Tuesday, November 16, 2010

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


70s Rock – Samba Pa Ti – Carlos Santana

Posted: 16 Nov 2010 01:10 PM PST

Chúng ta đã nói về Carlos Santa, nghệ sĩ guita của mọi thời đại trước đây. Carlos Santana, sinh ngày 7.20.1947, là nghệ sĩ guitar người Mỹ gốc Mễ Tây Cơ. Santana bắt đầu nổi tiếng cuối thập niên 60s đầu thập niên 70s, với ban nhạc do anh lập lấy họ của mình làm tên, Santana, chơi một loại nhạc rock trộn lẫn rock, Salsa và jazz, cùng với đường guitar ngọt lịm bóng bẩy của Carlos, và các nhạc cụ Nam Mỹ như trống congas và timbales.

Dưới đây là bản Samba Pa Ti do Santana trình diễn năm 1971 và

Samba Pa Ti – Santana – 1971


.

Samba Pa Ti – Santana – 2007


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa

Căn bản khiêm tốn hàng ngày

Posted: 16 Nov 2010 01:10 PM PST

Chào các bạn,

Nếu các bạn đọc về chuyện các võ sinh ngày xưa xin học võ, thì đều biết là các cậu mới nhập môn thường chẳng được dạy một miếng võ vào, nhưng cứ phải bị làm việc hạ tiện nặng nhọc như gánh nước, bổ củi, quét nhà, quét sân… Có khi cả vài ba năm như thế rồi mới từ từ được dạy vài miếng quyền cước.

L‎ý Tiểu Long lúc bắt đầu học Thiếu Lâm Vĩnh Chấn ở Hồng Kông cũng than 3 năm đầu thầy chẳng dạy gì cả, chỉ có các đàn anh ngày nào vào cũng dợt với mình mấy cú đấm mấy cú đá nhập môn, cả 3 năm như vậy chẳng thấy võ vẻ gì cả.

Thực sự là các việc nặng nhọc làm cho tay chân mạnh mẽ, đó là căn bản thể chất của con nhà võ. Các việc hạ tiện để nhẫn nhục, khiêm tốn và tĩnh lặng, đó là căn bản tinh thần của con nhà võ. Cho nên vài năm đầu làm các việc hạ tiện nặng nhọc thực ra là người võ sinh đang xây đắp nền tảng căn bản nhất cho võ học của mình.

Khi vững căn bản rồi mới bắt đầu học quyền cước, tức là lúc đó là lúc xây tường trên nền móng đã được đúc vững chắc.

Học môn gì cũng vậy, trước tiên luôn luôn là xây dựng nền tảng vững chắc, rồi sau đó mới vẻ vời biến hóa.

Căn bản sâu đậm nhất của tư duy tích cực là "khiêm tốn, khiêm tốn và khiêm tốn". Nếu chúng ta sử dụng mỗi phút trong ngày tập trung vào khiêm tốn, thì đó là đang xây dựng nền tảng sâu đậm nhất.

Tự bảo trong lòng mình phải khiêm tốn với mọi người, tôn trọng và yêu mến họ ít nhất là ngang hàng với mình. Đừng thắc mắc, tôi có nên khiêm tốn trong trường hợp này không? Chẳng có trường hợp nào mà không cần khiêm tốn. Nếu bạn cần phải đập một tên cướp vặt một trận nên thân, thì hãy đập hắn một trận nên thân, nhưng trong lòng vẫn khiêm tốn trước khi đập, trong khi đập và sau khi đập. Khiiem tốn chẳng chỏi với điều gì cả, ngoại trừ kiêu căng.

Các bạn, khi ta đứng trong thế giới, thì ta chỉ có 3 cách nhìn về tương quan giữa ta và thế giới quanh ta:

- Cái quan trọng nhất với ta là chính ta: Đó là tự tập trung (self-centered), tự cao.
- Ta và thế giới quanh ta đều quan trọng như nhau : Đó là khiêm tốn.
- Thế giới quanh ta quan trọng hơn chính ta: Đó là khiêm tốn đã đến mức "không tôi".

