Đọt Chuối Non |
- Roll over Beethoven – Chuck Berry
- Yêu kẻ thù của bạn – Martin Luther King
- Thủng thẳng với thơ… (phần 9)
- Cùng Trần Vân Hạc Lên Tây Bắc Hái Thơ
- Đô thị thế giới ‘thành chiến địa’
- Phát hiện rắn mắt hồng ngọc ở Việt Nam
| Roll over Beethoven – Chuck Berry Posted: 01 Apr 2011 01:31 PM PDT
Chào các bạn, Hôm nay chú Chuck Berry là lớp nghệ sĩ đi đầu về Rock and Roll ở Mỹ. Ông hiện nay đã trên 80 tuổi rồi mà vẫn có lịch biểu diễn dày đặc. Ông sống ở thành phố Saint Louis ở tiểu bang Missouri, chỉ cách chỗ mình ở có 2 tiếng đồng hồ. Tiếc là mình vẫn chưa có cơ hội đi xem ông biểu diễn Roll Over Beethoven nói đến tình yêu cuồng nhiệt với nhạc Rock and Roll đang xâm chiếm nước Mỹ và… hất cẳng đám nhạc cổ điển như của Beethoven và Tchaikovsky ra ngoài Chuck Berry kể là ông viết bài hát này để gửi cho chị gái của ông là Lucy. Chị Lucy dùng chiếc pian chung của gia đình để chơi nhạc cổ điển trong khi ông muốn chơi nhạc Rock hiện đại Chúc các bạn một ngày sôi nổi, Hiển Roll over BeethovenI’m gonna write a little letter, You know, my temperature’s risin’ I got the rockin’ pneumonia, Well, if you feelin’ like it Roll Over Beethoven, dig these rhythm and blues. Well, early in the mornin’ I’m a-givin’ you a warnin’ You know she wiggles like a glow worm, Roll Over Beethoven, Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa | ||||
| Yêu kẻ thù của bạn – Martin Luther King Posted: 01 Apr 2011 01:30 PM PDT Chào các bạn, Mình mới đọc được bài giảng về "Yêu kẻ thù của bạn" của Martin Luther King Jr. Mình thấy rất hay và muốn chia sẻ với các bạn. Bài nói chuyện của MLK khá dài nên nếu bạn quan tâm, bạn có thể đọc đầy đủ ở đây. Yêu các kẻ thù của bạn
Và tập trung buổi nói chuyện trong chủ đề: "Yêu kẻ thù của bạn" Kẻ thù của bạn là ai? Là những người không thích bạn, có thể không phải bởi vì điều gì bạn đã làm đối với họ, nhưng họ đơn giản là không thích bạn. Một số người không thích cách bạn bước chân đi; một số không thích cách bạn nói chuyện. Một số không thích bạn bởi bạn có thể làm việc tốt hơn họ có thể làm. Một số không thích bạn bởi những người khác thích bạn, và bởi bạn được ưa thích. Một số không thích bạn bởi tóc của bạn hơi ngắn một chút hay tóc của bạn hơi dài một chút. Một số không thích bạn bởi da của bạn hơi sáng hay hơi tối một chút. Vậy một số người sẽ không thích bạn, không phải bởi vì bạn là làm gì với họ mà bởi vì những phải ứng ghen tị hay các phản ứng phức tạp khác trong bản chất con người. Vậy làm sao để trả lời câu hỏi thực tế là: Làm thế nào bạn yêu kẻ thù của bạn? MLK gợi ý rằng ta cần phải xét chính ta để có thể khám phá ra cách yêu kẻ thù của ta. Ta phải đối mặt với thực tế là một người nào đó không thích ta bởi vì có điều gì đó ta đã làm rất lâu trong quá khứ, điều gì đó trong tính cách của ta đã khơi gợi nên phản ứng hận thù trong người kia. MLK nói điều này cũng đúng trong cách giằng co quốc tế. Ví dụ: giữa chủ nghĩa cộng sản và dân chủ. Những người theo dân chủ kiểu Mỹ không thể chấp nhận sự tương đối về đạo đức của chủ nghĩa cộng sản: đạt được mục đích bất chấp thủ đoạn bởi đối với họ mục đích nằm phía trước phương tiện. Nhưng mặc dù chủ nghĩa cộng sản có nhiều điều xấu, dân chủ có vấn đề gì xấu không? Dân chủ là dạng chính quyền tốt nhất mà loài người có thể có, nhưng với dân chủ, vẫn có áp bức và lòng tham. Những quốc gia dân chủ phương Tây đã áp dụng chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thuộc địa nhiều năm và gây ra kháng cự từ châu Á và châu Phi. Sự thành công của chủ nghĩa cộng sản vào những năm 1960s là do Dân chủ không thi hành được những ước vọng cao thượng của nó. Một điều thứ hai có thể làm để yêu kẻ thù là phát hiện ra những điểm tốt đẹp trong kẻ thù. Điều này lúc đầu cũng hơi khó chính bởi bản chất của ta. Con người của chúng ta từ chối nhìn thấy cái gì xấu là của mình. Ta có sự chia rẽ ở trong chính ta như một cuộc nội chiến. Nhà thơ Latin Ovid nói: "Tôi nhìn thấy và đồng ý với những điều tốt đẹp ở đời, nhưng không với những điều xấu tôi làm." Nhà thơ Goethe nói: "Có đủ thứ ở trong chính tôi khiến tôi là cả một quý ông lẫn một tên lưu manh". Vậy trong thứ tốt đẹp nhất của chính ta có vẫn cái gì đó xấu, và trong cái xấu nhất của ta cũng có gì đó tốt. Khi bạn thấy