Đọt Chuối Non |
- Sound of Music Train Station Video: Antwerp Station Belgium
- Hoa cỏ
- Đường xưa Thầy đi
- Đại diện Tòa thánh Vatican tới Việt Nam
- Sức khỏe TS Hà Vũ ‘có vấn đề’
- Tại sao Đài Loan lại tái tuyên bố chủ quyền?
- Joe Dassin, chàng ca sĩ Mỹ hát nhạc Pháp
- Ưu tiên số một khi đối diện bão tố
- Cô thợ gốm đáng yêu
- Biển Đông: Học giả Việt Nam giúp Manila – TQ cũng gởi công hàm lên LHQ
- Moody’s vẫn đánh giá ‘tiêu cực’ về kinh tế VN
| Sound of Music Train Station Video: Antwerp Station Belgium Posted: 21 Apr 2011 01:47 PM PDT Chào các bạn, Hẳn hầu hết chúng ta đều biết bộ phim và nhạc của “The Sound of Music” về gia đình gánh hát Maria von Trapps Một đám đông 200 người ngẫu nhiên cùng nhảy theo nhạc của bài hát Đô Rê Mi phát ra từ Radio của xe tầu điện Antwerp ở Bỉ! Thật tuyệt, con người thật có thể tự do và hài hòa đến vậy Chúc bạn một ngày vui, Hiển Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa | ||
| Posted: 21 Apr 2011 01:46 PM PDT Chào các bạn, Chúng ta nói "cỏ hoa" về với vạn vật. Cỏ và hoa. Các bạn có một khoảng vườn nhỏ trước nhà để trồng hoa thì đều có kinh nghiệm cả rồi. Sức sống trở về, hoa lên và cỏ cũng lên. Bên cạnh những cụm hoa tươi—hồng, cúc, vạn thọ, lay-ơn—khoe sắc thì cỏ dại cũng lên ngùn nghụt. Trời đất thương tất cả chúng sinh, tâm không phân biệt, ban sự sống cho người tốt lẫn người xấu, ban mưa nắng trên lúa ngô lẫn cỏ gai hiểm hóc. Và đó là vấn đề cho kẻ làm vườn. Các cây hoa quý ta chăm sóc phân bón nước nôi hàng ngày thì đôi khi lại cứ èo uột dẫy chết. Nhưng cỏ dại thì ta muốn cho chết cũng không chết, mỗi ngày một tràn lan. Thế nên, nếu ta không chăm sóc gì đến mảnh vườn trong hai tháng thì chắc chắn là mảnh vườn chỉ đầy cỏ và các cụm hoa sẽ bị cỏ làm ngợp chết hoặc sống èo uột trong những lùm cỏ dày đặc, không ai thấy. Hình như chân lý cuộc sống là vậy. Những điều đẹp và quý thì ta cứ phải chăm sóc trầy vi tróc vảy để bảo tồn, mà đôi khi vẫn thất bại. Nhưng những cái tồi thì tự chúng có sức sống làm chết ngợp tâm ta. * Cho nên nghệ thuật giữ vườn là (1) chăm sóc nước nôi phân bón hoa hàng ngày, và (2) nhổ cỏ hàng ngày. Từ "hàng ngày" rất quan trọng. Đó là tinh yếu của việc làm vườn. Trong mùa hạn, hoa có thể héo úa, không chết thì cũng bệnh hoạn, nếu thiếu nước chỉ vài ngày dưới ánh mặt trời thiêu đốt. Hoặc mùa mưa, hoa bị úng nước nơi nước đọng khoảng 2, 3 ngày là chết. Cỏ thì khỏi nói, mưa nắng hạn lụt gì thì cỏ cũng lên, mỗi ngày. Nếu ta làm cỏ hàng ngày, mỗi ngày 20 phút chẳng hạn, thì đỡ mệt. Nhưng để khoảng 2 hay 3 tuần, mảnh vườn sẽ thành rừng cỏ u minh, và nếu phải làm sạch cỏ rất mệt. Vừa quá nhiều cỏ, mà rễ cỏ lại đâm xuống rất sâu, phải dùng sức rất nhiều. Đó là chưa kể trong 2, 3 tuần đó, nếu có gia đình rắn rít nào vào rừng cỏ rậm của ta sinh sống vui chơi, em bé hàng xóm vào vườn cỏ bị chúng cắn chết, thì đương nhiên là ta sẽ bị kiện và sẽ phải bồi thường. • Làm cỏ là một hành động giản dị. Cúi xuống nắm cỏ rút lên là xong. Thường thì ta cần một thanh sắt nhỏ để nếu có rễ sâu thì đâm thanh sắt xuống đất nạy rễ lên. Chỉ giản dị có thể nhưng lại rất mệt vì lưng của bạn cứ phải cúi xuống cúi lên, chỉ một chút là mỏi lưng thở không ra hơi. Nhưng đó lại là cách rất hay để làm cho các cơ tay, cơ chân và nhất là cơ lưng của bạn mạnh mẽ theo thời gian. Vườn tâm của ta cũng phải được gìn giữ như thế, các bạn. Chăm sóc nuôi dưỡng tính tốt, nhổ bỏ tính xấu, hàng ngày. Và nhổ bỏ tính xấu chỉ là việc giản dị–đừng tư duy xấu xí, đừng làm việc xấu xí. Giản dị thế nhưng làm thì rất mệt. Tuy nhiên cũng cho chúng ta rất nhiều sức mạnh. Câu quan trọng nhất trong Kinh Pháp Cú, tinh túy của Phật Giáo Nguyên Thủy, là đoạn 183, phẩm 14 (Phẩm Phật Đà): Không làm mọi điều ác. Tức là: Nhổ cỏ Không thể trồng hoa nếu không nhổ cỏ. Thường xuyên. Mỗi ngày. Chúc các bạn một mảnh vườn tâm đẹp đẽ. Mến, Hoành © copyright 2011 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | ||
| Posted: 21 Apr 2011 01:45 PM PDT
(Sự có mặt của Thượng tọa Thái Hòa tại đất Sài Thành, phía Nam)
Thầy đã được giáo dục bởi các Ngài, nên luôn ấp ủ riêng cho mình một phương pháp truyền trao khế hợp với thời đại và lối sống chân phương thiền vị cho các thế hệ tiếp nối. Sau nhiều năm, vì những sự biến Già Lam, Vạn Hạnh, thế cuộc đổi thay, nên Thầy dừng lại các chuyến thăm viếng, trao đổi và xây dựng với các thế hệ đồng học của mình tại thành Sàigòn. Nếu tính cho đến hôm nay, các lớp bạn của Thầy đã có tuổi, và đang hành đạo khắp nơi kể cả trong nước và ngoài nước. Có những pháp hữu đồng học, đồng tu đã trải qua ba mươi năm chưa hề gặp lại và có những pháp hữu đã đi xa hay đã rẽ thành hai lối, có những bậc Thầy của Thầy đã nằm yên bất động, nhưng cũng có những vị ngày nay đang ẩn mình trong viện sách, tàng kinh. Tuy vậy, nhưng Thầy không bao giờ quên dấu chân xưa của những vị ân sư tiền bối và của chính Thầy. Đất Sài Thành không phải Thầy chỉ đến đó một lần để học, mà còn đến đó nhiều lần để học lịch sử, học cách làm lịch sử và để rồi trở thành một trong những nạn nhân và chứng nhân của lịch sử một thời! Sau chuyến đi Ấn Độ năm rồi (2010), để cùng với một số quý Thầy, cô và phật tử VN, dựng thánh tượng Bồ tát Quán thế âm tại Bồ đề Đạo tràng, chiêm bái bảo tháp, viếng và đảnh lễ các Thánh địa, dự lễ trai Tăng và chia sẻ pháp thoại cho Tăng Ni tám quốc gia, Thầy trở về nước vào năm ngoái ngày 17.11 âm lịch, thì Ni sư Thích nữ Như Thảo trú trì chùa Pháp Võ, ở quận 7 đã cung thỉnh Thầy với Hòa Thượng Phước Trí, trú trì chùa Pháp Vân, Sài Gòn đến dự lễ kỷ niệm vía Đức Phật Di Đà tại bổn tự và trong dịp đó, Thầy đã chia sẻ pháp thoại trước các đại gia đình tín chủ và chư Tăng Ni, trong buổi lễ trai Tăng với nội dung: "Tu tập hằng ngày để chuyển hóa thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, khiến ba nghiệp thanh tịnh, để cầu nguyện cho người sắp lâm chung hay các hương linh mới quá vãng được vãng sanh về thế giới an lành. Sự cầu nguyện có gốc rễ từ ba nghiệp thanh tịnh, mới có hiệu quả đối với các đối tượng mà mình hướng tới cầu nguyện".
