Đọt Chuối Non |
- Wake Up Everybody – John Legend & The Roots
- Nói tiếng La-tinh
- Yếu tố Việt cổ trong ngôn ngữ Thái
- Lại chết khi bị giam tại trụ sở Công an
- Thiên đường chim yến đã mất!
- Voi ở Việt Nam ‘sẽ tuyệt chủng trong 10 năm tới’
- Bảo vệ chủ quyền không thể chỉ nói chay
- Thủng thẳng với thơ… (phần 13)
| Wake Up Everybody – John Legend & The Roots Posted: 27 Apr 2011 12:27 PM PDT Thức dậy, mọi người ơi!(John Legend và ban The Roots) Thức dậy, mọi người ơi Thế giới đã thay đổi Thức dậy, thầy cô ơi Bởi vì chúng nó là những người đang lên Thế giới sẽ chẳng khá lên Thức dậy, các bác sĩ ơi Nhưng họ không còn nhiều thời gian Thức dậy, các bạn xây dựng ơi Điều duy nhất ta phải làm Thế giới sẽ chẳng khá hơn Đây là giờ của Chúa Thức dậy, mọi người ơi Cần một tí giúp đở, tât cả các bạn ơi (TĐH dịch) Wake Up Everybody(John Legend & The Roots) Wake up everybody The world has changed Wake up, all the teachers ‘Cause theýre the ones who’s coming up The world won’t get no better Wake up, all the doctors But they don’t have so very long Wake up, all the builders The only thing we have to do The world won’t get no better It’s the god hour Wake up, everybody Need a little help, ýall ay Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa | ||||||
| Posted: 27 Apr 2011 12:26 PM PDT Chào các bạn, Và cũng chính vì vậy mà khi các vị khoa bảng nói chuyện với nhau, các vị dùng toàn là từ La-tinh, Hán Việt, hay kỹ thuật mà các phó thường dân chẳng hiểu một tí nào. Không sao, miễn là các vị hiểu nhau là được rồi. Nhưng, vấn đề lớn là các vị khoa bảng dởm lại thích mang các từ La-tinh, Hán Việt hay kỹ thuật này ra nói với các phó thường dân, vì biết là các phó thường dân chẳng hiểu được gì, để cho các phó thường dân biết là “các chú hơi dốt đấy." Thực sự thì vấn đề tệ hơn vậy, vì đại đa số các vị dùng La-tinh với phó thường dân như thế thường không hiểu họ nói gì. Học đâu được vài từ ngoại ngữ là xổ ra, người giỏi môn học đó sẽ biết ngay là nói vô nghĩa lý. Người hiểu biết thật không bao giờ xổ từ chuyên môn với người mà họ biết là không hiểu. "Xổ La-tinh" luôn luôn là bệnh của người (1) hoặc là dốt hoàn toàn (2) hoặc là dốt về nghệ thuật truyền thông. Ta không nói không bao giờ dùng từ chuyên môn. Vì nói đến khoa chuyên môn thì người ta thường nhắc đến từ chuyên môn cho học trò dễ hiểu. Nhưng nói thế để giảng dạy cho học trò là một chuyện, nói thế với các phó thường dân khác lại là một chuyện khác. Trong bình diện lãnh đạo xã hội và chính trị thì vấn đề lại còn tệ hại hơn nhiều. Chắc chắc các bạn đã nghe rất nhiều diễn văn của rất nhiều người dùng toàn là những cụm từ luôn luôn nghe trong các văn bản tuyên truyền, giống nhau đến nỗi chúng ta không phân biệt được bài diễn văn nào của người nào. Và đại đa số các bài đó có rất nhiều cụm từ mà chắc chắn 100% là những người nói không thể hiểu được là gì, vì chính các chuyên gia và học giả cũng không chắc nghĩa của chúng là gì. Ngoài cái dốt ra, nó còn có nghĩa là người nói chẳng có một chút tự tin nào Chỉ lảm nhảm các từ nghe có vẻ "trí thức" là được. Đó là căn bệnh lớn của xã hội chúng ta. Các bạn, nói là để cho người nghe hiểu được 100% điều ta muốn nói. Đừng lảm nhảm bậy bạ. Nói là truyền thông, truyền và thông, không phải truyền và tắt tịt. Nói là mở rộng trái tim mình cho người kia thấy được một khoảng bên trong tim mình. Bạn có thể mở trái tim mình mỗi khi nói hay không? Chúc các bạn một ngày thành tâm. Mến, Hoành © copyright 2011 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | ||||||
| Yếu tố Việt cổ trong ngôn ngữ Thái Posted: 27 Apr 2011 12:26 PM PDT
Theo những nhà nghiên cứu chữ Việt cổ, dân tộc ta có chữ viết và hệ thống giáo dục phát triển từ thời Hùng Vương – (chữ khoa đẩu). Chữ Thái có nguồn gốc từ chữ khoa đẩu. Về mặt nhân chủng học, người Thái, Mường, Tày, Kinh… đều thuộc Mongoloid phương Nam. Đó là di duệ của người Việt cổ bản địa chủng Indonesian và cùng được chuyển hóa sang Mongoloid phương Nam. Cũng như tộc Kinh, tộc Thái là con cháu của Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ. Bởi "sự chuyển hóa từ Việt cổ (đa số Indonesian) sang Việt hiện đại (Mongoloid phương Nam) xảy ra khoảng sau 2600 năm TCN, khi nước Văn Lang thành lập. Tùy hàm lượng máu Mongoloid và sự phân bố địa lý mà người Việt chia ra tới 54 sắc tộc như hiện nay" – (Hà Văn Thùy). Do ở các vùng bán sơn địa, xa trung tâm đô hộ của giặc ngoại xâm, tộc Thái đã bảo tồn được ngôn ngữ Việt cổ trước sự tàn sát, đồng hóa dân tộc bao năm ròng của các thế lực thù địch. Trên cơ sở ngôn ngữ Việt cổ, ngôn ngữ Thái biến đổi hiện đại hóa như ngày nay phù hợp với tiến trình phát triển xã hội. "Địa danh cổ trên đất nước ta phân bố rất rộng, thuộc ngôn ngữ Lạc Việt. Yếu tố tiếng Thái còn tìm thấy khá đậm nét trong đấy. Ngôn ngữ Nam Á trong tiếng Việt cổ là có nguồn gốc chung từ rất xa từ văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn, khi nông nghiệp còn thuộc loại hình nương rẫy. Cơ tầng ngôn ngữ Thái rất gần với ngôn ngữ Việt cổ. Cơ chế ngôn ngữ Thái rất gần với ngôn ngữ Việt cổ… Tiếng Thái chính là tiếng Việt cổ phát triển vào một giai đoạn lịch sử muộn. Mối quan hệ giữa chữ viết Đông Sơn và chữ Thái cổ được xem xét dưới quan điểm nhất quán này. Chữ Thái, bao gồm tất cả hệ thống từ Tây Bắc – Thanh Hóa – Nghệ An và chữ viết trên sách ở người Mường (Thanh Hóa). Sách Mường là bảo lưu chữ viết Đông Sơn và chữ Thái không có thay đổi lớn, như chữ Ai Cập tồn tại 3.000 năm không có thay đổi gì mấy." – (Lê Trọng Khánh). Điều đó lý giải được lý do tại sao ở những vùng người Thái