Thursday, April 28, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Validation: câu chuyện ngụ ngôn về đỗ xe miễn phí :-)

Posted: 28 Apr 2011 12:51 PM PDT

 
Chào các bạn,

Nếu bạn bị căng thẳng, tiêu cực về bản thân hay ngay cả trầm cảm, bộ phim này sẽ đem tới cho bạn sức sống mới đấy, Mỗi giây của bộ phim này đều đáng giá  :-)

Validation là thủ tục đóng dấu xác nhận của doanh nghiệp sau khi khách hàng đỗ xe ở một bãi đậu xe. Mục đích của validation để cho khách hàng đỗ xe miễn phí vì khách hàng tới làm ăn với doanh nghiệp (như đi mua hàng)  :-) (khác với việc chỉ mang xe tới bãi  đỗ xe rồi đi chơi).

Bộ phim Validation là câu chuyện ngụ ngôn về sự diệu kỳ của Validation–chúng ta xác nhận, miễn phí, về con người tuyệt vời đáng yêu của mỗi người quanh chúng ta–thể hiện bằng hai diễn viên chính TJ Thyne và Vicki Davis, đã đạt nhiều giải thưởng lớn với hơn 5 triệu lượt xem trên Youtube.

Mời các bạn xem phim. Lời thoại bằng tiếng  Anh tương đối đơn giản, tuy nhiên mình cũng có script của bộ phim ở đây: Validation script

Chúc các bạn một ngày đẹp khủng khiếp, :-)

Hiển


Validation – the fable about the magic of free parking


Filed under: Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Video & PPS, Văn Hóa

Trách nhiệm cá nhân về các vấn đề xã hội

Posted: 28 Apr 2011 12:51 PM PDT

Chào các bạn,

Hôm nay BBC có bản tin rất đáng ngạc nhiên và thán phục.  Sinh viên Nguyễn Anh Tuấn, sinh viên năm thứ ba Học viện Hành chánh cơ sở Hà Nội, vừa chuyển lên Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao hai tài liệu của TS Cù Huy Hà Vũ và "tự thú" là đã tàng trử hai tài liệu này, và yêu cầu được xử phạt vì tàng trử các tài liệu đã được VKSNDTC cho là "có nội dung chống Nhà nước XHCN Việt Nam theo cáo trạng truy tố ông Cù Huy Hà Vũ".

Tại một quốc gia mà thử thách các cơ quan nhà nước có thể đưa bạn vào tù vì "chống nhà nước" thì đây là một hành động rất can đảm.  Hậu qủa cụ thể của hành động này đối với VKSNDTC đến đâu thì không quan trọng, nhưng hành động tự chính nó nói lên rất nhiều:

-          Trách nhiệm của  một công dân, dù rất trẻ, vẫn thấy mình có trách nhiệm đối với đất nước.

-          Can đảm, không sơ cường quyền áp bức.

-          Lòng tin vào sức mạnh của lẽ phải và công lý.

Như SV Nguyến Anh Tuấn nói: "Tôi không thể tiếp tục thỏa hiệp với nỗi sợ hãi và sự hèn nhát của bản thân mình. Biết đến nhiều tấm gương dấn thân trong lịch sử và đọc nhiều về tư tưởng của họ, sẽ rất là hổ thẹn nếu tôi im lặng, bàng quan trước những bất công đang rõ ràng hiện hữu."

Sự thật là nếu ai đó trong VKSNDTC đọc thơ xong và bỏ vào sọt rác, thì coi như xong chuyện, vì VKSNDTC không cần phải làm gì về lá thơ đó cả.   Kiểm sát viên của chính phủ luôn luôn có quyền chọn lựa nên truy tố ai và không truy tố ai, như là cảnh sát có quyền phạt người này tội chạy nhanh nhưng không phạt người khác (vì không thể bắt phạt hết tất cả mọi người được).  Đó là prosecutorial discretion, tạm dịch là "tự do truy tố".

Nhưng dù là lá thơ sẽ vào sọt rác ngủ yên, nó vẫn như là hành vi của em bé Nhật 9 tuổi, tạo ra một năng lương tích cực lớn, cho tất cả mọi người trong nước thấy là mỗi chúng ta cần có trách nhiệm với những vấn đề đất nước, yêu cầu và thách thức các quan  chức và cơ quan công quyền làm việc hợp lý‎ và đúng pháp luật, sử dụng các quyền hiến định về tự do ngôn luận của mình để bảo vệ tính hợp hiến của các hành vi công quyền.

(Chúng ta dùng các từ như "yêu cầu" và "thách thức các cơ quan công quyền", nhưng cho đúng nghĩa, ta nên hiểu là yêu cầu và thách thức của anh em một nhà, cùng xây dựng đất nước.  Chính những hành vi "thách thức" trong khung cảnh pháp luật là các hành vi quan trọng nhất cho sự trưởng thành của một hệ thống pháp lý.  Các bạn nghiên cứu về sự hình thành các hệ thống pháp lý trên thế giới, sẽ hiều tầm quan trọng của khái niệm "thử thách" này).

Một quốc gia không thể tiến bộ nếu mỗi công dân không tích cực đóng góp vào việc bảo vệ luật pháp và công lý quốc gia bằng các phương cách hợp pháp.  Một quốc gia mà nhân dân thụ động trước những bất công, áp bức, hay bất cập của xã hội thì quốc gia đó đương nhiên là sẽ tràn đầy áp bức và bất công và không thể tiến được.