điều này, bạn sẽ thấy có gì đó tốt trong chính kẻ ghét bạn nhất. Cái đó tôn giáo gọi là: 'hình ảnh của Thượng đế". Một cách nữa để yêu kẻ thù của bạn là: khi bạn có cơ hội để đánh bại kẻ thù, không được làm điều đó. Trong cuộc sống bạn sẽ có cơ hội để đánh bại kẻ ghét bạn nhất, kẻ buôn chuyện về bạn nhiều nhất, kẻ đồn thổi tin xấu về bạn. Đó có thể là cơ hội giới thiệu người đó cho một công việc, hay giúp người đó thăng tiến trong đời. Đó là thời điểm bạn không được trả thù. Đó là ý nghĩa của tình yêu. Tình yêu, suy cho cùng, không phải là điều gì đó ủy mị trữ tình mà ta thường nói tới. Tình yêu là thiện chí thông cảm và sáng tạo đối với con người. Tình yêu là từ chối đánh bại người khác. Khi bạn đạt được vẻ đẹp và quyền năng của tình yêu, bạn chỉ tìm cách đánh bại hệ thống độc ác chứ không đánh bại con người mắc kẹt trong hệ thống đó. Bạn yêu những con người đó. Một điểm quan trọng nữa về "Yêu kẻ thù" là "Yêu kẻ thù" không có nghĩa là "Thích kẻ thù". Bạn không cần phải thích kẻ thù. Bạn không cần phải thích cách họ nói về bạn hay về người khác, hay thái độ của họ. Giê-su bảo yêu họ. Và tình yêu lớn hơn sự ưa thích rất nhiều. Tình yêu là sự thiện chí cảm thông và cứu chuộc đối với mọi con người. Tiếp theo, MLK trao đổi về Tại sao ta cần yêu kẻ thù? Lý do đầu tiên là hận thù đáp trả lại hận thù chỉ làm tăng hận thù và điều xấu trên thế gian này. Nếu tôi đánh bạn và bạn đánh tôi và tôi đánh bạn và bạn đánh tôi… sẽ mãi mãi như thế. Ở đâu đó một người nào đó phải tỉnh táo ra, đó chính là người mạnh mẽ. Người mạnh mẽ có thể cắt đi xiềng xích của hận thù. Lý do thứ hai là hận thù làm đảo lộn tính cách của chính người hận thù. Bạn không thể nhìn mọi thứ thẳng khi bạn ghét ai được. Bạn cũng không thể đi thẳng được. Bạn sẽ nhìn mọi thứ méo mó. Bạn sẽ thấy một người xinh đẹp xấu xí và một người xấu xí xinh đẹp. Không còn chút khách quan nào cả. Hận thù như một thứ bệnh ung thư gặm nhấm. Một ví dụ là tổng thống Mỹ Abraham Lincoln. Khi Abraham Lincoln tranh cử, Stanton không thích Lincoln và đi khắp nước Mỹ nói xấu Lincoln, tấn công ngay cả dáng đi cao lênh khênh của ông. Một ngày kia Lincoln trúng cử tổng thông Mỹ và cần chọn nội các, ông đã quyết định chọn Stanton làm bộ trưởng bộ quốc phòng và điều này làm người thân của ông giật mình: "Mr. Lincoln, ông điên à? Ông không biết Mr. Stanton nói xấu gì về ông à? Ông không biết ông ta đã làm gì à?". Lincoln trả lời là: "Tôi biết tất cả, nhưng sau khi xem khắp đất nước, tôi thấy ông Stanton là phù hợp nhất cho chức vụ đó". Chỉ vài tháng sau khi Stanton nhận chức bộ trưởng, Abraham Lincoln bị ám sát chết. Stanton đã nói những lời tuyệt vời nhất về Lincoln như "bây giờ ông ấy thuộc về các thế hệ". Nếu Lincoln đã hận thù Stanton thì cả hai ông sẽ đi xuống mộ hận nhau. Nhưng tình yêu của Lincoln đã cứu chuộc lại Stanton. Đó là quyền năng cứu chuộc của tình yêu mà Giê-su đã biết đến từ hàng thế kỷ trước. Gandhi ở Ấn độ phát hiện ra mấy chục năm trước. Nhưng hầu hết mọi người chưa phát hiện ra điều đó. Và nền văn minh của chúng ta phải phát hiện ra tình yêu đó. Mỗi cá nhân phải phát hiện ra trong quan hệ với các cá nhân khác. MLK cầu nguyện: Ôi Chúa, giúp chúng con trong đời sống và trong thái độ của chúng con, thi hành quyền lực chi phối của tình yêu này, quyền lực chi phối mà có thể giải quyết tất cả mọi vấn đề chúng con gặp phải trong mọi lĩnh vực. Hãy cho tất cả con người đến với nhau và phát hiện ra rằng khi chúng con giải quyết nguy kịch và giải quyết những vấn đề này – những vấn đề quốc tế, những vấn đề của năng lượng nguyên tử, và, vâng, ngay cả vấn đề về chủng tộc – hãy để chúng con hợp lại với nhau trong một sự bầu bạn của tình yêu và cúi đầu trước chân của Giê-su. Cho chúng con quyết tâm mạnh mẽ này. Trong tên và tinh thần của Christ, chúng con cầu nguyện. Amen. Bạn có thể chia sẻ kinh nghiệm bạn đối xử với kẻ thù ra sao không? Bạn chỉ lờ họ đi? Hãy cho mình biết comments của bạn. Hiển Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | ||||
