Thursday, April 14, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Ave Maria (Schubert) – Luciano Pavarotti

Posted: 14 Apr 2011 02:03 PM PDT

Ave Maria
Gratia plena
Maria, gratia plena
Maria, gratia plena
Ave, ave dominus
Dominus tecum
Benedicta tu in mulieribus
Et benedictus
Et benedictus fructus ventris
Ventris tuae, Jesus.
Ave Maria
Ave Maria
Mater Dei
Ora pro nobis peccatoribus
Ora pro nobis
Ora, ora pro nobis peccatoribus
Nunc et in hora mortis
Et in hora mortis nostrae
Et in hora mortis nostrae
Et in hora mortis nostrae
Ave Maria

Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Cô giáo giữa sân trường

Posted: 14 Apr 2011 02:02 PM PDT

Chào các bạn,
Hãy nhìn một sân trường cấp I trong giờ chơi. Các em chạy nhảy nô đùa la hét inh ỏi. Các thầy cô đi thong thả trong sân, có thể thỉnh thoảng nói chuyện với một em, nhìn các em vui chơi, nếu có vấn đề như hai em đánh nhau, cô thầy chạy ngay đến can thiệp dạy bảo. Đôi khi một em có thể ném bóng thế nào đó mà đến ngay trên đầu cô giáo, và em lính qu‎ý‎nh xin lỗi, sợ bị cô rầy, nhưng thường là cô nhịn đau mìm cười và nói "Không sao đâu."

Cô giáo giữa sân trường có tác phong của có người trách nhiệm trong sân trường và giữa các em, rất khác với tác phong của các em trong sân chơi, và cũng rất khác với tác phong của thầy cô ở những nơi khác mà thầy cô không cảm thấy mình có trách nhiệm.

Điểm chúng ta muốn nói ở đây là tác phong con người khác nhau tùy theo hắn ta có nghĩ đến trách nhiệm của hắn đối với môi trường chung quanh và những người chung quanh.

Vấn đề của chúng ta là, vì giáo dục xã hội hay vì văn hóa truyền thống, chúng ta thường không nghĩ đến trách nhiệm của mình, vì "Đó là việc của nhà nước, không phải của phó thường dân như tôi", "Đó là việc của người lớn, không phải con nít như tôi", "Đó là việc của các lãnh đạo, không phải việc của tôi"…

Sở dĩ chúng ta thường nghĩ thế vì khi ta chẳng có quyền lực thế lực gì trong tay cả, ta thường có cảm tưởng là ta chẳng thể ảnh hưởng gì đến đời sống quanh ta, nhất là trong một xã hội đầy hệ cấp trên nặng dưới nhẹ như Việt Nam chúng ta.

Tuy nhiên, các bạn, nếu các bạn đã đọc Tư Duy Tích Cực lâu rồi, mình mong rằng các bạn hiểu rất rõ và rất chắc rằng tư duy kiểu "tôi chẳng thấm bén gì cả" là hoàn toàn sai. Trong biến cố sóng thần ở Nhật vừa qua, hàng triệu người chúng ta đã được ảnh hưởng rất mạnh từ một hành động nhỏ–góp phần ăn của mình vào đống thực phẩm chia cho tất cả mọi người—của một em bé 9 tuổi. Thế thì ta đừng bao giờ nói tôi mới 20 tuổi chẳng ảnh hưởng gì cho thế giới này được.

Các bạn, một tiếng khảy móng tay có thể rung động đến vô lượng thế giới. Các bạn có thực sự hiểu được câu này rốt ráo không vậy?

Mỗi người chúng ta là Phật đang thành. Và thành Phật–tức là nắm được con người thật của mình và từ đó tạo ra một năng lượng tích cực đầy quyền lực của một vị Phật–thì chẳng ăn nhập gì đến tuổi tác, giàu nghèo, phó thường dân, hay phó thủ tướng cả. Có phải năng lượng tích cực của em bé Nhật 9 tuổi tỏa ra khắp thế giới là năng lượng của một vị Phật đầy quyền lực không các bạn?

Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, (chương 12, Đề Bà Đạt Đa) có nói đến chuyện Long Nữ 8 tuổi, con của vua rồng Ta-la-kiệt ở biển, thành Phật. Các bạn, Long Nữ là con gái, thuở xa xưa phụ nữ được tin là không thể thành Phật. Lại là con nít mới 8 tuổi. Lại còn thấp hơn cả người, vì là loài rồng. Nhưng đã có thể thành Phật ngay. Đoạn kinh này nói tâm Phật, sức mạnh của một vị Phật, không cần đòi hỏi điều kiện gì trên đời này cả. Nếu đủ căn cơ là giác ngộ thành Phật.

Đó có nghĩa là tâm của chúng ta, năng lượng tích cực do trái tim tinh tuyền của chúng ta tạo ra, với sức mạnh của một vị Phật quyền lực, không liên hệ gì đến tuổi tác, trí tuệ và quyền lực của ta cả. Điều duy nhất ta cần là một trái tim tinh tuyền.

Cho nên mỗi chúng ta cần biết rõ sức mạnh phi thường của trái tim tinh tuyền của mình để chuyển hóa thế giới. Hơn nữa, trong một thế giới mà nhiều người có quyền lực và lớn tuổi đã bị hư hỏng và làm nhiều chuyện bậy bạ–tham nhũng, áp bức, dối trá, tiêu cực—thì những người có thể tạo năng lượng tích cực để chuyển hóa thể giới là những người nhỏ tuổi, nhỏ tiền, nhỏ thế lực.

Các bạn đừng để những người ngớ ngẩn làm cho bạn tin rằng bạn quá trẻ, quá thiếu kinh nghiệm quá… để có trách nhiệm lớn đối với thế giới. Năng lượng tích cực khi được tạo ra là hoạt động tự chính nó, năng lượng tích cực của người 9 tuổi cũng hệt như năng lượng tích cực của người 90 tuổi, chẳng khác nhau một tí nào.

Khi chúng ta nói mỗi chúng ta là Phật đang thành, điều này không chỉ là vuốt ve nhau ngớ ngẩn, mà là một sự thật về quyền lực của mỗi chúng ta trong việc chuyển hóa thế giới của chúng ta. Nếu bạn luôn nhớ ảnh hưởng của em bé Nhật 9 tuổi trên khắp thế giới, thì bạn sẽ không thể nào quên được ảnh hưởng của Phật tính trong bạn trên thế giới này.

Vì vậy, dù đang ở đâu, mỗi chúng ta cũng nên đừng quên rằng mình là một vị Phật đang thành trong thế giới này, như là cô giáo giữa sân trường.

Chúc các bạn một ngày đầy năng lượng.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Các diễn văn làm thay đổi thế giới – “Không có sự cứu rỗi nào cho Ấn Độ” – Mohandas Gandhi (1916)

Posted: 14 Apr 2011 02:02 PM PDT

 

Mohandas Karamchand Gandhi (1869-1948) là một chính trị gia và tư tưởng gia siêu việt. Ngài là người sáng tạo ra triết lý satyagraha. Satya (truth, sự thật) là đạo hay chân lý hàm ý lòng yêu thương. Lòng yêu thương phát sinh ra sức mạnh (agraha, force). Satyagraha là sức mạnh được sinh ra bởi lòng yêu thương. Satyagraha được thể hiện dựa trên nền tảng bất bạo động (ahimsa, nonviolence). Satyagraha là “vũ khí” đã giúp Ấn độ giành được quyền độc lập từ Anh quốc và là nguồn cảm hứng cho nhân quyền và tự do trên toàn thế giới.

Gandhi được tôn vinh là Mahatma, Linh hồn Vĩ đại (Great Soul) hay Tâm hồn rộng lớn, theo Phật giáo có nghĩa là Đại Bồ Tát, người quên mình vì lợi ích cho mọi người. Người Việt Nam tôn ông như bậc Thánh, người sống đời đơn giản, đức hạnh, vượt qua mọi cám dỗ của vật chất và dục lac để tập trung tinh thần vào việc rèn luyện nội tâm. Dân nước Ấn gọi ông là Bapu, Vị cha già dân tộc. Mỗi năm vào ngày sinh nhật của ông , 2 tháng 10, là ngày Gandhi Jayanti, lễ tưởng niệm Gandhi ở Ấn Độ. Đây cũng là ngày Bất Bạo Động Quốc tế.

Mohandas Gandhi sanh ra ở Porbandar, Quyền Lực Bombay, Ấn độ thuộc địa Anh quốc. Song thân của Mohandas thuộc giai cấp thương gia. Gandhi là con trai út trong gia đình gồm sáu người con.

Năm 7 tuổi, Mohandas thấy người bạn cùng lớp, Aku, đi ngang qua nhà, Mohandas vào bếp lấy ít bánh ngọt tặng bạn, mong được làm quen với người bạn thuộc giai cấp tiện dân "không thể đụng đến" (untouchable, đụng đến sẽ bị dơ lây). Nhưng Aku hoảng sợ và van xin: “Cậu không nên đến gần tớ”. Mohandas liền hỏi: “Tại sao không? Tại sao con người không thể đến gần con người?” Aku buồn bả đáp: “Vì tớ là người thuộc giai cấp thấp, con của một gia đình ở đợ.” Mohandas bèn nắm tay Aka và đặt miếng bánh vào đó. Aku quay mặt bỏ chạy. Lần đầu tiên trong đời, Monhandas có ý thức về vấn đề nhân quyền trong xã hội Ấn độ.

Theo tục lệ tảo hôn, ông cưới người vợ cùng lứa, Kasturbai, vào năm 13 tuổi. Ba năm sau thân phụ của Gandhi qua đời.

Năm 19 tuổi, Gandhi đi du học tại London. Gandhi tốt nghiệp và trở thành luật sư vào năm 1891. Gandhi trở về quê hương ngay sau đó và hay tin thân mẫu qua đời chỉ vài tuần trước. Người nhà đã giấu kín chuyện này vì sợ ảnh hưởng đến kỳ thi tốt nghiệp của Gandhi.

Cùng năm 1891, ông được nhận làm luật sư đại diện cho một công ty Ấn độ ở Nam Phi. Nam Phi thời bấy giờ cũng là thuộc địa của nước Anh và người Ấn ở đây bị kỳ thị chủng tộc. Có lần, trong một chuyến đi, ông bị đuổi ra xe lửa vì không chịu dời chỗ ngồi xuống hạng ba trong khi ông đã mua vé hạng nhất. Tiếp tục chuyến đi bằng đường ngựa, ông bị đánh vì không chịu đi bộ để nhường chỗ ngồi cho người Âu. Sau đó ông bị nhiều khách sạn từ chối không cho tá túc. Qua cuộc hành trình đầy gian nan, chính bản thân bị kỳ thị, ông bắt đầu đặt nghi vấn về tình trạng người Ấn dưới đế quốc Anh và về vị trí của mình trong xã hội.

