thành công – mà cái chính là thái độ của người nghệ sĩ điện ảnh trước thời cuộc, là một tầm vóc văn hóa – tư tưởng cần thiết. Mà để có được những điều đó, rất cần tới lòng dũng cảm của bản thân cùng sự cổ vũ chân thành của mọi người: “Đừng sợ!” ___________ * Tư liệu tham khảo: - L’ Histoire du Cinéma mondial – G. Sadoul – Paris, 1985 - Lịch sử điện ảnh thế giới (3 tập) – I. Teplix – NXB Văn hóa, 1978 - Đạo diễn điện ảnh thế giới – Nhiều tác giả- Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh VN- Hà Nội, 1995
Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa | ||||
| Posted: 25 Sep 2011 01:04 PM PDT
Cầm chiếc vòng lên rất nhiều lần. Mân mê nó như một dòng chảy nào ấm áp. Có một câu hát rất hay rằng: "And we are all connected to each other. In a circle, in a hoop that never end" (Và tất cả chúng ta đã gắn kết với nhau. Trong một vòng tròn, trong một cái vòng mà không bao giờ kết thúc). Thật là thích khi mà tôi đang mang chiếc vòng của bạn. Cảm giác thích thú cũng như khi chúng ta cùng đi chợ và mua hai đôi dép giống nhau. Tôi nhìn chiếc vòng và cười thích thú. Tình bạn khiến người ta trao nhau những món quà thật dễ thương. Tôi nghĩ đến bạn, nghĩ đến khi chúng ta gặp nhau và trao một nụ cười. Chúng ta ngồi cạnh nhau, làm bài tập cùng nhau, đi ăn hàng cùng nhau, và pha trò, kể cho nhau nghe những chuyện thú vị. Bạn cũng là người đầu tiên được nghe một bí mật của tôi để chỉ mình bạn cười tủm tỉm trong khi những người khác liên tục chớp chớp mắt. Tình bạn của chúng ta lớn dần lên khi chúng ta trải cùng nhau những chuyện vui buồn. Tình bạn, giờ làm một chút ấm áp dịu ngọt vòng qua nơi cổ tay. Tôi thích chiếc vòng của bạn cũng nhiều như tôi thích bạn. Tôi thích khi tôi giơ tay vẫy chào bạn làm chiếc vòng thêm lấp lánh. Tôi thích ánh sáng tỏa lên hai bàn tay đang nắm lấy khi chúng ta cùng dạo bước. Bạn đã bước vào thế giới của tôi. Và tôi thích khi chúng ta cùng là bạn. Chiếc vòng đang trên tay tôi lấp lánh này! Và tôi thấy niềm vui trong mắt bạn Ngọc Nho Filed under: Teen talk Tagged: Teen talk | ||||
| Ngôi chùa gần 30 năm nuôi dạy trẻ bị bỏ rơi Posted: 25 Sep 2011 01:03 PM PDT Toạ lạc trên một sườn đồi xanh thăm thẳm, chùa Diệu Pháp (ấp Tân Cang, xã Phước Tân, huyện Long Thành, Đồng Nai) gần 30 năm qua đã trở thành cứu tinh cho sự lầm lỡ của những người từ bỏ quyền làm mẹ, làm cha. Cửa chùa đã trở thành mái nhà của hàng trăm đứa trẻ bị bỏ rơi. Trong số đó, có những đứa trẻ đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, lập gia đình, sinh con đẻ cái…, nhưng cũng có những đứa trẻ chỉ ghé tạm ở trần gian được vài tháng và yên nghỉ trong những ngôi mộ trẻ thơ ngay tại khuôn viên chùa.