Vào khoảng thời gian đó, Thầy cũng đã Thăm Giáo sư Lê Mạnh Thát( T.s Trí Siêu), vấn an sức khỏe, kính lễ Đại lão Hòa thượng Minh Châu và thăm Hòa thượng Phước Sơn, Hòa Trung Hậu, Hòa thượng Chơn Nguyên. Đặc biệt dùng bữa cơm trưa tại Thiền viện Vạn Hạnh với Hòa thượng Phước Sơn. Thầy đã hỏi về một số công trình nghiên cứu và phiên dịch kinh tạng của H.T Phước Sơn. Hòa thượng Phước Sơn là học trò của Đại lão Hòa Thượng Tâm Như, thượng Trí hạ Thủ. Buổi trò chuyện của hai huynh đệ pháp lữ thật gần gủi và đầy chất đạo vị. Thầy cũng đã thăm và trò chuyện với các Thầy Tâm Minh, Tâm Chánh, Tâm Chơn, Phước Đạt,… ở Thiền Viện Vạn Hạnh và chia sẻ những kinh nghiệm tu tập cần thiết,… Thầy cũng đã cùng với chư tôn đức khai đạo giới tử và trao truyền Thập Thiện Giới và Bồ Tát Giới cho hàng trăm cư sĩ, tại Tu viện Quảng Hương Già Lam. Bấy giờ, nghe tin Thầy vào Nam, Ni trưởng Bảo Nguyệt cũng đã thỉnh Thầy đến thăm Ni viện Diệu Giác ở quận 2. Trong buổi tiếp đón Thầy, Ni trưởng thân mật thăm viếng, ôn lại chuyện làm điệu ở Huế với quý ngài thượng thủ Tăng già Thuận hóa cố đô. "Kế đến, Thầy kể cho Ni Sư nghe chuyện về mấy con khuyển (chó) sống trong các chùa. Về đời trước và hiện tại đời này của chúng, thấy thế mà chúng rất mến và biết nghe lời quý Thầy trú trì, chỗ mấy con khuyển nằm nghỉ ngơi, bao giờ cũng gần kề thất Thầy trú trì, tri sự hay bên cái kho lương khô của nhà chùa". Nói đến đây, Ni Sư chưa thẩm thấu hết ý của Thầy. Ni Sư ngồi tĩnh lặng một lúc lâu mới nhận ra ý chỉ của Thầy trong câu chuyện. Thầy nói tiếp: "Nếu mình tu tập không dứt khoát và không thành tựu hạnh xả ly, chỉ biết chấp thủ tài sản,…thì tương lai, tránh đâu cho khỏi thân khuyển giữ chùa, giữ nhà!". Sau buổi nói chuyện, Ni Sư đã mời Thầy vào buổi tối chia sẻ pháp thoại cho Ni chúng và phật tử của chùa. Năm nay (2011), chiều 29/2/ Tân Mão, sau khi lo lễ chung thất thân phụ xong, Thầy liền đi máy bay vào Sài gòn để kịp dự lễ về nguồn của các cựu học Tăng của các PHV và dự lễ húy nhật thứ 27 của Hòa thượng ân sư, húy thượng Trí hạ Thủ, tại Tu viện Quảng Hương Già Lam, Sài Gòn. Đón Thầy tại sân bay có quý Thầy Pháp Bảo, Hồng Chơn, Minh Phú, chi Ẩn, Chị Nga, Nguyên Niệm, Thành Đức, Tấn Lộc,… mọi người đã tặng Thầy bài thơ Tình Đạo Sĩ viết thư pháp và cùng chớp ảnh chung với Thầy tại phi trường trước khi đưa Thầy lên xe về Tu Viện Quảng Hương Già Lam, đến Tu Viện Quảng Hương Già Lam, nhiều phật tử đã đứng đợi đón Thầy ở đó, có cả chị Hoàng Thiên đang đứng ngay ở trong cổng chùa. Chị Hoàng Thiên nói: Con đã đến Tu Viện từ khi 14 giờ để đón Thầy. Đợi Thầy lâu, con cũng có cơ hội "tập quét lá sân chùa". Vào 7 giờ tối, Thầy liền dự buổi lễ về nguồn của các thế hệ cựu học Tăng của các Phật Học Viện Trung Phần, nhớ lại ân sư giáo dưỡng và để có cơ hội các cựu học Tăng ôn lại những kỷ niệm của mình trong thời gian tu học tại các Phật Học Viện, nhắc nhở cho nhau nghe những lời dạy của bậc ân sư như: "Thiền là để định tâm và kiến tánh thành Phật; Tịnh độ không phải chỉ để định tâm kiến tánh thành Phật mà còn phải lập Tín, Hạnh và Nguyện để trang nghiêm tự thân và thế giới, nhằm báo đáp tứ ân, cứu giúp ba cõi". Trong bài "Vị Thầy Của Nhiều Thế Hệ", Thầy đã nhắc lại lời dạy của Hòa thượng rằng: "Ta đi đến đâu, mọi người đem tâm bình dị mà đối xử với ta, ta biết rằng, ta có thể sống lâu với người ấy và người ấy có thể sống lâu với ta. Người ấy với ta có thể trở thành thân hữu lâu dài. Ta có thể lưu trú lâu dài ở nơi trú xứ của người ấy để làm phật sự". Thật đúng vậy, trong bài " Vị Thầy Của Nhiều Thế Hệ", Thầy đã viết về đời sống mô phạm, tĩnh lự của Hòa Thượng Già Lam, là một bài học quý báu vô cùng đối với hàng hậu học sau này là "thầy có tấm lòng để dạy, trò có tấm lòng để học". Hòa Thượng thượng Trí hạ Thủ đã mất 27 năm (1984 – 2011), nhưng Thầy đã may mắn dự kỵ đến 26 năm, chỉ có năm 2005, do pháp duyên của chuyến về thăm Chùa Từ Hiếu của Thiền sư Nhất Hạnh, nên Thầy phải tưởng niệm Hòa Thượng và dự kỵ Hòa thượng ân sư tại Tổ đình Báo Quốc Huế. Vào tháng Giêng và hai năm đó, Thầy thật lao tâm, để yên ổn mọi việc " bất động đậy, để tránh rút dây đạp rừng", nên Thầy đã cùng lớp Tăng sinh thầm lặng từ giã chùa Tổ Từ Hiếu, chuyển qua Chùa Thuyền Lâm để tiếp tục tu học ở trú xứ nầy. Mỗi khi có dịp dạy dỗ hay hàn huyên với các học tăng trẻ, Thầy thường nhắc lại, lời dạy của Hòa Thượng ân sư rằng: "Tất cả muôn vật từ hữu tình đến vô tình đều có sự sống, nên khi ta ngắt một ngọn lá, chặt một cành cây, để sử dụng cho một công việc phật sự nào đó là ta đều phải khấn nguyện và chú nguyện cho nó với tất cả tâm từ bi của ta, trước khi ta hành sự. Nếu ta không làm như vậy, oán khí của cây sẽ chạm vào tâm ta, khiến cho đức hạnh và tâm từ bi của ta bị thương tổn". Buổi tối 29/2/ Tân Mão, các cựu học Tăng ở các miền, các tỉnh tựu về vườn thiền Già lam chốn xưa, dưới bóng tháp của Ân sư để cử hành lễ nghi kỷ niệm quãng thời gian hành đạo của bậc Sư trưởng lúc sanh tiền. Chân dung vô úy, pháp âm vi diệu, bước đi định tỉnh nhất quán của bậc Ân sư đã được Thầy thể hiện ngay qua buổi thiền hành nhiễu bảo tháp. Từng bước, từng bước Thầy trở về an trú, khói hương nghi ngút, hoa thơm thi vị, mây trăng dõi bước mà Ban biên tập Thư Viện Cổ Pháp thành tâm tạc dạ với lời thơ: Cánh nhạn bay cao vượt đôi dòng, Lần này toàn tập Tâm Như -Trí Thủ được tái bản, để hiến tặng Chư tôn thiền đức Tăng Ni, cư sĩ trong đêm về nguồn tưởng niệm nhân ngày húy nhật. Buổi tối ngày 29/2/ Tân Mão, Thầy gặp Hòa thượng Đạt Đạo tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam, hai Thầy thăm nhau, lúc đó cũng khuya rồi, đến giờ an tịnh của đại chúng, H.T Đạt Đạo cũng có lời mời Thầy về Chùa Bát Nhã, quận Bình Thạnh nghỉ ngơi và thắp hương cho thân mẫu, để có nhiều thời giờ nói chuyện với nhau hơn. Hòa thượng Đạt Đạo, cũng có lời cáo lỗi đến Thầy, là đám Tang của Thân phụ thầy, tôi không thể về viếng và tiễn đưa thân phụ của thầy được, trong lòng cứ áy náy vô cùng; thôi rứa thì xin thỉnh thầy về Bát Nhã để tâm sự và dạy chúng giùm tôi một giờ". Khi về chùa Bát Nhã, chư Tăng và phật tử của bổn tự đã đón Thầy trong tình đạo vị. Sáng mai trước khi qua lại Tu viện Quảng Hương Già Lam để chính thức dự lễ húy nhật ân sư, Thầy đã chia sẻ với tăng chúng ở trú xứ Bát Nhã với bài pháp thoại ngắn. Thầy đã nhắc nhở cho Tăng chúng tại trú xứ nầy về "hạnh xả ly của người xuất gia và hãy nuôi dưỡng hạnh xả ly ấy bằng tâm bồ đề. Nếu ta biết nuôi dưỡng tâm và hạnh ban đầu ấy không để bị rơi mất là ta có thể đi trọn vẹn con đường tu của mình, để báo đáp ơn Tam bảo, ân Thầy Tổ, ân cha mẹ, ân của đàn na thí chủ và ân của mọi người, mọi loài đối với mình". Thầy khuyên, quý thầy trẻ nên cố gắng tập sống lại với tâm ban đầu của mình, xác định lại với tâm linh, với thầy tổ về ý nghĩa và mục đích đi xuất gia tu học của mình. Trong mọi hoàn cảnh của xã hội có chi phối đời sống ở bên trong và ngoài, thì chúng ta đừng chạy trốn và sợ sệt mà phải đối diện, học hỏi những khó khăn đến với ta từ nhiều phía để vượt qua. Thầy nói: "Người tu thì nên biết làm chủ tâm ý, và làm cho tâm ý trong sạch, không nên bị động theo những thị phi thường tình. Mình phải biết vận dụng mọi hoàn cảnh thuận nghịch để thực tập. Muốn sống có được những chất liệu như thế, thì quý thầy hãy bỏ ra ít thì giờ ngồi thiền, niệm Phật, học kinh luật, tưới cây, làm hương đăng,…tất cả những động tác ấy đều là những điều kiện giúp cho cánh cửa tuệ giác nơi tâm của các thầy tự động mở ra…" Từ giã chùa Bát Nhã ở quận Bình Thạnh, Thầy trở lại Tu Viện Quảng Hương Già Lam dự lễ chính thức húy nhật của Hòa Thượng ân sư. Thầy đã cùng với chu Tôn đức trong môn đồ pháp quyến quỳ trước giác linh đài của chư Hòa thượng ân sư là Hòa Thượng, thượng Trí, hạ Thủ và Hòa Thượng, thượng Thanh hạ Trí một cách thành kính suốt cả buổi lễ cung tiến giác linh. Vào buổi chiều, Thầy lại được Thầy Hồng Chơn đưa đi thăm gia đình của các chị Tú Anh, Tuấn Anh, Thiều Anh và dùng cơm đạm bạc ở gia đình nầy. Sau đó Thầy Hồng Chơn lại đưa Thầy đi thăm Tịnh Thất của Thầy Thái Tuệ ở quận Tân Phú. Vào sáng 2/3/ Tân Mão, Thầy cùng với Thầy Pháp Bảo, Hồng Chơn, cư sĩ Nguyên Niệm và chị Xuyến lên đường đi Bà Rịa Vũng Tàu để thăm tịnh thất Tịnh An Lan Nhã nơi Sư cô Liễu Pháp trú trì. Sư cô Liễu Pháp là học trò của Thầy khi còn là sinh viên. Có Sư cô Liễu Tuệ ở từ Thiền viện Viên Không cũng ra Tịnh An Lan Nhã đón Thầy và cùng với Sư cô Liễu Pháp cùng hầu chuyện với Thầy nữa. Trên đường đi, Sư cô Liễu Tánh biết Thầy đi Tịnh An Lan Nhã, cũng gọi điện thăm và hầu chuyện với Thầy. Ở Tịnh An