chưa bao giờ đặt chân đến, thì lại có rất nhiều tên địa danh, đơn vị hành chính… mang tên Thái và trong ngôn ngữ Thái mang nhiều yếu tố ngôn ngữ Việt cổ. Ở đây cần nói rõ, không gian địa danh ngôn ngữ Việt cổ vô cùng rộng lớn, chứ không bó hẹp trong địa bàn Việt Nam như bây giờ. Trước hết trong lao động sản xuất, từ miền Bắc cho đến miền nam Trung bộ có rất nhiều địa danh mang tên: "Pu", "Pù" – (núi), "Na", "nà" – ruộng, "Tà" – bến nước mà trong công trình: "Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình Khoa đẩu" của giáo sư Lê Trọng Khánh đã thống kê những địa danh đó kéo dài từ vùng Lưỡng Quảng, Hải Nam, đến Nam Á. "Chúng ta gặp rất phong phú ở vùng người Mường – Thái địa danh có thành tố "na", "nà" (đồng ruộng). Ở những vùng có sự giao thoa văn hóa như Hà Bắc và quanh đền Hùng lớp địa danh này khá dày đặc (Nà Lao, Nà Uy v.v…). Ở vùng người Việt Phú Thọ cũng nhiều nơi gọi ruộng là "na" như ở Tứ Xã, Sơn Vi, Do Nghĩa, Hà Thạch, Thuỵ Vân. Làng Cao Xá có những khu đồng như: Nà Pheo, Nà Giũa, Nà Đỏ v.v… Một tấm bia trên Đền Hùng có 50% số địa danh được ghi là "na" như Na Hưu, Na Dầu, Na Hoàng v.v. Ở khu di tích Đền Hùng có 3 quả núi thiêng, "tam sơn cấm địa". Trong đó có núi Nỏn, cạnh núi Nghĩa Lĩnh đặt tên theo ngữ hệ Tày – Thái: Nỏn là út vì thế quả núi còn tên nôm thuần Việt một âm tiết là núi Út… Những điều này có thể lý giải được vì dọc bờ hữu ngạn sông Thao – (Nặm Tao) xa xưa là địa vực cư trú của người Tày Thái cổ. Những dòng họ Ma gốc Tày cũng như nhiều họ gốc Mường: Đinh, Quách, Bạch, Hà… là những nhóm cư dân Việt cổ phát triển lên thành người Việt hiện nay. "Các truyền thuyết về Ma Khê và Tản Viên ở vùng Đất Tổ cũng nói đến sự hội nhập của hai nhóm Việt – Mường và Tày – Thái ở Phú Thọ. Tản Viên chính là người Mường. Dù Tản Viên đã được thần thoại hoá đến hoang đường nhưng bóc bỏ lớp huyền thoại ta vẫn tìm được lõi sự thật lịch sử. Ông là con một bà người Mường có tên là Đinh Thị Đen quê ở chân núi Thu Tinh, làng Yên Sơn. Bà lấy chồng rồi về sống, sinh đẻ Tản Viên ở Động Lăng Xương, làng Trung Nghĩa bên bờ sông Đà thuộc Phú Thọ. Ông được dân gian tôn sùng thành một thần tượng cộng đồng, vừa là anh hùng trận mạc vừa là anh hùng văn hoá. Ông đánh giặc tài lại có công chống lại Thuỷ Tinh biểu tượng của thiên tai lũ lụt. Ông là người anh linh nghĩa cử khước từ ngôi báu, khuyên vua cha nhường ngôi cho Thục Phán để muôn dân thái bình. Thục Phán cũng là gốc Tày – Thái quản lĩnh miền rừng núi phía trên nước Lạc Việt của các Vua Hùng" – (Nguyễn Hữu Nhàn). Song ở những vùng các cư dân Tày, Thái, Mường chưa hề đặt chân đến cũng có rất nhiều địa danh "na". Trên địa bàn Nhật Nam (thuộc Quảng Ngãi) có Nà Lau, Nà Klich, Nà Niêu (địa điểm Tỉnh ủy Quảng Ngãi họp quyết định đồng khởi Trà Bồng), và một điều rất lý thú người Chăm H'rê trong ngôn ngữ của họ cũng gọi "nà" là ruộng. Địa danh có thành tố "nà" vùng Chăm H'rê cũng phổ biến như ở vùng người Mường – Thái. Những từ chỉ phức hợp lúa nước có sự đồng nhất tương đối giữa các ngôn ngữ: Mường – Thái – Chăm H'rê và Việt (Khu IV cũ). Sử liệu này cho phép chúng ta nghĩ rằng từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Lưỡng Việt rất phổ biến địa danh có thành tố "na" (ruộng) người Việt cổ trồng lúa nước rất sớm; và có một lớp ngôn ngữ thống nhất chỉ về phức hệ lúa nước. Và cư dân Nhật Nam là người Việt cổ; phía Nam của họ là cộng đồng người nói tiếng Malayo" – (Lê Trọng Khánh). Tên địa danh cũng có rất nhiều từ tương đồng hoặc còn giữ nguyên bản như: "Chiềng" là vị trí trung tâm ở một mường lớn, (Chiềng là thủ phủ của một mường, nhiều nơi phát triển thành thành phố lớn hoặc thủ đô của quốc gia) – (tất nhiên trong lịch sử người Thái, ngoài "Chiềng" mang ý nghĩa như trên là phổ biến, nó cũng có ngoại lệ như là: Chiềng Pấc là tên một mường phìa của Châu Mường Muổi, Chiềng Cang là tên một mường phìa của Châu Mường Mụa; trong sử sách, người Thái gọi nước Lào là Chiềng Đông, Chiềng Tòng). Nay còn có nhiều thành tố "Chiềng" ở cả những nơi người Thái chưa bao giờ đặt chân đến như: Hà Nội có Chiềng Lôi (Cổ Loa). Hà Tây: Chiềng Vậy (Hoài Đức). Phú Thọ: Gò Chiềng (Lâm Thao), Chiềng Ninh (Phù Ninh). Hà Nam: Chợ Viềng (Phủ Giầy). Sơn Tây: Chiềng Tăng. Vùng nông thôn miền Bắc còn không ít địa danh có từ Chiềng. Nhưng thưa dần vào phía Nam: Chiềng Giang (O Lâu) Quảng Trị… "Hiện tượng phân bố địa danh có từ Chiềng ở trên, không còn nghi ngờ sự thiên di của một bộ người Việt cổ làm lúa nước, ở vùng bực thềm sông Hồng lên phía tây với văn hóa lúa nước và văn hóa đồ đồng Đông Sơn." – (Lê Trọng Khánh). Trong mọi mặt đời sống sinh hoạt, cũng có rất nhiều từ còn giữ nguyên bản, tương đồng hoặc trở thành từ ghép. Trước hết "Vua Hùng" là phiên âm của một từ Việt cổ: Vua – Bua – Bô – Pô = (bố); Hùng – Khun = Cun = Thủ lĩnh. Vua Hùng = Bố của các thủ lĩnh = Thủ lĩnh tối cao. Danh hiệu Hùng Vương chỉ là một sự lắp ghép danh hiệu Bố cái đại vương (Bố cái = Vua lớn = Đại vương) để chỉ Vua Phùng Hưng sau này. Hoặc từ "Thục Phán" (tiếng Thái là Tục Pán) có nghĩa là chiếm đất, là mở mang bờ cõi… Ta tạm chia những yếu tố Việt cổ trong ngôn ngữ Thái ra một số nhóm: nhóm phiên âm trực tiếp, nhóm này chỉ liệt kê các từ thông dụng và không có từ khác thay thế; nhóm nguyên nghĩa đi kèm nhau; nhóm cận nguyên âm và vần; nhóm phụ cận vần và các nhóm khác. Trước hết là nhóm phiên âm trực tiếp, là nhóm những từ thông dụng, không có các từ khác thay thế: "bàn" (bạc) – ban, "bản" – bàn, "chọn" – chọn, "quen" – quẻn, "việc" – việc, "bể" (biển) – pể, "mương" – mương, "phai" – phai, "nàng" – nàng, "ngân" (tiền) – ngân, "an" – yên, "dệt" (vải) – dệt … Những từ trong nhóm nguyên nghĩa đi kèm nhau (những từ này là từ ghép, một từ tiếng Thái với một từ Việt): "áo xống", "béo múp", "bừa phứa", "chim chóc", "chó má", "đòn càn", "hang thẳm", "quát nạt", "xin xỏ", "xa lắc", "súng ống", "giá cả", "mặt nạ", "dao pha", "tre pheo", "chân thật".