Tiếng trẻ con khóc sáng tinh mơ… Một buổi sáng cách đây gần 30 năm, khi tiếng chuông chùa vừa điểm, sư cô trụ trì Huệ Đức đang lần nhịp tụng kinh bỗng nghe những tiếng khóc thút thít từng đợt, trong trẻo nhưng yếu ớt như tiếng trẻ thơ. Bất giác, sư cô chạy ra cổng chùa và nhìn thấy một đùm khăn đang động đậy, lần giở đùm khăn ra thì thấy bên trong là một bé gái sơ sinh đã tím tái và đang lịm đi vì đói và lạnh. Sư cô Huệ Đức tâm sự: “Sự xuất hiện của đứa trẻ đó trước cửa chùa như là một cơ duyên và không một chút ngần ngại, tôi đã mang đứa trẻ bị bỏ rơi nuôi dưỡng tại chùa. Mặc dù khi đó chăm sóc một đứa trẻ sơ sinh mà không có hơi ấm, dòng sữa từ người mẹ đẻ ra đứa trẻ là một việc không dễ dàng, nhưng bằng tình thương yêu với sinh linh bé nhỏ này, tôi phải tập làm "mẹ", tập cho đứa trẻ ăn cháo, uống sữa ngoài”. Khi đầu đứa trẻ đó cũng kén ăn lắm, nhưng dần dà bé cũng quen và bắt đầu cứng cáp và khoẻ mạnh lên dần, cho đến bây giờ đứa trẻ đó là chị Hồ Đức Diệu Hiền (28 tuổi) đã là vợ, là mẹ của những đứa trẻ được bao bọc trong vòng tay của vợ chồng anh chị. Hôm đó, chúng tôi không được gặp chị Diệu Hiền, nhưng qua lời kể của sư cô Huệ Đức, mặc dù đã lớn và ra đời tự lập cuộc sống, nhưng chị Diệu Hiền cũng như mỗi người con ở chùa Diệu Pháp vẫn luôn trở về mái nhà chung để cùng sư cô đùm bọc, dạy dỗ những đứa trẻ bất hạnh sau này để chúng được lớn lên làm những người mẹ, người cha biết yêu thương con cái. Cũng từ cái ngày cửa chùa xuất hiện tiếng khóc của trẻ thơ vào năm 1983 đó, đã đánh dấu sự ra đời của mái ấm tình thương chùa Diệu Pháp, sau này đổi tên là: "Cơ sở nuôi dưỡng đối tượng xã hội chùa Diệu Pháp". Suốt gần 30 năm đó, cái cơ duyên nuôi nấng đứa trẻ bị bỏ rơi được đồn vang và rất nhiều đứa trẻ bị bỏ rơi, trẻ tật nguyền, trẻ bị H (HIV), trẻ bị bệnh hiểm nghèo… lại được đặt trước cửa chùa, sư cô Huệ Đức cùng các sư trong chùa, những đứa trẻ bị bỏ rơi đã trưởng thành tiếp tục "thắp lửa" nuôi nấng những số phận bất hạnh đó nên người.
…tới những cái tên rất đời Chùa Diệu Pháp không lớn, nhưng dành rất nhiều diện tích cho xây dựng những khu nhà ở cho trẻ. Khu vực cổng tam quan, sân chùa, bái đường và chính điện chỉ khiêm tốn nằm nép một bên góc trong khuôn viên chùa. Còn phần lớn đất là các phòng dành để nuôi dưỡng các số phận bất hạnh được chia ra từng khu vực dành riêng cho trẻ sơ sinh, trẻ dưới 5 tuổi, phòng cho các cháu nam trên 10 tuổi, phòng cho các cháu nữ trên 10 tuổi, phòng cho những người già neo đơn, phòng tâm thần… Theo sự chỉ dẫn của sư Huệ Đức, chúng tôi tới khu vực dành cho trẻ em dưới 5 tuổi, trông khá gọn gàng và ngăn nắp. Chị Trần Thị Thương – người đã gắn bó với chùa hơn 11 năm – đang cho bé Thơm (chưa đầy 3 tháng tuổi) ăn sữa. Chị cho biết, đây là trường hợp mới nhất mà nhà chùa nhận được, lúc đó bé Thơm cũng bị bỏ rơi trước cửa chùa khi mới được 1 ngày tuổi. Chị giới thiệu cho chúng tôi từng