Tất cả mọi đức hạnh (hay thiếu đức hạnh) khác của con người đều sinh ra từ ba cách nhìn này.

Cho nên, muốn khiêm tốn thì

(1) đừng nên tập trung vào "tôi, cho tôi và của tôi". Bạn đừng lo là làm thế bạn sẽ lơ là trách nhiệm chăm lo cho chính mình. Chuyện đó rất ít khi xảy ra, vì con người chúng ta sinh ra là đã tập trung vào "tôi, cho tôi va của tôi" cả ngày, cả đời. Cố xoay tư tưởng ra hướng tư duy khác thì khó, chứ lơ là "cái tôi" là chuyện không cần phải quan tâm (Trừ khi bạn sắp thành thánh, lo cho người khác đến nỗi bỏ bê chính mình quá đáng. Lúc đó mọi người sẽ bảo bạn nghĩ ngơi để chăm cho chính mình một tí.); và

(2) tập trung tư duy vào phục vụ mọi người, phục vụ cuộc đời.

Rất khó để dùng cả ngày của mình tập trung vào phục vụ "tôi, cho tôi , và của tôi" mà có thể khiêm tốn được. Như là cứ bơm bong bóng mà muốn nó xẹp nhỏ lại. Nó chỉ có thể nổ thôi.

Thiên kinh vạn quyển cũng chỉ nhắm vào một điểm: "Không tôi". Khiêm tốn. Đây là nền tảng số 1 của tư duy tích cực. Nếu bạn luôn luôn tập trung vào xây dựng nền tảng này mỗi ngày, thì các điều tốt khác sẽ tự động nẩy sinh, như đất được phù sa và nước đầy đủ hàng ngày thì tự đất sẽ nẩy sinh cây trái, bạn chẳng phải trồng. Và nếu có trồng thì cũng rất dễ.

Chúc các bạn một ngày khiêm cung.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Chuyện của bà cụ giữ đền

Posted: 16 Nov 2010 01:09 PM PST

    Giời ạ! bà lão coi đền một mình hàng chục năm, không sách báo, không tivi, mà nói cứ như " lãnh đạo" thế thì sao không một đồn mười, mười đồn trăm kia chứ.

Lên đến trại sáng tác Tam Đảo, tôi vẫn giữ thói quen đi bộ 4-6 cây số mỗi ngày. Cũng như trong mọi chuyến đi khác, mỗi buổi đi bộ ở một vùng đất ( mà 15 năm nay Giáo sư Tiến Sỹ Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam Tô Ngọc Thanh, thường bố trí cho luân phiên cho những kỳ họp Ban chấp hành), là một lần tôi tò mò và thú vị khám phá cảnh quan xung quanh. May mắn thì còn được làm quen cả với những người mới nữa. Nhưng điều này ít lắm, vì giờ đi bộ của tôi thường bắt đầu từ 5 giờ sáng.

Thời gian biểu ở Tam Đảo bỗng dưng bị đảo lộn. Bởi là dự trại sáng tác, nên viết lúc nào, viết gì, một mình một phòng, đâu có ai quản lý, tự mình là chính. Mạch sáng tạo đang tuôn trào, viết đến 2-3 giờ sáng cũng không sợ chồng than phiền? Lúc nào trời quang mây tạnh, dạo quanh ngắm những vườn su su xanh rờn, trái lúc lỉu, bám vào các sườn đồi theo kiểu ruộng bậc thang; thích thú với những thùng xốp, chậu cảnh trồng rau cải, su hào.. . Sáng sương mù quá dày thì ba giờ chiều mới tất tưởi xuống chợ, hiu hắt, lèo tèo vài hàng lá thuốc gắn nhãn " đặc sản Tam Đảo". Chợ chỉ họp ngày thứ bảy và chủ nhật, bán nhiều nhất là su su, khoai môn và chuối. Mật ong và thuốc thì…bụng bảo dạ " chẳng biết thực hư thế nào" Hôm nào sau giờ ăn sáng thấy hửng nắng thì 9 giờ lên núi ngắm hoa bìm tím, hoa cúc dại vàng, trắng đung đưa theo gió dọc ven đường ( thế mà chúng tôi cũng vòng vo hết mọi con đường quanh co của khu du lịch cao tới hươn 3.000m này đấy. Đêm đến, trùm kín hai lớp chăn bởi nhiệt độ xuống tới dưới 10 độ ( nghe nói đã có những ngày ở Tam Đảocao nhất là 30 độ và thấp nhất 4 độ, nước đã đóng băng) …Ngán nhất là ở trại sáng tác không truy cập được mạng Interrnet, thậm chí trạm Bưu điện cũng đóng cửa im ỉm vắng như chùa bà Đanh, bởi không có khách, (may mà còn có truyền hình cáp để cùng " nóng" với nghị trường Quốc hội lẫn thắt lòng lo lắng ngập lụt ở khúc ruột miền Trung )