… Nhóm cận nguyên âm và vần, (gồm những từ có cách phát âm gần nhau về âm và vần): "Ánh" – xánh, "bánh" – pảnh, "bào" – pao, "bão" – pảo, "bắt" – pắt, "bè" – pe, "bóc" – pọc, "bón" – pòn, "bọt" – pọt, "bố" – pỏ, "bốc" – chốc, "chan" – chán, "cá" – pá, "lôi" – lối, "lo" – ló, "còng" – cỏng, "cây" – mạy, "gốc" – cốc, "han" – hán, "bắn" – bén, "nỏ" – nả, "bó" – pò, "bói" – pòi, "bón" – pòn, "bọt" – pọt, "bốc" – chốc, "gang" – khang, "bá" – pả, "vải" – phải, "mận" – mặn, "nhót" – lót, "bể" – biển, "chống" – chông, "đòi" – toi… Nhóm phụ cận vần và các nhóm khác (nhóm này không tính về thanh điệu, gần nhau về âm và vần): "bát" – pẹt, "bắt" – chặp, "bơi' – loi, "buộc" – phục, "buông" – vang, "cạp" – cọp, "chấm" – chẳm, "lống" –puống, "chạc" – chược, "đáp" – chắp, "chẻ" – phả, "chích chòe" – chí chọe, "chốn" – chòn, "chủ" – chảu, "đập" – tặp, "cục" – cọc, "dê" – bè, "cửu – càu, "đường" – tang, "giường" – chong, "gắp" – cạp, "buộc" – phục, "buông" – vang, "chẻ" – phả, "đến" – ten, "kẹp" – nịp, "căng" – kếnh, (chim) "cuốc" – cu vắc, "chốn" – chòn, "cổ" – co, "lưng" – lằng, "coi" – moi. "cũ" – cảu… Có thể liệt kê rất nhiều những từ, ngữ mang yếu tố Việt cổ trong ngôn ngữ Thái, bởi theo thống kê của các nhà nghiên cứu, có tới gần 30% vốn từ tiếng Việt cổ trong ngôn ngữ Thái. Nghiên cứu ngôn ngữ Thái ta sẽ tìm được phần nào ngôn ngữ Việt cổ, một dân tộc đa sắc tộc đã làm nên những trống đồng nổi tiếng và nền văn minh lúa nước và công nghiệp đá Hòa Bình phát triển sớm nhất thế giới, đó là sự thật mà khoa khảo cổ học thế giới chứng minh. Chúng ta tự hào vì "Văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa tới Văn hóa Bắc Sơn". Chính sự hình thành và phát triển nhà nước từ rất sớm, cùng nền văn minh lúa nước, công nghiệp đá, đúc đồng, làm giấy… và hệ thống giao thương rộng khắp với nhiều vùng lãnh thổ đã thúc đẩy quá trình phát triển chữ Việt cổ. Chúng ta vô cùng tự hào vì dân tộc ta là dân tộc duy nhất giữ gìn được con chữ của Bách Việt trước sự hủy diệt tàn bạo bao năm ròng của các thế lực thù địch, mà người Thái góp một phần không nhỏ. Đây cũng đang là một hướng tiếp cận của các nhà nghiên cứu chữ Việt cổ trong và ngoài nước và bước đầu đã thu được những thành công đáng khích lệ. Điều đó càng làm cho ta hiểu thêm về lịch sử dân tộc và tăng cường tình đoàn kết anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Trần Vân Hạc Tài liệu tham khảo: Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa | ||||||
| Lại chết khi bị giam tại trụ sở Công an Posted: 27 Apr 2011 12:25 PM PDT
Sáng 26/4, thi thể anh Nguyễn Công Nhựt (SN 1981, Trưởng phòng Quản lý sản phẩm của Công ty Kumho) được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương để khám nghiệm tử thi. Hai bức thư nói gì? Chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền, vợ anh Nhựt cho biết, chị được Công an huyện Bến Cát thông báo chồng chết vào sáng 25/4. Đến sáng 26/4, khi gia đình đến trụ sở Công an huyện Bến Cát, thi thể anh Nhựt đã được đưa về Bệnh viện Đa khoa Bình Dương.
Lúc này, gia đình chị Tuyền được công an đưa 2 bức thư được cho là thư tuyệt mệnh của anh Nhựt. Trong 2 bức thư, một được cho là gửi cho chị Tuyền, bức còn lại gửi cho các cán bộ điều tra Công an huyện Bến Cát. Lá thư ghi “Gửi vợ!” có đoạn: "Qua mấy ngày điều tra chồng mới biết trong phòng quản lý sản phẩm toàn là thành phần trộm cắp. Nhưng trong đó lại không có chồng. Chỉ vì một chút sơ sót mà vi phạm tội tày trời… Ở khung hình phạt này có sẽ bị vào tòa án ngồi đếm lịch 15 đến 20 năm. Cuộc đời này như vậy thì kết thúc sớm sẽ tốt hơn". Trong bức thư được cho gửi cán bộ điều tra, viết: "Nếu em có mất đi các anh hỗ trợ giùm em và giúp đỡ cho em được về quê an toàn, em cảm thấy bế tắc vì những gì trước đây em làm việc còn sao lãng, em đang bị nhiều bệnh lại thêm vụ án này vào em đang quẫn trí lắm rồi". Tường trình của vợ nạn nhân Tiếp xúc chúng tôi, chị Tuyền và người thân trong gia đình nạn nhân cho rằng, nét chữ trong 2 bức thư tuyệt mệnh không giống nét chữ thường ngày của anh Nhựt. Trước đó, gia đình nạn nhân không đồng ý ký biên bản, hoàn tất thủ tục để tiến hành khám nghiệm tử thi theo đề nghị của cơ quan chức năng địa phương. Họ yêu cầu việc khám nghiệm tử thi phải do một cơ quan độc lập thực hiện để đưa ra kết luận khách quan.
Theo tường trình của chị Tuyền, trong tháng 8/2010, chồng mình cùng đồng nghiệp phát hiện công ty bị mất 56 lốp xe ô tô và đã báo lên lãnh đạo công ty. "Đến ngày 21/4/2011, đại diện công ty mời anh Nhựt lên hợp tác điều tra nhưng gia đình không biết. Thấy chồng không về, tôi đi tìm mới biết anh bị Nhựt bị đưa đi vào 12 giờ ngày 21/4 và đang bị Công an huyện Bến Cát tạm giữ… Sau đó, tôi nhận được tin anh đã chết", chị Tuyền tường trình. Theo hình ảnh gia đình chị Tuyền chụp được trước khi khám nghiệm tử thi, trên cổ nạn nhân có một sợi dây đen, quanh cổ, mu bàn tay, vùng háng nổi đỏ… Hoàng Mến Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin | ||||||
| Posted: 27 Apr 2011 12:25 PM PDT SGTT.VN – Người dân rỉ tai nhau, yến non có công dụng cường dương khi ngâm rượu và đại bổ. Vậy là người ta đua nhau tận diệt tàn nhẫn yến con mới nở, đưa về ngâm rượu. Thiên đường yến vì thế nay chỉ còn vài con.