Đối với những người Tư Duy Tích Cực như chúng ta, chúng ta đã nói rất thường xuyên, như trong truyện Không Có Từ Tâm, là Tâm tĩnh lặng rất nhạy cảm với những đau khổ và bất công của mọi người quanh mình.  Tĩnh lặng không có nghĩa là chai đá hay đui mù.  Tĩnh lặng là nhạy cảm, nhưng không xung động, tức là không nhảy choi choi theo cảm xúc của mình.  Nhưng tĩnh lặng suy nghĩ nên  làm gì, hoặc là lờ đi vì không thật sự quan trọng đến mức mình phải làm gì cả, hay vấn đề sẽ tự giải quyết theo thời gian, hoặc là thấy quan trọng đến mức cần mình nhúng tay vào thì nên nhúng tay cách nào—hợp lý‎, hợp pháp, can đảm, không tạo nên xung đột không cần thiết, v.v…

Nếu mỗi công dân, chủ đất nước, mà không thường trực đòi hỏi đất nước phải là một đất nước trọng pháp, trọng tự do, trọng dân chủ, thì đất nước sẽ không có pháp luật, tự do và dân chủ.

Trách nhiệm của đất nước phải rơi trước hết vào tay chủ đất nước, tức là nhân dân, là mỗi người trong chúng ta. Không thể chỉ ngón tay vào người khác và nói “trách nhiệm là của họ”.

Chúc các bạn một ngày làm chủ.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Lần đầu tiên công trình nghiên cứu về chữ Việt cổ được xuất bản

Posted: 28 Apr 2011 12:50 PM PDT

Đúng vào dịp tháng Tám, mùa thu lịch sử cuốn: "Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình khoa đẩu" của giáo sư Lê Trọng Khánh, nhà xuất bản Từ điển bách khoa, tổng phát hành: Trung tâm văn hóa Tràng An, được phát hành rộng rãi trong và ngoài nước. Đây là công trình khoa học, chặt chẽ, nhất quán, có tính thuyết phục cao, là sự phát hiện trọng đại với lịch sử và văn hóa Việt. Lần đầu tiên chữ viết từng phát triển từ thời các Vua Hùng được khẳng định và làm sáng tỏ bằng những cứ liệu khoa học đầy sức thuyết phục. Lần đầu tiên những bí ẩn của chữ khắc trên đá cổ Sa Pa được giải mã. Công trình của giáo sư Lê Trọng Khánh góp thêm một cứ liệu chắc chắn về nền văn minh phát triển rực rỡ của tổ tiên ta, là tiền đề cho các công trình nghiên cứu chữ Việt cổ tiếp theo. Đặc biệt cuốn sách được xuất bản đúng vào dịp nhà nước ta long trọng kỷ niệm đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội có một ý nghĩa vô cùng to lớn.

Từ nhiều năm qua, đã có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về chữ Việt cổ, rải rác từng phần đã được công bố trên các tập san chuyên ngành. Song đây là lần đầu tiên một công trình nghiên cứu về chữ Việt cổ được xuất bản và phát hành rộng rãi trong và ngoài nước. Cuốn sách góp phần giải đáp được câu hỏi làm đau đầu giới nghiên cứu trong bao năm nay: Việt Nam – trung tâm nông nghiệp và công nghiệp đá cổ xưa nhất thế giới, Việt Nam – cái nôi của những trống đồng vô cùng tinh xảo có từ 3.000 năm trước, mỗi hoa văn, họa tiết trên trống đồng chứa đựng những bí ẩn tinh hoa của một nền văn minh rực rỡ làm kinh ngạc cả thế giới hiện đại, vậy dân tộc ấy có chữ viết hay không, chữ ấy như thế nào?

Từ năm 1958 giáo sư Lê Trọng Khánh dày công nghiên cứu từ những văn tự "thắt gút" của người Chăm Hrê ở Nghĩa Bình, đồ gốm, đồ đồng Đông Sơn, những hình đồ họa, chữ khắc trên đá ở Sapa… dần dần phát triển thành ngôn ngữ viết hoàn chỉnh ở bậc cao. Cũng chính vì có phương pháp nghiên cứu có hệ thống và khoa học như vậy, nên cho đến lúc này, giáo sư là người duy nhất chứng minh được sự liên hệ của chữ viết trên đá cổ ở Sa Pa và chữ viết trên di chỉ thuộc văn hóa Đông Sơn, giải mã thành công văn tự trên đá cổ ở Sa Pa, từng gây ra bao cuộc tranh luận làm đau đầu giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Thành công này của giáo sư Lê Trọng Khánh, với phương pháp luận không thể phủ nhận, được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá rất cao.

Giáo sư Lê Trọng Khánh đã từng có nhiều công trình nghiên cứu quan trọng: "Lực lượng vũ trang thời Hùng Vương", đăng trên Báo "Quân đội nhân dân" từ những năm 70, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá cao, "Địa danh ngôn ngữ cổ Việt Nam" (được dịch và in trong tạp chí Đông nam Á của Pháp)… Ông đặc biệt chú ý đến chữ Việt cổ vì theo ông: "Chữ viết thể hiện trình độ văn minh của một dân tộc".

Giáo sư có được phát hiện vô cùng quan trọng về chữ Việt cổ: "Hệ thống chữ viết ấy xác định quá trình ra đời có nguồn gốc sâu xa từ những yếu tố tiền văn tự. Với thời gian dài tiến triển thành hệ thống chữ viết hình vẽ phát triển cao, được khắc trên đá ở Sa Pa, vào giai đoạn văn hóa đồ đồng phát triển – Gò Mun. Trên cơ sở đó chuyển lên loại hình chữ viết cao hơn. Và cũng chính ngay bản thân hệ thống chữ viết cao đó, cũng có cứ liệu vững chắc để thấy sự đi lên của nó, từ thấp đến giai đoạn hoàn chỉnh của chữ viết ghi âm Đông Sơn – chữ viết có nguồn gốc riêng, sớm nhất ở Đông Nam Á".