đứa trẻ, chỉ nghe cái tên, nhiều người cũng hình dung ra được hoàn cảnh của từng đứa trẻ bị bỏ rơi như thế nào. Mỗi đứa trẻ tới với chùa đều mang một số phận khác nhau, nhưng khi vào sự bao bọc của sư cô Huệ Đức, chúng đều được mang họ Hồ Đức Diệu theo họ của sư cô. Ngoài tên chính, mỗi đứa trẻ đều có những cái tên rất đời, gắn liền với hoàn cảnh chúng tới với cửa chùa. Đưa ánh mắt về từng đứa trẻ đang tinh nghịch hồn nhiên, chị Thương kể: Đứa trẻ đang ngồi một mình kia là Hồ Đức Diệu Thương, tên thường gọi là "Cao Su" vì nhà chùa nhặt được cháu trong vườn caosu khi bé thở rất yếu ớt do nhà chùa phát hiện muộn. Đứa ngồi trong xe đẩy là Hồ Đức Diệu Tâm, tên thường gọi là "Chó", do 3 năm trước trong lúc một ni cô đang dọn dẹp sân chùa thì thấy con chó đốm tha về bọc vải, nó thả ngay dưới chân tượng Phật rồi sủa vang. Đứa áo chấm hồng là Hồ Đức Diệu Tường, tên thường gọi là "Tù Và" vì em rất hay hờn khóc, nhất là vào ban đêm, em khóc đến tím tái cả người mà dỗ thế nào nó cũng không chịu nín. Hai anh em mặc áo vàng giống nhau kia là hai anh em sinh đôi bị bỏ rơi khi mới 7 ngày tuổi nên thường gọi là "Hưu" và "Nai", rồi đứa kia tên là "Lượm", đứa kia nữa là "Lượm Hai", còn "Lượm Ba" thì sống được mấy tháng ở chùa thì mất. Còn cháu mặc quần áo trắng nằm trên giường kia là Hồ Đức Diệu Hoa, tên thường gọi là "Trâu" do chúng tôi phát hiện cháu bị vứt ngay trước cửa chùa đúng vào mùng 2 tết năm con trâu. Bé Trâu từ lúc nhà chùa lượm được thì đã mắc bệnh não úng thuỷ bẩm sinh, gầy gò và ít khóc, ít cười. Mặc dù đã đưa đi điều trị nhưng không khỏi do chi phí quá lớn, nhà chùa nuôi dưỡng bé Trâu đến bây giờ nhưng càng lúc Trâu càng yếu hơn trước – chị Thương bùi ngùi. …và cả những ngôi mộ trẻ thơ Một điều mà sư cô Huệ Đức cảm thấy đau lòng là có nhiều đứa trẻ khi được bỏ trước cửa chùa, do không phát hiện kịp thời nên trong tình trạng cơ thể bị côn trùng, động vật xâm hại. Sau đó mặc dù đã được các sư đưa đi chữa trị tại bệnh viện, nhưng chỉ sống được vài tháng do kiệt sức. Ngay trong khuôn viên chùa là 5 ngôi mộ được sắp kề nhau, trên bia mộ là hình hài những đứa trẻ ngây thơ chỉ có cuộc sống ngắn ngủi khắc ghi: "Hương Linh Nguyễn Bảo Gia Ngọc – pháp danh Huệ Phúc – sinh ngày 16.12.2003 – mất ngày 30.12.2003"; "Hồ Đức Diệu Phước – bỏ rơi ngày 1.12.2002 – mất ngày 5.3.2003" (sau này sư cô Huệ Đức cho biết là Diệu Phước mất do mắc bệnh H từ mẹ truyền sang con). Thương tâm nhất là trường hợp em Nguyễn Thị Diệu Hiền, tên thường gọi là "Lượm Ba". Sư cô Huệ Đức kể: “Khi nhà chùa phát hiện được phía sau vườn thì em đã bị kiến bu khắp lỗ tai, lỗ mũi và những nơi có máu, mủ, bàn tay phải bị chó cắn gần đứt. Lúc đó, tôi phải đưa em lên ngay bệnh viện, cho nằm lồng kính hơn nửa tháng, sau đó phải tháo khớp bàn tay bị chó cắn, rồi mang về chùa nuôi dưỡng. Nhưng chưa đầy 9 tháng, do bị kiệt sức nên Lượm Ba cũng không tiếp tục sống được