Lan Nhã, Thầy đã chia sẻ phương pháp hoằng pháp hiện nay cho Sư cô Liễu Pháp. Thầy nói: "Người hoằng pháp phải biết ứng dụng Tứ Tất Đàn để đưa quần chúng về với chánh pháp. Mình phải hiểu trình độ, điều kiện, văn hóa, tín ngưỡng, nghiệp chủng của tâm thức từng vùng, mới có thể vận dụng Phật pháp cho thích ứng để đưa quần chúng bỏ mê theo ngộ, bỏ tà theo chánh, bỏ cái tạm thời mà đi theo cái vĩnh cửu,… Thầy nói, người hoằng pháp đi đến đâu, mình không phủ nhận cái của họ đã có, mà ngay nơi cái vốn có của họ, mình chỉ cần rọi ánh sáng chánh pháp vào nơi cái vốn có của họ ấy, để cho cái tốt nơi họ tự đơm hoa và cái xấu nơi họ tự chuyển hóa, thì sự hoằng pháp của mình mới thành công". Thầy nói: " như bát nhang nhà nào cũng đang thờ tự tổ tiên huyết thống, ấy là cách mà cha ông chúng ta giữ nền móng đạo lý, gìn giữ nòi giống dân tộc Việt, khỏi bị các luồng văn hóa khác đô hộ. Đặc biệt các Sư cô thấy trong lịch sử VN: việc các nhà truyền giáo Tây phương, khi họ đến Việt Nam, người ta muốn cái gì được bỏ đi, nhổ gốc lên? Đó là bát hương mà cả nhiều đời người dân Việt Nam cố lòng bảo vệ mái ấm tâm linh của dân tộc. Nên, những nền đạo đức, văn hóa của dân tộc vốn có sẳn, Đạo Phật không phủ nhận cái đã có, mà chỉ rọi vào những cái đã có sẳn đó, bằng ánh sáng tuệ giác và tâm từ bi, thì tức khác những cái tốt đẹp vốn co sẳn ấy từ từ nó sẽ thăng hoa". Thầy còn dặn Sư cô Liễu Pháp, nếu có điều kiện, thì nên mua đất đai chung quanh chùa, để có nhiều cơ hội phát triển hoằng pháp nhiều mặt giúp ích bà con trong vùng, như mở Tuệ Tĩnh đường, mở trường học, mở thêm những trung tâm thực tập thiền quán,… Sau bữa cơm thanh đạm, Thầy, cùng quý Thầy Pháp Bảo, Hồng Chơn, Sư cô Liễu Pháp, Liễu Tuệ, Phật tử Nguyên Niệm, chị Xuyến và anh Hùng đều về bãi biển Vũng Tàu ngắm sóng và thở không khí biển rồi trở lại Sài gòn. Và trên đường đi về Sài Gòn, Thầy ghé vào chùa Diệu Giác niêm nhang, hộ niệm thất thứ bảy – 49 ngày Ni sư Bảo Nguyệt. Thầy đến chùa Diệu Giác bầu trời cũng bắt đầu sẫm tối, thắp hương cho Ni Sư xong là Thầy ra vườn viếng tháp và có lời chia sẻ khuyên tấn Ni chúng ở đây tu học. Thầy đã gọi tên và hỏi thăm từng vị và hỏi thăm Ni sư Huệ Trí. Thầy dạy: "Người tu, mình kế thừa sự nghiệp của Thầy là kế thừa sự nghiệp chánh pháp mà Thầy đã để lại, bằng cách chị em sống thanh tịnh và hòa thuận, nâng đỡ nhau ở trong chánh pháp, các chị em sống và thực tập được như vậy là thương và quý Ni sư vậy". Sau lời dạy của Thầy, Các Sư cô Hạnh Châu, Hạnh Ngọc thay Ni chúng hiện tiền cảm ơn đảnh lễ và cúng dường Thầy, nhưng Thầy đã từ chối nhận tịnh tài. Thầy nói: "Quý chị em để tịnh tài ấy, lo chung thất và xây tháp cho Ni sư hoàn mãn, Thầy đã nhận tấm lòng của quý chị em và cầu nguyện giác linh Ni sư siêu sanh tịnh độ và cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho Ni chúng Diệu giác có vô lượng an lành". Thầy đã trở về Tu Viện Quảng Hương Già Lam nghỉ ngơi, ngày mai, Ban thị giả của Thầy đã dành riêng một ngày để Thầy đi đến thăm nhà cư sĩ Nguyên Niệm, Quảng Hà, tư gia Thu Cúc, B.s Minh; Ở nhà BS Minh và Thu Cúc, có cả anh Khánh, chị Ái Nguyên, chị Sang, chị Hảo, các Sư cô Liễu Pháp, Liễu Tánh, Liễu Tuệ, mẹ của chị Thu Cúc đều dùng bữa cơm đạm bạc với Thầy. Ăn cơm xong, Thầy còn đọc Thơ cho quý vị nghe nữa. Thầy tới đâu mọi người ai cũng cảm nhận được nguồn pháp lạc an vui từ nơi thầy tỏa ra một cách tự nhiên Chiều mồng 3 tháng 3 Tân mão, Thầy lại được Thầy Hồng Chơn mời thăm gia đình của anh chị Minh Thanh, ở đây Thầy đã dùng tiểu thực ở trong chánh niệm với Thầy Pháp Đăng, Hữu Tánh, Hồng Chơn, Sư cô Như Hiếu,… cùng nhiều phật tử khác nữa. Sau khi tiểu thực xong, Thầy chia sẻ ngắn gọn với đại chúng ở đây pháp quán chiếu hơi thở. Thầy nói: "Thực tập quán chiếu hơi thở, bước đầu là nhận diện đơn thuần, sau đó là nhận diện toàn thể và cuối cùng phải thấy rõ sự liên hệ của hơi thở đối với thân tâm và thế giới. Sự liên hệ hơi thở với nhân quả ba đời. Nhờ thấy được sự liên hệ như vậy, ta mới yêu con người và thiên nhiên. Ta thấy trong mọi người và thiên nhiên đều có mặt hơi thở của ta và trong hơi thở của ta đều có mặt của mọi người và thiên nhiên. Thực tập càng sâu, tâm ta càng yên lắng, trí tuệ và từ bi nơi ta phát sinh. Nên, ta thấy đời sống thật có ý nghĩa, khiến cho ta bỏ điều ác và làm điều lành một cách tự nhiên". Từ giã gia đình anh chị Minh Thanh, Thầy đến thăm Thiền viện Vạn Hạnh, nói chuyện thơ và sự tu tập với Hòa thượng Chân Nguyên, sau đó Thầy trở về Tu viện Quảng Hương Già Lam để nghỉ ngơi. Ngày 04.03 âm lịch (06.04.2011) Thầy lại có chương trình đi thăm Chùa Hòa Linh ở Mõ Cày, Bến Tre do Ni sư Như Quang làm trú trì, với Pháp Bảo, chú Lai em Thầy và anh Dũng cháu Thầy. Về đây, Thầy được Ni sư cho biết bà con thích tu tập và tạo phước lắm, hàng tháng quý đạo hữu tựu tập về lễ Phật, tụng kinh, sám hối; thỉnh thoảng mới có vài buổi thuyết pháp, do trên địa bàn xã Bình khánh duy chỉ mới có một vài ngôi chùa lá, làm nơi nương tựa tâm linh, tịnh tâm sớm tối cho người dân "vùng đất điểm hẹn dừa xanh, bụi rậm". Nên Sư cô đang kiến lập thêm Thiền đường phía trước, để có chỗ cho đại chúng an tâm tu tập. Ni sư còn phát nguyện, sau khi thiền đường hoàn tất sẽ thỉnh Thầy vào truyền giới, quy y cho con cháu trong gia tộc ở phía Nam và cho quý thiện nam, tín nữ tới học pháp với Thầy. Luôn tiện Ni sư xin Thầy cho các câu đối để khắc vào trụ của tiền đường, nhân đó Thầy làm cho bốn câu đối như sau: 1. Mặt trời tâm linh dưỡng nuôi điều tốt đẹp 2. Chuông sớm tỉnh thức bao người đi chệnh choạng; 3. Nương tựa Phật Pháp Tăng phước đức thành tựu; 4. Cõi phật trang nghiêm muôn dân cùng nương tựa; Sau khi Thầy đi tản bộ, thăm nương vườn, đất đai xung quanh hết rồi, thì Thầy quay mặt lại dặn dò Ni sư mấy ý: " Tại đây đất đai phì nhiêu, cây cối tốt tươi, không gian thoáng đãng, tình người tao nhã, lòng người chân chất, Ni sư nên thiết lập một vài am tranh, đường đi có lót sỏi cát, cây kiểng đơn sơ để làm chỗ cho quý Ni, cư sĩ tại gia các nơi lân cận muốn yên tịnh, về đây nhập thất tịnh tu, khiến năng lượng đạo đức vô hành tỏa ra, làm cho vùng đất Mõ Cày sớm mang lại nhiều sự chuyển hóa lợi lạc lâu dài trong tình đời nghĩa đạo". Từ giã Bến Tre, Thầy trở lại Sài Gòn, Thầy thăm gia đình của người chú. Người chú 93 tuổi đã nắm tay Thầy và thương Thầy một cái thật đậm đà nét nhân văn, sau đó Thầy dùng cơm với gia đình của chú. Dùng cơm xong, Thầy về lại Tu viện Quảng Hương Hương Già Lam để nghỉ. Ngày 8.4.2011 (06.3. Tân Mão), khoảng 10 giờ trưa, Thầy đi chiêm bái tôn tượng, thánh tích Bồ tát Quảng Đức tại ngả tư đường Nguyễn Đình Chiểu – và cách Mạng Tháng Tám. Đến Thánh tích, bàn chân Thầy vừa chạm xuống mảnh đất linh thiêng một thời, ẩn nét từ bi đạo lực, đạo hạnh của bậc chân tu năm (11-6-1963) ngay giữa chốn bạo lực, truy bức của thể chế gia đình trị. Bấy giờ, Thầy đi thiền hành chung quanh Thánh tích Thích Quảng Đức với bước chân chậm rãi sâu lắng. Hôm ấy nắng nhẹ, trời trong, mây trắng, bức tranh thiên thu luôn gợi về trong tâm tưởng của Thầy qua việc niêm hương tưởng niệm trước bảo tháp gần 30 phút của Thầy! Đố ai biết được Thầy đã bạch gì với Hòa thượng Quảng Đức? Chuyện hơn năm mươi năm trước hay chuyện ngàn năm sau? Có đôi lúc Thầy dừng lại thành kính chắp tay giữa tấm phù điêu diễn tả Tăng ni quỳ cả xuống hầu Ngài Quảng Đức, trước khi Ngài bậc lửa : "…Ô đích thực hôm nay trời có mặt
… Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc (Thơ Vũ Hoàng Chương) Cũng lâu rồi, trong một tác phẩm ngắn nói về mùa pháp nạn 1963, có kể về buổi sáng rước Phật từ Chùa Ấn Quang về Xá Lợi, trên con đường công trường Dân chủ, chiếc xe của ông Trần Quang Thuận đã chở H.T Quảng Đức đến lễ đài Phật đản, đến vị trí khả quan, yên ắng, thế rồi ngài bước xuống từ trong đi ra tỉnh tại, bấy giờ ngọn lửa thiêng của Hòa thượng Thích Quảng Đức đã vụt lên giữa ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt. Tuy, ở nơi Thánh tích một tiếng đồng hồ, Thầy cũng đã học tập sâu sắc để thấy lại những gì trong lịch sử của hôm qua, nhằm định hướng cho bước chân thiền hành của mình hôm nay và ngày mai trong những bước thăng trầm của lịch sử. Sau đó, Thầy tìm đến một chỗ ngồi ở một gốc cây, nhưng cách ngồi của Thầy lại làm cho mọi người đi đường chú ý và quan tâm đến vai trò của người tu trong cuộc sống hiện đại này? Sau buổi chiêm bái Thánh tích Thích Quảng Đức, đúng vào giờ trưa 11h30 phút, Thầy được gia đình Tiến sĩ Mai Xuân Thiệu và Tiến sĩ Hoa Lan mời đến nhà riêng để thọ trai (theo lời đề nghị của thị giả để cho Thầy được nghỉ ngơi trong lúc đường sá giờ cao điểm). Thầy vào nhà, hình như nét mặt Thầy có vẽ đăm chiêu và đang chiêm nghiệm đến điều gì đó trong im lặng: " có cây ngô đồng cho chim phượng đậu, có người đứng đó cho tình thương sâu, luật lệ nhiều khi như màng lưới sắt, giam người trong kiếp trầm luân thương đau… thành phố sáng nay nắng lên bát ngát, có chim bồ câu bay liệng trời cao, tôi nhớ tới người tấm lòng cương trực, nụ cười mát dịu như nước nhiệm mầu… " (Thơ. Nhất Hạnh) Cô Hoa Lan mở lời : Nam mô A Di Đà Phật, Cơm trưa, dưa rau đạm bạc của gia đình, xin thỉnh Thầy hoan hỷ thời ngọ. Vừa dùng cơm, cô cũng xin trao đổi với Thầy một vài quan điểm sống và ưu tư về những phương pháp nâng cao giá trị đạo đức, ngay khi đạo đức của xã hội đang xuống cấp trầm trọng và cách phòng hộ những thực phẩm đang bị nhiễm độc nặng nề. Thầy cũng nói với chị Hoa Lan: "Thầy rất quân tâm đến những suy nghĩ của thế hệ trẻ và cũng rất quan tâm đến nhân cách của những người lớn trong xã hội hiện nay". Thầy nói: "Xây dựng xã hội, không nên chỉ thấy cái lợi trước mắt, để rồi phải chạy theo chuyện khắc phục hậu quả, mà phải thấy rõ nguyên nhân và cần phải thay đổi những nguyên nhân gây ra cái hậu quả xấu cho con người, xã hội và cho đất nước". Trong buổi chuyện trò nầy, Thầy cũng đã điểm qua một vài nét lịch sử của đất nước, từ các triều đại, để thấy giá trị của lịch sử và giá trị của người làm lịch sử và rút ra những bài học từ lịch sử để có một hướng đi thực tiễn, vừa duy trì được cái đẹp của lịch sử, vừa phát huy được cái đẹp của lịch sử,… Sau khi chuyện trò với chị Tiến Sĩ Hoa Lan, Thầy trở lại Tu Viện Quảng Hương Già Lam để chuẩn bị cho chương trình ngày 07. 03 âm lịch (09.4.2011) là ngày hiệp kỵ và pháp thoại cho GĐPTVN, tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam. Ngày nầy, vào lúc 05h, Thầy tham dự buổi lễ thọ cấp Tấn, cho 16 vị huynh trưởng. Trong buổi lễ chứng minh phát nguyện gồm có: - Hòa thượng Thích Đức Chơn, Viện chủ Tu viện Quảng Hương Già Lam, Thượng Thủ HĐCVGHGĐPTVN - Thượng tọa Thích Thái Hòa, Cố vấn Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPTVN. -Thượng tọa Thích Nhuận Châu Cố vấn Giáo hạnh GĐPTVN - Thượng tọa Thích Khế Đạo Cố vấn Giáo lý GĐPT Gia Định. Cùng các anh chị em trong Ban Hướng GĐPTVN Trung Ương và Thế Giới cũng đều có mặt trong buổi lễ phát nguyện thăng cấp nầy. Sau buổi lễ thọ cấp, Thầy đã nói Pháp Thoại Chánh Tâm Hành Đạo Hay Hướng Tu Học Và Pháp Lý Của GĐPTVN,… cho hàng trăm huynh trưởng đến từ các tỉnh thành, từ Quảng trị đến Cà mâu. Trước khi nói Pháp Thoại, Thầy đã hướng dẫn mọi người cùng thực tập thiền quán tại giảng đường Tu Viện Quảng Hương Già Lam, trong vòng 15 phút trước khi giảng. Sau Pháp Thoại là tiến hành nghi thức lễ húy kỵ của Trưởng giả Tâm Minh – Lê Đình Thám, các bậc tiền bối sáng lập viên, hữu công, các vị bảo trợ, Gia trưởng, Huynh trưởng, đoàn sinh GĐPT quá cố. Buổi lễ rất trang nghiêm và thành kính. Được biết Thầy vào Nam có một vài chuyện đạo, trong dịp này các huynh đệ Tăng sinh từ Huế, do các thầy Thái Tuệ, Thanh Tịnh, Từ Quảng, Mãn Tâm, Pháp Bảo, Hồng Chơn, Minh Thuần,…cung thỉnh Thầy đến thất của Thầy Thái Tuệ dùng cơm chiều để anh em có dịp thăm Thầy. Thầy cũng đã ghé thăm và thắp hương cầu nguyện cho gia đình của anh Thọ và chị Như Quỳnh. Chiều mồng 7/3/ Tân Mão, Thầy lại trở về Huế, sau một tuần lễ Thầy vào Nam chung lo Phật sự cùng với Tăng già, Phật tử Saigòn. Thầy đã về Huế, đến tiễn Thầy tại Sân bay Tân Sân Nhất có Thầy Thái Tuệ, Pháp Bảo,… Nguyên Niệm, Như Huệ, Tuấn Anh, Thiều Anh,… Trong những chuyến đi Sài gòn của Thầy, đã tạo cơ duyên, cho các Thầy Pháp Đăng, Hồng Chơn, Thắng Hòa, Hiếu Niệm, Chỉnh Đạo, Pháp Bảo, Nhuận Hạnh, Quảng Văn, Minh Phú, Pháp Hưởng, Đồng Hòa, Thuần Châu, Hữu Tấn, quý sư cô Liễu Pháp, Liễu Tánh, Liễu Tuệ, Như Hiếu, và quý vị Phật tử trẻ Nguyên Niệm, Thành Đức, Tấn Lộc, Như Huệ, Khánh, Ái Nguyên, Minh, Thu Cúc, Sang, Tú Anh, Tuấn Anh, Thiều Anh, Đinh Quang Thọ, Như Quỳnh, Anh chị Nhất, cô Ẩn, cô Nga, cô Hoàng Thiên, và rất nhiều anh chị em trong GĐPT, cũng như một số phật tử tu học ở các đạo tràng,… đã có cơ hội thăm và chuyện trò với Thầy, và luôn luôn gởi tâm theo bước chân Thầy. Ngoài ra còn có những ống dòm khác cũng đang theo dõi bước chân Thầy! Tất cả đang mong gặp lại Thầy tại Sài Thành một ngày không xa! Ban Thị giả kính ghi. Filed under: Lịch sử, Văn Hóa Tagged: Lịch sử, Văn Hóa | ||
| Đại diện Tòa thánh Vatican tới Việt Nam Posted: 21 Apr 2011 01:43 PM PDT Tổng Giám mục Leopoldo Girelli, đại diện không thường trú của Vatican tại Việt Nam, vừa tới Hà Nội trong chuyến thăm làm việc kéo dài hai tuần. Tin từ Tổng Giáo phận Hà Nội cho hay vị đại diện của Tòa thánh đã tới sân bay Nội Bài chiều thứ Hai 18/04, “bắt đầu chuyến viếng thăm lần đầu tiên Giáo Hội Công giáo Việt Nam trong cương vị mới”. Đức Giáo hoàng Benedict XVI vừa chính thức chỉ định Tổng Giám mục Girelli làm đại diện Vatican tại Việt Nam hồi tháng 1. Vị Tổng Giám mục không lưu trú mà sẽ chỉ thường xuyên đến Việt Nam, và đây là chuyến công du đầu tiên của Ngài. Được biết vào tối thứ Hai, Tòa Giám mục Hà Nội đã tổ chức lễ đón trọng thể cho Tổng Giám mục Girelli dưới sự chủ trì của Đức Tổng Giám mục Hà Nội Phêrô Nguyễn Văn Nhơn. Trong chuyến thăm lần này, Đức Tổng Giám mục sẽ tham dự và cử hành Tuần Thánh tại Nhà thờ Chính tòa Hà Nội. Sau đó vào Chủ nhật 24/04 Ngài sẽ đi thăm Tổng Giáo Phận Sài Gòn và tham dự Hội nghị thường niên của Hội đồng Giám mục từ 24/04-29/04. Tổng Giám mục Girelli cũng sẽ đi thăm các giáo phận Cần Thơ, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Xuân Lộc. Ngài còn có kế hoạch thăm viếng ba chủng viện trước khi quay trở lại Singapore ngày 02/05. Trong chuyến thăm Việt Nam, được tin Đức Tổng Giám mục sẽ tìm kiếm địa điểm để đặt văn phòng ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Đại diện không thường trúTổng giám mục Leopoldo Girelli cũng là Khâm sứ của Giáo hoàng tại Singapore và đại diện cho Tòa Thánh trong quan hệ với Malaysia và Brunei, hai nước không có quan hệ ngoại giao với Vatican. Ngài từng làm Khâm sứ của Toà thánh ở Indonesia. Sinh năm 1953, vị Tổng Giám mục người Ý gia nhập ngành ngoại giao của Vatican năm 1987. Trước khi nhận chức vụ tại Indonesia, Ngài đã phục vụ ở Cameroon, New Zealand và Hoa Kỳ, và cũng có thời gian làm việc tại Tòa thánh ở Roma. Chức danh của Ngài trong quan hệ với Việt Nam là “đại diện không lưu trú của Tòa thánh La Mã”, thấp hơn chức danh Khâm sứ, tức Đại sứ của Vatican ở Singapore. Đây không phải là lần đầu tiên Vatican hay một quốc gia chỉ định một vị đại sứ kiêm nhiệm vai trò đại diện của mình trong quan hệ với một loạt quốc gia. Tuy nhiên, với Việt Nam, việc bổ nhiệm này dù sao cũng được một số báo Công giáo trên thế giới coi là bước tiến triển trong quan hệ hai bên mà họ cho là bị gián đoạn từ 1975. Vị khâm sứ cuối cùng của Tòa thánh phải rời Hà Nội sau khi những người cộng sản làm chủ miền Bắc trong thập niên 1950. Dù có chừng 7-8 triệu giáo dân, đông thứ nhì châu Á, chỉ sau Philippines, Việt Nam vẫn như Trung Quốc, chưa lập quan hệ ngoại giao với Vatican. Filed under: Bang giao quốc tế Tagged: Bang giao quốc tế | ||
| Posted: 21 Apr 2011 01:43 PM PDT Gia đình ông Cù Huy Hà Vũ nói họ không đồng tình với bản án Bà Cù Thị Xuân Bích, em gái Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ nói gia đình bà lo ngại cho sức khỏe của ông Vũ, người có ‘tiền sử bệnh tim’. Bà cũng nói cả ông Vũ và gia đình đều đã có đơn kháng án ‘theo đúng pháp luật’ theo sau phiên xử hôm 4/4 trong đó ông Vũ bị kết án bảy năm tù giam về tội tuyên truyền chống nhà nước. Nói chuyện với BBC hôm 21/4, hai ngày sau khi thời hạn kháng án 15 ngày kết thúc, bà Bích nói: “Chúng tôi chỉ mong muốn làm đúng theo pháp luật thì chúng tôi tin thôi. “Làm thì cứ làm theo quy trình thôi còn tin thì khó…khó mà biết được. “Nếu mà tin thì chắc chắn là anh Vũ còn đang ở nhà chứ không phải như thế. “Anh Vũ làm theo đúng [những gì] hiến pháp và pháp luật cho phép thế mà cái sự việc lại như các anh nhìn thấy… “Chúng tôi không dám tin nữa nhưng chúng tôi vẫn cứ phải làm theo pháp luật.” ‘Bệnh tim bẩm sinh’ Bà Bích nói gia đình bà không được phép tiếp xúc với ông Vũ và đang lo ngại cho sức khỏe của ông. Bà nói với Nguyễn Hùng của BBC: “Sau khi bị bắt ngày 5/11/2010 cho tới giờ phút này thì gia đình chưa được gặp anh ấy lần nào hết. “Chị Nguyễn Thị Dương Hà là vợ nhưng trên danh nghĩa là luật sư bảo vệ thì mới được gặp trong khoảng thời gian gần hai tháng sau đó chị ấy bị rút giấy phép luật sư bảo vệ cho anh ấy trong vụ ý.