Buổi lập nước, triều đại Vua Hùng, chúng ta có một nền giáo dục rực rỡ. Người Việt ta đã có chữ viết trước cả người Hán. Theo giáo sư: "Sự phát hiện chữ viết góp phần hiểu sâu hơn văn hóa Đông Sơn. Nền văn minh đó, tất nhiên không giống các nền văn minh cổ khác đã ra đời ở các dòng sông lớn trên thế giới như sông Nil, Lưỡng Hà và Ấn Hà". "Văn minh Đông Sơn đã tỏa ảnh hưởng ra ngoài, chữ viết của người Việt cổ làm cơ sở cho các hệ chữ viết còn lại sau này". Ông tìm thấy một bộ chữ Việt cổ được lưu giữ ở vùng Tây Bắc Việt Nam, với nghiên cứu của mình, ông cho rằng văn tự này là một biến thể của chữ "Khoa đẩu" hay "Hoả tự" đã ghi trong cổ sử. Thứ chữ đã tồn tại trong nền văn hoá tiền Việt – Mường. Do không được sử dụng phổ biến, lại bị phong kiến phương bắc tàn sát với chính sách đồng hóa dân tộc, bộ chữ này bị đóng băng và không phát triển theo kịp những biến âm trong tiếng nói người Việt hiện đại. Đến thế kỷ 16 khi đạo thiên chúa truyền vào nước ta, một nhóm trí thức người Việt đã cùng các giáo sĩ phương tây La Tinh hoá bộ chữ này thành chữ Quốc ngữ mà ta đang dùng ngày nay. Đó là chữ mà Hùng Quốc Vương cho khắc trên mai thần qui tặng Vua Nghiêu chép việc từ thời khai thiên lập địa trở đi, để giữ hòa hiếu giữa hai nước – (Chữ Việt cổ trên mai Thần Qui có nội dung: "Kể từ trời Nam mở vận, dòng họ đầu tiên trong nước là Hồng Bàng, bậc quân Vương thụ mệnh trời đầu tiên là Kinh Dương Vương – là hậu duệ của Thần Nông. Kinh Dương Vương vốn được cha là Đế Minh phong Vương làm chủ Nam Việt. kết duyên cùng Long nữ Hồng Đăng Ngàn, con gái Động Đình Quân, sinh ra Lạc Long Quân, húy là Sùng Lãm. Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là nàng Âu Cơ, sinh ra trăm con trai từ một bọc trứng, ấy là thủy tổ của Bách Việt vậy" (Ngọc phả Liệt Vị Đại Vương – La Nội, Hà Tây). Sự kiện này cũng được chép trong Ngọc phả đền: "Tứ Lạc Long Quân chi tử" đời Trần Thái Tông, tại xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Trong sách "Thông giám cương mục" của Chu Hy, sách "Tân lĩnh Nam chích quái" của Vũ Quỳnh…), đấy là thứ chữ mà các thầy cô giáo thời Hùng Vương giảng dạy rộng khắp. Và chính người Thái do ở xa trung tâm đô hộ của giặc ngoại xâm đã giữ gìn được chữ Việt cổ của Bách Việt và phát triển như ngày nay. (Vương Duy Trinh năm 1903 là Tổng đốc Thanh Hóa, ông viết trong "Thanh Hoá quan phong" in năm 1903 đã cho rằng chữ Thái là chữ Việt cổ còn sót lại ở Tây Bắc. Vương Duy Trinh viết: "Vì thập châu (vùng Tây Bắc) là nơi biên viễn (biên giới xa) nên dân ta còn lưu giữ được thứ chữ ấy. Các nơi khác, Sĩ Nhiếp (186) bắt bỏ hết để học Hán tự". Bộ chữ Thái thổ tự của Phạm Thận Duật phát hiện năm 1855 cũng ở vùng Tây Bắc).

Giáo sư Lê Trọng Khánh chỉ rõ: "Chữ viết của người Việt cổ đã được định hình và phát triển trên địa bàn rất rộng vào các thế kỷ trước công nguyên. Nó phân bố rộng hơn phạm vi thống trị của Tần – Hán ở các nước phía nam và Đông Nam Á… Thời khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, chữ Hán còn rất hạn chế; chữ Việt cổ vẫn là công cụ thông tin và truyền lệnh sắc sảo, góp phần tích cực cho thắng lợi trên phạm vi 65 thành (huyện) – bao gồm Lưỡng – Việt, Hải Nam đến Nhật Nam?".

Chính nhờ sự nghiên cứu hệ thống, sâu chuỗi được những ký tự trên các di chỉ khảo cổ, đặc biệt là những di chỉ thuộc văn hóa Đông Sơn, đến chữ khắc trên đá cổ Sa Pa phát triển từ thấp đến cao. Bởi vậy cho đến lúc này, giáo sư Lê Trọng Khánh là người duy nhất chứng minh được sự liên hệ của chữ viết trên đá cổ ở Sa Pa và Đông Sơn, giải mã thành công văn tự trên đá cổ ở Sa Pa. Sau bao năm nghiên cứu chữ khắc trên đã cổ Sa Pa. Giáo sư Khẳng định: "Những văn bản khắc này có niên đại thuộc văn hóa Gò Mun, khoảng đầu thiên niên kỷ 1 trước CN, thời kỳ hình thành nước Văn Lang. Gò Mun là tiền Đông Sơn, giai đoạn cực thịnh, khi đó người Việt đã từng đánh bại quân xâm lược từ phương Bắc rất mạnh. Chữ viết hình vẽ Sa Pa đã vượt qua giai đoạn vẽ hiện thực nguyên thủy và đã tiến tới chữ biểu ý đầu tiên. Vì vậy có thể coi là là thuộc loại hình chữ viết hình vẽ biểu ý (pictogramme – tượng hình)… Trên các bản khắc Sa Pa có hình mái nhà cong như trên trống đồng Đông Sơn loại 1. Từ bản khắc Sa Pa đến trống đồng Đông Sơn là một tuyến phát triển từ thấp đến cao. Sơ đồ hình người Sa Pa tương đồng với hình người trên lưỡi rìu, lưỡi xéo Đông Sơn. Như vậy cũng rõ ràng có một xu hướng phát triển chữ viết hình vẽ tiến lên giai đoạn cao hơn – giai đoạn chữ viết ghi âm Đông Sơn".