Đảo yến (Quảng Đông, Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) là ngôi nhà của loài yến biển sinh sống từ hàng ngàn năm qua, nhưng nay đảo Yến bị chim yến khước từ bởi bàn tay con người. Yến đã bỏ đảo ra đi mà theo lời của chủ tịch xã nói: "Gần như tuyệt chủng". Cư dân xã Quảng Đông từ xưa đặt tên đảo hoang cách bờ chừng 2 hải lý là đảo Yến bởi chim yến nhiều vô kể. Trong các sách địa chí địa phương từng nói sản phẩm yến từ đảo Yến đã được đưa ra Thăng Long để vua ngự từ cách đây hơn 600 năm. Nhưng nay loài yến ở hòn đảo 32ha này đã bỏ đảo ra đi bởi cách đối đãi tàn nhẫn của bàn tay con người. Bắt chim non về chiên mỡ ăn Người Quảng Đông tự hào với đảo Yến đã cho họ sản vật đặc sắc từ mấy trăm năm, nhưng trong vòng chục năm trở lại đây, họ không nâng niu chim yến như tiền nhân từng trọng vọng. Một người dân kể: "Có những lúc mùa yến đẻ, bầy tui ra đảo không chỉ lấy tổ mà lấy trứng từng giỏ, bắt chim non về chiên mỡ ăn".
Một thanh niên tên T. nói: "Mấy ông già không leo trèo được thì lấy sào chọc cho chim con rớt xuống, đầu đập vào đá chết, đưa về kho ăn. Một nồi như thế có khi kho cả cân, còn đám thanh niên trai tráng tận thu mọi thứ, hết chim non thì bẫy bắt chim bố mẹ về làm mồi nhậu". Khi đã thử hết mọi cách để thưởng thức yến sào, yến non, trứng yến, yến bố mẹ thì không biết từ đâu, người dân rỉ tai nhau, yến non có công dụng cường dương khi ngâm rượu và đại bổ. Vậy là dân bản địa đua nhau tận diệt tàn nhẫn yến con mới nở, đưa về ngâm rượu. Ông Võ Quang Đạt, chủ tịch UBND xã nói đó là sự thật mà người dân địa phương đã ra tay với yến. Và một nguyên nhân nữa được ông đưa ra khi yến rời đảo Yến đến mức "gần như tuyệt chủng" là do mới đây hai năm, người ta đã đưa thuốc diệt chuột, diệt gián vào phun trong hang để đuổi gián nhằm làm du lịch thì đã vô tình làm thay đổi hoàn toàn môi trường ở của yến khiến yến cũng rời bỏ hang ra đi. Đảo Yến như đảo hoang Để chứng thực lời kể, chúng tôi theo một ngư dân bản địa ra đảo. Khoảng ba mươi phút, thuyền máy đã cập bờ. Trên hòn đảo này hiện trú ngụ 6 công nhân của Tổng công ty yến sào Khánh Hoà. Trước thực trạng hàng chục ngàn chim yến rời đảo không về trong hai năm qua, UBND xã có tờ trình và được UBND tỉnh chấp thuận hợp tác với tổng công ty yến sào Khánh Hoà đưa máy móc, thiết bị, kỹ thuật, cũng như kinh nghiệm ra đảo Yến "dụ" yến về lại tổ. Một công nhân nói, đã hai tháng nằm trên đảo Yến, cả tổ chỉ dụ được 6 cá thể yến.
Hòn đảo 32ha từng là thiên đường yến lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ nay chỉ còn vài cá thể yến khiến ai nấy không thể tưởng tượng được bàn tay con người đã làm biến mất hoàn toàn một gia tài quý giá mà ông cha để lại. Ngư dân tên N.kể: "Thời bao cấp, quá đói, nhiều khi bắt chim non về ăn với khoai thay cơm. Thời đó yến bay đen kịt đảo, chừ ra đảo thấy hoang vắng bóng yến mà thấy mình ác quá, chừ nghe đến công dụng yến sào mà thấy mình ngu, sống gần mỏ "vàng" mà không biết giữ để rồi tiếc cũng không có được như xưa". Ông Võ Quang Đạt tiếc nuối: "Phải chi trước đây xã có những ràng buộc bảo vệ bằng định chế từ các xóm thôn thì chắc bây giờ không xót lòng. Nay bằng mọi giá, chúng tôi kêu gọi người dân không hành xử như trước mà tôn trọng yến, cùng chung tay tạo môi trường cho yến về lại với đảo Yến". Về Quảng Đông, nói chuyện đảo Yến vắng chim yến, người dân ai cũng cho rằng, một thời nhận thức kém đã dẫn đến sự ra đi gần như bặt tăm một loài chim quý. Họ ngậm ngùi vì chính bàn tay họ đã đẩy một đảo Yến quý giá thành nơi chim yến không thể tự tin bay về. Quốc Nam Filed under: Môi trường Tagged: Môi trường | ||||||
| Voi ở Việt Nam ‘sẽ tuyệt chủng trong 10 năm tới’ Posted: 27 Apr 2011 12:25 PM PDT Sau vụ con voi ở Đà Lạt bị chém chết, các chuyên gia động vật hoang dã cảnh báo rằng số lượng voi ở Việt Nam ngày càng suy giảm và sẽ tuyệt chủng.Ông Scott Roberton, giám đốc quốc gia tại Việt Nam của Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) trao đổi với VnExpress về thực trạng bảo tồn loài voi ở Việt Nam. - Con voi đực tên Back Khăm ở Đà Lạt vừa bị giết với những vết chém nghiêm trọng trên thân thể. Ông nhìn nhận như thế nào về sự việc này? - Tại Việt Nam, trong vòng 19 tháng qua, ít nhất 10 con voi được phát hiện bị giết hại tại tỉnh Đồng Nai và Đắk Lắk. Số lượng voi ở Việt Nam, kể cả voi nhà lẫn voi trong tự nhiên đang đối mặt với nguy cơ bị tận diệt trên toàn quốc. Vụ giết hại voi Back Khăm là một lời nhắc nhở nữa về tình trạng này và chính con người phải chịu trách nhiệm về tình trạng cực kỳ nguy cấp của loài voi. Với mức độ giết hại như thế này, loài voi sẽ tuyệt chủng ở Việt Nam trong vòng 10 năm tới.