Bà Cù Thị Xuân Bích “Cho đến giờ phút này là bản thân chị Hà lâu rồi không được gặp và gia đình cũng chẳng ai được gặp. “Sau khi phiên tòa kết thúc thì gia đình cũng định làm đơn để vào gặp vì cũng lâu rồi không được vào và sức khỏe của anh Vũ không bình thường. “Bản thân anh ấy bị tim bẩm sinh. Chính vì thế cái môi trường cũng như cái sức ép về suy nghĩ của anh ấy là anh ấy luôn luôn bị đau tim. “Ngay cả trong khi diễn ra phiên tòa thì cũng nghe chị Dương Hà nói rằng hai lần anh ấy đề nghị đau tim quá xin dừng lại [tòa] cũng không cho phép anh ấy dừng để nghỉ. “Bây giờ gia đình rất lo về tình hình sức khỏe của anh ấy. “Người ta [chính quyền] nói rằng hiện tại không được [vào thăm] bởi vì vụ việc…’đặc biệt’. “Bản thân chị Nguyễn Thị Dương Hà đến xin bản án thôi mà cũng không cho. “Theo như luật là gia đình cũng có thể xin được.” Phản ứng Bà Bích cũng nói với BBC gia đình bà được sự trợ giúp lớn về tinh thần từ những người ủng hộ Tiến sỹ Vũ. “Tôi nghe được phản hồi rất nhiều. Dư luận rất đồng tình với những việc làm của anh Vũ. “Gia đình thì được rất, rất, rất là nhiều, không thể nói hết được, rất là nhiều những người ủng hộ. “Ngoài những trí thức, các giáo sư rồi rất rất nhiều cả những đảng viên, rất rất nhiều những tầng lớp, kể cả nông dân, các tầng lớp trong giai tầng xã hội đều ủng hộ và gửi thư đến. “Những người Việt lao động ở các nước cũng gửi điện về, rồi [gia đình] thường xuyên nhận được sự ủng hộ bằng tấm lòng, bằng cách gửi hoa đến cho gia đình. “Đấy là một cái tình cảm để gia đình có thể vững tin được.” Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin | ||
| Tại sao Đài Loan lại tái tuyên bố chủ quyền? Posted: 21 Apr 2011 01:43 PM PDT Mới đây, Đài Loan có những động thái khá mạnh mẽ tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, gây chú ý của dư luận. Hành động của Đài Loan xảy ra trong bối cảnh Biển Đông lại đang nóng dần, với Philippines, Trung Quốc và cả Việt Nam đều tham gia diễn đàn chủ quyền đối với vùng biển được cho là giàu tài nguyên thiên nhiên này. BBC đã hỏi chuyện nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, hiện giảng dạy tại Khoa Đông Nam Á học, ĐH Mở TP Hồ Chí Minh về chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Trước hết, ông Phúc cho biết một số chi tiết lịch sử liên quan tới tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và Đài Loan (kế thừa chế độ Trung Hoa Dân quốc). Ông Đinh Kim Phúc: Trước hết, cần nhắc lại rằng trước năm 1918, tức là trước khi Thế chiến I chấm dứt, thì Trung Quốc chỉ có yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà thôi, chứ không hề nhắc tới quần đảo Trường Sa. Đến cuộc chiến tranh Thái Bình Dương thời kỳ Thế chiến II thì Nhật Bản đã tiến đánh và kiểm soát các đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, lập căn cứ quân sự để xâm chiếm khu vực Đông Nam Á và châu Đại dương. Cũng chính vào thời kỳ này, tầm quan trọng của hai quần đảo đã làm thức tỉnh nhà cầm quyền Trung Quốc. Chính vì vậy, sau khi Chiến tranh thế giới chấm dứt, vào năm 1947, Trung Hoa Dân quốc đã lợi dụng nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Bản ở Đông Nam Á để đưa quân ra chiếm đảo Phú Lâm trên quần đảo Hoàng Sa và đảo Ba Bình trên quần đảo Trường Sa. Đến khi Cộng sản Trung Quốc chiến thắng ở đại lục thì quân đội Trung Quốc đem quân tiếp tục chiếm đóng đảo Phú Lâm, còn quân đội Tưởng Giới Thạch của Đài Loan thì tiếp tục đóng quân trên đảo Ba Bình cho tới ngày hôm nay. Đài Loan, là một trong các quốc gia đòi hỏi chủ quyền, đã thiết lập sự hiện diện quân sự và sử dụng quyền pháp lý hữu hiệu tại Trường Sa kể từ khi Thế chiến II chấm dứt. Trung Quốc thì chậm chân hơn, bởi vậy họ đã khởi sự cuộc chiến trên đảo Đá Chữ thập của Việt Nam năm 1988. Nhìn lại chính sách của Đài Loan trong những năm trước đây, thì trong những năm 1970-1990, Đài Loan tỏ ra tự kiềm chế và ôn hòa trong vấn đề Biển Đông. Khi có va chạm chủ quyền đối với các lãnh thổ mà Đài Loan cưỡng chiếm, thì không có động thái quân sự cụ thể mà chỉ đơn giản là đưa công hàm ngoại giao để kháng nghị những hành động mà họ cho là xâm phạm lãnh thổ của họ. Một điều làm cho các nhà quan sát quốc tế ngạc nhiên là trong hai năm 1999-2000, thì họ tuyên bố sẽ giảm hiện diện quân sự trên đảo Ba Bình, mà lúc cao điểm lên tới 500 quân, và Đông Sa. Từ tháng 2/2000, quyền quản lý các đảo trên được chuyển từ cơ quan quốc phòng sang cơ quan tuần duyên và sau đó chính quyền cắt giảm bớt tàu thuyền đóng tại đây, đồng thời tăng số lượng nhân viên dân sự. BBC: Vậy theo ông, tại sao gần đây Đài Loan lại lên tiếng mạnh mẽ hơn trong vấn đề Biển Đông? Ông Đinh Kim Phúc: Nói về trước đây, thì Đài Loan tỏ ra thiếu vắng một chiến lược tổng thể đối với khu vực Biển Đông và một cấu trúc phòng thủ hợp lý. Chính vì vậy mà các nhà hoạch định chính sách an ninh Đài Loan đã kịch liệt công kích chính phủ và hối thúc chính phủ phải phát triển chính sách đối với Biển Đông mà họ cho rằng Đài Bắc đã có sai lầm. Từ phản ứng của giới quân sự, nó đưa lên đỉnh điểm là khi ông Trần Thủy Biển trở thành Tổng thống Đài Loan, nhất là trong nhiệm kỳ hai của ông, năm 2006, Đài Loan đã đưa ra báo cáo về an ninh quốc gia, lần đầu tiên nhấn mạnh về tầm quan trọng của vấn đề an ninh trên biển. Chính từ đó đã dẫn tới các thay đổi về bố phòng trên biển, cũng như trên các hải đảo mà Đài Loan chiếm đóng từ trước tới nay. Trong những tháng gần đây, với việc Philippines phản đối Trung Quốc sau vụ tàu Trung Quốc gây hấn trên bãi Cỏ Rong và chính phủ Philippines gửi văn kiện lên LHQ bác bỏ đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc thể hiện bằng đường lưỡi bò, một việc khác cũng khiến Đài Loan quan ngại là mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc Trong chuyến thăm Việt Nam của ông Quách Bá Hùng, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, hai bên đưa ra một số khẳng định về hợp tác tìm cách giải quyết vấn đề Biển Đông, khiến Đài Loan lo lắng. Đài Loan đã có một số hành động như tái vũ trang trên đảo Ba Bình và đóng chiến hạm mới để tuần tra trên biển. Chính sự thỏa thuận giữa hai chính phủ Việt Nam-Trung Quốc làm Đài Loan thấy rằng, mặc dù có sự thiếu vắng trong các thỏa thuận hợp tác chính thức giữa các nước có yêu sách chủ quyền tại Trường Sa, nay Đài Loan muốn trở thành một bên tham dự và ký kết vào Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) mà Trung Quốc và các nước Asean đang hướng tới. ‘Tuy hai mà một’BBC: Thưa ông, ước muốn của Đài Loan có thể trở thành hiện thực hay không, nếu như đa số các quốc gia, kể cả Việt Nam, không công nhận Đài Loan với tư cách một quốc gia độc lập? Ông Đinh Kim Phúc: Tất cả các nước có quan hệ chính thức với Trung Quốc đều không quan hệ chính thức với Đài Loan và Đài Loan cũng ý thức như vậy. Chính bởi thế, chúng ta phải xem xét quan hệ Trung-Đài trong vấn đề Biển Đông. Nhiều thập niên trước, giới học giả Trung Quốc đã nhiều lần phát biểu không chính thức rằng họ đánh giá cao Đài Loan trong việc bảo vệ đảo Ba Bình bằng cách duy trì hoạt động tuần tra tại Biển Đông khi mà Bắc Kinh chưa có hiện diện thường xuyên tại Trường Sa. Việc Đài Loan ngày càng biến đảo Ba Bình thành căn cứ quân sự để thực hiện mưu đồ tuyên bố chủ quyền của mình trên Biển Đông cũng như các hoạt động khác nói chung không gây quan ngại cho Trung Quốc. Vào các năm 2000-2005-2008, Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biển ba lần ra thăm Trung Sa và Trung Quốc chỉ phản ứng nhẹ nhàng, tránh bình luận trực tiếp về các chuyến thăm này. Tại sao vậy? Vì Trung Quốc giữ một quan điểm khiêm tốn không đặc trưng đối với việc Đài Loan duy trì các căn cứ quân sự trên Biển Đông với tính toán rằng các căn cứ này sẽ gián tiếp trợ giúp cho sự hiện diện của Trung Quốc trong khu vực, đối mặt với các nước Asean đang có yêu sách chủ quyền tại đây. Một điểm nữa, gần đây Trung Quốc đã thiết lập một học viện nghiên cứu về Biển Đông đặt tại tỉnh Hải Nam để làm trung tâm liên hệ cho mọi quan hệ đối tác, mọi thảo luận