Theo giáo sư, chỉ có một tảng đá ở Sa Pa có chữ viết, nhiều nét chữ bị mòn không đọc được, nhưng bằng những gì còn lại, giáo sư giải mã được nội dung cơ bản là lời dặn của tổ tiên: ông cha đã có công dựng nước, các thế hệ sau phải có trách nhiệm giữ gìn và xây dựng đất nước!

Cuốn: "Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình khoa đẩu" của giáo sư Lê Trọng Khánh là bước phát triển và hoàn thiện cuốn: "Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ", đã công bố năm 1986 trên tạp chí của Viện ngôn ngữ, được dư luận đặc biệt quan tâm và đã được nhiều nước trên thế giới như Nga, Pháp… dịch và xuất bản. Công trình nghiên cứu của giáo sư Lê Trọng Khánh vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc khẳng định nền văn minh từng phát triển rất sớm của dân tộc ta, mà bao năm bị kẻ thù tìm mọi cách tàn sát, hủy diệt, vẫn có một sức sống mãnh liệt và trường tồn, làm nên bản sắc văn hóa đặc thù của một dân tộc mang trong mình dòng máu Lạc Hồng.

Tuy cuốn sách mới được phát hành nhưng đã được dư luận đặc biệt quan tâm. Để đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc và giới nghiên cứu trong và ngoài nước, trong một ngày gần đây cuốn: "Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình khoa đẩu" sẽ được trung tâm văn hóa Tràng An dịch và xuất bản bằng tiếng Anh. Còn giáo sư Lê Trọng Khánh cho biết, trong thời gian tới sẽ hoàn thiện và công bố một số công trình làm sáng tỏ hơn về sự tồn tại và phát triển chữ Việt cổ, đặc biệt là công trình về hệ thống chữ cái và cấu trúc ngữ pháp của chữ Việt cổ.

Trần Vân Hạc

(Lưu ý: các cơ quan và cá nhân có nhu cầu mua sách, liên hệ với Trung tâm văn hóa Tràng An, nhà 54/171 Nguyễn An Ninh, Hoàng Mai, Hà Nội.
ĐT: 04 3664 7143 – 3662 1060, Fax: 04 6284 1316. DĐ: 0912 344 084, Email: vanhoatrangan54@yahoo.com)
 

TRUNG TÂM VĂN HOÁ TRÀNG AN (HÀ NỘI)
——–o0o———
THÔNG BÁO

Hà Nội, ngày 4 tháng 9 năm 2010

Kính gửi: Các Thư viện, cơ quan, trường học, đơn vị và cá nhân trên cả nước.

Cuốn sách "PHÁT HIỆN HỆ THỐNG CHỮ VIỆT CỔ THUỘC LOẠI HÌNH KHOA ĐẨU"
- Tác giả GS. Lê Trọng Khánh
- Nxb Từ điển Bách Khoa, Quý IV / 2010
- Trung tâm Văn hoá Tràng An liên kết xuất bản – Tổng phát hành.

Cuốn sách đang được phát hành rộng rãi trong và ngoài nước.

Đây là công trình khoa học chặt chẽ, nhất quán, có tính thuyết phục cao; là sự phát hiện rất quan trọng, lớn lao về lịch sử và văn hóa Việt.

Lần đầu tiên một công trình nghiên cứu chữ Việt cổ được xuất bản ở nước ta.

Lần đầu tiên khẳng định chữ viết Việt cổ đã được sáng tạo và sử dụng từ thời các Vua Hùng. Vấn đề này đã được các cứ liệu khoa học làm sáng tỏ, đầy sức thuyết phục.
Lần đầu tiên nhng bí ẩn của chữ khắc trên bãi đá cổ Sa Pa được giải mã.

Công trình của giáo sư Lê Trọng Khánh góp thêm những cứ liệu khoa học chắc chắn để khẳng định nền văn minh Việt cổ đã từng phát triển rực rỡ; là tiền đề cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về văn hoá và chữ viết do tổ tiên ta tạo dựng.

Đặc biệt, cuốn sách "Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình Khoa đẩu" được xuất bản đúng vào dịp cả nước đang gấp rút chuẩn bị kỷ niệm long trọng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, nên càng có ý nghĩa to lớn và sâu sắc.

Các cơ quan và cá nhân có nhu cầu mua sách (giá bán lẻ: 25.000đ/ cuốn), xin liên hệ với

Đơn vị tổng phát hành – Trung tâm văn hóa Tràng An:
- Đ/c: 54/171 Nguyễn An Ninh, Hoàng Mai, Hà Nội;
- ĐT: 04 3664 7143 – 36621 060; Fax: 04 6284 1316; DĐ: 0912 344 084;
- Email: vanhoatrangan54@yahoo.com; vanhoatrangan@gmail.com.
- Phương thức thanh toán: Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản (Số tài khoản: 146 320 100 3741 – NH NN&PTNT Nam Hà Nội – PGD Khâm Thiên; hoặc: 76036999 – NH Á Châu – Chi nhánh Hà Nội).
- Quý khách hàng ở nội thành Hà Nội, chúng tôi sẽ chuyển sách đến tận tay. Quý khách hàng ở ngoại tỉnh (trên phạm vi cả nước), nếu mua từ 10 cuốn trở lên sẽ được miễn phí vận chuyển.
- Quý khách hàng mua số lượng lớn (từ 50 cuốn trở lên) sẽ được giảm giá theo thoả thuận.
Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý khách!