Sự kiện đó khiến ông lưu lại Nam phi lâu hơn dự định để vận động cho vấn đề nhân quyền của người Ấn ly hương. Ông đã hoạt động để ngăn chặn một dự luật từ chối quyền bầu cử cho người Ấn. Mặc dù không thành công nhưng vận động của ông đã thu húc sự chú ý về những lời than phiền của người Ấn tại Nam phi. Ông đã giúp thành lập Hội Ấn độ Natal và đã kết hợp cộng đồng người Ấn thành một lực lượng chính trị thống nhất.

Năm 1906, chính quyền ở Transavaal, Nam Phi, ra luật mới, bắt buộc người Ấn phải khai báo chi tiết cá nhân để được giấy chứng nhận. Nếu không có giấy chứng nhận, bất cứ khi nào bị kiểm tra, người Ấn sẽ bị bỏ tù hay bị trục xuất. Gandhi cho đây là một sỉ nhục nhắm vào người Ấn. Ông áp dụng thuyết satyagraha, kêu gọi người Ấn bất tuân theo luật và chịu đựng hình phạt thay vì chống đối bằng phương pháp bạo động. Qua bảy năm chống đối, Gandhi và hàng ngàn người Ấn bị bỏ tù, bị đánh và thậm chí bị bắn. Công chúng ở Nam phi bắt đầu phản đối hành vi thô bạo của chính quyền khiến Tướng Jen Smuts phải đích thân thương lượng một thỏa hiệp với Gandhi. Ý tưởng của Gandhi được hình thành và khái niệm về satyagraha đã trưởng thành trong trận chiến này.

Cùng năm với Thế chiến thứ nhất, 1914, Gandhi quyết định trở về Ấn độ sinh sống sau 21 năm tha hương. Gandhi được người Ấn tiếp đón tại cảng Bombay như một người hùng. Ông được nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo, nhân sĩ tiếng tăm biết đến qua công sức đóng góp của ông cho cộng đồng người Ấn tại Nam Phi. Gandhi từ bỏ Âu phục và mặc bộ đồ dân tộc đơn sơ.

Ông bắt đầu tổ chức nhiều cuộc biểu tình cho nông dân và người lao động thành thị để chống nạn thuế cao, bóc lột và kỳ thị. Sau khi nhận vai trò lãnh đạo cho Quốc hội Ấn độ vào năm 1921, Gandhi đã chỉ huy các chiến dịch toàn quốc để giảm nạn đói nghèo, mở rộng phụ nữ quyền, kết chặt sự thân thiện giữa các tôn giáo và dân tộc, chấm dứt giai cấp tiện dân (untouchable) và gia tăng nền kinh tế tự chủ. Tất cả đều nhắm vào mục đích swaraj (tự trị), giành nền độc lập cho Ấn độ.

Gandhi nổi tiếng lãnh đạo cuộc diễn hành để phản đối Luật Muối năm 1930. Lúc đó giá muối và thuế muối gia tăng. Thậm chí, chính phủ còn đánh thuế vào những người dân làm muối thiên nhiên trên các vùng biển. Gandhi áp dụng một satyagraha mới để chống lại luật muối. Ông dẫn 78 người đi gần 400 cây số trong vòng 24 ngày từ Ahmedabad đến biển Dandi để tự làm muối. Số người tham gia trên đường đi càng đông, hàng ngàn người đã tập hợp trên bờ biển. Chính quyền Anh đã bỏ tù hơn 60.000 người. Bá tước Edward Irwin quyết định thương lượng với Gandhi, một hiệp ước Gandhi-Irwin được ký kết. Chính phủ Anh đồng ý thả các tù nhân để đổi lấy việc đình chỉ phong trào bất tuân dân sự.

Khi thế chiến thứ hai bùng nổ, 1939, Phát xít Đức xâm lược Ba lan. Gandhi tuyên bố Ấn độ không thể hợp tác với nước Anh để đấu tranh cho quyền tự do dân chủ trong khi chính Ấn độ lại bị nước Anh từ chối nền độc lập. Gandhi soạn thảo một nghị quyết Ngưng Ấn độ (Quit India) đòi hỏi Anh quốc phải rút ra khỏi Ấn độ ngay lập tức. Ngưng Ấn độ đã trở thành phong trào mạnh mẽ nhất trong lịch sử của cuộc đấu tranh, hàng ngàn người bị giết, bị thương và hàng trăm ngàn người bị bắt. Gandhi và cả Quốc hội Ấn độ bị bắt ở Bombay vào năm 1942. Gandhi bị giam tù hai năm. Trong tù, ông phải chịu đựng hai hung tin, người thư ký 50 tuổi của ông qua đời vì bệnh tim và sáu ngày sau vợ ông từ trần qua 18 tháng tù. Sáu tuần sau ông bị bệnh sốt rét nặng. Chính quyền không muốn ông chết trong tù vì việc này sẽ làm cho cả nước giận dữ nên đã thả ông trước khi cuộc chiến chấm dứt. Năm 1944, Anh quốc biểu lộ rõ ràng ý định trao quyền lại cho Ấn độ, Gandhi kết thúc cuộc chiến, và khoảng 100.000 tù nhân chính trị được trả tự do.

Năm 1947, Ấn độ hoàn toàn giành được nền độc lập.

Gandhi đã trải qua tổng cộng 2.338 ngày trong tù và đã nhịn ăn nhiều lần.

Ngày 30 tháng 1 năm 1948, Gandhi bị ám sát trong khi đi tới diễn dàn để khai mạc cho buổi lễ cầu nguyện. Ngày ông mất là ngày “ngọn đèn trí tuệ đã rời khỏi chúng ta”, nhưng lời ông nói vẫn còn vang mãi trong lòng nhân loại: “Khi tuyệt vọng, tôi nhớ lại rằng qua lịch sử, con đường của sự thật và tình thương luôn luôn chiến thắng. Người tàn ác và kẻ sát nhân một thời dường như không thể bị đánh bại, nhưng cuối cùng, họ luôn luôn bị sụp đổ – hãy thường nghĩ như vậy.” (“When I despair, I remember that all through history the way of truth and love has always won. There have been tyrants and murderers and for a time they seem invincible, but in the end, they always fall — think of it, always.”)

Bài diễn văn “Không có sự cứu rỗi nào cho Ấn độ” đã được thuyết giảng vào ngày 4 tháng 2 năm 1916 cho buỗi lễ khai mạc tại trường Đại học Benares Hindu. Gandhi đã phát biểu trước khán giả của nhiều hoàng tử Ấn độ với y phục sang trọng và trang sức tràn ngập, trong số đó cũng có vài người Anh. Còn Gandhi trong bộ đồ thô sơ của người nông dân. Bài diễn văn đã làm xúc phạm đến khán giả, nhất là qua câu: "Không có sự cứu rỗi cho Ấn Độ, trừ khi các người lột bỏ đồ trang sức này và cầm giữ nó cho đồng bào của mình tại Ấn Độ." Trong khi các hoàng tử Ấn độ tập hợp lại để ủng hộ đế quốc nhưng Gandhi lại phát biểu về đề tài chống đế quốc. Từ trước đến nay, các chiến dịch giành độc lập phần lớn đều được tiến hành bởi giới thượng lưu trí thức, Gandhi đã thấy được những chiến dịch này không đi đến đâu và ông đã chuyển hướng. Sự kiện ở đây đã biến ông trở thành người lãnh đạo tinh thần của cuộc vận động giành độc lập cho Ấn độ. Và giấc mơ của ông đã thành sự thật.

Tìm hiểu về cuộc đời của Gandhi để lại trong lòng chúng ta một sự kính phục vô bờ bến. Nhiều tài liệu phim ảnh và văn chương đã mô tả Mahatma Gandhi. Bộ phim Gandhi năm 1982 do Ben Kingsley đóng vai Gandhi đã chiếm giải Oscar là bộ phim hay nhất.

Nhiều sử gia đã viết về cuộc đời Gandhi trong số đó có:
- D. G. Tendulkar với Mahatma. Cuộc đời của Mohandas Karamchand Gandhi gồm tám tập
- Pyarelal & Sushila Nayar với Mahatma Gandhi gồm 10 tập.
- Bộ tài liệu với tựa đề Mahatma: Cuộc đời của Gandhi, 1869–1948 gồm 14 chương.

Gần cuối đời, khi được hỏi có Ngài có phải là một người Ấn độ giáo, Ngài trả lời: “Vâng, đúng rồi! Tôi cũng là một Kitô hữu, là một người Hồi giáo, là một Phật tử và là một người Do thái”.( Later in his life, when he was asked whether he was a Hindu, he replied, “Yes I am. I am also a Christian, a Muslim, a Buddhist and a Jew.”)

Gandhi thật sự xứng đáng với danh hiệu Cha gia dân tộc, Linh hồn Vĩ đại, Tâm hồn rộng lớn, Đại Bồ Tát và Thánh nhân.

Mời các bạn đọc một số đoạn trích ra từ bài diễn văn 4.2.1916

    …We have been told during the last two days how necessary it is, if we are to retain our hold upon the simplicity of Indian character, that our hands and feet should move in unison with our hearts. But this is only by way of preface. I wanted to say it is a matter of deep humiliation and shame for us that I am compelled this evening under the shadow of this great college, in this sacred city, to address my countrymen in a language that is foreign to me. I know that if I was appointed an examiner, to examine all those who have been attending during these two days this series of lectures, most of those who might be examined upon these lectures would fail. And why? Because they have not been touched. 

    I was present at the sessions of the great Congress in the month of December. There was a much vaster audience, and will you believe me when I tell you that the only speeches that touched the huge audience in Bombay were the speeches that were delivered in Hindustani? In Bombay, mind you, not in Banaras where everybody speaks Hindi. But between the vernaculars of the Bombay Presidency on the one hand and Hindi on the other, no such great dividing line exists as there does between English and the sister language of India; and the Congress audience was better able to follow the speakers in Hindi. I am hoping that this University will see to it that the youths who come to it will receive their instruction through the medium of their vernaculars. Our languages the reflection of ourselves, and if you tell me that our languages are too poor to express the best thought, then say that the sooner we are wiped out of existence the better for us. Is there a man who dreams that English can ever become the national language of India? Why this handicap on the nation? Just consider for one moment what an equal race our lads have to run with every English lad.

    I had the privilege of a close conversation with some Poona professors. They assured me that every Indian youth, because he reached his knowledge through the English language, lost at least six precious years of life. Multiply that by the numbers of students turned out by our schools and colleges, and find out for yourselves how many thousand years have been lost to the nation. The charge against us is that we have no initiative. How can we have any, if we are to devote the precious years of our life to the mastery of a foreign tongue?