nữa”. Sau gần 30 năm nuôi dưỡng những mầm non bất hạnh, đến nay cơ sở nuôi dưỡng đối tượng xã hội chùa Diệu Pháp đã giúp cho hơn 500 mảnh đời có được cuộc sống ổn định. Trong số đó, có 48 người đã tốt nghiệp đại học, đi làm, một người đang học tiến sĩ tại Nhật, một người là thạc sĩ ngoại ngữ… Và còn 46 người đang tiếp tục theo học các trường ĐH – CĐ, trung cấp tại TPHCM, Đồng Nai, Thừa Thiên-Huế… Hiện, cơ sở nuôi dưỡng đối tượng xã hội chùa Diệu Pháp đang nuôi dạy 101 đứa trẻ bị bỏ rơi, bệnh hiểm nghèo… và 24 người già cả, tâm thần, neo đơn. Để có tiền nuôi nấng bọn trẻ, 6 ni sư trong chùa phải tăng cường ngày đêm lao động vất vả hơn gấp nhiều lần. Mảnh đất rộng 3ha của chùa được tận dụng trồng lúa, caosu, rau củ… để tự cung tự cấp về lương thực. Sư cô Huệ Đức chia sẻ: Các sư cô chùa Diệu Pháp còn tạo mọi điều kiện khuyến khích các con đi học và theo đuổi con đường tri thức đến cùng. Bọn trẻ bắt đầu lên 4 tuổi đã được cho đi học mẫu giáo rồi cứ thế lên tiểu học, trung học, đại học. Sức học của các em đến đâu thì mình cố gắng nuôi dưỡng tới đó. Chùa Diệu Pháp bây giờ đã được nhiều người biết đến, nhiều tổ chức từ thiện và cá nhân đã tới cùng sư cô Huệ Đức chung tay xây dựng và nuôi dưỡng các đứa trẻ tật nguyền, trẻ bị bỏ rơi. Những đứa trẻ đó bây giờ đã trưởng thành từ mái ấm Diệu Pháp, hằng ngày sau giờ làm việc lại trở về với mái nhà chung cùng sư Huệ Đức nuôi nấng, dạy dỗ những đứa trẻ đang tiếp tục bị bỏ rơi lớn lên thành người. Hà Anh Chiến Filed under: Mỗi ngày 1 tin sáng Tagged: Tin sáng | ||||
| Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô đang bị tàn phá Posted: 25 Sep 2011 01:02 PM PDT "Điểm mặt" công cụ phá rừng Hiện chưa có cơ quan chức năng nào lượng hóa những mối hiểm họa đang rình rập, nhắm vào rừng đặc dụng Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Ea Sô. Tuy vậy, vẫn có thể hình dung một phần mức độ nguy hiểm, thảm khốc của những vụ phá rừng, giết hại muông thú qua số lượng, chủng loại xe độ chế, phao bè, súng ống, bẫy thú bị Hạt Kiểm lâm Ea Sô thu giữ trong thời gian gần đây.
Đến trụ sở Ban Quản lý dự án Khu BTTN Ea Sô, chúng tôi thực sự "ấn tượng" với 30 chiếc xe máy độ chế của lâm tặc bị bắt giữ. Mỗi xe có đến 12 cái phuộc nhún, 4 bộ phận phanh độc lập, 2 bộ xích líp, phần sau được nối dài thêm khoảng 0,5 mét để chở gỗ. Anh Phan Văn Quang, Trạm phó Trạm Kiểm lâm số 5, cho biết: "Với bộ khung và các thiết bị độ chế này, cộng thêm việc thay su-pap, đôn zên, xoáy pit-tông, mỗi xe có thể chở được 2,5 tấc gỗ hương, nặng khoảng 250kg. Không chỉ tải nặng, những chiếc xe này còn vượt ngầm suối, dốc cao, đường rừng đá lởm chởm… rất ngon lành. Còn ông Lê Đắc Ý, Giám đốc Ban Quản lý dự án Khu BTTN Ea Sô, nói: "Nếu bán thanh lý loại xe này, kể cả bán sắt vụn cũng là tiếp tay cho lâm tặc, vì sẽ có người mua lại để tiếp tục đi rừng. Do vậy, chúng tôi đang xin chủ trương cho tiêu hủy toàn bộ".