| Posted: 01 Apr 2011 01:30 PM PDT Ngày xưa, các bài thơ ngắn được qui định bởi niêm luật rất nghiêm ngặt, sự gò bó này có làm khó dễ cho nội dung tư tưởng, song lại đòi hỏi người làm thơ phải có nhiều công phu và muốn có thơ hay người viết đã trả đúng giá cho nó. Biết bao nhiêu bài tứ tuyệt, bát cú, đã thành bất tử chỉ với 4 câu hay 8 câu. Ngày nay, các bài thơ gọi là ngắn đã không còn là ngắn nữa, 50 câu như tôi nói cũng được coi là ngắn, nhưng dưới 100 câu cũng chưa phải thơ dài. Do sự mở rộng ước lệ dài ngắn này, đã khiến tính cô đọng của thơ có bị giảm sút, nguyên nhân chính là do người viết nhiều tham lam. Cái tinh túy của vàng, bạc lẫn quá nhiều với quặng và sỏi đá. Người đọc phải thanh lọc rất nhiều mới được những hạt bạc, hạt vàng. Loại Thể Những Khúc CaTrong quá trình lao động, tôi đã cố gằng sử dụng gần hết các thể loại có thể sử dụng được để biểu đạt thơ. Tuy vậy, vẫn không đúc rút được kinh ngiệm gì đáng kể, chưa định được qui luật đã là sự nhảm nhí, định một khuôn mẫu cho thơ mà hổ thẹn ư? Đối với các loại thể, không hề có sự khó dễ hơn nhau, nếu lấy cái hay làm tiêu chuẩn đo lường. Xưa nay việc định ra khó dễ phụ thuộc vào sự quen tay, có người quen tay loại này, lại có người quen tay loại khác. Sự quen tay gây cho người viết cảm tưởng là thể loại ấy dễ hơn, thể loại khác khó hơn. Cũng từ sự quen tay này mà dẫn đến cái gu thể loại, dẫn đến sự bài xích lẫn nhau, cho rằng thể loại này cao quí hơn thể loại kia. Có thể có điều ấy được không? Không, bởi lẽ cái hay của bất kỳ loại thể nào cũng đều có vị trí xứng đáng của nó. Một bài thơ trữ tình hay,một đoản kịch thơ hay, và tất nhiên cái hay đó hơn hẳn một trường ca hay một kịch thơ tồi. Dẫn một đoản kịch thơ, Mưa Hến / Ngây thơ hỏi trời/ Sao không cho mưa hến/ Để nghêu thôi thèm hến/ Êm thơ sông tình/ / Hến ra sân đình/ Lưng thuyền chao sóng/ Ngực lửa đỏ lò/ Môi tiếu khuynh đa/ Nghiêng miếu/ Nghêu só ốc nổi mặt sông/ Ngụp tranh tròn méo/ Chống sào phẩm phục khom lưng/ Sợ thất kinh hồn/ Đa đổ/ Miếu đổ/ Sách tiền theo gió bay đi/ Sợ mai hậu cháu con kiệt phúc/ Nghêu đem sợ dọa sò/ Sò đem sợ dọa ốc/ Ốc dọa đêm/ Đêm tiếu lâm cười hến/ / Sân đình đong đưa/ Lãng trăng thuyền hến/ Ngực đông lưng hạ khe xuân/ Tích trò chòng chành/ Ảo ảnh đưa tay cầm được/ Nguyện cầu thơm ngát hoa chanh/ Lạy trời đừng mưa hến/ Một hến đủ mù mưa/ Đời nghêu, đời sò, đời ốc/ Tha cho người nguyện hến ơi!/ Tự lựa chọn cho mình một thể loại sau khi đã thí nghiệm tất cả các thể loại tùy thuộc vào cái tạng chất của người viết. Có người rất thành công với thơ trữ tình, nhưng lại thất bại với trường ca hoặc truyện thơ. Có người rất thành công khi viết thơ miêu tả, có cái mênh mông kỳ vĩ của trường ca, nhưng không có cái đọng của thơ tình. Do vậy, phải tự tìm cho mình thể loại thích hợp. Nhưng đối với nhà thơ – tất nhiên ai cũng có mặt mạnh và mặt yếu của mình – nhưng không thể không một lần thực nghiệm các giải pháp diễn đạt thơ, không nên vội vã đầu hàng các thể loại mà mình chưa thực nghiệm. Vì rằng: Trong cuộc sống muôn mầu muôn vẻ này cần phải có rất nhiều thể loại mới mong diễn đạy được một cách phong phú và sâu sắc. Và chỉ có thực nghiệm đa dạng thể loại thì mới tránh được sự đơn điệu (Monotonce) – Nhân của mọi thất bại và nhàm chán. Đứng về mặt hình thức mà phân loại, thì chỉ có hai loại thơ: Thơ ngắn và thơ dài. Sự phân loại này dễ nhìn nhận hơn là cách phân loại theo nội dung biểu đạt – vì trong nội dung biểu đạt có thể có hàng chục thể loại khác nhau, và trong bất kỳ thể loại nào cũng có những quan niệm, lý lẽ rắc rối và phức tạp của nó. Thường thường loại bài thơ xếp loại ngắn số lượng câu không nhiều – thường không quá 50 câu – vấn đề diễn tả trong bài thơ đó có thể là những vấn đề lớn như: Đất nước, dân tộc, chiến tranh…Cũng có thể là những vấn đề chỉ trong một phạm vi tâm sự cá nhân như: Tình yêu, học đường, cảm hứng…Thực ra cái lớn nhỏ không thuộc về đề tài, mà thuộc về năng lực của người viết. Nhưng dù đề tài thế nào nhất thiết đều nằm trong giới hạn câu chữ. Giới hạn câu chữ quyết định việc sử dụng vốn liếng về hình ảnh, hình tượng, âm thanh, sắc mầu…của người cầm bút. Không thể dài dòng, miên man khi giới hạn về số câu không cho phép. Không thể nhiều hình ành diễn đạt một ý, không thể nhiều hình tượng chở một tư duy. Sự cô đọng là cốt lõi của thành công. Do đó sự tự loại bỏ những hình ành, hình tượng không cần thiết, cắt những ý, những câu không thuộc về chủ đề là một "đau lòng" đáng có. Chính cái đó đã quyết định sự thành công.