    … The only education we receive is English education. Surely we must show something for it. But suppose that we had been receiving during the past fifty years education through our vernaculars, what should we have today? We should have today a free India, we should have our educated men, not as if they were foreigners in their own land but speaking to the heart of the nation; they would be working amongst the poorest of the poor, and whatever they would have gained during these fifty years would be a heritage for the nation. Today even our wives are not the sharers in our best thought…

    … I have turned the searchlight all over, and as you have given me the privilege of speaking to you, I am laying my heart bare. Surely we must set these things right in our progress towards self-government. I now introduce you to another scene. His Highness the Maharaja who presided yesterday over our deliberations spoke about the poverty of India. Other speakers laid great stress upon it. But what did we witness in the great pandal in which the foundation ceremony was performed by the Viceroy? Certain it a most gorgeous show, an exhibition of jewellery, which made a splendid feast for the eyes of the greatest jeweller who chose to come from Paris. I compare with the richly bedecked noble men the millions of the poor. And I feel like saying to these noble men, "There is no salvation for India unless you strip yourselves of this jewellery and hold it in trust for your countrymen in India." I am sure it is not the desire of the King-Emperor or Lord Hardinge that in order to show the truest loyalty to our King-Emperor, it is necessary for us to ransack our jewellery boxes and to appear bedecked from top to toe. I would undertake, at the peril of my life, to bring to you a message from King George himself that he excepts nothing of the kind.

    Sir, whenever I hear of a great palace rising in any great city of India, be it in British India or be it in India which is ruled by our great chiefs, I become jealous at once, and say, "Oh, it is the money that has come from the agriculturists." Over seventy-five percent of the population are agriculturists and Mr. Higginbotham told us last night in his own felicitous language, that they are the men who grow two blades of grass in the place of one. But there cannot be much spirit of self-government about us, if we take away or allow others to take away from them almost the whole of the results of their labour. Our salvation can only come through the farmer. Neither the lawyers, nor the doctors, nor the rich landlords are going to secure it.

    …Hai ngày qua, chúng ta được cho biết, nếu chúng ta muốn nắm giữ được đặc tính bình dị của Ấn độ, thì việc tay và chân của chúng ta cùng di chuyển hòa nhịp với trái tim của chúng ta là việc cần thiết đến thế nào. Nhưng đó chỉ là mở đầu. Tôi muốn nói là vấn đề vô cùng nhục nhã và xấu hổ cho chúng ta rằng tối nay dưới bóng trường đại học vĩ đại, trong thành phố thiêng liêng này, tôi buộc phải nói chuyện với đồng bào của tôi bằng ngôn ngữ nước ngoài. Tôi biết rằng nếu tôi được chọn là người chấm thi để khảo nghiệm tất cả những người dự những buổi giảng trong hai ngày này, phần lớn những người được xét nghiệm sẽ bị rớt. Và vì sao? Vì những lời giảng này không gây cảm xúc cho họ. 

    Tôi đã có mặt tại các phiên họp của Quốc hội lớn trong tháng 12. Khán giả đông hơn nhiều, và các bạn có tin tôi không khi tôi nói với bạn rằng chỉ có những bài diễn văn làm xúc động đến đám đông khán giả ở Bombay là những bài diễn văn được nói bằng tiếng Ấn Hindustani? Ở Bombay, nên nhớ, không phải ở Banaras nơi mọi người đều nói tiếng Ấn Hindi. Một mặt giữa tiếng mẹ đẻ của Bombay Quyền Lực và mặt khác là tiếng Hindi, nhưng không có ranh giới rõ rệt như giữa tiếng Anh và ngôn ngữ thân thuộc của Ấn độ; và khán giả trong Đại hội có thể theo dõi người nói bằng tiếng Ấn Hindi rõ hơn. Tôi hy vọng rằng Đại học này thấy được những bạn trẻ đến đây sẽ được giáo huấn bằng ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ của họ. Các ngôn ngữ của chúng ta là phản ảnh của chính chúng ta, và nếu bạn bảo tôi rằng ngôn ngữ của chúng ta quá nghèo nàn để diễn đạt ý nghĩ hay nhất, là nói rằng chúng ta xóa bỏ sự tồn tại của chúng ta sớm chừng nào tốt chừng đó. Có người nào mơ rằng tiếng Anh có lúc nào có thể trở thành quốc ngữ của Ấn độ. Tại sao điều này cản trở đất nước? Chỉ cần xem xét một chốc về sự công bằng trong cuộc đua mà các chàng trai của chúng ta phải cạnh tranh với mỗi chàng trai người Anh.

    Tôi đã có đặc quyền trao đổi với vài giáo sư ở Poona. Họ đã quả quyết với tôi rằng mỗi thanh niên Ấn độ, vì anh ta theo đuổi kiến thức bằng tiếng Anh, đã mất ít nhất sáu năm quý báu của cuộc đời. Nhân nó với số học sinh ra trường trung học và đại học, và trả lời cho chính bạn bao nhiêu ngàn năm đã bị mất cho nước nhà. Tổn phí của chúng ta là chúng ta không có chủ động. Làm sao chúng ta có được, nếu chúng ta cống hiến những năm quý báu của cuộc đời để luyện một giọng nước ngoài?

    …Nền giáo dục duy nhất chúng ta được nhận là nền giáo dục tiếng Anh. Chắc chắn chúng ta phải thể hiện điều gì cho nền giáo dục đó. Nhưng nếu chúng ta được nhận nền giáo dục trong vòng 50 năm qua bằng tiếng mẹ đẻ, chúng ta nên có gì ngày hôm nay? Chúng ta nên có một Ấn độ tự do hôm nay, chúng ta nên có những người học thức, không phải như họ là người ngoại quốc trên chính đất nước họ mà là nói thẳng đến trái tim của đất nước; họ sẽ làm việc giữa những người nghèo nhất trong số những người nghèo, và bất cứ điều gì họ đã gặt được trong vòng năm mươi năm đó sẽ là một di sản cho quốc gia. Ngày nay, ngay cả vợ của chúng ta cũng không là người chia sẻ tư tưởng tốt nhất với chúng ta…

    …Tôi đã soi rọi tìm kiếm khắp nơi, và khi bạn đã cho tôi đặc quyền nói chuyện với bạn, tôi phơi bày trái tim tôi. Chắc chắn chúng ta phải thiết lập những điều này ngay trong tiến trình của chúng ta tiến tới chính quyền tự trị. Tôi bây giờ giới thiệu với bạn một cảnh khác. Hoàng thân Maharaja người chủ tọa ngày hôm qua trong cuộc thảo luận nói về sự nghèo đói của Ấn Độ. Các diễn giả khác đã nhấn mạnh điều này. Nhưng chúng ta đã chứng kiến được gì trong chiếc lều vĩ đại, trong đó Phó vương cử hành buổi lễ nền tảng? Chắc chắn đó là sự phô bày tuyệt đẹp, một cuộc triển lãm đồ trang sức, một bữa tiệc lộng lẫy thỏa mãn đôi mắt của nhà buôn kim hoàn vĩ đại nhất được chọn đến từ Paris. Tôi so sánh những người giàu quý tộc ngập trang sức với hàng triệu người nghèo. Và tôi cảm thấy muốn nói với những người quý tộc, “Không có sự cứu rỗi cho Ấn Độ, trừ khi các người lột bỏ đồ trang sức này và cầm giữ nó cho đồng bào của mình tại Ấn Độ.” Tôi chắc chắn đó không phải là mong muốn của Hoàng đế hay Bá tước Hardinge rằng để chứng minh lòng trung thành chân thật nhất với Hoàng đế, chúng ta cần phải lục soát các hộp đồ trang sức của chúng ta và xuất hiện với đồ trang sức tràn ngập từ đầu đến chân. Tôi sẽ nhận, kể cả với nguy hiểm cho tính mạng của tôi, mang đến cho các bạn một tin nhắn từ chính Vua George rằng ông không bỏ qua những chuyện như vậy.

    Thưa quý ông, bất cứ khi nào tôi nghe một cung điện mọc lên trong bất kỳ thành phố lớn nào của Ấn Độ, có thể là ở Ấn Độ thuộc Anh hoặc có thể là ở Ấn Độ được cai trị bởi những tù trưởng vĩ đại của chúng ta, tôi trở thành ghen tị ngay, và nói, “Ồ, tiền đó đến từ nhà nông." Hơn bảy mươi lăm phần trăm dân số là nông dân và ông Higginbotham đã nói với chúng ta đêm qua bằng ngôn ngữ rất khéo léo của chính ông, rằng họ là những người đã trồng hai cọng cỏ tại địa điểm cho chỉ một cọng. Nhưng không thể nào có tinh thần tự quản cho chúng ta, nếu chúng ta lấy hoặc cho phép người khác lấy từ các nhà nông gần như toàn bộ kết quả của sự lao động của họ. Sự cứu rỗi của chúng ta chỉ có thể đến từ người nông dân. Không phải luật sư, hay bác sĩ, hay những địa chủ giàu có sẽ bảo đảm sự cứu rỗi của chúng ta.

(Diệu Sương dịch và giới thiệu)

Tài liệu tham khảo:

http://en.wikipedia.org/wiki/Mohandas_Karamchand_Gandhi
http://www.lebichson.org/Phatphap/02Gandhi.htm
http://www.viet-studies.info/Phankhoi/PKhoi_ThoiCuocAnDo.htm
http://www.gandhi-manibhavan.org/gandhicomesalive/speech2.htm
http://nguoivietboston.com/?p=15008

Bài kế tiếp: Vladimir Ilyich Lenin, “Quyền lực cho Sô Viết”
 


Filed under: Các diễn văn làm thay đổi thế giới, Văn Hóa Tagged: các diễn văn làm thay đổi thế giới, Văn Hóa

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền” – Mặt ai ?

Posted: 14 Apr 2011 02:01 PM PDT

 
Góp thêm một cách hiểu câu thơ "Lá trúc che ngang mặt chữ điền" trong bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử

Dương Hiền Nga

Trong thời gian qua, đã có rất nhiều bài viết trao đổi về câu thơ "Lá trúc che ngang mặt chữ điền" trên mặt báo. Để trả lời câu hỏi "mặt chữ điền" là gương mặt của ai? Mặt cô gái hay chàng trai, cho đến này dường như vẫn chưa thật ngã ngũ một cách thỏa đáng.

Theo tôi, nên đặt câu thơ và chỉnh thể nghệ thuật Đây thôn Vĩ Dạ để xem xét sẽ thấy đây là câu thơ tả cảnh thôn Vĩ chứ không phải tả mặt người.

Như chúng ta đã biết, Hàn Mặc Tử sinh ở Quảng Bình nhưng sống chủ yếu ở Quy Nhơn, có thời gian ra Huế học hai năm sau đó vào Bình Định làm ở Sở Đạc Điền rồi vào Sài Gòn làm báo. Từ nằm 1936 ông bị bệnh phong, từ đó ông sống trong trại phong Quy Hòa – Quy Nhơn.

Trong thời gian làm ở Sở Đạc Điền, Hàn Mặc Từ yêu đơn phương Hoàng Cúc, con ông chủ Sở Đạc Điền, nhưng do hoàn cảnh hai gia đình quá khác biệt nên Hàn Mặc Tử không dám thổ lộ, về sau Hoàng Cúc theo cha về Huế sống ở Vĩ Dạ. Năm 1936, Hàn Mặc Tử về Quy Nhơn nhưng không gặp Hoàng Cúc nữa. Từ năm 1937, ông vào trại phong. Khi Hoàng Cúc nghe tin ông mắc bệnh hiểm nghèo đã gửi cho Hàn Mặc Tử một tấm bưu ảnh chụp cảnh sông nước bến thuyền kèm theo lời hỏi thăm sức khỏe và lời trách: "Sao lâu nay không ra thăm Vĩ Dạ?"