trong vấn đề Biển Đông với Học viện Quan hệ Quốc tế thuộc trường Đại học Quốc gia Chengchi ở Đài Loan. Các học giả hai bên đã thường xuyên thăm viếng, trao đổi quan điểm và giữa họ không có các khác biệt gây quan ngại lớn trong vấn đề Đài Loan xây căn cứ quân sự trên đảo Ba Bình. Nhìn lại lịch sử, Việt Nam cũng cần nhớ một vài sự kiện. Thí dụ khi Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, Đài Loan không những đã phụ họa với Trung Quốc trong việc đòi chủ quyền của họ mà còn cho quân chiếm đóng một vài hòn đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa. Một bài học lịch sử khác vẫn đang diễn ra trước mắt chúng ta là trước đây, khi Hong Kong, Macau chưa về với đại lục, người Đài Loan, người Hong Kong, ngời Macau đã ngồi cùng chiến thuyền với người Trung Quốc ra quần đảo Shenkaku (Trung Quốc gọi là Điếu ngư Đài), để đấu tranh chủ quyền với Nhật Bản. Theo tôi, dù là Đài Loan hay là Trung Quốc, tàu lạ hay tàu quen thì vẫn là tàu. Tất cả những hành động tuyên bố chủ quyền của Đài Loan đối với Hoàng Sa-Trường Sa, cũng như hành động quân sự của họ trên Biển Đông chẳng qua là ăn theo Nhà nước Trung Quốc mà thôi. BBC: Thưa ông, nhắc tới các vấn đề Biển Đông, người ta hay nghe thấy cụm từ ‘làm phức tạp thêm tình hình”. Liệu các hành động mới rồi của Đài Loan có nguy cơ làm phức tạp thêm tình hình hay không ạ? Ông Đinh Kim Phúc: Nhiều lần chính phủ Việt Nam đã lên tiếg phản đối mạnh mẽ và cứng rắn việc Đài Loan tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa-Trường Sa, nhất là biến đảo Ba Bình thành căn cứ quân sự. Năm 2008, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam lúc đó là ông Lê Dũng đã đánh giá hành đông của Đài Loan là “leo thang cực kỳ nghiêm trọng, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, gây căng thẳng trong khu vực”. Quan điểm của Việt Nam thì như vậy, nhưng quan điểm của Philippines thì lại khác. Manila cho việc Đài Loan trang bị quân sự trên đảo Ba Bình chỉ là vấn đề mang tính ngoại giao-chính trị hơn là quân sự. Tuy nhiên theo tôi, tất cả các hành động của Đài Loan nếu nhìn trên tổng thể bàn cờ chính trị-chiến lược-quân sự khu vực, chẳng qua chỉ là miếng đệm giữa Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á mà thôi. Do đó, chúng cũng không thể đẩy mạnh hơn các xung đột đã sẵn có trên Biển Đông. Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông | ||
| Joe Dassin, chàng ca sĩ Mỹ hát nhạc Pháp Posted: 20 Apr 2011 03:25 PM PDT
Sau này chúng ta mới nghe khái niệm "công dân toàn cầu" chứ với Joe Dassin, điều này đã xảy ra từ rất lâu.Sinh tại New York năm 1938, Joe Dassin (tên thật là Joseph Ira Dassin) xuất thân từ một gia đình khá giả có dòng máu nghệ sĩ. Thân phụ của anh là đạo diễn Jules Dassin, người Nga gốc Do Thái. Trở lại Pháp giữa thập niên 60, Joe Dassin tiếp tục đi làm để kiếm sống, nhưng không tìm thấy một nghề nào thích hợp với mình (nấu ăn, chạy bàn, viết báo lấy tiền nhuận bút, kỹ thuật viên cho đài phát thanh). Mãi đến cuối năm 1965, anh mới gặp một nhà sản xuất làm việc cho hãng đĩa CBS. Vào lúc mà phong trào nhạc trẻ đang trở nên cực thịnh tại Pháp với những thần tượng như Sylvie Vartan, Françoise Hardy hay Christophe, Joe Dassin lại ghi âm một ca khúc country bằng tiếng Pháp (Je change un peu de vent), chuyển thể từ nhạc đồng quê của Hoa Kỳ. Ca khúc đầu tay này không có ai mua, chỉ bán được chưa tới hai ngàn bản, trong khi các ca sĩ ăn khách thời đó bán hơn cả triệu. Joe Dassin thật sự thành danh vào năm 31 tuổi, khi được trao tặng giải thưởng Charles Cros dành cho giọng ca xuất sắc nhất năm 1969. Lần đầu tiên, anh biểu diễn trên sân khấu đầy huyền thoại của nhà hát Olympia với tư cách là ca sĩ chính, thay vì hát lót để mở màn cho các nghệ sĩ khác. Đây cũng là lần đầu tiên, anh ghi âm một bài hát ăn khách tại 20 quốc gia trên thế giới. Nhạc phẩm Champs Elysées đi nửa vòng trái đất, được dịch sang hàng chục thứ tiếng kể cả tiếng Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, tiếng Đức và tiếng Nhật. Thập niên 1970 là giai đoạn huy hoàng của giọng ca Joe Dassin. Từ dòng nhạc folk và country, anh chuyển sang hát nhạc tình : giai điệu lãng mạn, tiết tấu nhẹ nhàng, lời ca trong sáng, ý tứ nồng nàn. Hầu hết các ca khúc của nhóm sáng tác Claude Lemesle et Pierre Delanoë đều được viết cho lối hát mơn trớn thì thầm của Joe Dassin. Anh ăn khách nhờ có chất giọng trung trầm nồng ấm, cách ngắt câu nhả chữ có duyên, nhờ hát tiếng Pháp với một chút giọng Mỹ, đôi khi phát âm không chuẩn nhưng lại rất ăn tiền. Joe Dassin không cần cường điệu mà vẫn đam mê say đắm, anh không cần điệu bộ như các ca sĩ crooner cùng thời, nhưng vẫn vuốt ve từng nốt nhạc, như thể đang thì thầm với người yêu. Trong vòng 10 năm liền, hầu hết những bài của Joe Dassin đều ăn khách. “Il était une fois nous deux” (Ngày xưa đôi ta), “À toi” (Cho em), “Café des trois colombes” (Quán bồ câu), và nhất là hai nhạc phẩm “L'Été Indien” (Mùa hè Bắc Mỹ), “Et si tu n'existais pas” (Nếu không có em trong đời) được xem là hai đỉnh cao sự nghiệp của giọng ca này. (Người nghe Việt Nam thập niên 70 thường thích hai ca khúc nhẹ nhàng của Joe: À toi & Et si tu n'existais pas) Năm 1980, Joe Dassin hai lần lên cơn đau tim tại Paris và Los Angeles. Bác sĩ khuyên anh nên nghỉ hát ít nhất là hai năm để dưỡng sức, nhưng Joe Dassin vẫn xuất hiện trong một buổi gala tại Cannes giữa tháng 7. Đến một tháng sau đó, trong lúc anh đang đi nghỉ mát với gia đình tại đảo Tahiti, Joe Dassin bỗng nhiên đột quỵ. Anh vĩnh viễn ra đi ở tuổi 42. Trần Can (st) Các bạn nghe vài ca khúc tươi vui & duyên dáng của Joe Dassin: 1.À toi Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa | ||
| Ưu tiên số một khi đối diện bão tố Posted: 20 Apr 2011 03:25 PM PDT Chào các bạn, Nghiên cứu và phân tích vấn đề, hỏi 5W 1H để tìm giải pháp? (What? When? Where? Who? Why? and How?). Đúng là kỹ thuật phân tích và điều tra là vậy đó. Nhưng đó không phải là ưu tiên số 1. Đó là ưu tiên số 2. Câu trả lời ta đã nói rất nhiều lần trên ĐCN. Ưu tiên số một là phải tĩnh lặng, bình tâm, tĩnh tâm trước nhất, mỗi khi ta đụng chuyện. Trong Thánh kinh Ki Tô Giáo có một câu chuyện rất quan trọng cho sự cầu nguyện của người Ki Tô Giáo trong cơn thử thánh. Đó là câu chuyện Chúa Giêsu đi trên mặt nước. Tờ mờ sáng hôm đó, các môn đệ ngủ trên thuyền trên Biển Galilee (Thực sự đây là cái hồ vĩ đại mà mọi người từ thượng cổ gọi là biển). Giêsu một mình trên bờ cầu nguyện trong đêm. Tờ mờ sáng, lúc hồ đang nhiều sóng gió, Giêsu đi trên mặt nước đến các môn đệ. Các môn đệ thấy bóng người trên mặt nước đi tới, nghĩ là ma, sợ quá. Giêsu nói: "Can đảm lên, Thầy đây. Đừng sợ." Đại đệ tử Peter (Phê rô) nói: "Thầy, nếu đó là thầy thì hãy gọi con đi đến với thầy trên mặt nước.” Giêsu nói: "Đến dây." Và Peter ra khỏi thuyền bước trên mặt nước tới Giêsu. Nhưng được một chút, Peter thấy gió và sóng dữ quá, sợ hãi, và bắt đầu chìm, la lên: "Thầy ơi, cứu con." Giêsu vươn tay kéo Peter lên và nói: "Con yếu lòng tin quá." Nhìn trên phương diện biểu tượng triết lý, câu chuyện này rất quan trọng cho nghệ thuật tĩnh tâm Ki Tô Giáo. Khi gặp sóng gió bão tố quanh ta, đừng quan tâm vào bão tố sóng gió mà sợ, ta sẽ bị chìm. Tập trung tâm trí vào chỉ một điểm: Giêsu, nguồn gốc của tĩnh lặng. Nếu ta chỉ tập trung con mắt vào nguồn gốc của tĩnh lặng, với lòng tin kiên quyết, không hề sợ hãi, không nhìn bão tố và sóng dữ quanh ta, thì ta có thể đi trên nước và bão tố chẳng thể làm ta chìm. Các truyền thống tâm linh khác, như Phật gia cũng đều dạy tập trung vào tĩnh lặng là yếu tố số 1, trước mọi thứ khác. Tập trung tâm trí vào Chúa Giêsu thì rất giống với tập trung tâm trí vào Phật Adiđà khi niệm Phật trong Tịnh độ tông. Các bạn cũng nên nhớ là Tịnh độ có nghĩa là “qua bên kia bờ tĩnh lặng”, hay “tĩnh lặng đưa qua bên kia bờ”. “Độ” là qua bên kia bờ, tiếng Hán còn gọi là “đáo bỉ ngạn”, đến bờ kia. “Tịnh” là tĩnh lặng. Trong Thiền tông Phật gia thì Thiền định là bửu bối hàng ngày. Thiền định, tập trung tâm trí vào một điểm, như là hơi thở, để tĩnh lặng. Phe lờ bão tố chung quanh, giữ tâm tĩnh lặng, không sợ hãi, không xung động. Rồi mới từ từ giải quyết vấn đề gì đó sau. Tĩnh lặng là phương cách khoa học trong khoa giải quyết vấn đề (problem solving). Tĩnh lặng thường thường là giải quyết dứt điểm đến khoảng 80% hay 90% vấn đề ta có. Vì vấn đề đang làm ta lo lắng và giận dữ, nhưng khi ta dằn tâm xuống và tĩnh lặng được, thì "vấn đề" vẫn còn y đó, nhưng ta lại không thấy đó là vấn đề nữa. Và trong 10% đến 20% trường hợp còn lại vẫn là vấn đề, thì ta thường cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái hơn trước, và nhận ra rất nhiều giải pháp thật hay cho vấn đề, mà trước đó, khi đang sợ hãi hay nóng giận, ta chẳng thấy. Cho nên, các bạn, tĩnh lặng không chỉ là đức hạnh. Tính lặng là giải pháp khoa học để giải mọi vấn đề, ưu tiên số một trong tiến trình tìm giải pháp cho mọi vấn đề, mọi thử thách, mọi con toán của chúng ta. Tĩnh lặng rồi thì mới bắt đầu phân tích 5W 1H. Chúc các bạn một ngày đi trên nước. Mến, Hoành © copyright 2011 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | ||