Loại thơ bài dài (không giới hạn về số câu) bao gồm truyện thơ, trường ca, kịch thơ, kinh thơ, sử thi…Ấy chính là những dòng sông, bên cạnh cái hùng vĩ của nó lại là cái rác rưởi, củi rều, bã bọt trôi lềnh bềnh từ nguồn ra biển cả. Loại thơ bài dài đòi hỏi một tay nghề vững vàng, một kiến thức xã hội phong phú và sâu sắc. Không có được cái đó, người làm thơ cứ như nữ diễn viên trong điệu múa lụa, chỉ bằng một dải lụa, lượn tròn lượn khéo đến nhức mắt, nhàm tai. Hạt mực đỏ vốn có, cứ được bôi ra mãi, bôi ra mãi, và càng bôi ra nó càng nhạt dần – cái mầu hồng nhờ nhợ. Vì nếu có quan niệm thơ dài (không bị câu chữ gò bó) là sự tung phá, hệt như người phu mỏ không tuân theo qui trình khai thác than, cứ ra sức mở vỉa, chỗ nào ngon xục vào mở trước. Đến khi nhìn lại công trình của mình, khối lượng than có nhiều, nhưng đất đá cũng nhiều và trông mới nham nhở làm sao… Nhiều người cho rằng thị hiếu thơ của quần chúng Việt Nam là nghiêng về những bài thơ loại ngắn, không thích đọc những bài thơ dài. Điều này nếu đúng thì hẳn truyện kiều với 3254 câu đã không thể là truyện Kiều lừng lẫy hàng trăm năm nay. Thị hiếu của bất kỳ dân tộc nào cũng vậy, ai chẳng thích hoa, vấn đề không phải dài hay ngắn, mà vấn đề bài thơ ấy đã đạt đến độ cái đẹp của nó chưa. Đã là bài thơ hay thì dù 4 câu hay 1000 câu công chúng cũng đều thích cả. Không có gì đáng xấu hổ cho rằng ta kém cỏi nếu như chưa viết được một trường ca. Chỉ cần bằng một số bài tứ tuyệt hay bát cú chẳng phải đã bao nhiêu nhà thơ Đường tồn tại đến muôn năm. Đề tài đã quyết định cho việc chọn thể loại như thế nào? Khi viết tập “Linh thiêng, nguyện cầu, nghiệp chướng” – nội dung như tên gọi của nó – tôi có phân vân giữa việc chọn thể loại ngắn và dài. Thực ra với cả hai thể loại đều có thể biểu đạt được nội dung trên. Nhưng tôi đã quyết định chọn thể loại ngắn. Vì sao vậy? Vì nếu với thể loại dài, ý thơ sẽ lập đi lập lại, vấn đề nêu ra sẽ bị hạn chế, và người đọc sẽ rất chán nản với những triết lý nặng nề và buồn tẻ. Thể loại thơ ngắn sẽ khắc phục được những nhược điểm ấy. Vì mỗi vấn đề đều có giới hạn của nó, nhiều hình thức chở cùng một chủ đề tránh được sự đơn điệu. Nhưng khi viết tập sử thi ” Nước Nam Ta” – tôi đã hoàn toàn sử dụng thể trường ca trong gần 200 trang sách với gần 6000 câu thơ. Điều này dẽ giải thích bởi ngoài loại thơ dài ra không thể loại nào có thể chở được nội dung trên. Còn với tập “Cố Hương Ca” thì tôi lại dùng kết hợp cả hai thể dài và ngắn. Dụng ý của tôi muốn dùng sự bề thế của thơ dài để chở những đề tài mới mang nội dung ưu Việt, để chứng minh sự đổi mới của nông thôn ta hiện nay. Đề tài của một tập thơ hay đề tài của một bài thơ có ý nghĩa rất lớn trong việc chọn thể loại biểu hiện. Nếu sự lựa chọn không thỏa đáng thì hiển nhiên bài thơ đó bị phá hoại – hoặc hỏng về nội dung, hoặc hỏng về hình thức. Khi mình thực sự thuộc vấn đề định diễn tả thì chính vấn đề ấy sẽ thôi thúc tìm ra thể loại, và sự hòa đồng bao giờ cũng rất khéo. Hiện tượng thể loại phá vỡ nội dung không phải là không phổ biến. Ấy là khi nội dung là một giọt mực đỏ ta lại cứ muốn hạt mực ấy thành mặt trời thơ. Hoặc một đề tài phì nhiêu, cần sống với nó lâu hơn nữa để khám phá được nhiều hơn nữa, thì ta lại vội vã chặt chân, chặt tay, róc thịt dựng nó lên hình hài. Người mới vào nghề hay người có nhiều năm tuổi nghề cũng đều chưa khắc phục được nhược điểm này. Lại phải nói đến tính nôn nóng và tham lam. Tính nôn nóng và tham lam vô cùng nguy hại! Trong cả thể loại bài dài và bài ngắn, người viết thường thành công nhiều hơn trong những câu đầu, những chương đầu. Đó không phải là điều khó hiểu. Thực ra những câu đầu và những chương đầu người cầm bút thuộc vấn đề hơn và làm chủ được mình hơn. Tiếp đó là công việc bôi loang giọt mực đỏ. Như trên đã nói, tôi cố gắng rèn luyện hầu hết các thể loại, nhưng trong các thể loại ấy tôi chưa tìm thấy tạng mình hợp với thể loại nào. Với thể thơ ngắn tôi viết thông minh và sâu sắc, nhưng lạnh lùng. Với thể thơ dài tôi đưa ra được vấn đề, nhưng nặng một bầu không khí kể lể, còn rất nhiều quặng đất trong thơ. Và tất nhiên phải như thế, vì nếu quá tự tin rằng mình đã làm chủ được thơ thì còn gì để phấn đấu nữa. Với bất kỳ ai – dù người đã thiên tài – cũng đều còn con đường trước mặt thuộc về ước mơ, còn cần phải đi xa hơn nữa. Tôi chỉ nghĩ: Muốn làm cho thơ của mình muôn hình, muôn vẻ thì mình phải diễn đạt thơ bằng chính cái muôn vẻ muôn hình ấy. Do vậy, phải thí nghiệm – nói cách khác phải làm tất cả các thể loại thơ khác nhau. Có như vậy mới hy vọng tìm được những cách diễn đạt mới cho một nền thơ mới. Trong khi thực nghiệm một cách diễn tả mới, thường vấp ngay phải chính cái khó khăn của chính cái mới đó. Khó khăn thường làm cho ta nản lòng, nhưng tôi tự đặt kỷ luật