Hàn Mặc Từ xúc động mạnh, năm 1937, ông viết bài thơ gửi Hoàng Cúc, bà đã giữ bài thơ cho đến lúc từ trần (1989).

Toàn cảnh thôn Vỹ Dạ ngày nay

Xuất xứ bài thơ đặc biệt như thế nhưng chúng ta không nên hiểu hạn hẹp đây là bài thơ tình dành riêng cho Hoàng Cúc. Thực ra bài thơ nói đến những vấn đề lớn trong cuộc đời Hàn Mặc Tử. Đó là cuộc đời người mắc bệnh vô phương cứu chữa, bị cách li, bị ghẻ lạnh, cuộc sống khép kín oan nghiệt khiến nhà thơ khao khát đắm đuối một cách vô vọng cuộc sống bên ngoài.

Nhân việc Hoàng Cúc gửi thư, thiếp thăm hỏi, Hàn Mặc Tử đã trải lòng mình, đã trút bầu tâm sự vào bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.

Nhan đề bài thơ lấy thôn Vĩ Dạ làm không gian nghệ thuật, mọi chi tiết nghệ thuật đều triển khai từ không gian này và thuộc không gian này với đặc trưng phong cảnh nhà vườn soi bóng dòng Hương. Vào năm 1937 đối với Hàn Mặc Tử thì thôn Vĩ không thuần túy mang tính chất không gian địa lí mà là không gian tâm lý, có tính khái quát là cõi ngoài kia: Cõi đời thơm tho, tràn trề hạnh phúc non tơ quyến rũ (Trái ngược với cõi trong này: Là hồn, là máu, điên cuồng thét gào tuyệt vọng). Tâm sự này rất rõ ở nhiều bài khác:

Ngoài kia xuân đã thắm duyên chưa
Trời ở trong đây chẳng có mùa
Không niềm trăng và ý nhạc
(Nhớ thương)

Anh đứng cách xa hàng thế giới
Lặng nhìn trong mộng miệng em cười
(Lưu Luyến)

Câu thơ đầu tiên có lẽ xuất phát từ ý lời nhắn gửi của Hoàng Cúc, với sáu thanh bằng nhè nhẹ như tiếng thở dài, bỗng vút lên một thanh trắc và dấu hỏi cuối câu làm cho âm điệu bài thơ có phần da diết, nức nở như đọng đầy nước mắt: Làm sao còn có thể trở về cuộc sống bình thường nữa!

Năm dòng thơ tiếp theo miêu tả cảnh thôn Vĩ đẹp tươi đầy sức sống, trong trẻo, long lanh và ấm áp với những nắng mới, hàng cau, vườn mướt, xanh như ngọc, lá trúc, gió, mây, dòng nước…Câu thơ "Lá trúc che ngang mặt chữ điền" nằm trong đoạn này. Sở dĩ tôi cho rằng nên hiểu đây là câu thơ tả cảnh thôn Vĩ còn vì: Năm 1996 tôi cùng đoàn cán bộ quản lý của Yên Bái đi thực tế trong Huế, tôi có tới Vĩ Dạ (Tất nhiên bây giờ đã khác nhiều) và qua gặp gỡ một số đồng nghiệp, nhân nói đến câu thơ này mọi người cho biết Vĩ Dạ thời đó là một thôn với những nhà vườn xinh xắn thơ mộng bên dòng Hương, nơi này chủ yếu các quan triều đình về già được vua ban đất và nhà để nghỉ ngơi. Ở Vĩ Dạ lúc đó trồng nhiều trúc bên lối đi, cổng nhà trường có tấm "Chấn Phong" để chắn gió, trên đó thường đắp nổi hoặc viết một chữ điền (bằng chữ Hán) vừa cho đẹp vừa hàm ơn là đất vua ban khi tuổi già xế bóng. Gặp một vài người già ở Huế hỏi điều này, họ xác nhận như vậy nhưng quan trọng nhất là đặt trong mạch thơ đầy lưu luyến hồi tưởng về thôn Vĩ, về cuộc sống bên ngoài, tôi thấy hợp lý.

Bài thơ chủ yếu nói đến nỗi nhớ, nỗi băn khoăn của một tâm hồn khao khát níu giữ cái đẹp trong tâm khảm nên tác giả chú trọng diễn tả tâm hồn người chứ không chú trọng tả mặt người. Có một số dòng thơ nhắc đến người đều dùng đại từ phiếm chỉ: Vườn ai, thuyền ai, ai biết, tình ai… và càng về sau càng "mờ nhân ảnh" trong nhạt nhòa, bất định.

Mọi người đều thống nhất rằng bài thơ rất giầu chất hội họa bởi đó chính là bức tranh thôn Vĩ được tái hiện từ một tâm hồn cô đơn đau đớn phấp phỏng lo âu trước số phận phũ phàng. "Lá trúc che ngang mặt chữ điền" là một nét phác thảo đẹp trong bức tranh ấy, cái tĩnh của mặt chữ điền, cái động của ngọn trúc nhẹ lay trước gió làm cho cảnh sắc thêm sống động biết bao.

Nhân đọc những bài viết trao đổi của các thầy, cô giáo và các em học sinh, tôi mạo muội nêu thêm cách hiểu trên để bạn đọc cùng tham khảo và góp ý

Dương Hiền Nga
Email: hiennga.yenbai@gmail.com


Filed under: Thơ, Văn Hóa Tagged: Thơ, Văn Hóa

Hai người bất đồng chính kiến được tự do

Posted: 14 Apr 2011 02:00 PM PDT

BBC
Hai ông Phạm Hồng Sơn và Lê Quốc Quân sau khi được thả

Hai ông Phạm Hồng Sơn và Lê Quốc Quân vừa được cho về nhà tối thứ Tư 13/04 sau chín ngày tạm giữ tại trại giam của Công an Hà Nội.

Hai ông rời trại giam lúc 8 giờ 30 tối sau khi được người nhà tới đón.

Ông Sơn và ông Quân bị công an bắt vì “Gây rối trật tự công cộng” vào sáng ngày 04/04/2011 bên ngoài Tòa án Nhân dân TP Hà Nội, khi họ tới theo dõi phiên sơ thẩm Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ.

Vợ của hai ông trước đó đã gửi thư ngỏ kêu cứu tới ‘toàn dân’.

Nói chuyện với BBC sáng thứ Năm 14/04 từ nhà riêng, Luật sư Lê Quốc Quân cho hay ông không biết rõ quyết định trả tự do cho hai ông đến từ đâu, nhưng “có lẽ là từ cấp rất cao, cấp Bộ (Công an)”.

“Việc bắt cũng như việc thả chúng tôi đều không vì hành vi của chúng tôi, mà vì nhân thân, vì tôi là LS Lê Quốc Quân.”

Ông Quân nói đã được công an cho xem một video clip quay cảnh ông và bác sỹ Phạm Hồng Sơn bên ngoài Tòa án Tp Hà Nội sáng hôm 04/04, được cho như bằng chứng về việc hai ông “gây rối trật tự công cộng”.

“Thế nhưng trên clip đó, không hề có hành vi nào có thể gọi là gây rối trật tự.”

Áp lực của Nhà thờ?

Từ khi bị bắt hôm 04/04 tới lúc được trả tự do, hai ông Sơn và Quân bị giam tại Trại giam số 1, Công an Hà Nội.

Cơ quan công an cũng đã tiến hành khám xét nhà ở và cơ quan của ông Quân, điều mà ông gọi là “trái pháp luật” vì không có sự chứng kiến của ông.

LS Quân nói ông đang khiếu nại việc một số máy móc, tài liệu của cá nhân ông bị tịch thu.

Ông cũng cho hay, trong trại giam hai ông được đối xử đúng pháp luật, tuy bị giam riêng rẽ.

“Tôi có đọc thấy thông tin họ ghi trên tấm bảng, viết rằng trong buồng giam C1 có phạm nhân đặc biệt cần quan tâm, chống thông cung, chống tự sát.”

“Thế nhưng là người Công giáo, tôi không bao giờ có ý nghĩ về việc này, mà luôn luôn vui vẻ và lạc quan.”

Sau khi được trả tự do, hai ông và vợ đã tới thẳng Nhà thờ Thái Hà để dự lễ và nói lời tri ân.

Việc được trả tự do, theo ông Lê Quốc Quân, là “phép màu của lời cầu nguyện” của các giáo dân trong những ngày qua.

“Họ (nhà chức trách) thả tôi và anh Sơn chắc chắn là do áp lực từ đồng bào Công giáo, nhất là những buổi thắp nến cầu nguyện cho chúng tôi.”


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

Philippines phản đối Trung Quốc lên LHQ

Posted: 14 Apr 2011 02:00 PM PDT

BBC

Bản đồ Biển Đông với đường đỏ là tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc

Philippines vừa gửi thư ngoại giao (note verbale) lên Liên Hiệp Quốc để phản đối yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông.

Manila viết rằng tuyên bố chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc “không có cơ sở theo luật quốc tế”.

Trước đó các nước Việt Nam, Malaysia và Indonesia cũng đã lên tiếng phản đối khi Trung Quốc đệ trình bản đồ thềm lục địa mở rộng lên Liên Hiệp Quốc hồi năm 2009, trên đó có mô tả đường chín đoạn bao quanh tới 80% diện tích Biển Đông.

Hãng thông tấn Associated Press cho hay văn bản nói trên đã được chuyển lên LHQ từ đầu tháng này.

Nhiều nước, trong đó có Philippines, Trung Quốc và Việt Nam, đang tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, khu vực được cho là giàu tài nguyên và có những tuyến hàng hải vô cùng quan trọng.

Trong note verbale gửi lên bộ phận chuyên trách Luật biển của LHQ, Philippines tuyên bố quần đảo Kalayaan (Trường Sa) là bộ phận không thể tách rời của Philippines và nước này có chủ quyền và quyền tài phán đối với quần đảo này, cũng như các vùng biển xung quanh.

Manila viện dẫn Công ước về Luật biển của LHQ (UNCLOS) để minh chứng.

Bởi vậy, theo Philippines, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc “đối với các vùng biển, đáy biển và thềm lục địa không có cơ sở nào theo luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS”.

Tháng trước, tàu thăm dò của Bộ Năng lượng Philippines đang làm việc gần Bãi Cỏ rong thuộc Trường Sa đã bị hai tàu tuần tra của Trung Quốc gây hấn.

Sự kiện này gây phản ứng mạnh từ phía chính phủ Manila, vốn đã điều ngay chiến đấu cơ tới hiện trường để đối phó với tàu Trung Quốc.

Tuần này Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc Quách Bá Hùng đang có chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam. Được biết, một trong các nội dung quan trọng trong hội đàm hai bên là giải quyết tranh chấp Biển Đông.


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

Quan chức quốc phòng cao cấp TQ thăm VN

Posted: 14 Apr 2011 02:00 PM PDT

BBC

Đại tướng Phùng Quang Thanh và Thượng tướng Quách Bá Hùng
Ông Quách Bá Hùng là ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản TQ

Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Thượng tướng Quách Bá Hùng, đang có chuyến thăm Việt Nam từ 12/04-15/04.