Tại Việt Nam, voi châu Á đang ở ngã rẽ quan trọng đối với sự sống còn của chúngdo nạn săn bắt và mất môi trường sống. Con voi bị giết là một con voi nhà, không phải voi sống trong tự nhiên. Khi người ta mang con voi từ bầy đàn về nuôi nhốt trong khu du lịch, con voi đó không còn tiếp tục nhiệm vụ của nó trong tự nhiên. Tách một con voi ra khỏi thiên nhiên, thuần dưỡng nó rồi bắt nó sống trong một khu du lịch để con người có thể cưỡi lên chỉ có một mục đích: lợi nhuận tài chính cho con người. - Ông đánh giá thế nào về công tác bảo tồn động vật hoang dã ở Việt Nam? - Những loài động vật hoang dã đang bị đe doạ như linh trưởng, rùa, hổ và voi có nguy cơ tuyệt chủng trong 10 năm tới. Việt Nam đã thua trong cuộc chiến cứu loài tê giác Java vào ngày 29/4/2010 (ngày xác con tê giác được cho rằng là cuối cùng của Việt Nam được tìm thấy). Các loài động hoang dã của Việt Nam sẽ biến mất rất nhanh, vì thế chúng ta cần hành động ngay, hoặc không còn cơ hội nữa. Chúng ta không cần thêm bất kỳ bài phát biểu hay kế hoạch hành động hay đánh giá nào nữa, đã đến lúc phải bắt tay vào hành động ngay, trước khi quá muộn. - Theo ông, do đâu mà ở Việt Nam tồn tại tình trạng săn bắt trái phép các loài động vật được bảo vệ? - Việt Nam là một trong những thị trường tiêu thụ và buôn bán động vật hoang dã và những sản phẩm bắt nguồn từ động vật hoang dã để làm thuốc, lấy thịt, nuôi cảnh và đồ trang trí. Điều này khiến các loài động vật hoang dã bị đe dọa. Hệ thống luật pháp về bảo tồn của Việt Nam có đủ năng lực, nhân lực, tài chính. Bên cạnh đó lại có đầy đủ các luật và quy định nhằm đảm bảo sự sống còn của các loài động vật hoang dã trong tự nhiên. Điều mà Việt Nam còn thiếu chính là quyết tâm và việc thực thi một cách có hiệu quả các luật đó trong việc chống các tội ác về động vật hoang dã. - Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm của các nước trên thế giới thành công trong việc bảo tồn động vật hoang dã? - Có nhiều nước là tấm gương trong việc bảo tồn động vật hoang dã. Điều quyết định thành công của họ là thực thi luật một cách nghiêm ngặt. Ấn Độ là một điển hình. Đây là một trong hai quốc gia đông dân nhất thế giới, nhưng Ấn Độ vẫn bảo tồn được mật độ đa dạng sinh học giàu có của mình.Loài hổ đang tăng số lượng ở nhiều khu bảo tồn tại Ấn Độ vì họ bảo vệ chặt chẽ các khu này. Tại Nepal, tê giác đã được cứu khỏi bờ vực tuyệt chủng ở thông qua việc thực thi pháp luật một cách hiệu quả và mạnh mẽ. Hương Thu Filed under: Môi trường Tagged: Môi trường | ||||||
| Bảo vệ chủ quyền không thể chỉ nói chay Posted: 27 Apr 2011 12:24 PM PDT
Đáng tiếc, đó lại là phút hạnh phúc không thường gặp, bởi đây là tài liệu hiếm hoi được chuyển ngữ. Không ít công trình nghiên cứu công phu của Việt Nam đành chỉ dành cho người Việt, bởi không có kinh phí và nhân lực chuyển tải sang tiếng Anh, tiếng Pháp, hay tiếng Trung. Lại nữa, dày công nghiên cứu để có một công trình khoa học về Biển Đông được giải thưởng quốc tế, được giới khoa học nước ngoài trích dẫn, thế nhưng đứa con tinh thần của TS Nguyễn Hồng Thao sau thời gian dài vẫn chưa được cho chào đời tại Việt Nam.
Bản thảo đề tài nghiên cứu bằng tiếng Pháp của ông sau nhiều năm dịch sang tiếng Việt vẫn đợi một nhà xuất bản đủ dũng cảm dám in. Có tài liệu quý mà không biết để xài là niềm trăn trở của nhiều học giả tại hội thảo quốc gia lần 2 về vấn đề Biển Đông do Học viện Ngoại giao tổ chức ngày 26/4. "Chúng ta đã có website về nghiên cứu Biển Đông (nghiencuubiendong.vn) thế nhưng chưa có một tài liệu nào được dịch ra tiếng Trung để đưa lên, bởi nhân sự mỏng quá, làm không nổi", một thành viên của chương trình nghiên cứu Biển Đông chia sẻ. Vấn đề chủ quyền lãnh thổ, theo các học giả, không thể nói chay mà được. "Nếu xem dư luận về vấn đề Biển Đông là một tờ giấy, thì lâu nay, chúng ta đã để mặc tờ giấy trắng cho nước khác thích vẽ gì thì vẽ. Dư luận thế giới vì thế một chiều, thiếu khách quan và bất lợi cho Việt Nam", một học giả nói. Tình hình khu vực, quốc tế và vấn đề Biển Đông đang thay đổi cực kì mau lẹ, mà Việt Nam vẫn "còn ngổn ngang trăm mối", từ chuyện bản đồ, hệ thống tư liệu, chứng cứ lịch sử, căn cứ pháp lý đến vấn đề con người… Nhiều bước chuyển Hai năm sau hội thảo mở đầu tiên về vấn đề Biển Đông được tổ chức tại Hà Nội, ngày 26/4, gần 80 học giả Việt Nam đã cùng ngồi lại, thảo luận về tình hình Biển Đông, đánh giá những bước chuyển trong cục diện và điều chỉnh quan điểm của các bên và đưa ra các khuyến nghị chính sách cho Việt Nam. Đã bớt những dè dặt, nghi ngại khi thảo luận về vấn đề Biển Đông của 2 năm trước, các học giả đã cởi mở và thẳng thắn mổ xẻ những chuyển biến nhanh chóng của tình hình Biển Đông.
Những diễn biến đặc biệt mau lẹ với một loạt động thái của các bên tuyên bố chủ quyền cũng như các quốc gia có lợi ích liên quan ở Biển Đông: sự kiện tàu Impeccable, việc Việt Nam và Malaysia nộp báo cáo chung về ranh giới ngoài thềm lục địa, Trung Quốc lần đầu tiên công khai yêu sách đường lưỡi bò, Indonesia gửi công hàm phản đối, ARF 17 với việc 14/27 nước phát biểu về Biển Đông… và mới đây nhất là việc tàu Trung Quốc xua đuổi tàu thăm dò của Philippines dẫn tới việc Philippines gửi công hàm phản đối… Vấn đề Biển Đông từ chỗ chỉ là tranh chấp giữa các nước trong khu vực đã trở thành một trong những vấn đề quốc tế. Không cần quốc tế hóa, bản thân vấn đề Biển Đông đã tự nó quốc tế hóa. Thế giới ngày càng quan tâm đến việc gìn giữ an ninh, ổn định và thịnh vượng ở Biển Đông và khu vực. Các nước lớn đã có nhiều điều chỉnh trong chính sách Biển Đông, đặc biệt là Hoa Kỳ. Không chỉ loanh quanh trên bàn thảo luận của của ASEAN hay ASEAN với Trung Quốc, vấn đề Biển Đông nay được đem ra bàn thảo ở những diễn đàn đa phương quốc tế, thậm chí trở thành đề tài ở Liên hiệp quốc. Ở bình diện ASEAN, vấn đề Biển Đông cũng thay đổi, trở thành vấn đề khá nổi bật trong chương trình nghị sự của ASEAN, thể hiện rõ quyết tâm chuyển từ Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) sang Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC). Trong khi Trung Quốc ngày càng quyết đoán thì các nước ASEAN cũng ngày càng tự tin, có lập trường ngày một rõ ràng về hoạt động của các bên liên quan trên Biển Đông và các vấn đề ở Biển Đông. Hơn nữa, lập trường của Trung Quốc cũng đã có nhiều thay đổi. Thay vì né tránh viện dẫn Công ước về Luật biển 1982 như trước kia, nay dường như Trung Quốc có xu hướng sử dụng Công ước về Luật biển nhiều hơn. Các hành vi ngoại giao cũng như hành vi trên thực địa của Trung Quốc cũng có những thay đổi. Ngay quá trình đàm phán về vấn đề Biển Đông cũng bắt đầu có nhiều chuyển biến khi các nước bắt đầu đàm phán trực tiếp về COC, sau thời gian dài trì trệ, 10 năm với chỉ 5 cuộc họp về DOC và không thúc đẩy được gì nhiều. Công khai và thực chất hơn Hai năm qua, theo các học giả, Việt Nam cũng đã có chuyển biến quan trọng trong tư duy, chính sách và các biện pháp bảo vệ chủ quyền biển đảo và giữ ổn định tình hình Biển Đông. Một học giả dẫn lời TS. Ian Storey từ Viện Nghiên cứu ĐNA của Singapore, cho rằng, chính sách Biển Đông của Việt Nam hơn 2 năm qua là tổ hợp các hướng: đàm phán song phương với Trung Quốc, khu vực hóa thông qua thúc đẩy ASEAN trong vấn đề DOC và Biển Đông, quốc tế hóa vấn đề bao gồm tạo đan xen lợi ích quốc tế, nộp báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa và tổ chức hội thảo khoa học quốc tế và hiện đại hóa quân đội nhằm hỗ trợ cho ngoại giao. Với các học giả tham dự hội thảo, tuy chưa thể định danh cụ thể bước chuyển đó ra sao, nhưng là người trong cuộc, họ đều cảm nhận được rõ ràng những thay đổi ấy.
Chỉ xét riêng trong giới học thuật, hai năm qua, các ý kiến cực đoan về Biển Đông không còn nữa. Số bài viết về Biển Đông tăng lên gấp bội. Số người nói công khai về những vấn đề xảy ra ở Biển Đông cũng tăng lên nhiều lần. Khuyến nghị 4 hóa: Xã hội hóa, Công khai hóa, Quốc tế hóa và Phi nhạy cảm hóa được đưa ra từ Hội thảo về Biển Đông 2 năm trước đang đi vào thực tế, dù vẫn có những phàn nàn về việc thiếu thông tin, mập mờ giữa mật hay không mật. Nếu như trước năm 2008, hàng năm ở khu vực ĐNA chỉ có Hội thảo kiểm soát xung đột ở Biển Đông tại Indonesia và một số ít hội thảo nhưng chỉ bàn về hợp tác, thì nay, số hội thảo về Biển Đông tăng nhanh. Không chỉ Việt Nam, trong năm 2010, các nước Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Indonesia và Singapore đều tổ chức hội thảo quốc tế về Biển Đông. Không chỉ mang tính thăm dò, các hội thảo đã đi vào bàn nội dung thực chất của vấn đề Biển Đông, nhìn từ nhiều khía cạnh, cả lịch sử, pháp lý, quan hệ quốc tế và các khía cạnh khác. Dũng cảm tăng tốc Tạm ghi nhận những nỗ lực thời gian qua, các học giả cho rằng đến lúc Việt Nam phải dũng cảm tăng tốc trong công tác nghiên cứu cũng như triển khai liên quan đến Biển Đông. Nhìn sang nước láng giềng Trung Quốc, trong thời gian ngắn, nước bạn đã có thêm 36 luận án tiến sĩ liên quan đến Biển Đông, trong đó 20 luận án được làm tại nước ngoài. Hiện Trung Quốc cũng đã có một chuyên gia luật quốc tế đang là thẩm phán trong Tòa án Công lý Quốc tế, một chuyên gia hàng hải thuộc nhóm 21 thẩm phán tại tòa án quốc tế về luật Biển, một chuyên gia khác là thành viên của UB về ranh giới thềm lục địa. Trung Quốc còn tham gia ba tổ chức khu vực được thiết lập nhằm bảo vệ môi trường biển tại các vùng biển chung ở Đông Á. Trung Quốc còn là thành viên của UB nghề cá Tây và Trung Thái Bình Dương. Không tăng tốc, chúng ta sẽ khó bắt nhịp với bước chuyển của thực tế đang diễn ra đặc biệt mau lẹ, một học giả lưu ý. Phải nghiên cứu cho sâu, đào cho kĩ tài liệu, mài cho sắc lập luận… Việc nghiên cứu hiện nay mới chỉ như muối bỏ bể. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đi đôi với việc tiếp tục sưu tầm, hoàn chỉnh các tài liệu gốc, Việt Nam cần dịch tài liệu sang các thứ tiếng và quảng bá rộng rãi các tài liệu, cùng với đó là phải chỉnh sửa và bổ sung các thông tin chưa chính xác hay còn thiếu. Song song với việc củng cố lập luận của Việt Nam, việc nghiên cứu cơ sở pháp lý của các nước liên quan trong tranh chấp cũng quan trọng và có vai trò tương đương. Do vậy, cần phải rà soát lịch sử, các tư liệu, bản đồ của các nước có liên quan một cách hệ thống, khoa học và khách quan. Và quan trọng hơn, các sản phẩm nghiên cứu phải được công khai cho dư luận thế giới. Nói như TS Nguyễn Nhã, để bảo vệ chủ quyền, ông và mỗi người Việt Nam "phải có cho mình một kế hoạch nhỏ". Có lẽ, phải nói thêm, các kế hoạch nhỏ ấy phải có sự liên kết, kết nối với nhau, trong một sự phân vai trên cơ sở thống nhất về hướng đi. Phương Loan Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông | ||||||
| Thủng thẳng với thơ… (phần 13) Posted: 26 Apr 2011 01:55 PM PDT …Nói cách khác, hình ảnh, hình tượng, triết lý, trí tuệ đều làm nên bởi câu chữ, mà câu chữ sử dụng trong thơ là câu chữ của vần điệu. Sẽ có người nói rằng: Thơ tự do chính là thơ không vần! Đúng, nó không nằm trong qui luật vần thông thường, nó tuân theo qui luật vần ẩn, vần kín kín đáo nằm trong nhịp điệu, trong các thanh bằng chắc và chấm phẩy. Đó là sự tự do trong giới hạn thơ, chứ tuyệt nhiên không phải tự do là muốn lắp ghép từ ngữ thế nào cũng được… Những Người Đãi vàngThực ra trong cách nói văn vẻ này tôi không chỉ dừng lại ở việc chọn chữ. Mà phải nói khái quát một quá trình chọn: Hình tượng, hình ảnh, câu, chữ, vần điệu… Quá trình chọn được tiến hành như thế nào? Lúc mới tập làm thơ (tất nhiên là bây giờ cũng vẫn tập) tôi đóng khá nhiều những sổ tay, trong sổ đó tôi ghi chép những gì thuộc về thơ, và có liên quan đến thơ. Quá trình ghi chép này có bổ ích rất lớn là nó làm giàu trí tưởng tượng, ký ức và cảm xúc. Ngày nay, mỗi khi đọc lại những dòng ghi chép ấy còn nhặt chọn được khá nhiều những hạt vàng mà từ đó có thể đứng dậy những câu thơ hoàn chỉnh. Nhưng thực ra cái quan trọng và lợi ích không chỉ có thế, mà nó như một sự tích lũy vốn, trong mọi phương diện cho thơ. Có khi những ghi chép của tôi là một câu thơ, có khi là một mầm mống của tứ thơ, có khi là một hình ảnh và đặc biệt nhiều là chữ nghĩa. Quá trình ghi chép này thực sự là một quá trình rèn luyện rất thú vị. Xin dẫn ra một trang sổ tay trong đó tôi đã ghi chép nhiều lộn xộn như sau: Vì sao đời hoa quỳnh lại ngắn? Tâm trạng một đêm trăng? Nghĩ về lòng thủy chung của hoa, vì khi trăng tàn – người tình đã chết – thì cuộc sống của hoa còn ý nghĩa gì, chẳng lẽ dâng mình cho bướm, ong cho mặt trời. Hoặc: Sau cơn mưa trời đất như rộng ra Hoặc: Thử sử dụng chữ cầu với gió, chữ nhai với nắng, chữ ngủ với sông, chữ vô cùng làm sao có nét đẹp? Từ những dòng ghi chép ấy, tôi đã viết bài thơ (tập