cho mình phải thực hiện hết khả năng mình, tức là phải viết cho đến câu chót – dù liền sau đó vứt đi toàn bộ. Người làm thơ rất cần kỷ luật lao động, không thể tùy hứng và tùy tiện. Khi đã làm gần thành công với một thể loại mới, thì cần thiết phải tập dượt, phải làm thêm thể loại ấy với đề tài khác. Cố sao cho những nếp nhăn trong óc mình ổn định chân dung của thể loại ấy và không bao giờ quên nữa. Sau những vất vả của lao động, thành quả bao giờ cũng làm cho ta sung sướng đến muốn khóc, dù thành quả ấy chỉ là những tro tàn khi ta đốt chúng đi. Người khác thì cho là ngớ ngẩn, nhưng quả thực tôi đã tự giới hạn khuôn khổ bài thơ hoặc dài, hoặc ngắn của mình, và tôi cố gắng không vi phạm khuôn khổ ấy. Đối với tôi giá trị làm một bài thơ dài và ngắn ngang nhau, về cường độ lao động thì bài thơ dài chiếm nhiều thời gian hơn, phải nghĩ nhiều hơn, đọc nhiều hơn, nhưng làm bài thơ ngắn mất ăn mất ngủ lắm, vì sự lựa chọn và cắt xén nó. Nhiều bạn làm thơ khác, hẳn cũng nằm trong tâm trạng của tôi. Cũng đều tung tẩy muốn có bài thơ ngắn lại muốn có khúc thơ dài, và để đối lập cái đó tất cả đều giống như tôi - đều lao động. Chỉ qua lao động hết mình mới có thể tìm thấy những bí quyết, mà những bí quyết thì không bao giờ vĩnh cửu, nó cũ ngay, vì thế lại phải tìm những bí quyết mới, lại lao động, một nối đuôi nhau tuần hoàn vô tận. Có thể nói rằng lao động trong việc tìm tòi hình thức biểu hiện là một lao động cực kỳ nặng nhọc – không kém gì việc nhặt trong đời sống những hạt vàng thơ. Việc tìm tòi hình thức, thể loại tác động trở lại với việc tìm kiếm để thơ bước vào cuộc đời, khiến cho khi đã thành thơ, người ta không còn nhận ra đâu là dấu vết tìm tòi nội dung, đâu là dấu vết tìm tòi hình thức nữa. Người ta chỉ nói đến thơ thôi, và người ta mở cửa lòng rước thơ vào… Bài thơ bốn câu Chân Hương dẫn dưới đây khép lại chương sách này. Cháy rồi cháy hết phần thơm/ Chân hương đứng lặng nỗi buồn vô vi/ Rồi mầu phẩm nhuộm phai đi/ Dẫu chẳng còn gì vẫn đứng chân hương
Filed under: Thơ, Văn Hóa Tagged: Thơ, Văn Hóa | ||||
| Cùng Trần Vân Hạc Lên Tây Bắc Hái Thơ Posted: 01 Apr 2011 01:28 PM PDT
Nguyễn nguyên bảy đò đưa thơ Trần Vân Hạc
Lần thứ nhất, khoảng 1963-64, lúc ấy, tuổi sức hai mươi, hùng hổ tưởng mình chân đi sóng gió, vậy mà mới qua vài cua vùng biên Tây Bắc, từ Yên Bái đi Nghĩa Lộ, trên xe hơi chở khách, vào đến Nghĩa Lộ thì tôi ơi đã say xe "mướt cò bợ" và đổ gục tại Nghĩa Lộ, được nàng tiên người Kinh Tây Bắc, quen dọc đường, đánh gió cháy lưng, cò bợ tôi mới oai hùng trở lại theo nữ tiên ra suối rửa mặt tắm hôi. Và, một kỳ lạ của lần đẩu lên Tây Bắc ấy, đã ùa vào tâm khảm tôi, mà sau này Trần Vân Hạc gọi là Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc. Đây là một tản văn ngắn của Hạc, văn chưa lung linh, nhưng ảnh thì Hạc đã có những giây phút xuất thần, những khoảnh khắc bấm máy Trời cho, những tấm ảnh tiên tắm đã nâng tầm bài viết của Hạc lên ngọn đỉnh của Hay và Đẹp. Dù bài viết này post lên mạng đã lâu, nhưng cho đến hiện thời, vẫn là dạng thể bài " hot" của nhiều trang mạng. Hình ảnh tắm tiên lần đầu lên Tây Bắc ấy đã theo tôi về đồng bằng và đã thăng hoa vào thơ tôi / Thời nào các nàng tiên bay về đây tắm mát/ Những đêm trăng/ Giếng tiên trăng ngát một vùng / Đêm nay trăng vằng vặc/ Bên giếng một mình em… (Thơ NNB) Tắm tiên này làm gì có thật, làm sao dám so bì với tắm tiên trắng ngần thịt da Tây Bắc của Trần Vân Hạc. Lần thứ hai và nhiều lần tiếp sau, đó là thời kỳ thả phai công trình thủy điện Thác Bà, tôi lên Tây Bắc cùng các chuyên gia Liên Xô (cũ) với vai trò thông dịch tiếng Nga. Tây bắc cũng ùa vào thơ tôi, nhiều lắm, nhưng mới rồi in sách chỉ chọn lại được hai bài. Một bài bảo là Tây Bắc chỉ bởi có địa danh Tây Bắc / Đường vào Thác Bà / Rừng trúc chen rừng trúc/ Uốn câu/ Câu gì thế trúc ơi?/ Câu thời gian/ Đại loại vậy, mượn Tây Bắc để nói cái muốn nói của mình. Bài thứ hai, cũng vậy, mượn Tây Bắc để ngợi ca những người làm thủy điện Thác Bà, bài thơ hơi dài, mời đọc khúc kết / Giã sử Thác bà lời kể thương tâm/ Vợ chồng nhà bè cầu thủy thần phù hộ/ Gạo rắc xuống sông/ Nghe con thuyền vỡ/ Con bè lao/ Tiếng hồn oan chìm trong tiếng thét gào/ Dân làng lập thác chồng, thác vợ/ Người chỉ huy già khoanh ngôi sao đỏ/ Cội sông Đà/ Nghe Thác Bà miên man sóng vỗ/ Xóa xóa tóc hoa ban/ Xóa xóa tiếng cười thật trẻ…/( Thơ NNB). Thơ Trần Vân Hạc khác hẳn. Anh như đã hòa tan hồn vào Tây Bắc, để Tây Bắc như / Một dòng sông tím lặn vào thơ tôi/ Câu thơ hay thế thực không dễ viết. Mời đọc thêm /…Sương giá mà người không đến/ Trời cài then cửa từ lâu/Gùi trăng tủi hờn xuống núi / Nghẹn ngào nấc buốt ngàn sâu. Đối chứng thơ với thơ ở trên, Nguyễn Nguyên Bảy tôi ngộ ra điều tôi đơn thuần chỉ là kẻ lãng du qua Tây Bắc, hái trộm thơ Tây