Ông vừa có các cuộc gặp với giới chức Việt Nam và một trong các chủ đề được nói là giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Ông Quách Bá Hùng dẫn đầu một đoàn đại biểu quân sự cấp cao, bao gồm các tướng lĩnh của Trung Quốc, tới Việt Nam theo lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh.

Tướng Quách đã có hội đàm song phương với Tướng Thanh vào sáng thứ Tư 13/04.

Một bản tin đăng trên tờ Quân đội Nhân dân, cơ quan ngôn luận của Bộ Quốc phòng Việt Nam, dẫn lời ông Quách Bá Hùng nói rằng tranh chấp Biển Đông là “vấn đề phức tạp nhất trong quan hệ Việt Trung mà hai bên cần coi trọng và giải quyết thỏa đáng”.

“Đây là một sự thật khách quan và không cần né tránh vấn đề này.”

Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng phản đối Trung Quốc có các hoạt động tập trận và khai thác tài nguyên Biển Đông. Ngược lại, Trung Quốc cũng có các động thái tương tự.

Báo Quân đội Nhân dân trích lời Tướng Quách nói “kinh nghiệm thành công trong hoạch định biên giới trên bộ và phân định Vịnh Bắc Bộ cho thấy nếu hai bên kiên trì đàm phán và hiệp thương hữu nghị thì hai bên đều có thể giải quyết được dù vấn đề phức tạp”.

Về phần mình, Bộ trưởng Quốc phòng Ph̀ung Quang Thanh được dẫn lời nói rằng “xử lý vấn đề trên biển cần phải xuất phát từ quyết tâm chính trị cao và bình tĩnh trong giải quyết”.

Đây (vấn đề Biển Đông) là một sự thật khách quan và không cần né tránh vấn đề này.

Thượng tướng TQ Quách Bá Hùng

Ông Thanh nói hướng giải quyết là phải thông qua “đàm phán hòa bình, luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển năm 1982 của LHQ (UNCLOS), bằng tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC) và hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC)”.

Bộ trưởng Việt Nam cũng đề xuất tăng cường tuyên truyền “để nhân dân hai nước hiểu về vấn đề này”.

‘Âm mưu của các thế lực thù địch’

Thượng tướng Quách Bá Hùng cũng đã tới chào Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Thông tấn xã Việt Nam đưa tin chủ đề Biển Đông cũng được đề cập tới trong cuộc gặp giữa ông Quách với người đứng đầu chính phủ Việt Nam.

Ông Dũng kêu gọi hai bên tìm kiếm các “giải pháp mang tính cơ bản, lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được”.

Trong khi đó, ông Quách, người cũng là ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, nói hai bên cần “cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống giữa hai nước”.

Hải quân Trung QuốcQuân đội Việt-Trung đang tìm cách tăng cường đối thoại

Từ trước tới nay, Bắc Kinh duy trì quan điểm rằng các tranh chấp Biển Đông cần được giải quyết song phương giữa các quốc gia liên quan và phản đối cái mà Trung Quốc gọi là “can thiệp của bên ngoài vào khu vực”.

“Bên ngoài” là cách nói gián tiếp, phần lớn để chỉ vai trò của Hoa Kỳ, một cường quốc khác cũng có hiện diện lớn tại châu Á-Thái Bình Dương.

Năm ngoái tại Hà Nội, Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố duy trì tự do lưu thông và giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông là “lợi ích quốc gia” của Mỹ.

Tuyên bố này đã khiến Bắc Kinh tức giận.


Filed under: Bang giao quốc tế, Biển Đông Tagged: Bang giao quốc tế, Biển Đông

Perhaps love – John Denver

Posted: 13 Apr 2011 03:49 PM PDT

 
Chào các bạn,

“Perhaps love” là một bản tình  ca tuyệt vời của John Denver.

Lời bài hát thật đẹp. Tình yêu là gì vậy? Một nơi trú ngụ khỏi bao cơn bão của cuộc sống? Nơi cho người ta sức mạnh? Nơi cho người ta nhìn thấy được chính mình?

Kỷ niệm về tình yêu đẹp luôn còn mãi để bất kỳ khi nào cũng có thể sống lại và nương tựa vào đó.

Nếu bạn là bố hay mẹ, mình nghĩ, món quá tốt nhất bạn có thể tặng cho con cái là một kỷ niệm về tình yêu đẹp giữa bố và mẹ.

John Denver sáng tác bài hát này để tặng cho vợ anh khi vợ chồng anh đang ly thân và sắp tiến tới ly dị.

Perhaps love

Artist: John Denver

(Placido Domingo)
Perhaps love is like a resting place
A shelter from the storm
It exists to give you comfort
It is there to keep you warm
And in those times of trouble
When you are most alone
The memory of love will bring you home

(John Denver)
Perhaps love is like a window
Perhaps an open door
It invites you to come closer
It wants to show you more
And even if you lose yourself
And don’t know what to do
The memory of love will see you through

(Placido Domingo)
Oh, Love to some is like a cloud
To some as strong as steel

(John Denver)
For some a way of living
For some a way to feel

(Placido Domingo)
And some say love is holding on
And some say letting go
And some say love is everything
And some say they don’t know

(John starts joined by Placido)
Perhaps love is like the ocean
Full of conflict, full of pain
Like a fire when it’s cold outside
Thunder when it rains
If I should live forever
And all my dreams come true
My memories of love will be of you

(Placido Domingo)
And some say love is holding on
And some say letting go

(John Denver)
And some say love is everything
Some say they don’t know

(John starts joined by Placido)
Perhaps love is like the ocean
Full of conflict, full of pain
Like a fire when it’s cold outside
Or thunder when it rains
If I should live forever
And all my dreams come true
My memories of love will be of you

Có lẽ tình yêu

Nghệ sĩ: John Denver

(Placido Domingo)
Có lẽ tình yêu như một nơi nghỉ ngơi
Nơi trú ngụ khỏi cơn bão
Tình yêu tồn tại để cho bạn sự yên ổn
Tình yêu ở đó để giữ cho bạn ấm
Và trong những lúc phiền muộn đó
Khi bạn cô đơn nhất
Kỷ niệm của tình yêu sẽ trở bạn về nhà

(John Denver)
Có lẽ tình yêu như một cửa sổ
Cóe lẽ một cánh cửa mở toang
Tình yêu mời bạn đến gần hơn
Tình yêu muốn chỉ cho bạn thấy nhiều hơn
Và ngay cả bạn đánh mất mình
Và không biết làm gì
Kỷ niệm của tình yêu sẽ nhìn thấu bạn

(Placido Domingo)
Ồ, Tình yêu đối với một số người như một đám mây
Với một số người mạnh mẽ như thép

(John Denver)
Đối với một số người một cách sống
Đối với một số người một cách để cảm nhận

(Placido Domingo)
Và một số người nói tình yêu là bám giữ
Và một số nói xả bỏ
Và một số nói tình yêu là mọi thứ
Và một số nói họ không biết

(John starts joined by Placido)
Có lẽ tình yêu như một đại dương
Đầy mâu thuẫn, đầy đau đớn
Như ngọn lửa khi trời ngoài kia lạnh
Như sấm khi trời mưa
Nếu anh có thể số mãi mãi
Và tất cả giấc mơ của anh thành sự thật
Những kỷ niệm về tình yêu của anh sẽ là của em

(Placido Domingo)
Và một số người nói tình yêu là bám giữ
Và một số nói xả bỏ
Và một số nói tình yêu là mọi thứ
Và một số nói họ không biết

(John starts joined by Placido)
Có lẽ tình yêu như một đại dương
Đầy mâu thuẫn, đầy đau đớn
Như ngọn lửa khi trời ngoài kia lạnh
Như sấm khi trời mưa
Nếu anh có thể số mãi mãi
Và tất cả giấc mơ của anh thành sự thật
Những kỷ niệm về tình yêu của anh sẽ là của em

 
John Denver live in Cork City (1986) – Perhaps Love

 
Perhaps Love – John Denver – Ann Rose & Joe

 
Perhaps love – Violin recital


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa

Hình ảnh tự tin số một

Posted: 13 Apr 2011 03:48 PM PDT

Chào các bạn,

Mình sẽ kể với các bạn về hình ảnh tự tin số một trên thế giới, và mình tin là sau khi nghe xong các bạn sẽ đồng ‎ý với mình đó là hình ảnh tự tin số một.

Đó là hình ảnh "Phật ta" trong Kinh Vô Lượng Thọ Phật.

Đây là kinh trì tụng thường xuyên của Tịnh độ tông của Phật giáo. Các bạn đã đọc 101 Truyền Thiền Bình Giải rổi thì thấy trí tuệ sâu thẳm của các Thiền sư của Thiền tông, Phật giáo. Thiền tông là để cho các bậc có căn cơ trí tuệ. Nhưng Tịnh độ tông là để cho tất cả mọi người, từ người rất cao minh về trí tuệ cho đến người rất lờ đờ lận đận về trí thông minh.

Tinh độ tông là tông phái chuyên về niệm Phật Adiđà, là vị Phật chủ của thế giới ta gọi là Tây Phương Tịnh Độ hay Tây Phương Cực Lạc, tiếng Anh là the Pure Land, một thế giới rất đẹp đẽ và an lạc mà chúng ta có thể đến.

Tông phái này chỉ có một pháp môn giản dị là niệm "Nam mô Adiđà Phật" và tưởng tượng đến Phật Adiđà và chính ta là Phật trong khi tụng niệm. Tức là, miệng thì lẩm bẩm "Nam mô Adiđà Phật", tâm thì tưởng tương đến (tức là "quán") hình ảnh thế giới Tịnh Độ cực kỳ đẹp đẽ thanh tịnh, rồi tưởng tượng đến Phật Adiđà cực kỳ đẹp đẽ sáng chói trên tòa sen, rồi tưởng tượng đến chính ta là Phật cực kỳ đẹp đẽ sáng chói trên tòa sen, bên cạnh Phật Adiđà.

Các bạn, đây là các vị Phật. Phật Adiđà là đó, và chính bạn là vị Phật khác cũng sáng chói và đẹp đẽ như Phật Adiđà, ngồi trên tòa sen bên cạnh Phật Adiđà.

Có hình ảnh nào về tự tin vào chính mình mà rõ ràng và mạnh mẽ hơn là hình ảnh chính ta là Phật trên tòa như thế?

Đó là pháp môn của Phật gia để huấn luyện ta thấy được và chấp nhận bản tính Phật của ta.

Kinh nói rằng nếu ta niệm Phật và quán tưởng như thế khi chết sẽ được vãng sanh về Tây Phương Tinh Độ của Phật Adiđà. Sự thật ngay lúc này là, quán tưởng như thế là ta đã đạt được Tây Phương Tịnh Độ trong tâm ngay tức thì, con người xung động hỉ nộ ái ố của ta chết ngay và ta sinh ngay về Tây Phương Tinh Độ. Tây Phương Tịnh Độ, cũng như Phật, chẳng ở đâu ngoài tâm ta cả.