Cùng với xe là đủ loại súng ống, từ súng quân dụng như CKC, súng trường K44, Calip đạn 9 đầu phát hỏa đến súng kíp, súng phà đều có mặt trong rừng đặc Ea Sô. Nhưng đáng sợ hơn cả là loại có vô số mảnh thép nhồi trong thuốc nổ, loại bắn một phát ra cả chùm đạn bi. Gặp thứ này, đố con thú rừng nào rơi vào tầm ngắm của thợ săn mà thoát cho được. Không chỉ là hiểm họa đối với thú rừng, các loại súng này còn là nỗi ám ảnh của lực lượng kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô trong cuộc chiến chống lâm tặc. Trong đó có nhiều người đã đổ máu, mang thương tật suốt đời như anh Hoàng Văn Nam bị trúng 1 viên đạn CKC, anh Vương Thế Cao bị 7 viên đạn bi ghim vào khớp gối và hai ống chân… Theo anh Lê Xuân Tùng, Đội phó Đội Kiểm lâm cơ động, thì hiện lâm tặc còn giấu rất nhiều súng trong rừng Ea Sô, nhưng tìm được rất khó. Ngoài ra, từ năm 2009 đến nay, Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô còn thu giữ và phá hủy hơn 1.300 bẫy thú, gồm nhiều loại cực hiểm như bẫy thắt cổ, bẫy đâm lao, bẫy kẹp, bẫy bò tót… Và cũng như súng, không ai biết hiện có bao nhiêu cái bẫy hiểm đang giăng mắc khắp nơi trong rừng đặc dụng Ea Sô. Ông Lê Đắc Ý còn cho biết: "Năm nào chúng tôi cũng kiến nghị UBND các huyện giáp ranh chỉ đạo tịch thu các loại vũ khí, bẫy thú nhưng việc chế tạo, tàng trữ, sử dụng ở các địa phương quanh rừng đặc dụng vẫn không giảm. Trong khi đó, huyện Krông Năng còn có cả một "tập đoàn thợ săn" chuyên nghiệp luôn nhắm vào Ea Sô, phần lớn là người dân tộc Mông di cư tự do. Khổ nhất là gần đây, chúng truyền tai cho nhau rằng Khu BTTN Ea Sô đã chính thức giải thể cùng với Ban Quản lý dự án Rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng nên được vào săn bắn tự do… Trong khi đó, việc sáp nhập Ban Quản lý dự án Rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng với Ban Quản lý dự án Khu BTTN Ea Sô mới chỉ dừng ở chủ trương của cấp trên, thực tế không có đơn vị nào giải thể. Chỉ là tin đồn, nhưng nó làm chúng tôi thực sự căng thẳng". Tan hoang rừng giáp ranh Dự báo khi những khu rừng này hết gỗ quý, lâm tặc từ Gia Lai và Phú Yên sẽ tấn công rừng đặc dụng Ea Sô. Ngay trong tháng 7 – 2011 cũng đã có khoảng 20 cây gỗ hương tại tiểu khu 618 thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, giáp ranh với huyện Krông Pa, bị lâm tặc chặt trộm. Một ngày cuối tháng 8, chúng tôi cùng 4 kiểm lâm viên thuộc Trạm Kiểm lâm số 5 và Đội Kiểm lâm cơ động khảo sát vùng rừng được coi là "lá chắn" bảo vệ rừng đặc dụng Ea Sô. Cách trụ sở Trạm Kiểm lâm số 5 khoảng 2 giờ đi bộ là đến mốc giới giữa rừng đặc dụng Ea Sô và rừng thuộc các xã Krông Năng, Ia Dreh của huyện Krông Pa (Gia Lai). Từ đây trở về phía bắc, lâm tặc đã mở vô số đường mòn, bắc nhiều cầu qua hàng chục con suối nhỏ để vận chuyển gỗ lậu. Thấy kiểm lâm, hàng chục người đang đào bới, lục lọi trong rừng chạy tứ tán, một số bơi qua sông Krông H'Năng để