Bắc, còn Trần Vân Hạc khác hẳn bản chất, anh sống ở Tây Bắc, nếu không muốn nói anh là người Tây Bắc tự tay gieo trồng và hái thơ Tây Bắc. Thế giới nghệ thuật trong thơ Vân Hạc đậm đặc chất Tây Bắc không thể lẫn đi đâu được. Thơ Vân Hạc dầy đặc những chất liệu của bản mường Tây Bắc, những búi tóc "tằng cẩu" độc đáo; "áo cỏm" duyên dáng; những sắc hoa đào, hoa ban; điệu khèn điệu pí , những dòng suối mông mơ, những con đèo hút gió chỉ có ở Tây Bắc; những làn điệu dân ca Thái… những điệu xòe mê hồn… Tất cả lung linh sống động trong thơ anh. 2/ Trần Vân Hạc sinh năm 1952, là lính Trung đoàn Bông Lau (38) từ năm 1971, từng chinh chiến ở Quảng Trị năm 1972 vô cùng khốc liệt. Xuất ngũ, về sống và dạy học ở Tây Bắc 30 năm, chủ yếu ở vùng đồng bào Thái. Ba mươi năm là nửa đời người, sống và dạy học ở vùng đồng bào Thái, thì việc người Thái coi anh là "đồng bào" của họ có gì lạ. Anh sinh ở Gành Hạc, Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú thọ nên có tên là Hạc nhưng tiếng Thái Hặc có nghĩa là yêu thương, nên người Thái luận nhận họ hàng, tên anh đích thị là Trần Yêu Thương. Mà này, Kinh Thái có gì quan trọng phải không Vân Hạc? Chúng ta đều là dòng giống Lạc Hồng. Trần Vân Hạc là hội viên Hội Văn Nghệ dân gian Việt Nam, là người sưu tầm nghiên cứu văn hóa Thái Tây Bắc, là người sáng lập trang web vanhac.org, trang web duy nhất viết nhiều về văn hóa Thái. Anh đã giúp một số sinh viên làm luận án cử nhân và thạc sĩ… đề tài văn hóa Thái. Năm 2007 Trần Vân Hạc cùng nghệ nhân Lò Văn Biến ở thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái biên soạn thành công: "Bộ tài liệu dạy tiếng và chữ Thái cổ Mường Lò" cho Bộ Nội vụ dùng làm chương trình khung dạy cho cán bộ viên chức đang công tác ở 7 tỉnh có đông người Thái, bây giờ đã triển khai rộng khắp. Khi biết tôi có ý định lên Tây Bắc hái thơ cùng anh, anh bẽn lẽn (có lẽ Hạc Thái thật, ba muơi năm sống giữa núi rừng Tây bắc, nay về chốn thị thành, tiếp xúc với ai anh cũng khẽ khàng bẽn lẽn chứ không riêng gì với người băm bổ như tôi) bẽn lẽn Hạc bảo: Anh gọi em là người sưu tầm nghiên cứu văn hóa Thái Tây Bắc, em xin nhận, chứ lãnh vực thơ thì em chỉ là dân tay trái. Tôi định xổ định nghĩa thơ của riêng mình: thơ là tiếng lòng thì làm gì có tay phải tay trái, nhưng do Hạc bẽn lẽn và tôi tôn trọng bẽn lẽn ấy nên cũng đành coi thơ Hạc là khu vực tay trái. Dịp khác chúng ta sẽ vào khu vực tay phải, khu vực văn hóa Thái của Hạc. Và chúng tôi (tôi và Hạc) cùng bước vào địa hạt thơ Tây Bắc của Hạc đàm luận suốt dọc đường qua Yên Bái, qua Lào Cai, vào Sapa, lên công trời cầu Hỉ Thần năm mới. 3/ Từ máy ghi âm chép lại. B: Thơ Tây Bắc làm nhiều thế, cho nghe một bài thật thích được chăng? H : Trước khi đọc anh nghe bài " Gọi bạn tình" cho em thưa vài lời. Bài này sau khi đăng báo, em cứ nghe thấy người Thái hát như dân ca của họ. Thậm chí các nhà báo bảo đây đích thị là dân ca Thái, thì ra thơ của mình đã có chỗ đứng và được bà con thừa nhận. Phong tục Thái xưa, thanh niên trai gái có tục "chọc sàn" – Những đôi nam nữ thanh niên chưa vợ chồng đã quen nhau qua hội xuân, qua những đêm "Hạn khuống" – nơi trai gái hát đối đáp giao duyên (còn gọi là "sàn hoa hạn khuống" ), nam thanh niên đến nhà người yêu tấu một khúc sáo – "pí", hoặc khèn rồi nhẹ nhàng đến nơi cô gái nằm chọc nhẹ lên sàn nhà, cô gái đã chờ đợi từ lâu và cùng nhau lên phần sàn nhà nhô ra ngoài trời – gọi là "chan" để tâm sự rất lành mạnh, nhiều đôi nên vợ nên chồng. Trong bài thơ em để chàng trai dùng đầu khèn chọc sàn cho thi vị chứ thực tế chỉ dùng ngón tay… vì khèn làm bằng nứa tép dễ vỡ. Bài thơ GỌI BẠN TÌNH Dậy đi em B: / Đầu khèn/ Chạm vào hò hẹn/ Sao Hôm đậu xuống mái nhà/ Đêm trở mình da diết nhớ sàn hoa/ Còn cần bình gì thêm những câu thơ làm nên Trần Vân Hạc này nhỉ? H. Anh thích? B: Không thích làm sao thuộc ? Câu thơ hay khi chạm vào hồn, nó như con triện ấy, đóng một dấu son. Mà này,viết bài Huyền Thoại Tắm Tiên Tây Bắc hay thế, có bài thơ nào viết về tắm tiên ? H: Tắm tiên tuyệt vời anh nhỉ? Nhưng em còn vụng thơ, nên Tắm tiên vào thơ em chỉ mới là Hoa Bên Suối. Tôi nhắm mắt nghe thơ Hạc mà như thấy Hoa – Tiên đang tắm suối. Tóc búi vai trần Nước dần dâng cao Làn nước – áo em Núi đồi nghiêng chao? Suối tuổi ngàn năm Như là cổ tích B: / Noọng ơi… Đất trời Tây Bắc / Trắng ngần da em/ Cho nghe thêm một bài nữa đi. H: Dạ. Anh nghe thêm bài "Đường Thêu Mùa Xuân" nữa nhé. "Piêu" là khăn thổ cẩm đội đầu hoặc choàng vai, cổ của con gái Thái, khi dệt vải thêu piêu người con gái đã gửi tình vào đường kim mũi chỉ. Người con trai được tặng "piêu" coi như được nhận lời trao duyên. Gặp em sao ngỡ như mơ 4/ Một đời theo thơ, hái được đôi ba câu thơ hay đã là mừng lắm, Trần Vân Hạc không chỉ hái được nhiều nhiều những câu thơ hay, mà anh cón hái được nhiều bài thơ hay, và chùm chùm quả thơ Tây bắc của anh có thể coi là trái quí hiếm. Nói quí hiếm là bởi, những nhà thơ khác là người Kinh hái thơ Thái, hái thơ Tây Bắc, còn Hạc anh hóa thân mình là người Thái hái thơ Thái, hái thơ Tây Bắc. Nói vậy là bởi khi viết về Tây Bắc, về văn hóa dân tộc Thái, ở anh tiềm ẩn một cách riêng, cách thô mộc Thái, cách dung dị Thái, cách hồn nhiên Thái, thật như đếm, thẹn như trăng non và tình như / Giấu câu thơ trong nụ hoa. Hạc bảo: Hạc chỉ là người làm thơ tay trái. Anh khiêm tốn vậy thì ta nghe vậy, thực ra thơ anh đã có hồn và đã có sức rung cảm lan tỏa lòng người nghe. Tay trái mà được thế kể cũng là hiếm. Trong cái khiêm tốn đó của anh cũng ẩn cái không khiêm của anh về cái tay phải nghiên cứu và khảo luận văn hoá Thái. Dịp khác chúng sẽ bàn về cái tay phải tự tin này của Hạc. Về phần mình, tôi tin vào sự đam mê của Hạc và những hy sinh, trả giá cho đam mê ấy, nhất định được đền bù, nhất định được thành quả. Tôi mở máy ghi âm để chúng ta cùng nghe và chia sẽ tâm sự nao lòng của Hạc: Trần Vân Hạc: Năm 1992 do hoàn cảnh em nghỉ 176 về sửa đồng hồ ngoài đường nuôi con ăn học. Được vài năm em bị bệnh dị ứng điên cuồng, cứ tưởng bị chất độc mầu da cam, có lúc đã tiêu cực, vợ em ôm mà khóc: 'Em và các con cần anh vô cùng"! vậy là em vẫn sửa đồng hồ với bộ mặt lở loét không nghỉ một buổi, điều chỉnh chế độ ăn uống và tịch cốc tuyệt đối một ngày/ tuần, được 49 ngày thì sức khỏe hồi phục, hồi đó em tịch cốc hơn 60 ngày và các bài viết bắt đầu từ đó, có lúc cộng tác với mấy chục báo, tạp chí. Bây giờ cũng hơn chục báo, tạp chí trong cả nước. Khoảng gần 200 bài viết ra đời trong ngăn kéo tủ sửa đồng hồ: Tôi là thợ sửa đồng hồ/ Ngăn kéo dùng làm bàn viết/ Khách đến sửa kiếm cái thực/ Khách đi lại tiếp bạn thơ… Đoạn băng khác, đoạn Hạc tâm sự về thơ. Trần Vân Hạc: Em thích bài "Thơ đã ra đời như thế nào?" trong loạt bài Thủng Thẳng Về Thơ của anh. Riêng em, thơ em ra đời từ quan sát đời thường, nhiều bài em thành công từ quan sát đời thường ấy. Ví dụ: "Gửi người con gái Mường Lò xa quê". Cứ gần tết đoàn người tứ xứ tha phương cầu thực lại về, họ nhiều thành phần, nghề nghiệp nhưng quê hương lúc nào cũng dang tay đón và ấm áp, từ con đèo có thực tên là: "Ách", qua con đèo là Mường Lò – Nghĩa Lộ thường bên nắng ấm, bên kia mưa, em nghĩ… quê hương dẫu có chưa hài lòng với một người, một hành vi nào đó thì vẫn độ lượng bao dung… 5/ Trần Vân Hạc giờ đây đã về xuôi, nhưng Tây bắc vẫn là quê anh, gần như quí nào anh cũng một đôi lần bò tầu hòa lên miền Tây Bắc hái thơ. Chuyến đi mới rồi anh hái về nhiều thơ lắm : Câu Khắp hồn quê / Tóc em Mường Lò / Tiếng Khèn/ Tình còn hội xuân… Mời đọc bài thơ mới nhất của anh trước khi khép lại bài viết này. Bài thơ TIẾNG KHÈN (Bài này đã được Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái trao giải) Vút lên từ con tim nguyễn nguyên bảy <nguyenbaybnn@yahoo.com.vn> Filed under: Thơ, Văn Hóa Tagged: Thơ, Văn Hóa | ||||
| Đô thị thế giới ‘thành chiến địa’ Posted: 01 Apr 2011 01:28 PM PDT Mark Kinver Phái viên khoa học và môi trường BBC News Tiêu thụ là tùy thuộc vào mỗi cá nhân và tiêu thụ năng lượng cũng vậy Các khu vực đô thị có nguy cơ trở thành chiến địa trong lúc cả thế giới đang nỗ lực để giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu, Liên Hiệp Quốc đã cảnh báo như trên. Bản đánh giá của cơ quan UN-Habitat trực thuộc LHQ nói rằng các thành phố trên thế giới chịu trách nhiệm khoảng 70% khí thải trong lúc chỉ chiếm có 2% đất đai trên quả địa cầu. Bản đánh giá này nói rằng một chương trình kế hoạch hóa đô thị hữu hiệu có thể tiết kiệm năng lượng rất nhiều mặc dù các đô thị tiêu thụ một số năng lượng không lồ. Các tác giả của bản đánh giá này cảnh báo sẽ có "một tình trạng đối đầu chết người giữa biến đổi khí hậu và đô thị hóa" nếu như không có hàng động nào được áp dụng. Bản đánh giá này được đặt tên là Global Report on Human Settlements 2011, Cities and Climate Change: Policy Directions, nói rằng mục tiêu là cải thiện sự hiểu biết làm sao các đô thị góp phần vào biến đổi khí hậu và liệu có biện pháp để thích nghi nào hay không. Khuynh hướng đáng ngại Joan Clos, giám đốc điều hành của UN-Habitat, nói rằng tình trạng đô thị hóa toàn cầu thật đáng lo ngại nếu xét đến mức độ cắt giảm khí thải. Ông cho kênh BBC News biết: “Chúng ta đang chứng kiến cảnh các đô thị càng ngày càng lớn và nay chúng ta đã bước qua ngưỡng 50% của tổng dân số trên quả địa cầu hiện sống tại các vùng đô thị." “Hiện nay, chưa có dấu hiệu gì cho thấy đà này sẽ giảm bớt, và chúng ta biết rằng đô thị hóa đồng nghĩa với mức tiêu thụ năng lượng càng ngày càng nhiều. Theo các số liệu của LHQ, ước lượng 59% dân số trên thế giới sẽ sống tại các đô thị trước năm 2030.