Thực sự điều này không dễ làm như nghe nói—tưởng tượng ta là Phật ngồi cạnh Phật Adiđà. Bạn cứ làm thử thì sẽ thấy sự tự tin của ta bị thử thách kinh khủng—Trời, cái đầu của tôi từ chối không cho phép tôi ngạo mạn đến mức thấy con người tầm thường của tôi là vị Phật ngồi trên tòa Phật, kiêu căng quá, tôi không dám.

Nhưng nếu tâm ta đã thuần thục thì đó không kiêu căng tí nào, mà là tĩnh lặng và an lạc, niềm tĩnh lặng và an lạc của người lữ khách vừa mới trở về nhà, người vong thân vừa tìm lại được căn tánh của chính mình.

Mình cho là đây là hình ảnh tự tin số một trên thế giới. Nếu bạn muốn tập tự tin đến mức tuyệt đối, hãy tập nhìn thấy mình là Phật, bên cạnh bao vị Phật khác trên tòa sen.

Chúc các bạn một ngày đại ngộ.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Tinh thần yêu nước trong thơ Nguyễn Khắc Nhu

Posted: 13 Apr 2011 03:47 PM PDT

 

Tượng đài cụ Nguyễn Khắc Nhu tại quê hương Yên Dũng, Bắc Giang

Ông sinh năm 1881, tại làng Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Xuất thân trong một gia đình Nho học, thuở nhỏ ông theo học khoa cử, năm 1912 đi thi Hương đứng đầu cả xứ Bắc Kỳ nên đương thời gọi là Đầu Xứ Nhu, gọi tắt là Xứ Nhu. Ông không chỉ là một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân đảng, với chức vụ trưởng ban lập pháp, người có vai trò quan trọng trong đường lối đấu tranh vũ trang của Việt Nam Quốc Dân đảng, mà còn là một nhà thơ chân chính. Mỗi trang, mỗi dòng như chính cuộc đời bi hùng của ông, chứa chan tinh thần yêu nước, thương nòi.

Là một nhà nho chân chính, hết lòng yêu quê hương đất nước, ông chủ trương đấu tranh vũ trang chống thực dân cướp nước dành chính quyền, vì vậy thơ ông khác hẳn với những nhà nho đương thời: Đó là hơi thở của dân gian, mang cái hồn trí tuệ và tầm cao thời đại. Nơi ông sinh ra là cái nôi của nhiều làn điệu dân ca và văn học dân gian. Ngay từ nhỏ ông đã từng theo một phương chèo đi khắp miền Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn. Những làn điệu dân ca đầy chất trí tuệ, nhưng không kém phần lạc quan thấm vào ông từ lúc nào. Chí lớn, hoài bão của ông được thể hiện rõ nét trong thơ. Đây là câu đối treo trên tường lớp học, cùng bản đồ thế giới:

Bích quải địa dư đồ
Tổ quốc giang sơn hà xứ tại?
Đường tôn nho giáo học
Nam cương tử đệ kiếp tông dư?

Có nghĩa là:

Trên vách treo bản đồ
Tổ quốc non sông đâu đó nhỉ?
Trong nhà tôn nho học
Cháu con đất nước nối dòng chăng?

Bà Nguyễn Thị Thúc, con gái cụ Nguyễn Khắc Nhu, và tác giả Vân Hạc

Ôi! Tình yêu đất nước, ý chí tự tôn dân tộc cùng ý thức với thế hệ mai sau đau đáu trong lòng, để rồi sau này thể hiện ra bằng hành động cụ thể: Đấu tranh cách mạng. Khi dạy học, vừa dạy chữ Quốc ngữ, vừa dạy chữ Nho, trước thế và lực hơn hẳn của thực dân Pháp, ông đã âm thầm tập hợp bạn bè cùng chí hướng, khéo léo khơi dậy tinh thần yêu nước trong nhân dân, đặc biệt chú ý đến sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ, ươm những hạt mầm cho đất nước mai sau:

Thầy xứ, hỡi thầy xứ!
Một thầy một lũ trò con
Khi ngồi lúc đứng đã chồn
Hết bài Quốc ngữ lại dồn chữ Nho

Miệng giảng nghĩa to to nhỏ nhỏ
Tay xếp bài sổ sổ khuyên khuyên
Ngoài trông ra vẻ tự nhiên
Trong thì ắt hẳn có phen chẳng thường

Hai câu cuối của bài thơ chứa đầy ẩn ý, chí lớn được diễn đạt tinh tế và sâu sắc. Cái chí vẫy vùng cứ nước cứu dân ấy còn được gửi gắm qua một bài thơ trả lời một người bạn đồng học ở Bắc Giang mới được đổi đi làm thừa phái ở Hải Dương năm 1916:

Canh tàn rót chén biệt ly
Xét mình mà lại thương vì cho ai
Tấm thân lưu lạc quê người
Trên đầu ngày lại sương phơi dần dần
Nước trôi e những sảy chân
Lòng son còn có cổ nhân biết cùng
Cũng nên vùng vẫy vẫy vùng
Đương khi Mỹ vũ Âu phong thấm nhuần

Ông khuyên con người hãy chú ý đến việc giữ gìn nhân cách, hơn là chỉ chú ý đến bề ngoài:

Tạo hóa sinh ra vốn ở truồng
Áo quần che để khác cầm muông
Rách lành cốt giữ mầu thơm, sạch
Đơn, kép tùy che lúc nắng sương
Nết tốt vẫn thường nhiều kẻ chuộng
Tài hèn, mặc gấm chẳng ai màng
Người Tây kia những mang gai vải
Sao vẫn văn minh vẫn vẻ vang

Bài thơ đầy phong vị dân gian, trào lộng mà thâm thúy, đặc biệt, tuy căm ghét giặc Tây cướp nước, nhưng ông vẫn đánh giá đúng mức những thành tựu của họ. Với bạn, ông chân tình, sâu nặng, luôn mong cho bạn gặp những điều tốt lành, nhắc nhở các bạn vận động thanh niên theo Âu học, hy vọng có ngày đất nước ta có thể theo kịp những nước văn minh. Song ông không tha thứ cho kẻ bất nhân bạc ác. Khi biết tên tri huyện Thụ Ngọc Lương của huyện Võ Giảng, Bắc Ninh cũ tham lam, tàn ác, ông làm bài thơ cho dán trước cổng huyện đường, cảnh cáo hắn:

Gớm ghiếc huyện quan Thụ Ngọc Lương
Mồm thì lảm nhảm, mắt thì giương
Mẹ cha tổng lý lòng không nể
Bè bạn chân tình dạ chẳng thương
Xử kiện lèm nhèm như tổ đỉa
Nã tiền đòn đánh tựa đầu lươn
Văn nhân sỹ tử nào đâu cả
Xỏ khố khiêng lên trả tỉnh đường

Dân gian truyền miệng rằng, đọc bài thơ, tuy miệng nói cứng, như Thụ cũng e sợ và phải giảm bớt những hành động đàn áp bóc lột nhân dân trong huyện. Bài thơ của ông vừa răn đe kẻ bạc ác, vừa làm thức tỉnh sức mạnh trong mỗi người dân. Tư tưởng và chủ trương của ông được khẳng định trong bài thơ viết sau khi Ba Danh – tên mộ phu khét tiếng tham tàn của thực dân Pháp bị trừng trị đích đáng:

Bà Nguyễn Thị Thúc, con gái cụ Nguyễn Khắc Nhu, thay mặt gia tộc nhận bằng di tích

Nặng lòng ưu ái khó làm thinh
Dội máu nam nhi rửa bất bình
Cướp nước, chém cha quân Phú – Lãng
Cháy thành chết mẹ chú Ba Danh
Gian nan những xót người trong hội
Tâm sự nào ai kể với mình
Hỡi hỡi anh em cùng gắng sức
Phen này quét sạch lũ hôi tanh!

Trong khi vận nước đang lúc khó khăn, nhưng Nguyễn Khắc Nhu vẫn tin tưởng vào tương lai của dân tộc, của con đường đấu tranh cách mạng mình đã lựa chọn. Ngay khi còn dạy học, ông đã cho dán câu đối:

Thế giới văn minh vô chỉ cảnh
Nhân quần tiến hóa hữu cơ quan

có nghĩa là:

Văn minh thế giới không dừng bước
Tiến hóa loài người có chốt then

Thực ra vế đầu của câu đối mang ẩn ý sâu xa: "Văn minh Nam Việt không dừng bước".

Thơ của Nguyễn Khắc Nhu thể hiện rõ tình yêu với dân, với nước, yêu ghét phân minh, đầy suy tư trăn trở, nhưng những trăn trở suy tư ấy không bi quan yếm thế như một số nhà nho đương thời. Mà cái phần tích cực, năng động của nho giáo được ông tiếp thu, biến thành hành động cụ thể.

Năm 1909, sau khi cả phong trào Đông du và Đông Kinh nghĩa thục đều bị tan vỡ, thực dân Pháp truy nã và bắt giam nhiều nhà chí sĩ, có cả Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Nguyễn Khắc Nhu trốn sang Trung Quốc, tham gia vào cuộc vận động cứu nước. Từ đó, ông chuyển dần xu sang hướng đấu tranh bạo động. Năm 1927, ông về nước cùng với các đồng chí thành lập Hội Việt Nam Dân Quốc, tổ chức nhiều cuộc tập kích một số đồn Pháp ở Bắc Ninh, Đáp Cầu, Phả Lại… với ý định vũ trang khởi nghĩa. Năm 1928, ông sáp nhập hội Việt Nam Dân Quốc vào Việt Nam Quốc Dân Đảng và ông được cử tham gia với vai trò là trưởng ban Lập pháp của đảng. Ngày 9 tháng 2 năm 1930, ông trực tiếp chỉ huy trận đánh tập kích đồn binh Hưng Hoá và phủ lị Lâm Thao. Cuộc tập kích bất thành, bản thân ông bị trúng đạn nhưng vẫn tìm đường trốn thoát. Giữa đường ông dùng lựu đạn tự tử nhưng không chết và bị quân Pháp bắt được. Trên đường giải về trại giam, ông nhảy xuống sông tự trầm, nhưng lại bị quân Pháp vớt được và đem về giam ông tại Hưng Hóa. Tại đây, ngày 11 tháng 2 năm 1930, ông đập đầu vào tường giam tự tử để bảo toàn khí tiết, hưởng dương 49 tuổi.

Nhân dân vô cùng thương tiếc và cảm phục, nhiều người lập bài vị thờ cúng và làm nhiều bài thơ, câu đối tưởng nhớ người anh hùng đã anh dũng hy sinh vì dân vì nước. Đặc biệt một nhà nho đã lập bài vị thờ cùng câu đối được nhân dân khắp nơi truyền tụng:

Vị dân quyên sinh, vị Quốc quyên sinh, vị đảng nghĩa quyên sinh, thệ bất câu sinh đối thủ tặc

Kỳ tâm bất tử, kỳ danh bất tử, kỳ tinh thần bất tử, quyết tương nhất tử khích đồng bào

Có nghĩa là:

Vì dân quyên sinh, vì nước quyên sinh, vì đảng nghĩa quyên sinh, thề chẳng tham sinh nhìn giặc nước

Lòng ông không chết, danh ông không chết, tinh thần ông không chết, quyết đem cái chết giục đồng bào

Ngày nay nhiều con đường, ngôi trường trên đất nước ta, trong đó có ở Thủ Đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được vinh dự mang tên Nguyễn Khắc Nhu. Ông sống mãi trong lòng dân tộc.