TRUNG TÂM VĂN HOÁ TRÀNG AN
(CÔNG TY TNHH – DVVH TRÀNG AN)


Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa

Sinh viên Việt Nam ‘tự thú’

Posted: 28 Apr 2011 12:49 PM PDT

BBC

Sinh viên Nguyễn Anh Tuấn và các tài liệu nói tới trong đơn

Một sinh viên Việt Nam, anh Nguyễn Anh Tuấn, vừa gửi đơn lên Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao tự thú việc “tàng trữ” một số bài viết của TS Cù Huy Hà Vũ.

Nói chuyện với BBC từ Hà Nội, anh Tuấn cho biết lá đơn đã được gửi theo đường chuyển phát nhanh tới Viện Kiểm sát vào hôm thứ Ba 26/04/2011.

Nguyễn Anh Tuấn, sinh năm 1990 tại Đà Nẵng, hiện là sinh viên năm thứ ba Học viện Hành chính Cơ sở Hà Nội.

Anh Tuấn cho biết: “Hiện chưa có phản hồi gì từ phía cơ quan kiểm sát, nhưng bạn bè và gia đình khi biết chuyện thì có gọi điện hỏi thăm và lo lắng”.

Lá đơn dài hai trang được gửi kèm theo bức ảnh sinh viên này cầm trong tay một số tài liệu đã in ra trên giấy, cụ thể là bài viết ‘Chiến tranh Việt Nam và ngày 30/4 dưới mắt TS Cù Huy Hà Vũ’ và ‘Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền VNCH’, cũng của ông Hà Vũ.

Đơn của Nguyễn Anh Tuấn viết: “Xét hành vi của cá nhân tôi: tàng trữ một số tài liệu bị Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hà Nội cho là có nội dung chống Nhà nước XHCN Việt Nam theo cáo trạng truy tố ông Cù Huy Hà Vũ…”

“Xét bản án ngày 4/4/2011 của Tòa án Nhân dân TP Hà Nội tuyên ông Cù Huy Hà Vũ có tội theo Điều 88 BLHS với hành vi làm ra các tài liệu chống nhà nước thì đương nhiên cá nhân tôi cũng phải bị coi là có tội theo Điều 88 BLHS với hành vi tàng trữ các tài liệu đó.”

Sinh viên này đề đạt Viện KSND khởi tố và truy tố “tôi, công dân Nguyễn Anh Tuấn, theo Điểm C, Khoản 1, Điều 88 ra trước tòa”.

Trong trường hợp không khởi tố, theo anh Tuấn, thì có nghĩa hành vi tàng trữ tài liệu không phải là tội phạm và “tài liệu nêu trên không gây hại cho xã hội”.

“Nếu thế, tôi kiến nghị Viện KSND Tối cáo tiến hành kháng nghị theo quy định đối với bản án tuyên cho ông Cù Huy Hà Vũ theo hướng: ông Cù Huy Hà Vũ vô tội”.

Cân nhắc kỹ càng

Về các bài viết của TS luật Cù Huy Hà Vũ, người đang kháng cáo án tù giam 7 năm mà tòa án Hà Nội phán quyết cho ông, Nguyễn Anh Tuấn nói: “Tuy không đồng ý hoàn toàn, nhưng tôi cho rằng các ý kiến của ông Vũ ở mức độ nào đó là xác đáng.”

“Tôi nghĩ đây là vấn đề tự do ngôn luận.”

Tôi không thể tiếp tục thỏa hiệp với nỗi sợ hãi và sự hèn nhát của bản thân mình. Biết đến nhiều tấm gương dấn thân trong lịch sử và đọc nhiều về tư tưởng của họ, sẽ rất là hổ thẹn nếu tôi im lặng, bàng quan trước những bất công đang rõ ràng hiện hữu.
SV Nguyễn Anh Tuấn

Anh Tuấn cho rằng hành động của anh có thể giúp “bảo vệ pháp quyền ở một mức độ nào đó”.

Trong lời tâm sự gửi tới những người theo dõi, Nguyễn Anh Tuấn thổ lộ rằng anh không thể ” tiếp tục thỏa hiệp với nỗi sợ hãi và sự hèn nhát của bản thân mình”.

“Biết đến nhiều tấm gương dấn thân trong lịch sử và đọc nhiều về tư tưởng của họ, sẽ rất là hổ thẹn nếu tôi im lặng, bàng quan trước những bất công đang rõ ràng hiện hữu.”

Anh nói với BBC:”Dù anh có giàu hay nghèo, tốt hay xấu, quốc tịch gì đi nữa, sinh ra ở Việt Nam thì anh cũng chung giống nòi máu đỏ da vàng”.

“Mỗi người nên làm việc gì đó tốt cho đất nước, và tôi thấy bảo vệ nền pháp quyền là một việc tốt.”

“Một đất nước thiếu pháp quyền và hỗn loạn là điều không ai muốn.”

Nguyễn Anh Tuấn cho biết trước khi gửi lá đơn, anh đã có quá trình suy nghĩ và cân nhắc, “chuẩn bị tinh thần cho những hậu quả có thể xảy đến với mình”.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

Vụ chết người ở nhà tạm giữ công an huyện: Ai “gạ tình” vợ nạn nhân?