Hậu quả của biến đổi khí hậu Mỗi năm, số người sống tại các đô thị tăng thêm 67 triệu người, và 91% của số này được cộng thêm vào dân số sống tại thành thị tại các quốc gia đang phát triển. Lý do tại sao các khu vực đô thị tiêu thụ năng lượng rất nhiều, theo bản đánh giá của LHQ ghi nhận, là vì chuyên chở công cộng gia tăng, con người sử dụng quá nhiều năng lượng cho việc sưởi cũng như cho việc điều hòa nhiệt độ nơi ở và nơi làm việc cũng như trong các sinh hoạt kinh tể để tạo ra mức thu nhập. Bản đánh giá ghi nhận trong lúc các đô thị lớn góp phần tạo ra biến đổi khí hậu, thì các thành phố nhỏ hơn phải gánh chịu hậu quả. Các tác giả của bản đánh giá này cũng nói rằng đi kèm theo các rủi ro vật chất do việc biến đổi khí hậu gây ra, một số đô thị cũng sẽ bị khó khăn hơn trong việc cung cấp các dịch vụ căn bản. “Các biến đổi này sẽ ảnh hưởng tới việc cung cấp nước dùng, tới hạ tầng cơ sở, chuyên chở, hệ thống sinh thái của hàng hóa và địch vụ, cung cấp năng lượng và sản xuất công nghiệp." “Các nền kinh tế địa phương sẽ bị gián đoạn và người dân sẽ bị tước đoạt của cải cũng như đàn gia súc." Một số vùng ngày càng nhiều sẽ bị hạn hán, đất chuồi, bão và nhập lụt, như là vùng bán sa mạc Sahara, Nam và Đông Nam Á châu, Nam Âu Châu, vùng bờ biển phía đông của Nam Mỹ và bờ biển phía tây của Hoa Kỳ. Phải hành động
Tiến sĩ Clos nói với BBC News rằng trong lúc biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến toàn thế giới, thì mỗi thành phố có thể đóng vai trò thiết yếu trong việc làm giảm khí thải. Ông giải thích: “Không khí là một hàng hóa chung mà tất cả chúng ta tùy thuộc vào nó do đó, mỗi khi khí độc được thải ra ở đâu đó, thì nó đã cộng thêm vào vấn đề." Ông nói thêm: “Tiêu thụ là tùy thuộc vào mỗi cá nhân và tiêu thụ năng lượng cũng vậy. “Đó là lý do tại sao chính quyền ở cấp địa phương có thể đóng một vai trò lớn trong việc tiêu thụ năng lượng, cho dù chính phủ trung ương có chấp thuận hay không." Bản đánh giá cũng kêu gọi các viên chức lo việc đô thị hóa ở cấp địa phương phải có một cái nhìn sâu xa hơn cho việc phát triển trong tương lai xét theo biến đổi khí hậu ở địa phương đó. Filed under: Môi trường Tagged: Môi trường | ||||
| Phát hiện rắn mắt hồng ngọc ở Việt Nam Posted: 01 Apr 2011 01:26 PM PDT Hôm 28/3, tạp chí National Geographic (Mỹ) đưa tin, các nhà khoa học vừa công bố phát hiện loài rắn lục có đôi mắt màu hồng ngọc có tên khoa học Cryptelytrops rubeus sống ẩn nấp trong các khu rừng gần TP.HCM và các ngọn đồi thấp ở miền Nam Việt Nam. Theo đó, các nhà khoa học đã thu thập mẫu loài rắn Cryptelytrops rubeus từ các nước Thái Lan, Lào, Việt Nam và Campuchia trong các năm 1999-2003 và nghiên cứu nó trong phòng thí nghiệm để xác minh loài rắn mới này.
"Chúng tôi biết loài rắn Cryptelytrops rubeus từ vài mẫu thu thập được, rất ít người trên thế giới nhìn thấy nó", Tiến sĩ Anita Malhotra, nhà sinh thái học phân tử thuộc trường đại học Bangor (Anh) và là đồng tác giả nghiên cứu cho biết. Theo các nhà khoa học, rắn Cryptelytrops rubeus thường xuất hiện gần các con suối và món ăn ưa thích của loài rắn này là những con ếch. Chúng sống ẩn dật trong các khu rừng ở gần thành phố Hồ Chí Minh và các vùng đồi núi thấp ở miền nam Việt Nam và miền đông Campuchia.
Đồng thời, Bà Malhotra và các cộng sự cũng đã phát hiện loài rắn lục mới thứ hai thuộc chi rắn Cryptelytrops, có tên khoa học Cryptelytrops cardamomensis, sống trong khu vực dãy núi Cardamom thuộc phía đông nam Thái Lan và phía tây nam Campuchia. Cryptelytrops cardamomensis có đôi mắt màu vàng, trong khi Cryptelytrops rubeus có đôi mắt màu hồng ngọc. Vườn quốc gia Cát Tiên (Việt Nam) được xem là thành trì cho loài rắn mới này phát triển, nhưng hiện nó chỉ sống trong phạm vi hẹp của khu rừng. Bà Bangor cũng tỏ ra lo ngại cho loài rắn mới Cryptelytrops rubeus vì nó rất có thể trở thành nạn nhân của nạn buôn bán động vật quý hiếm. Bà Bangor cũng kiến nghị nên đưa loại rắn này vào trong Sách đỏ của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN). Ngọc Ngọc (Theo National Geographic) Filed under: Môi trường Tagged: Môi trường |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |
No comments:
Post a Comment