| Posted: 20 Apr 2011 03:24 PM PDT Truyện ngắn Hiền Nga Chưa bao giờ bé lại ngắm kỹ một con tò vò đến thế.
Hôm nay thứ bẩy, nghỉ học ở nhà. A! Bé biết ai đắp bùn lên tường rồi. Một con vật biết bay trông khá đẹp, bé không biết tên là gì cứ bay ra bay vào, cả buổi chiều con vật cứ tất bật khuân từng cục bùn nhão hỳ hục nhào nặn, xây đắp, xoa vuốt… Những cái chân bé xíu chăm chỉ, thoăn thoắt và khéo léo. Phía trên cùng nó vuốt kỹ càng, tỷ mỷ khum vào như miệng chum,vại khiến cho bé nhớ đến những cô thợ gốm mà bé được xem trên ti vi. Các cô ấy cũng cần mẫn và khéo léo lắm, nét mặt cô nào cũng chăm chú và hiền hậu. Chỉ từ những cục đất dẻo, bàn tay các cô làm ra bao nhiêu thứ đồ gốm đẹp cho mọi người dùng.Đến nhà ai chơi bé cũng thấy các loại bình gốm, bát đĩa, tượng, rồi chum vại, nồi… do các cô làm ra. Bé thầm nghĩ, hay con vật này định làm đồ gốm? Nó lại bay vào chuyến nữa, toàn thân đen thẫm, cái bụng to mọng nối với thân phía trên bằng một cái eo lưng cực bé, bé như chiếc kim khâu của bà ngoại. Đôi cánh mỏng tang nhưng bay nhanh như một chiếc máy bay bé xíu. Cần mẫn suốt buổi chiều, nó đã nặn xong công trình giống hệt hôm qua. Bé nghĩ không biết nó nặn bùn làm gì nhỉ? Hay là xây nhà để ở? Nhưng nhà bé thế kia làm sao xoay sở được? Bị bé phá hai lần sao nó vẫn làm lại ở chỗ cũ nhỉ? Mẹ vừa đi chợ về bé liền chạy ra khoe: - Mẹ ơi! Có con gì đắp bùn lên tường này, làm bẩn tường con cậy đi mấy lần nó vẫn đắp lại mẹ ạ… Mẹ dựng xe vào xem mỉm cười bảo bé: - À, đây là con tò vò con ạ.Nó xây tổ để sinh em bé chứ không phải để ở… Bé à lên ngỡ ngàng: thì ra thế! Vừa lúc đó cô tò vò bay vào mang theo chút bùn nhão, cô tỷ mẩn xoa một lớp bùn nhão phía ngoài tổ cho thật nhẵn, cái bụng bầu xệ xuống, cái eo lưng đã bé xíu lúc này trông lại càng bé. Cô say mê công việc không để ý gì khác, cô phải nhanh lên kẻo không kịp mất… Cô làm việc với tâm huyết của một người mẹ, hẳn nào..! Nghe mẹ nói thế, bé thương tò vò vô cùng, cô muốn có cái tổ để sinh con, những bé tò vò non nớt có một cái tổ ấm áp để lớn lên. Mẹ còn giảng giải: tò vò mẹ thương con nên không xây tổ ngoài trời, sợ mưa gió, sương giá làm hỏng tổ các con sẽ khổ. Một điều giản dị mà sâu xa như thế nhưng bé không hiểu để tò vò mẹ phải vất vả xây đi xây lại. Lần này bé sẽ để yên cho cô sinh con, cho dù trên tường có một cục bùn nâu nhưng bé không thấy khó chịu nữa mà bé tò mò theo dõi cô chuẩn bị tổ ấm cho các con. Trời mùa thu mát dịu, hoa ban đỏ nở lác đác trên tán lá xanh, cánh đồng lúa chín vàng thơm thoảng, gió thu hanh hao làm cái tổ khô nhanh, lớp bùn phía ngoài hơi trắng ra. Bé tới lớp bán trú học tập, ca hát nhưng lúc ra chơi bé nhớ về cái tổ tò vò ở nhà và tự hỏi: cô ấy đã sinh con chưa nhỉ? Bé đã học lớp ba rồi, tuần nào cũng có điểm chín, mười đem về làm bố mẹ và cả nhà đều vui. Tối tối cả nhà vui vẻ bên mâm cơm, ánh điện sáng trưng ấm áp, bố mẹ gỡ cá, gắp thịt, rau, quả cho bé ăn chóng lớn. Bố dạy làm tính, mẹ chải đầu tết tóc và mỗi khi bé hờn dỗi khóc nhè, lại có bàn tay mẹ dỗ dành bé ngọt ngào… bé bỗng hiểu ra thế nào là tổ ấm cho những đứa trẻ và bé đâm ra yêu cái tổ nhỏ trên tường, cô tò vò đã kỳ công xây cho các con. Mấy ngày rồi cái tổ vẫn ngỏ cửa, không thấy cô tò vò đâu. … Thứ bảy được nghỉ học, bé vui mừng thấy cô xuất hiện. Trông cô nhẹ nhõm hoạt bát, cô bay đến cái tổ không mang theo bùn nhão mà mang theo một con vật nhỏ có nhiều chân, hình như là một con nhện con. Thấy lạ bé chạy ra hỏi mẹ, mẹ ôm bé vào lòng thủ thỉ : - Sau khi tò vò mẹ xây tổ và sinh con, nó đi kiếm ít đồ ăn dự trữ trong đó để các con ăn và lớn lên, nó không muốn các con phải vất vả kiếm sống khi còn quá nhỏ, như thế sẽ rất khổ. Mai này, các con trưởng thành mới đủ sức tự lao động kiếm sống con ạ. Cũng như con và các bạn đều được bố mẹ nuôi dưỡng đó. … Bé tròn xoe mắt nhìn cô tò vò bé nhỏ mà khôn ngoan, bé nghĩ cô thợ gốm này đáng yêu quá! Cô làm thợ gốm là vì tương lai của các con cô. Mẹ tiếp lời : - Con biết không, trong con mắt bà con người dân tộc Tây Bắc mình, tò vò là con vật đẹp nhất, là tiêu chuẩn của vẻ đẹp phụ nữ Thái. Các bà mẹ đều mong con gái mình có " Eo kíu manh po", tức là có dáng người thắt đáy lưng con tò vò và sau này cô gái đó làm mẹ cũng chịu thương, chịu khó khéo léo và hiền hậu, hết lòng chăm lo cho con như cô tò vò kia. … Hôm sau, cái tổ được bịt kín bằng bùn và đắp to gấp đôi tròn như quả sấu nhỏ trên tường. Mưa thu dai dẳng lạnh lẽo nhưng bên trong cái tổ nhỏ vẫn ấm áp biết bao nhờ hai lớp bùn khô và nhờ tấm lòng ấp ủ yêu thương của tò vò mẹ. Dương Hiền Nga Filed under: Văn Tagged: Văn | ||
| Biển Đông: Học giả Việt Nam giúp Manila – TQ cũng gởi công hàm lên LHQ Posted: 20 Apr 2011 03:24 PM PDT Báo Manila Times nói học giả Việt Nam đưa ra ‘giải pháp tuyệt vời” cho Philippines trong tranh chấp với Trung Quốc trên Biển Đông. Trong bài xã luận “Chúng ta phải làm gì với đường chữ U của Trung Quốc”, Tổng biên tập Manila Times nhắc tới vùng lãnh hải Reed Bank mà Philippines đang tranh chấp với Bắc Kinh và viết: “Hai học giả này [Dương Danh Huy và Lê Minh Phiếu] đã đưa ra cho Philippines một giải pháp tuyệt vời: Philippines cần tuyên bố rằng theo các quy định của Liên Hiệp Quốc, Reed Bank không phải là một phần của quần đảo Trường Sa đang tranh chấp.” Bài Bấm “Bảo vệ quyền lợi của Philippines tại Reed Bank” do tiến sỹ Dương Danh Huy của Bấm Quỹ Nghiên cứu Biển Đông viết và đưa ra cơ sở để Philippines có thể bảo vệ chủ quyền tại Reed Bank, nơi hồi tháng Ba năm nay tàu khảo sát địa chất của nước này bị tàu Trung Quốc đe dọa và phải ngưng hoạt động. Tiến sỹ Huy nói cũng như Philippines, cả Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia và Đài Loan đều đòi chủ quyền các đảo trong quần đảo Trường Sa và hiển nhiên Philippines sẽ không nhận được sự ủng hộ của bất kỳ nước nào trong số này khi nhắc tới Trường Sa nói chung. Tuy nhiên ông Huy cũng nói Việt Nam, Malaysia và cả Indonesia và Brunei trong khối ASEAN chưa bao giờ phản đối hoạt động của Philippines ở Reed Bank và đưa ra gợi ý: “Giải pháp là Philippines cần khẳng định Reed Bank không thuộc vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của đảo Trường Sa. “Khẳng định này có nghĩa là Reed Bank không liên quan tới tranh chấp ở đảo Trường Sa và như vậy thuộc về Philippines vì nó thuộc đặc khu kinh tế xét theo đường cơ sở của nước này.” Chính sách ‘hai không’ Ngoài bài của ông Dương Danh Huy về cách bảo vệ quyền lợi đảo Reed Bank, Manila Times cũng đăng bài ông Huy viết chung với chuyên gia luật quốc tế Lê Minh Phiếu. Bấm Bài viết nói Bắc Kinh có chính sách ‘hai không’ liên quan tới Biển Đông. “Trung Quốc luôn luôn kiên quyết rằng tranh chấp Biển Đông cần được giải quyết qua đàm phán song phương và đã phát triển chính sách “hai không” liên quan tới giải quyết tranh chấp ở Biển Đông: không đàm phán đa phương và không “quốc tế hóa”.