Posted: 28 Apr 2011 12:42 PM PDT

NLD

Hôm nay, phóng viên Báo Người Lao Động sẽ cung cấp đoạn băng ghi âm cho Công an tỉnh Bình Dương phục vụ công tác điều tra.

Chiều 27-4, chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền, vợ nạn nhân Nguyễn Công Nhựt – người chết tại nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương (Báo Người Lao Động ngày 27-4 đã thông tin), cho biết anh Nhựt đã được chôn cất tại quê nhà (huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang). Trước đó, chiều 26-4, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương, cơ quan chức năng đã  khám nghiệm tử thi anh Nhựt.
Đám tang của anh Nguyễn Công Nhựt. Ảnh: MINH SƠN

 

"Em rất sợ bị trả thù"

 
Sau khi chôn cất chồng, chị Tuyền rời khỏi Tiền Giang. Ngay tức khắc, chị cung cấp qua email cho phóng viên Báo Người Lao Động hai đoạn băng ghi âm hai cuộc điện thoại giữa chị và một người đàn ông tự xưng tên Phú. Theo chị Tuyền, hai đoạn băng này được chị ghi lại khi chồng chị đang bị tạm giữ ở Công an huyện Bến Cát. Nội dung chủ yếu là ông Phú gạ gẫm chị vào khách sạn với ông ta.

Ông Phú là ai? Tại sao "gạ gẫm" chị Tuyền?
Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin trong những số báo tới.

Chị Tuyền nói: "Khi công bố đoạn băng này, em rất sợ bị trả thù. Vì vậy em không ở Bến Cát nữa mà đang ở chỗ bí mật". Chị cũng cho biết thêm trước khi cung cấp hai đoạn băng cho báo chí, chị cũng đã kịp copy và lưu trữ nhiều nơi.

Hiện gia đình nạn nhân đã liên hệ với luật sư nhờ tư vấn những bước đi tiếp theo nhằm thúc đẩy việc làm sáng tỏ cái chết của anh Nguyễn Công Nhựt.

 

Công an sẽ trả lời chính thức

Chiều cùng ngày, phóng viên Báo Người Lao Động đã  trao đổi qua điện thoại với ông Phạm Xuân Trường, quyền Chánh Văn phòng Công an tỉnh Bình Dương, về nội dung của hai đoạn băng trên. Ông Trường cho biết hôm nay (28-4) sẽ tiếp phóng viên Báo Người Lao Động và tiếp nhận đoạn ghi âm để phục vụ công tác điều tra.

Ông Trường khẳng định sẽ xin ý kiến lãnh đạo Công an tỉnh Bình Dương để trả lời báo chí một cách chính thức về vụ việc. Chiều cùng ngày, chúng tôi cũng đã liên hệ với Thiếu tướng Võ Thành Đức, Giám đốc Công an tỉnh Bình Dương, tuy nhiên Thiếu tướng Đức từ chối trả lời qua điện thoại. Chúng tôi cũng đã liên lạc với nhân vật tên Phú từ số điện thoại do chị Tuyền cung cấp, sau khi nghe chúng tôi trình bày về đoạn băng ghi âm thì ông Phú cúp máy.

Chị Tuyền cho biết hiện chị vẫn chưa nhận được thông báo chính thức nào từ phía cơ quan chức năng về nguyên nhân cái chết của chồng. Ngay cả hai lá thư được cho là "thư tuyệt mệnh" của anh Nhựt, trong đó có một lá thư "gửi vợ", chị cũng mới nhận được bản photocopy từ công an chứ chưa có bản chính. Theo chị Tuyền, sau một ngày nghiên cứu kỹ, chị phát hiện trong thư có hai nét chữ khác nhau.

Trích đoạn băng ghi âm
(giữa ông Phú và chị Tuyền)
- Chị Tuyền: Anh hỏi giúp sức khỏe chồng em…
- Ông Phú:  Trả ơn anh cái gì?
- Chị Tuyền: Dạ thì anh muốn cái gì?
- Ông Phú: Giờ em đang ở đâu vậy?
- Chị Tuyền: Em đang ở nhà.
- Ông Phú: Ở nhà với ai vậy?
…..
- Ông Phú: Trả ơn anh cái gì?
- Chị Tuyền: Thì anh muốn cho anh cái gì em cho anh cái đó.
- Ông Phú: Giờ anh đòi tầm bậy thì sao?
- Chị Tuyền: Thôi, cái đó không được…

- Ông Phú: Bây giờ chỉ có em mới cứu được chồng em thôi à.
- Chị Tuyền:  Sao vậy anh?…
- Ông Phú: Tại vì anh thích cái gì không được thì anh đòi cái đó!

- Chị Tuyền: Thì em mời anh uống cà phê để em hỏi thăm chồng em một chút xíu đó mà.
- Ông Phú: …Gặp mấy chỗ đó không có được, đi vô khách sạn gặp.
- Chị Tuyền: Trời ơi anh cứ thế.
…..
- Chị Tuyền: …Nghe anh nói thì em cũng lo thiệt. Em tin chắc, khẳng định chồng em vô tội!
- Ông Phú: Nếu em có suy nghĩ kiểu đó thì sau này hậu quả… Tại sao ban đầu mình không làm đi?
- Chị Tuyền: Là sao anh?
- Ông Phú: Trời ơi! Mệt em quá đi.
….
- Ông Phú: Có nghĩa là chồng em biết mình phạm tội, kêu lo giùm… bán miếng đất (mà vợ chồng mua) để đền ơn đáp nghĩa mà anh còn không đồng ý.
- Chị Tuyền: Ảnh nói vậy sao?
- Ông Phú: Chứ sao!… Ý anh nói như vậy, em phải hiểu hậu quả.
QUẢNG NHÂN – MINH SƠN

Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

‘Bà Nhu như tôi từng biết’ (phần 2)

Posted: 28 Apr 2011 12:41 PM PDT

>> Bà Nhu như tôi từng biết (phần 1)

BBC tiếp tục câu chuyện với luật sư Trương Phú Thứ, một trong số ít người có tiếp xúc, trò chuyện với bà Ngô Đình Nhu trong những năm gần đây.