thì đúng hơn) về trăng và hoa quỳnh cả một kịch thơ nữa. Chữ vô cùng và chữ nhai nắng về sau tôi đã viết được những câu thơ như thế này: Là khi anh nói về em/ Bông hoa trước cửa tự nhiên nở bùng/ Trên cành một giọt sương rung/ Gió nhẹ vô cùng thổi mãi không rơi… / Con bò lạnh nhạt đứng nhai nắng tàn…/ Có rất nhiều tài liệu ghi chép sau này chỉ trở nên một mớ giấy lộn. Điều đó không có gì lạ, phải đãi bao nhiêu cát mới được một hạt vàng. Nếu không có một quá trình đãi lọc thì đừng bao giờ hy vọng có được vàng. Càng về sau công việc ghi chép của tôi càng ngắn gọn cô đúc và gợi cảm. Thí dụ: Lúc bình minh, mặt trời như quả bóng đỏ. Hoặc: Gió se se gợi nhớ đến áo rét. Hoặc sự luyến lập khác nhau: trập trùng, vô cùng, hào hùng, cây tùng, côn trùng, rùng mình, hãi hùng…Phải tinh lọc được trong quá trình ghi chép, càng tinh lọc được bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng nó càng nhiều bấy nhiêu. Ghi chép có nhiều loại. Ghi chép hình ảnh, ghi chép cảm xúc, ghi chép hình tượng, ghi chép một gợi ý, ghi chép từ ngữ, ghi chép nhạc điệu, ghi chép vần, ghi chép âm thanh… Quá trình ghi chép chính là quá trình gọt rũa lần thứ nhất. Nhiều quá trình gọt rũa lập đi lập lại gây cho trí óc có nếp gọt rũa, tự óc biết tiếp nhận và đào thải chất liệu cho thơ. Trong tất cả những ghi chép nói trên, ghi chép từ ngữ là điều thiết cốt hơn cả. Vì lẽ, từ ngữ quyết định cho việc hoàn chỉnh một hình ảnh, một hình tượng, quyết định mầu sắc, hương vị, quyết định nhạc điệu, thậm chí quyết định cả tình cảm của câu thơ nữa. Một ví dụ: Tôi đã viết được bài Từ Thức Bơ Vơ bắt đầu bằng hai chữ Bơ Vơ . Ôi, thực sự chẳng ai bơ vơ hơn Từ Thức, háo hức cõi tiên, tiên cho mượn cánh, lên miền tiên lại nhớ miền quê, nằng nặc đời về, tiên lại cho về, về quê, thân thích họ hàng, lân bang làng xóm chẳng một ai nhận ra Từ Thức, thế là miền quê từ chối, miền tiên không thể lên, đắng lòng về núi làm đời gió mây. Thật không có bơ vào nào hơn bơ vơ Từ Thức, bơ vơ cô đơn ngay trên chính quê hương mình. Khúc Từ Thức vừa từ miền Tiên trở lại miền quê mình: …Vẫn phiên chợ củ sông trưa/ Vẫn lưng ong thắt ngọt thưa mời chào/ Vẫn làn điệu ấy ca dao/ Cây đa bến nước lào xào gió chim/ Vẫn quai thao nón ai nhìn/ Hương tiên còn chút ta dìm vào sông/ Áo quần ta lại nâu sồng/ Thỏa thê mắt lại nghe trông mặt người/ Cuộc người dài được mấy mươi/ Mà uổng tạo hóa một thời con trai/ Không làm nên trúc nên mai/ Cũng xin là gió hát lời thiên nhiên/ Ta về như buổi chiều quen/ Dạo chơi trong núi chân đem nhớ về/ Cõi tiên tỉnh ngộ cơn mê/ Quê hương ơi gió bốn bề tay reo/ Mái gianh nhà cũ liêu xiêu/ Vai ai tựa cửa mấy chiều bặt tin… Cuộc về nguồn háo hức là thế, bao nhiêu lạ kỳ mắt thấy, tai nghe, bao nhiêu so sánh thật ảo, đẹp xấu hai cõi tiên-người, muốn thuật lại lời lòng cho xóm làng hiều, mà nuôi trí trai, sức gái làm người, bởi chẳng ở đâu đẹp tươi hạnh phúc hơn cõi người, hơn làng quê ta cả. Nhưng chỉ với mấy ngày sống ở cõi tiên, mà nơi cõi người đã là mấy trăm năm…Từ Thức đã phải chấp nhận hành trình bơ vơ. Lạnh nhạt ngày về: …Nghe chào đàn chó chạy ra/ Áo quần ta có gì là ngạc nhiên/ Sao ngơ ngác những mắt nhìn/ Lạ xa chi phải dò tìm mặt nhau/ Sao không đáp lại mấy câu/ Vênh vênh diễu võ ngầu ngầu dương oai/ Chó vây tiếng sủa inh tai/ Con bò lạnh nhạt đứng nhai nắng tàn/ Rằng tôi Từ Thức…ồ ran/ Ngắt lời nghe rợn tan tan sóng cười/ Trẻ già cười mãi không thôi/ Chuyện đâu có chuyện lạ đời ngô nghê/ Rằng tôi Từ Thức đã về/ Già làng quắc mắt tay kề đốc gươm/ Chuyện hoang đường, quá hoang đường/ Khùng điêm sao dám vơ quàng nhận xiên/ Tổ chúng ta đã quy tiên/ Chiếu trăm năm trước mây biền biệt bay… Dù biết không còn cơ may sống cùng thế hệ đồng bào thời mình, Từ Thức vẫn kịp chia sẻ với đồng bào các thế hệ sau lời chân thành, dù cay đắng: … Đừng rằng ta kẻ loạn ngôn/ Chê đời tiên để về trần làm dân/ Quê nghèo vật lộn miếng ăn/ Ngô khoai nuôi một tấm thân lưng dài/ Gánh gồng mòn vẹt bờ vai/ Vợ ta vẫn chỉ một lời thương yêu/ Con ta đời lại vòng vèo/ Cái khổ theo một guồng nghèo cứ quay/ Thì ta vẫn cứ về đây/ Là chim chẳng sống xa bầy được đâu/ Lưng dài ta bắc nên cầu/ Vai rộng ta biết thay trâu cày bừa/ Lòng buồn đã có bạn thơ/ Con chim cuốc cuốc trưa hè thôi kêu/ Ruột bầu vợ nấu canh nghêu/ Chồng chan, con húp bao nhiêu nghĩa tình… Và rồi Từ Thức đón nhận cho mình hai chữ bơ vơ: Phận tôi Tứ Thức phận tôi/ Bơ vơ về núi làm đời gió mây… Thêm một ví dụ. Như trên đã viết, thử dụng chữ cầu (cây cầu, không phải nguyện cầu) với chữ gió. Tôi đã cứ miên man nghĩ như thế mãi, cho đến bữa kia, Cầu Gió thành bài thơ dài viết về Cầu Long Biên vắt ngang sống Cái. Trước khi viết được bài này, tôi đã có viết một bài Cầu Long Biên, khá đẹp, được đăng báo Văn Nghệ TW, còn nhớ bài thơ đó có mấy câu thế này: / Sông Hồng thướt tha như tóc người con gái/ Cầu Long Biên đẹp tựa chiếc nơ cài/ Cầu bắc qua sông lành hiền như nắng mai/ Đón những chuyến xe đi gọi những chuyến tầu vế tấp nập…/ Đại loại vây, tôi cón thích bài đó cho đến khi viết được bài Cầu Gió thì