về xã Ea Lâm, huyện Sông Hinh (Phú Yên). Một nhóm chậm chân bị kiểm lâm níu lại cùng tang vật là một khúc củi cong queo, to bằng bắp chân. Anh Lê Xuân Tùng, Đội phó Đội Kiểm lâm cơ động cho biết: "Cái này là hương rục chứ không phải củi đâu, tức là cành, ngọn, rễ của cây giáng hương. Trước đây người ta đặt quy cách cho hương rục là đường kính 20 cm trở lên, chặt đầu chặt đuôi, lớp bị mục bên ngoài không được quá dày…. Nhưng về sau loại gỗ này sốt hàng, vụn cỡ nào các đầu nậu ở Gia Lai và Phú Yên cũng thu mua hết". Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm Ea Sô, mỗi ngày có hàng trăm người vào vùng rừng này để tìm hương rục. Không chỉ tìm hương rục, người ta còn cưa gốc hàng trăm cây cam xe (tại tọa độ 0519314, 1437426, cách mốc giới rừng đặc dụng Ea Sô khoảng 100 mét). Gỗ chặt trộm ở đây được lâm tặc kết thành bè kéo qua sông Krông H'Năng đưa về xã Ea Ly (Sông Hinh) hoặc thả trôi xuống bến đò Hai Cả (Krông Pa). Rồi từ bến đò này, chúng lại đưa gỗ sang địa phận xã Ea Lâm (Sông Hinh), hoặc theo đường bộ về các xưởng cưa trên địa bàn huyện Krông Pa. Theo anh Phạm Văn Quang, Trạm phó Trạm Kiểm lâm số 5, đi bộ thêm nửa ngày nữa mới đến chỗ rừng gỗ hương bị tàn phá khủng khiếp nhất, khu vực đó chỉ cách ranh giới rừng đặc dụng Ea Sô từ vài chục đến vài trăm mét. Dọc đường đi về phía bắc, tiếng cưa máy hạ rừng vang lên không dứt từ bên bờ phải sông Krông H'Năng, tức địa phận thôn Tân Lập, xã Ea Lâm (Sông Hinh). Anh Quang cho biết: "Rừng bên tỉnh Phú Yên đã trọc hết, dân đã trồng cao su đến sát bờ sông rồi. Con sông này giúp chúng tôi bảo vệ rừng, nhưng từ ngày thủy điện Sông Hinh chặn dòng, về mùa khô có thể đi bộ qua lại. Vậy là Khu BTTN Ea Sô bị hở hẳn sườn phía đông, nguy cơ lâm tặc từ Phú Yên tràn sang phá rừng là rất lớn". Hở "sườn" đông, mất "rào chắn" phía tây, 27.000ha rừng đặc dụng Ea Sô – môi trường sống lý tưởng bậc nhất Việt Nam của bò tót, bò rừng và các loài thú quý hiếm thuộc bộ móng guốc ăn cỏ – đang thực sự bị đe dọa nghiêm trọng. Trước thực trạng trên, Ban Quản lý dự án Khu BTTN Ea Sô và UBND huyện Ea Kar vừa đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng có ý kiến bằng văn bản, đồng thời phối hợp với ngành chức năng của các tỉnh bạn tiến hành truy quét, xử lý tình trạng phá rừng đặc dụng Khu BTTN Ea Sô và vùng giáp ranh. Đây là biện pháp ngăn chặn lâm tặc từ Gia Lai, Phú Yên tràn vào rừng đặc dụng Ea Sô, cần thực hiện khẩn trương, quyết liệt trước khi quá muộn.
Đặng Trung Kiên Filed under: Môi trường Tagged: Môi trường | ||||
| Hoá chất tràn ra môi trường tại công trình bôxít Tân Rai: Sự cố nhỏ, thiệt hại lớn! Posted: 24 Sep 2011 01:01 PM PDT Sự cố hoá chất tràn ra môi trường bên ngoài tại công trình bôxít Tân Rai được xác định là do nơi để các bao chứa hoá chất không được che chắn kỹ, nên nước mưa tạt vào làm hoá chất tan chảy và trôi theo dòng nước qua cống ngầm, thoát ra ngoài khu dân cư.
Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Mặc dù đây được xem là sự cố nhỏ và đang được ngành chức năng tích cực xử lý, khắc phục nhưng thực chất đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân trong vùng dự án. Theo báo cáo kết luận số 7, ngày 8.9.2011 của sở Tài nguyên và môi trường Lâm Đồng, sau khi nhận được thông tin về sự cố môi trường xung quanh nhà máy alumin, sở này đã khẩn trương thành lập đoàn thanh tra. Kết quả cho thấy, mẫu nước thử nghiệm tại cống nước thải của nhà máy tổ hợp bôxít nhôm Tân Rai có độ pH bằng 10,53, vượt quá quy định cho phép; nhiệt độ trong nước tại cống thải của công trường bôxít Tân Rai lên đến 31,20C. Nguyên nhân được xác định do nơi để các bao chứa xút (lỏng và rắn) tại khu vực tập kết nguyên liệu đã không được che chắn kỹ, các bao bì chứa xút, sau khi pha trộn không được thu gom, xử lý, vứt bừa ra môi trường bên ngoài. Lượng xút còn dính trong bao theo nước mưa thẩm thấu vào đất và một phần trôi theo dòng nước chảy vào mương thoát nước chung của khu vực nhà máy, sau đó chảy ra môi trường bên ngoài. Mặt khác, tại thời điểm kiểm tra, bể pha trộn xút của công trình bôxít Tân Rai có một số vị trí bị hư hỏng, gạch bao tường bị sạt lở, đáy nền bị ăn mòn, tạo ra nhiều khe hở, không có biển báo nguy hiểm nơi kho chứa xút và bể pha trộn. Những hành vi này đã vi phạm khoản 3, điều 8, nghị định 117 năm 2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Theo ban quản lý dự án tổ hợp bôxít nhôm Lâm Đồng, đây chỉ là sự cố đáng tiếc và đơn vị đã tích cực khắc phục xong lâu rồi. Ông Nguyễn Đình Trí, trưởng phòng tổ chức hành chính, ban quản lý dự án tổ hợp bôxít nhôm Lâm Đồng, khẳng định: "Đã khắc phục xong lâu rồi, không có vấn đề gì nữa. Không hiểu vì sao sáng nay (22.9) lại có bài báo đăng tin vấn đề này. Tuy nhiên, lãnh đạo của ban sẽ xem xét lại, nếu có gì, sẽ thông tin sau". Theo thống kê bước đầu của UBND huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng), có khoảng trên 200ha càphê, trà và ao nuôi cá của người dân nằm giáp ranh với công trình bôxít Tân Rai nằm trong vùng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường này, tuy nhiên đến nay, vẫn chưa xác định cụ thể mức độ thiệt hại do sự cố này gây ra. Ông Nguyễn Văn Triệu, chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm xác nhận, đến nay, chính quyền địa phương vẫn chưa nhận được bất kỳ đơn phản ánh nào từ phía người dân, cũng như các doanh nghiệp đóng trên địa bàn về mức độ thiệt hại, đồng thời khẳng định đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân trong khu vực này đều bình thường.