Bà Trần Lệ Xuân

Bà Nhu, nhũ danh Maria Trần Lệ Xuân, vừa qua đời hôm Chủ nhật 24/04 tại Rome, Ý, ở tuổi 87.

Ông Thứ, hiện sống tại Seattle, Hoa Kỳ, nói ông đang có trong tay tập bản thảo các bài viết của bà Trần Lệ Xuân, tập trung thành một cuốn sách sẽ được xuất bản vào cuối năm nay.

BBC: Cuốn sách của bà Trần Lệ Xuân, theo như ông nói là không bàn chuyện chính trị, chắc sẽ đề cập tới các chủ đề như cuộc sống, con người, về quan hệ xã hội vv…, có phải không ạ?

LS Trương Phú Thứ: Cuốn sách của bà Nhu nói về những chuyện cao hơn, xa hơn như thế nữa. Thí dụ các vấn đề tâm linh, sự hiện diện của con người, của Thượng đế…

Bà cũng nói về một vài vấn đề mà mọi người muốn biết, như chuyện gia đình, đời tư của bà từ khi còn nhỏ đi học ở Hà Nội, hay lớn lên đi lấy chồng ra sao. Tôi chắc là độc giả thì nhiều người tò mò, muốn biết những chuyện này.

Nhưng tựu chung, cuốn sách của bà Nhu sẽ nói về những chuyện cao hơn và xa hơn; và phải đợi đến khi nào sách ra thì độc giả mới có cơ hội đọc và chiêm nghiệm.

Bà tha thứ tất cả, cả những người cầm súng bắn vào đầu chồng bà, cả những người đi bày đặt nói xấu bà trên báo chí, trong dư luận… Bà ấy từng nói là nếu có những việc như vậy, thì bà ấy tha thứ hết, không có oán hận chuyện gì.
LS Trương Phú Thứ

Nói về quá trình viết sách thì mấy năm qua, lúc hứng thú thì bà viết được nhiều, lúc không hứng thì có khi cả nửa tháng bà không viết chữ nào. Bản thảo đều chuyển cho tôi, và hiện tôi đang có trong tay đây.

Cuốn sách hiện còn trong tình trạng dở dang, chừng độ 500 trang, nhưng phần cuối thì còn chưa hoàn tất.

‘Chỉ biết có mình ông Nhu’

BBC: Dĩ nhiên sẽ có nhiều người tò mò muốn biết liệu khi còn khỏe, cuộc sống riêng tư của bà Trần Lệ Xuân như thế nào.

LS Trương Phú Thứ: Khi ông cố vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát, thì bà mới có chưa đầy 40 tuổi, cái tuổi có thể gọi là đẹp và mặn nồng nhất của người phụ nữ. Mà bà Nhu, như chúng ta thấy, cũng có sắc đẹp, sinh động, giỏi ngoại ngữ, nói tiếng Anh tiếng Pháp lưu loát, đại để là một người phụ nữ trên mức bình thường.

Cũng có nhiều người, kể cả chính trị gia, vì lúc đó bà Nhu hoạt động chính trường nên quen biết nhiều người lắm, cũng có lòng yêu mến kính trọng bà.

Tôi được biết có một ông kỹ nghệ gia, làm quản trị cho công ty chế tạo xe hơi Rolls Royce ở London, cũng đề nghị lập gia đình với bà Nhu, nhưng bà đã khước từ.

Cả đời, bà chỉ biết có một mình ông Ngô Đình Nhu mà thôi.

Trong suốt nửa thế kỷ qua, những người muốn công kích hay phỉ báng bà đã không tìm ra được bất cứ một điều gì về vấn đề tình cảm để mang ra công kích bà.

Bà Nhu sống thầm lặng, một mình, một cách rất đạo đức, kín đáo và đơn sơ.

BBC: Nói chuyện tới giờ, thì có thể thấy luật sư rất có cảm tình với bà Trần Lệ Xuân?

LS Trương Phú Thứ: Đúng thế, tôi rất có cảm tình với bà. Nói đúng ra, tôi kính phục bà.

Bà Nhu là một phụ nữ thông minh, rất thông minh. Bà giỏi, dám nói dám làm.

Nhưng có một điều mọi người nên biết, trong những ngày tháng sau này của bà thì tôi thấy bà Nhu có một đức tính mà ít người có: đó là sự tha thứ.

Bà tha thứ tất cả, cả những người cầm súng bắn vào đầu chồng bà, cả những người đi bày đặt nói xấu bà trên báo chí, trong dư luận… Bà ấy từng nói là nếu có những việc như vậy, thì bà ấy tha thứ hết, không có oán hận chuyện gì.

Đó là sự vị tha, hiếm có trong cuộc đời con người ta, vốn có yêu có ghét, có hận thù. Dường như bà Nhu đã đi xa được hơn những tình cảm bình thường đó.

BBC: Tài giỏi vậy, nhưng bà Trần Lệ Xuân cũng là một người khá cô độc phải không ạ?