bài thơ kia gần như bước ra khỏi khu vực thơ tôi. /Gió vẫn gió nhưng gió thời đó/ Hình như rất thơm/ Gió ngồi thảm cỏ/ Mải mê gió vẽ sông Hồng…/ / Gió vẫn gió nhưng gió ngày đó/ Hình như giữa hạ/ Sợ mồ hôi mặn cỏ/ Gió đứng một chân/ Gió vẽ/ Khúc sông xưa gió vẽ cây cầu/ Lại đám trẻ vớt củi rều xúm lại/ Ngắm nhìn cây cầu tranh/ Cầu thật lạ mà người thì quen lắm/ Nội mặc áo the/ Ngoại khoe yếm thắm/ Ngựa xe ríu rít qua cầu…/ Sự đứng được của bài thơ là kết quả của một quá trình tu từ và tu vần. Tôi thường luyện cách gieo vần như thế này; Tôi cố viết được tất cả những từ có thể ghép vần với từ mình sử dụng, thí dụ: từ đời, tôi đã tìm được những từ kết vận với nó: Đời, lời, mời, thời, ngời, người, lười, mười, rời, vời… Tìm như vậy chỉ để luyện tai quen nghe âm vận và khi sử dụng đỡ lúng túng, chứ tuyệt nhiên không phải tất cả những chữ tìm được đều huy động cùng một lúc và trong một bài. Vần trong thực tế ngoài việc làm cho ăn vận với câu trên hoặc dưới, nó còn có sức nổ dây truyền rất lớn, sức kêu gọi của vần liên tục, giúp một cách đắc lực cho việc hoàn tất một bài thơ. Sự trôi chảy con sông thơ là do hiệu quả vần, không phải không có những vần thơ phá hỏng cả bài thơ và ngược lại có những vần cứu cả bài thơ. Đối với người làm thơ khác như thế nào tôi không biết, chứ với tôi việc tu từ – tôi gọi là tu vần – là công việc chọn vàng chính. /…Gió trao cho đám trẻ cây cầu/ Đám trẻ khiêng cầu/ Vắt ngang sông gió / Quã thật, nếu không có chữ khiêng và chữ vắt thi ba câu thơ quá tầm thường nhat nhẽo. / Đám trẻ lớn lên / Rồi già thành gió/ Rồi lại sinh ra/ Sinh ra trẻ vớt củi rều/ Củi rều nhóm lửa/ Bếp lửa lùi khoai/ Bếp lửa mài gươm đọc sách/ Bếp lửa giao duyên/ Giao duyên lời thề non nước/ Tượng hình con gái con trai/ Tượng hình dòng sông đầy gió/ Trên sông có cây cầu gió vẽ/ Quê hương còn đó gió về…/ Nếu không có chữ giao duyên trên quyện vần với chữ giao duyên dưới và khái quát vấn đề thì bài thơ sẽ lạc đến tận đâu! Giao duyên lời thề non nước Việc tu vần đã khiến cho những câu thơ viết ra đạt được những tiêu chuẩn nhất thiết phải có của nó, về tính họa trong thơ, tính nhạc trong thơ, tính tư tưởng trong thơ. Khi đã đạt được một trong số những tiêu chuẩn nói trên thì câu thơ ấy đã có thể đứng được trong hoàn cảnh toàn cục của nó. Công việc tu vần (hay tu từ) giúp được rất nhiều cho việc sử dụng những từ mòn, sảo, những từ trừu tượng. Thí dụ: Theo bầy đàn, tôi bắt chước thích dùng từ thân thương, sôi động, thẳm sâu…Nhưng khi dùng mà không đúng chữ của nó khiến nó trở nên sáo mòn, gượng gạo, vô bổ. Về sau, tôi rất sợ dùng những từ này, thậm chí tôi ghét lây cả những người đã sử dụng nó. Ngôn ngữ vốn không có lỗi gì, lỗi là do người sử dụng nó không đúng chỗ, lạm dụng nó, sử dụng mà không hiểu nghĩa đã khiến nó chết yểu. Quá trình tu vần tôi thường một mình đọc to câu thơ mình viết, tìm sự thuận tai nhất trong khả năng của nó. Thí dụ có khi dùng ca ngợi, lại có khi đảo thành ngợi ca, hoặc mến thân, thân mến. Quá trình đọc to chính là quá trình hiện hình trong nghệ thuật nhiếp ảnh, dạo đàn trong nghệ thuật âm nhạc, nhiều sàng lọc, sửa chữa thành đạt nhờ việc đọc to này. Nhắc lại: Việc tu vần đã góp phần rất quan trọng cho bài thơ thành công. Nói cách khác, hình ảnh, hình tượng, triết lý, trí tuệ đều làm nên bởi câu chữ, mà câu chữ sử dụng trong thơ là câu chữ của vần điệu. Sẽ có người nói rằng: Thơ tự do chính là thơ không vần! Đúng, nó không nằm trong qui luật vần thông thường, nó tuân theo qui luật vần ẩn, vần kín kín đáo nằm trong nhịp điệu, trong các thanh bằng chắc và chấm phẩy. Đó là sự tự do trong giới hạn thơ, chứ tuyệt nhiên không phải tự do là muốn lắp ghép từ ngữ thế nào cũng được, không tôn trọng một nguyên tắc nào. Tôi đã thử làm thơ tự do, thử nhiều lần và nhận thấy thể thơ tự do cũng có vần điệu của nó – tôi gọi là vần không thông thường.Tuy nhiên, thơ vần hay không vần điều đó không quan trọng, mà quan trọng là sử dụng những chất liệu từ ngữ vần hoặc không vần nhưng làm nên điệu thơ. Thực ra người làm thơ không cố chấp về vần – ở đấy phạm trù tu vần trên thực tại là tu từ – Tu những từ thơ. Xét về phương diện tu vần, nhận thấy, những vần chắc gam mầu thường nóng, ức chế một phẫn nộ nội tâm, là những nốt cao trong nhạc. Còn những vần bằng gam mầu thường lạnh, mang tâm tình buồn vui, than thở, là những nốt trung trầm và trầm trong nhạc. Đối với hai loại vần này, vần bằng hợp hơn với thơ và chứ nhiều nhạc điệu, vần chắc khó sử dụng hơn vì chất điêu khắc họa hội họa của nó. Do vậy, có thể làm một bài thơ toàn thanh bằng, chứ không nên làm một bài thơ toàn thanh chắc. Nếu quan niệm thật đúng đắn về công tác tu từ, tu vần thì những hạt vàng nhặt được ngày mỗi nhiều thêm và tất nhiên càng nhiều hạt vàng trong thơ thì giá trị bài thơ ấy càng tăng. Với tôi, sự thành công thuộc về công việc đãi vàng này. Người làm thơ chính là người đãi vàng, đừng quên! Filed under: Thơ, Văn Hóa Tagged: Thơ, Văn Hóa |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |
No comments:
Post a Comment