Hai nhà nghiên cứu Việt Nam thuộc Quỹ Nghiên cứu Biển Đông nói tranh chấp tại vùng biển này liên quan tới nhiều nước và đàm phán song phương không phải là cơ chế thích hợp để giải quyết tranh chấp đa phương. Họ cũng đặt câu hỏi liệu Trung Quốc có chấp nhận không khi Philippines và Việt Nam đàm phán và thỏa thuận song phương về quần đảo Trường Sa. Hai tác giả viết: “Nếu các nước Đông Nam Á giải quyết riêng rẽ với Trung Quốc họ sẽ dễ bị thuần phục trước sức mạnh hơn hẳn của Trung Quốc so với trường hợp họ có chiến lược chung, có lập trường thống nhất và hỗ trợ lẫn nhau. “Bằng việc kiên quyết đòi sử dụng cách tiếp cận không hợp lý, trên thực tế Trung Quốc đang cản trở việc tiến tới một thỏa thuận thông qua đàm phán. Điều này khiến Trung Quốc, nước mạnh nhất trong số các nước đòi chủ quyền, có cơ hội ngày càng tăng để củng cố vị trí của họ và gây phương hại cho vị trí của các nước khác.” Các học giả Việt Nam cũng trích Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển nói các quốc gia không có chủ quyền ở khu vực ngoài 12 hải lý tính từ đường cơ sở quốc gia và nói đường hình chữ U của Trung Quốc đã vượt quá giới hạn này rất xa và như vậy ảnh hưởng tới quyền lợi của các quốc gia khác. Trung Quốc cũng gửi công hàm lên LHQĐáp lại Philippines, Trung Quốc vừa gửi công hàm ngoại giao lên Liên Hiệp Quốc khẳng định chủ quyền ‘không thể chối cãi’ ở Biển Đông. Manila đã gửi note verbale lên LHQ hồi đầu tháng để phản đối yêu sách đường chín đoạn chiếm gần 80% Biển Đông của Bắc Kinh. Ngay lập tức, Trung Quốc lên tiếng phản bác thư ngoại giao của Philippines thông qua phát ngôn của Bộ Ngoại giao. Không dừng lại ở đó, Bắc Kinh cũng gửi công hàm lên LHQ nói chính Manila từ những năm 1970 đã “bắt đầu xâm lược” quần đảo Nam Sa (Trường Sa) mà Trung Quốc “nắm chủ quyền không thể chối cãi”. Công hàm này được gửi cho Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon hôm 14/04. Hãng thông tấn Associated Press của Mỹ đã có trong tay văn bản này và cho hay nội dung công hàm chỉ trích việc mà Trung Quốc gọi là “Philippines chiếm đóng một số đảo và bãi cạn thuộc quần đảo Nam Sa, vi phạm chủ quyền của Trung Quốc”. Bắc Kinh vẫn kiên quyết yêu sách đường chữ U chiếm phần lớn Biển Đông, đã được nước này chuyển cho LHQ năm 2009. Yêu sách này trước đã bị các nước Việt Nam, Malaysia và Indonesia phản đối. ‘Ông nói qua, bà nói lại’Hiện Philippines, Trung Quốc, Brunei, Malaysia, Đài Loan và Việt Nam đang tham gia tranh chấp lãnh thổ tại Trường Sa. Theo quy ước chung, Ủy ban về định giới thềm lục địa của LHQ sẽ không chấp thuận bất cứ tuyên bố chủ quyền của nước nào nếu như còn có tranh chấp về chủ quyền. Trong công hàm mới nhất, Trung Quốc nói thư ngoại giao của Philippines “hoàn toàn không thể chấp nhận được”. Bắc Kinh nói chủ quyền của Trung Quốc được dựa trên nhiều bằng chứng lịch sử và pháp lý. Công hàm của Trung Quốc cũng nói cho tới trước những năm 1970, Philippines còn chưa nhắc tới chủ quyền ở quần đảo Trường Sa trong một loạt các hiệp ước về lãnh thổ. Thế nhưng kể từ đó, “Philippines đã bắt đầu xâm lược và chiếm đóng một số đảo và bãi cạn tại Nam Sa và tyên bố chủ quyền, gây phản đối dữ dội từ Trung Quốc”. Trung Quốc nói quyền hợp pháp không thể bắt nguồn từ hành động phi pháp, vậy nên Philippines không thể tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông | ||
| Moody’s vẫn đánh giá ‘tiêu cực’ về kinh tế VN Posted: 20 Apr 2011 03:23 PM PDT Công ty xếp hạng tín nhiệm Moody’s nói đánh giá tiêu cực về kinh tế Việt Nam của hãng này bắt nguồn từ sự bất trắc của cán cân thanh toán. Moody’s Investors Service Inc. nói trong một báo cáo ra hôm thứ Tư 20/04 rằng Việt Nam chưa có thay đổi gì sau các biện pháp thắt chặt kiểm soát nhằm giảm áp lực lạm phát và bình ổn tỷ giá hối đoái. Hãng này cũng cảnh báo rằng chỉ số khả tín dành cho Việt Nam có thể còn tụt nữa nếu như dự trữ ngoại tệ của Hà Nội tiếp tục bị sụt giảm. Một số nguồn ước tính dự trữ ngoại tệ của Việt Nam chỉ còn 12,2 tỷ đôla vào cuối năm 2010, so với đỉnh điểm hồi tháng Hai 2008 là 25,8 tỷ. Vào tháng 12 năm ngoái, Moody’s đã hạ mức tín nhiệm đối với nợ nước ngoài của Việt Nam từ Ba3 xuống B1 vì các lý do như khủng hoảng cán cân thanh toán, áp lực phá giá tiền đồng và lạm phát tăng nhanh. Tin cho hay, chỉ số CPI tức tỷ lệ lạm phát tại đô thị lớn nhất Việt Nam – TP Hồ Chí Minh, vào tháng 4/2011 lên tới gần 14% so với cùng kỳ năm ngoái. Chưa có giải phápTrong báo cáo của mình, Moody’s nói Việt Nam vẫn đang loay hoay tìm cách cân bằng tăng trưởng kinh tế với ổn định vĩ mô, trong khi “chính sách đưa ra trong những năm qua đã góp phần trực tiếp tăng áp lực khiến kinh tế quá nóng, dẫn tới lạm phát cao và sút giảm khả năng thanh toán nợ nước ngoài”.
Moody’s Mới đây chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã xem lại chính sách kinh tế lâu nay chỉ coi trọng tăng trưởng và đưa ra một loạt các biện pháp để khắc phục sự mất cân bằng của nền kinh tế và giảm lạm phát. Chỉ số CPI toàn quốc trong tháng Ba tăng 13,89% so với cùng kỳ năm ngoái, mức cao nhất kể từ tháng 2/2009 và khiến cho mục tiêu giữ lạm phát cả năm dưới 7% trong năm nay dường như khó có thể thực hiện được. Chính phủ đang chủ trương siết chặt chính sách tài chính-tiền tệ thông qua các biện pháp giảm đầu tư công và khắc phục thâm hụt ngân sách, tái cân bằng thương mại… Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cũng sẽ được giảm trong khi Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất cho vay vài lần trong thời gian qua. Bên cạnh các chính sách tích cực đó, chính phủ lại cũng công bố một loạt quyết định có nguy cơ tăng lạm phát như tăng giá điện và xăng dầu cùng với điều chỉnh mức lương tối thiểu. Các động thái trên khiến Moody’s bình luận: “Hiện vẫn chưa rõ liệu việc thắt lưng buộc bụng trong năm nay của chính phủ Việt Nam có phải là thái độ từ bỏ hệ thống chính sách cũ, hay chỉ là một chương mới của các chuỗi hành động phản ứng nhất thời vốn đã tạo ra mất cân bằng trong nền kinh tế”. Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |
No comments:
Post a Comment