LS Trương Phú Thứ: Không phải “khá cô độc” mà là “quá cô độc” thì có. Từ khi chồng chết, phải lưu vong ở ngoại quốc thì bà ấy không còn liên lạc với ai nữa.

Bà chỉ sống ở nhà với mấy đứa con. Theo đạo nên bà đi lễ hàng ngày, nhưng cũng chỉ đến chào hỏi cha cố, rồi các tín đồ ở đó. Bạn bè không có nhiều.

Tôi nhớ bà có một vài người bạn Nhật Bản vì khi nói chuyện với tôi, bà mặc bộ đồ kimono Nhật. Bà ấy nói với tôi rằng đó là do người bạn Nhật gửi tặng, mỗi năm vài cái để bà mặc trong nhà. Thì tôi nghĩ chắc bà ấy còn liên lạc với một số ít bạn thân thiết, ngoài ra chẳng có ai đâu.

Con cái của bà thì họ lớn lên ở ngoại quốc (ông bà Ngô Đình Nhu có bốn con, hai trai là Ngô Đình Trác và Ngô Đình Quỳnh, hai gái là Ngô Đình Lệ Thủy – tử nạn giao thông năm 1968; và Ngô Đình Lệ Quyên). Họ có những suy tư và lối hấp thụ văn hóa khác, tuy họ đều yêu thương và kính trọng mẹ.

Vậy nên tôi cũng không nghĩ họ có thể chia sẻ với bà về những suy tư hay thăng trầm của cuộc đời bà. Nhất là những chuyện quá khứ, thì khi đi khỏi Việt Nam họ còn rất nhỏ nên tôi cũng không nghĩ họ biết để mà nhắc tới.

Bà Nhu cũng là người rất độc lập, ngay cả về vật chất bà không nhờ vả gì con cái.

Những năm 63-65, gia đình bà ấy khá túng thiếu, cho tới tận sau này, có một ân nhân ẩn danh cho bà một số tiền rất lớn và bà mua được hai căn apartment ở bên Paris, quận16 gần trung tâm.

Bà Nhu ở một cái, một cái cho mướn để lấy tiền sinh sống.

BBC: Cơ duyên nào mà ông lại có điều kiện tiếp xúc và cộng tác với bà Trần Lệ Xuân trong khuôn khổ cuốn sách của bà ạ?

LS Trương Phú Thứ: Gia đình tôi biết gia đình của bà Nhu từ khi tôi còn bé, ở Việt Nam. Hồi ông bà ở Dinh Độc Lập thì tôi mới mười mấy tuổi đầu, nhưng bà vẫn còn nhớ.

Tôi rời Việt Nam năm 1975. Sau này ra ngoại quốc tôi liên lạc lại, bà ấy mời tôi qua chơi. Tôi cũng may mắn được bà Nhu quý mến và cho phép dịch cuốn sách của bà.


Filed under: Lịch sử, Văn Hóa Tagged: Lịch sử, Văn Hóa

Ủy ban tôn giáo Hoa Kỳ muốn trừng phạt VN

Posted: 28 Apr 2011 12:40 PM PDT

BBC

Cảnh sát có mặt tại Đồng Chiêm, Mỹ Đức, Hà Nội trong một vụ xô xát
Việt Nam bị cáo buộc trấn áp các cá nhân và tổ chức tôn giáo

Ủy ban Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ ra báo cáo năm 2011 và khuyến cáo đưa Việt Nam vào danh sách cần quan tâm đặc biệt hay còn gọi là CPC.

Ngoài Việt Nam, danh sách 14 nước mà ủy ban muốn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ liệt vào dạng CPC còn có Trung Quốc, Miến Điện, Bắc Triều Tiên, Iran, Iraq và Ai Cập.

Ủy ban đã nhiều lần muốn chính quyền Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách này kể từ khi Hà Nội được Bộ Ngoại giao bỏ Hà Nội khỏi danh sách hồi năm 2006 nhưng đều bất thành.

Trong báo cáo năm nay, ủy ban nói:

“Chính quyền Việt Nam tiếp tục kiểm soát các cộng đồng tôn giáo, hạn chế nghiêm trọng và trừng phạt việc hành đạo độc lập và trấn áp tàn bạo các cá nhân và các nhóm được coi là thách thức chính quyền.”

Mặc dù vậy báo cáo thừa nhận các hoạt động tôn giáo “tiếp tục phát triển” ở Việt Nam và chính phủ Hà Nội đã đưa ra “những thay đổi quan trọng” trong thập niên qua trước sự theo dõi của quốc tế và sau khi bị đưa vào danh sách CPC hồi năm 2004.

‘Lạm dụng’

Ủy ban Tôn giáo đưa ra một danh sách dài những lý do mà họ muốn bà Hillary Clinton đưa Việt Nam vào lại CPC.

Đó là việc kết án tù hay bắt bớ người dân vì các lý do liên quan tới các hoạt động tôn giáo hay đòi tự do tôn giáo.

Ủy ban nói cảnh sát và các quan chức chính phủ không chịu trách nhiệm về các hành vi lạm dụng của họ đối trong các vụ trấn áp công dân.

Việt Nam luôn bác bỏ các cáo buộc của Hoa Kỳ trong lĩnh vực tôn giáo và nói người dân Việt Nam được hưởng quyền tự do tôn giáo, tự do hành đạo.

Hà Nội bị cho vào danh sách CPC hồi năm 2004 và thoát khỏi danh sách hồi cuối năm 2006, trước khi Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush tới Hà Nội dự hội nghị APEC.

Khi đó Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói Việt Nam đã có “tiến bộ” về tự do tôn giáo.

Danh sách CPC của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thường đi kèm theo các trừng phạt về tài chính hay quân sự.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

No comments:

Post a Comment