Trần Vân Hạc


Filed under: Lịch sử, Thơ, Văn Hóa Tagged: Lịch sử, Thơ, Văn Hóa

Tiếng đàn

Posted: 13 Apr 2011 03:46 PM PDT

Truyện ngắn của Hiền Nga

Ăn cơm xong, Hà lên phòng mình ở tầng ba định ngủ một giấc rồi dậy ôn bài, mai kiểm tra cuối năm. Mới vào hè mà tiết trời đã nóng hầm hập. Bỗng từ ô cửa sổ nhà bên bỗng vang lên tiếng đàn piano. Tiếng đàn vụng về bập bõm, sai lệch cả cung bậc của bản nhạc… Cứ như vậy tiếng đàn bập bùng suốt trưa làm Hà không sao ngủ được. Hà nghĩ bụng, chắc nhà bên mới mua dương cầm và họ đang thử đàn.

Nhưng mấy buổi trưa hôm sau vẫn vậy, tiếng đàn vụng về cứ vang lên giữa buổi trưa yên tĩnh. Tâm trạng buồn bực, Hà phàn nàn với mẹ trong bữa cơm tối. Mẹ bảo: họ đàn ở nhà họ, có gây ầm ĩ gì nhiều, rồi con sẽ quen thôi.

Hà trở về phòng, chưa hết ấm ức thì 20h đêm, tiếng đàn lại vang lên. Hà bứt dứt đi lại trong phòng, miệng lẩm bẩm:

- Đã không biết đàn sao còn đánh lắm thế! Toàn là vào lúc ngoài giờ, không cho người ta nghỉ ngơi học hành gì !

Hà ra cửa sổ nhìn sang nhà bên. Hai nhà ở hai phố khác nhau nhưng hai bức tường phía sau lại chỉ cách nhau gần một mét. Ngẫu nhiên hai cửa sổ lại thẳng nhau và có lẽ do giữ ý nên hai gia đình hiếm khi mở cửa sổ. Các cửa sổ đều lắp kính mờ, lại có rèm che nhưng rõ là cây đàn được kê ngay cạnh cửa sổ nhà bên. kỳ thi cuối năm qua nhanh, Hà được lên lớp tám với thành tích tốt. Kỳ nghỉ hè đang đợi . Hà mong được về quê chơi với ông bà ngoại và các em con dì, con cậu ở nông thôn, thoải mái lắm và mỗi buổi trưa, buổi tối không phải nghe tiếng đàn "bất đắc dĩ" đó. Lắm lúc đi học về mệt mỏi căng hết cả đầu, lại không được ngủ trưa ngon giấc, Hà chỉ muốn mở cửa sổ hét lên: "Có dừng đàn cho mọi người nghỉ trưa không hả?" nhưng rồi lại cố nén.

Đến ngày nghỉ bố mẹ đưa chị em Hà về quê ngoại và giao hẹn: "Các con ở chơi hai tuần rồi bố mẹ xuống đón". Đồng quê đang mùa gặt, khắp làng thơm mùi rơm rạ thóc lúa. Dòng sông Đáy êm đềm chảy, gió sông mát rười rựợi. Ông bà quí cháu nấu nhiều món quê ngon lành lạ miệng. Hà theo các em đi thả diều, cắt cỏ, bắt cua… vui quá là vui. Vậy mà không hiểu sao những buổi trưa nằm võng đu đưa trong ngôi nhà ven sông mát mẻ yên tĩnh, Hà sực nhớ tiếng đàn những trưa oi nồng ở thành phố và tự hỏi: "Không biết người ấy còn đánh đàn không nhỉ? Người đàn là trai hay gái? Còn bé hay đã lớn? rồi Hà thiếp vào giấc ngủ đến khi bà gọi dậy, nồi chè khoai môn thơm lừng hấp dẫn bọn trẻ.

Mười mấy ngày với đồng quê trôi vèo, bố mẹ xuống đón, Hà chưa muốn về, bố bảo:

- Các con về còn ôn bài vở, bố đã đăng ký lớp học võ, học bơi cho các con rồi. Thế là chị em Hà chỉ còn biết hô to : "tuân… chỉ"!

Mẹ mỉm cười:

- Các con đen quá nhưng rắn rỏi hơn nhiều.

Tg Dương Hiền Nga

Buổi trưa đầu tiên trở về căn phòng của mình ở tầng ba, Hà nghĩ chắc tiếng đàn lại sắp "tra tấn" mình đây. Nhưng mà yên ắng, trưa hôm sau cũng vậy, suốt môt tuần như vậy, Hà băn khoăn: có chuyện gì thế nhỉ, có lẽ người đàn cũng đi nghỉ hè ở đâu đó, về quê hay đi tắm biển, đi leo núi Sa Pa..? Hay là người ta bỏ cuộc không tập nữa. rồi Hà chìm vào trong giấc ngủ ngon lành. 15h Hà dậy ăn nhẹ rồi đi tập bơi với các bạn, tha hồ vùng vẫy bì bõm trong làn nước hồ bơi mát mẻ.

Một buổi trưa, cây đàn dương cầm nhà bên bỗng vang lên khúc dạo đầu của bản Sóng Đanuýp nghe khá hay rồi sau đó lại im bặt. Hà chợt nghe thấy tiếng khóc của một bé gái, tiếng nức nở ngày một to:

- Con… con… không học đàn nữa đâu, con mệt lắm rồi, con.. con…!

Và cánh cửa sổ bỗng bật mở, Hà nhìn rõ một bé gái chừng 10 tuổi mặc váy bằng voan hồng ngồi bên đàn, gương mặt trái xoan xinh xắn đẫm nước mắt, mái tóc quăn tự nhiên buông sóng hai bên trán trông thật dễ thương, đôi mắt to buồn vời vợi. Ngồi cạnh em là một cô gái dáng mảnh mai, cô mặc chiếc váy lụa mầu thiên thanh, có lẽ là cô giáo dậy đàn. Một phụ nữ chừng 30 tuổi đứng cạnh ôn tồn:

- Thúy Vi à, hai chân con đau không đi lại được, thương con không được đi nô đùa, đi bơi cùng
các bạn, bố mẹ mua tặng con cây đàn này để con chơi. Cô Lan Anh chỉ dạy được ngoài giờ, con hãy cố gắng lên.

Cô giáo nhẹ nhàng lau nước mắt cho Vi và dỗ dành:

- Nào Vi cố lên, hôm nay ta tập bản Thư gửi Ely của Bethoven. Tiếng Vi thút thít:
- Con mệt lắm rồi, con không muốn đàn nữa!

Cô giáo khích lệ:

- Vi đang tiến bộ, gắng lên ,mấy tháng nữa có đêm văn nghệ, cô tin là Vi sẽ biểu diễn tốt mà!

Hà sững sờ khi chứng kiến cảnh đó, một nỗi xót xa thương cảm bất giác trào dâng trong lòng. Thì ra người đàn là bé gái bị đau cả hai chân vậy ư. Không kìm được Hà bật dậy khỏi giường tới bên cửa sổ, xô cửa kính lùa sang một bên, đưa cánh tay ra ngoài vẫy và nói to với Vi:

- Thúy Vi ơi, chị đã nghe em đàn nhiều ngày, em tiến bộ nhiều lắm, em đừng bỏ cuộc, đừng bỏ cuộc!

Cả ba người ở nhà bên ngạc nhiên nhìn sang khiến Hà lúng túng im bặt. Vi cũng nín khóc ngước cặp mắt đen láy nhìn Hà và em bỗng nở nụ cười. Suốt trưa hôm ấy, tiếng đàn thánh thót vang lên. Thư gửi Ely của thiên tài âm nhạc Bethoven tràn ngập cả hai căn phòng tầng ba cạnh nhau. Hết giờ đàn, mẹ bế Vi vào xe lăn, Vi vẫy tay chào Hà.

Chiều hôm sau cửa sổ nhà Vi lại mở, Hà vừa tỉnh ngủ đã thấy Vi tự ôn đàn một mình không có cô giáo ở bên, Bản Serenata (khúc ban chiều) của Schubert vang lên du dương trầm bổng da diết làm sao. Hà thấy mình như đang bồng bềnh trên thảm lúa vàng ở quê ngoại với những cánh diều phấp phới, những cánh cò in bóng trên mặt sông Đáy trong xanh, những chiếc thuyền nhẹ nhàng cập bến mỗi chiều…

Từ đó, những hôm Vi tập đàn, hai cửa sổ thường mở. chị em trò chuyện vui vẻ. Tiếng đàn của Vi ngày càng thuần thục, Vi không hay buồn hay khóc nữa, đôi mắt em long lanh, hai bàn tay thon nhỏ trắng muốt lướt nhẹ trên phím… Vi đang tập một bản nhạc vui nhộn về tình bạn, giai điệu mượt mà trong sáng với tiết tấu nhanh làm Hà vui lây, tự nhiên Hà cất tiêng hát theo.
Một hôm, đã gần 9h tối Vi mở cửa sổ gọi:

- Chị Hà ơi, học bài xong chưa, chị nghe "Khát vọng mùa xuân" của Moda nhé, em sắp biểu diễn rồi.

Hà chưa kịp trả lời thì dòng suối âm thanh trong trẻo, rộn ràng, tươi sáng đã ngân lên. Âm hưởng mùa xuân trẻ trung ngọt ngào thanh tân lan tỏa trong màn đêm, hòa với mùi hoa dạ lan hương nhà ai len lỏi vào trong phòng, thấm sâu vào tâm hồn, có gì đó sáng ngời như pháo hoa muôn màu trong đêm giao thừa, như hoa đào hoa mai vừa nở trong tiếng hót của sơn ca lúc ban mai… Hà cảm thấy hình như những điều kỳ diệu mơ hồ mà người ta hằng mong đợi đang hiện ra ở chính nơi này. Một cái gì thân thương vô chừng đang ngự trị nơi đây.

Bản nhạc đã dừng, nén xúc động, Hà ra cửa sổ thì thầm: Thúy Vi ơi, tuyệt lắm! Và Hà nghĩ tới đêm Vi biểu diễn, Hà sẽ mua một bó hoa thật đẹp để tặng Vi.Vi ngẩng lên nhìn Hà nở nụ cười nhưng mắt Vi lại rưng rưng lệ.