Cư dân địa phương còn lo lắng Tuy nhiên, qua tìm hiểu thực tế, hiện người dân ở thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm – khu vực dân cư nằm liền kề với công trình bôxít Tân Rai vẫn tỏ ra lo lắng, chưa dám sử dụng nguồn nước giếng để phục vụ sinh hoạt. Ông Nguyễn Quang Minh, ở khu 6A, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, nói: "Người dân chúng tôi thấy vụ ô nhiễm này rất nghiêm trọng, bà con đang rất lo lắng, nhất là ô nhiễm môi trường về lâu dài. Hiện nhà máy chuẩn bị đi vào hoạt động nhưng hồ chứa bùn đỏ mới chỉ làm được một phần nhỏ thì nguy hại không biết còn đến mức độ nào nữa". Không chỉ có nỗi lo về ô nhiễm môi trường nước. Tiếng ồn từ động cơ của nhà máy alumin Tân Rai trong quá trình thực hiện chạy thử, cũng đang trở thành mối lo ngại lớn của người dân trong khu vực. Anh Vũ Ngọc Long, ở khu 6, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, nói: "Nhà tôi nằm cách nhà máy 1km nhưng nói chuyện với nhau thì phải hét vào tai mới nghe được. Còn ở khu vực gần đó, bà con nói chuyện chẳng nghe được gì luôn". Rõ ràng, tuy nhà máy bôxít Tân Rai chưa chính thức đi vào vận hành khai thác nhưng thực tế cho thấy đã gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường. Theo sở Tài nguyên và môi trường Lâm Đồng, hiện nồng độ pH đo được tại cống thoát nước của nhà máy alumin Tân Rai vẫn còn ở mức cao. Liên quan đến sự cố để một lượng hoá chất đáng kể chảy ra ngoài gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ngày 15.9, UBND tỉnh Lâm Đồng đã yêu cầu ban quản lý dự án tổ hợp bôxít nhôm Lâm Đồng thực hiện nghiêm túc các nội dung, như: tổ chức khắc phục sự cố sạt lở gạch và đáp nền tại bể pha trộn xút; thu gom tất cả các bao bì, rác thải nguy hại để xử lý đúng theo quy định; nghiêm cấm để các hoá chất độc hại rơi vãi, thẩm thấu xuống đất hoặc trôi theo nước ra khu vực xung quanh dự án. Tỉnh cũng đề nghị ban quản lý dự án phải thường xuyên giám sát kiểm tra, đo đạc, phân tích các thông số chỉ tiêu hoá, lý về môi trường từ các nguồn nước trong khu vực dự án trước khi xả thải ra môi trường xung quanh. Nếu các thông số kiểm tra vượt các tiêu chuẩn cho phép, đơn vị phải báo cáo ngay về UBND tỉnh Lâm Đồng, sở Tài nguyên và môi trường cùng các đơn vị liên quan để kịp thời xử lý, khắc phục. Đồng thời, giao sở Tài nguyên và môi trường Lâm Đồng lập thủ tục xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với ban quản lý dự án tổ hợp bôxít nhôm Lâm Đồng theo quy định của pháp luật. bài và ảnh Quang Hà Đề nghị xử phạt ban Quản lý dự án tổ hợp bôxít – nhôm Lâm Đồng Đó là kết luận sau thanh tra của sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Lâm Đồng đối với sai phạm của ban quản lý dự án tổ hợp bôxít – nhôm Lâm Đồng. Theo đó, ban quản lý này đã không quản lý chặt chẽ làm một lượng hoá chất (xút rắn) trôi theo nước mưa làm ảnh hưởng đến môi trường. Hành vi nêu trên vi phạm khoản 3, điều 8 nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (mức phạt từ 40 – 70 triệu đồng). Mới đây, ban quản lý dự án đã có báo cáo đồng ý với kết quả thanh tra và cam kết khắc phục hậu quả như: ngưng việc pha xút rắn, gom bao bì đựng xút bảo quản trong kho, yêu cầu nhà thầu hoàn thiện hệ thống trạm xử lý nước thải sản xuất và sinh hoạt, khám bệnh cho công nhân pha xút… Trước đó, ngày 23.8, trong báo cáo gửi sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Lâm Đồng, UBND huyện Bảo Lâm cho biết, tại hồ nước dùng nuôi cá và tưới cây ở khu 6, thị trấn Lộc Thắng, độ pH đo được là 12,6. Đây là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng cá nuôi và cây trồng bị chết ở địa phương. Hiện chưa có số thống kê thiệt hại và UBND huyện Bảo Lâm đang xem xét yêu cầu ban quản lý dự án bồi thường cho người dân. Được biết, công trình bôxít Tân Rai do nhà thầu Chalieco (Trung Quốc) thi công. T. Nhã Filed under: Môi trường Tagged: Môi trường |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |
No comments:
Post a Comment