Trại sáng tác Hà Nam 10. 2010
Dương Hiền Nga
hiennga.yenbai@gmail.com


Filed under: Văn Tagged: Văn

Việt Nam và cú sốc từ hội nhập

Posted: 13 Apr 2011 03:45 PM PDT

Tác giả: Phạm Huyền

(VEF.VN) – 4 năm sau hội nhập WTO, Việt Nam luôn lấn cấn giữa mục tiêu tăng trưởng hay ổn định kinh tế vĩ mô. Sóng dữ khủng hoảng kinh tế toàn cầu bất ngờ nổi lên khiến những lợi ích từ hội nhập đối với Việt Nam bị giảm sút lớn so với kỳ vọng.

Tư duy về tăng trưởng dựa vào đầu tư là sai lầm(ảnh Phạm Huyền)

Báo cáo về tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam sau khi gia nhập WTO vừa được Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và đầu tư, công bố sáng 5/4.

Áp lực hội nhập là… không thể bước lùi

Một hình ảnh ví von tuy đã cũ nhưng thâm thúy: Việt Nam giống như một con thuyền nhỏ vừa mới giương buồm ra khơi đã gặp ngay giông bão, chưa đánh được mẻ cá lớn nào thì đã phải lao đao chèo chống sóng dữ. Khủng hoảng của kinh tế thế giới 2008-2009 là cơn ác mộng nằm ngoài mọi dự báo, chẳng khác gì cơn động đất 8,9 độ Richter tại cường quốc Nhật Bản vừa qua.

Ngay sau khi Việt Nam chính thứcđặt chân vào sân chơi bình đẳng WTO đầu năm 2007 thì cuối năm đó, kinh tế toàn cầu đã biến động phức tạp, giá dầu tăng mạnh kỷ lục có lúc tới 147 USD/thùng, giá lương thực leo thang. Cuối năm 2008, khủng hoảng tài chính Mỹ bùng nổ kéo theo cả nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái trầm trọng, hàng loạt ngân hàng và tập đoàn phá sản. Cuối 2009, kinh tế thế giới mới hồi phục.

Vì lẽ đó, với xuất phát điểm ban đầu là một nền kinh tế còn ở “level” thấp hơn rất nhiều với với những trụ cột WTO như Mỹ thì những gì mà Việt Nam đã đạt được sau hội nhập, từ việc xuất khẩu tăng cao, thu hút FDI bội thu, tăng trưởng GDP vẫn “dương cách biệt” trong suy thoái hay như môi trường kinh doanh mới đây tăng 10 bậc có thể coi là kết quả đáng khích lệ.

Nhóm nghiên cứu khẳng định, nếu không có hội nhập kinh tế quốc tế, tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời gian qua sẽ thấp hơn mức đã đạt được.

Câu chuyện của năm 2008 và năm 2009 có thể minh chứng điều này. Năm 2008, tác động của hội nhập lên Việt Nam là hai chiều trái ngược nhau. Việt Nam, một quốc gia chưa tự sản xuất được nhiều nguyên vật liệu và máy móc thiết bị, vốn dĩ phụ thuộc tới 80% vào bên ngoài nên khi hội nhập kinh tế sâu rộng, việc giá dầu thô, lương thực và nguyên vật liệu leo thang đã ngay lập tức tác động xấu tới nền kinh tế. Kinh tế các nước bạn hàng chính của Việt Nam bước vào suy thoái cũng ảnh hưởng tiêu cực tới xuất khẩu và thu hút FDI của Việt Nam. Hậu quả là sức ép lạm phát tăng cao và tăng trưởng kinh tế thấp đi.

Nhưng ngược lại, Việt Nam vẫn được hưởng lợi từ sự leo thang của giá cả thế giới, của dầu thô và lương thực khi đây cũng chính là hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh nhờ tăng giá và việc mở rộng được thị trường đã tác động tích cực tới tăng trưởng. Nhờ đó, GDP 2008 của Việt Nam giữ được mức 6,3%.

Cùng với đó, nhóm nghiên cứu cho rằng, do phản ứng chính sách của Chính phủ cuối năm 2008 và trong năm 2009 kịp thời nhạy bén ứng phó với hệ lụy khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên năm 2009, GDP đã giữ được mức 5,3%. Trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đã tăng trưởng rất thấp và tăng trưởng âm, kết quả tăng trưởng này được coi là khá.

Sức ép của hội nhập kinh tế quốc tế, như việc phải nội luật hóa các cam kết gia nhập WTO, phải xóa bỏ hàng loạt trợ cấp xuất khẩu, cắt giảm thuế quan đã trở thành động lực thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phải tiên tiến hơn. Sự phát triển kinh tế đó tựa như một quá trình tiến hóa của xã hội không thể đảo ngược lại, giống như đoàn tàu đang chạy trên đường cao tốc một chiều thì không thể quay đầu chạy ngược.

Ngành đóng tàu chịu tác động sâu sắc do khủng hoảng xảy ra (ảnh P.H)

Tư duy tăng trưởng thay đổi

Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cũng khẳng định, Việt Nam đi nhanh hơn lịch trình cam kết giảm thuế quan, mở cửa thị trường đối với nhiều mặt hàng, lĩnh vực, trong khi đó, lại chưa áp dụng được những biện pháp hỗ trợ mà WTO cho phép, như xây dựng hàng rào kỹ thuật. Các ứng phó của Việt Nam với các ảnh hưởng bất lợi từ hội nhập trong lĩnh vực đầu tư và thương mại đều chưa chủ động, chưa linh hoạt.

Đơn cử như ở lĩnh vực thương mại, nếu không tính năm 2009, xuất khẩu giảm sút do bị chi phối bởi khủng hoảng, tăng trưởng xuất khẩu của năm 2007-2008 được cho là không bứt phá gì so với các năm trước. Nói cách khác, thành tích đó chưa được như kỳ vọng khi chúng ta tính toán lợi ích thu được sau WTO.

Trong khi đó, nhập siêu của Việt Nam đã liên tục tăng mạnh, từ 14,2 tỷ USD năm 2006 lên tới 18 tỷ USD năm 2008. Đáng chú ý nhất là nhập siêu lại quá tập trung ở một thị trường là Trung Quốc. Cơ hội trong các khu vực mậu dịch tự do mà ASEAN ký kết với các quốc gia cũng chưa được Việt Nam tận dụng tốt.

Từ năm 2007 đến nay, Việt Nam đã liên quan tới 13 vụ khởi kiện về phòng vệ thương mại, chống bán phá giá và cả các vụ kiện liên quan đến chống trợ cấp trong nước, do Chính phủ đã sử dụng quá nhiều biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp thời kỳ suy giảm kinh tế.

Đáng chú ý hơn cả là những tác động của hội nhập kinh tế tới sự ổn định kinh tế vĩ mô.  Lạm phát, tỷ giá và cán cân thanh toán của Việt Nam đều diễn biến rất phức tạp, biến động mạnh và khó lường. Năm 2008, lạm phát cả năm đã lên tới gần 23%.  Tỷ giá giai đoạn 2007-2009 liên tục được điều chỉnh. Đồng thời, so với trước khi gia nhập WTO, khoảng thời gian 3 năm này đã chứng kiện sự gia tăng mức độ thâm hụt thương mại, thâm hụt cán cân vãng lai và chu chuyển vốn cả về tuyệt đối và tỷ lệ theo GDP. Trong 3 năm nay, thâm hụt cán cân vãng lai từ 7-10 tỷ USD, khoảng 7,7-11% GDP trong khi 2001-2006, mức thâm hụt tối đa gần 1,9 tỷ USD.

TS Võ Trí Thành cho rằng, nếu không có những cú sốc quá lớn từ bên ngoài thì có thể, chúng ta chưa nhận ra được điểm yếu của chính mình, đó là liên tục nhiều năm  tăng trưởng theo chiều rộng, tư duy tăng trưởng dựa vào đầu tư. Ngoài ra, khi chúng ta vào WTO, đều đã thống nhất với nhau rằng sẽ phải đối mặt với rủi ro rất cao thậm chí gây ra khủng hoảng, thế mà công tác chuẩn bị, công tác đối phó của chúng ta chưa tốt.

Ông cũng nhấn mạnh, sự lấn cấn vừa qua đã khiến cho các định chế tài chính bên ngoài không hiểu và thậm chí là lẫn lộn về mục tiêu chính sách vĩ mô của Việt Nam, vì lúc thì ta theo đuổi tăng trưởng, lúc lựa chọn ổn định. Tuy nhiên, Nghị quyết 11 năm nay đã cho thấy một tín hiệu mới về cách điều hành kinh tế vĩ mô sẽ tốt hơn và có và sẽ lấy lại niềm tin của dân chúng hơn vào các thông điệp chính phủ ban hành.

Việt Nam tuy mới trở thành thành viên WTO được 3 năm, nhưng tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã trải qua gần 20 năm.

Năm 1995: Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN, đánh dấu bước đi đầu tiên quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Năm 2001: Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

Năm 2006: trở thành thành viên WTO

Với tư cách là thành viên của ASEAN, Việt Nam tham gia các tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế qua các hiệp định kinh tế thương mại được ký giữa tổ chức này với các quốc gia và khu vực khác. Cụ thể là Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN- Trung Quốc (2002), Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (2006), Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản (2008), ASEAN – Úc – NewZealand (2009), ASEAN – Ấn Độ (2010).


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Tỷ giá VND/USD liên ngân hàng lập kỷ lục mới

Posted: 13 Apr 2011 03:45 PM PDT

(Dân trí)- Tỷ giá bình quân liên ngân hàng hôm nay giữ ở mức 20.723 VND/USD – mức cao kỷ lục từ trước tới nay. Theo đó, các ngân hàng thương mại niêm yết giá USD ở mức trần 20.930 VND.

Hôm nay 13/4, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mức 20.723 VND/USD. Với mức giá này, tỷ giá liên ngân hàng đã chính thức chạm mốc cao nhất trong lịch sử. So với mức điều chỉnh tỷ giá ngày 11/2 (20.693 VND/USD), tỷ giá liên ngân hàng đã tăng 30 VND.

Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mức cao đã kéo giá USD tại khối ngân hàng thương mại lập đỉnh cao mới trong lịch sử. Tại trang web của Ngân hàng Nhà nước, cặp tỷ giá này niêm yết giao dịch tại khối ngân hàng thương mại là: 20.925 VND (mua vào) – 20.930 VND (bán ra).
Tỷ giá liên ngân hàng đã chính thức chạm mốc cao nhất trong lịch sử

Cụ thể, tại Eximbank, USD được yết giá mua vào ở mức 20.910 VND và bán ra 20.930 VND; tại ACB, USD là 20.920 VND – 20.930 VND; tại Vietcombank là 20.925 VND – 20.930 VND…

Tuần trước, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng thêm 2% và áp trần lãi suất huy động USD 3%/năm từ hôm nay 13/4.

Và để chấn chỉnh hoạt động ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước đã có công văn yêu cầu NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố rà soát và kiểm tra hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ trên địa bàn, đặc biệt các đại lý là tổ chức kinh doanh vàng nếu không có địa điểm đặt bàn đổi ngoại tệ theo đúng quy định. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ không cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký Đại lý đổi ngoại tệ đối với những đại lý đã bị thu hồi giấy chứng nhận.

An Hạ


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

No comments:

Post a Comment