Mấy ngày ở Tam Đảo, tôi đã kịp nhìn thấy hàng chục ngôi biệt thự đủ kiểu dáng từ 3 đến 7 tầng lầu đêm đến không ánh đèn, mỗi tuần chỉ hai ngày cuối tuần dập dìu du khách; ngắm nhiều tòa nhà chưa kịp xây xong đã trở thành phế tích ( Vậy mà vẫn có vài biệt thự xanh xanh , hồng hồng, xam xám nữa đang hối hả hoàn thiện đấy). Cũng đã tò mò dạo tìm nơi nào còn dấu vết hơn một trăm ngôi dinh thự của khu nghỉ mát xa xỉ, sở hữu của người Pháp và một số nhà tư sản Hà Nội xây dựng từ năm 1905. Nhưng thật tiếc, chỉ còn độc nhất một ngôi nhà thờ đá với những thềm hành lang mái vòm,đẹp đến nao lòng, nhiều nhất là những bờ đá, bậc đá, mảng tường đen xỉn, dương xỉ mọc đầy. Đã trèo cả hơn 200 bậc thềm đá lên thắp nhang trên đền Bà Chúa Thượng ngàn; để biết thế nào là " thế giới đại đồng", khi trong cùng một khuôn viên, ngay đằng sau đền thờ thánh thần, có đại gia bỏ hơn 30 tỷ đồng rước rất nhiều tượng Phật và đang gấp rút cất lên một ngôi chùa nguy nga. Đã thành kính thắp nhang nơi đền thờ Đức Thánh Trần, có bằng công nhận Di tích lịch sử mà chẳng thấy ai công đức để tôn tạo. Chẳngt phải tôi me tín gì, nhưng các cụ ta xưa dạy " Có thờ có thiêng, có kiên có lành". Tôi chỉ cầu xin các vi Thánh, Thần, Tiên, Phật phù hộ cho bà con vượt qua được đận lũ quái ác này. Lại đã leo lên leo xuống hơn 300 bậc đá Thác Bạc, để rồi thất vọng với lạch nước nhỏ xíu đổ từ vách đá cao xuống lòng thung lũng đá. Ấy vậy mà phải ba lần qua lại, tôi mới vào được Đền Mẫu Giao Trì, bởi cứ thấy cửa đóng im ỉm. Mãi sau mấy người cùng trại mách bảo, mới biết mà bấm chuông gọi cửa.

Ngôi đền nhỏ xíu, tọa lạc trên một bờ đất chỉ rộng chừng vài chục mét vuông. Bà coi đền tên Khánh, năm nay đã 92 tuổi. Cụ ở một mình nhang khói cho các vị Thánh,Thần tiên đã hơn chục năm.Con cháu ở Hà Nội, ở nước ngoài đều thành đạt cả.Tuổi tác là vậy mà dáng vẫn nhanh nhẹn khi mở tất cả các cửa cho tôi vào thắp nhang. Gương mặt hồng hào, giọng vẫn sang sảng lắm.

Không giống những người giữ đến hay thủ từ trong các chùa chiền tôi đã đến, lặng lẽ làm việc, để du khách tự do cầu khấn hay công đức; Cụ chủ động mời ngồi chơi, hỏi chuyện, tỏ rõ thái độ ứng xử thanh lịch của người gốc Tràng An.( có lẽ cũng còn là tâm lý của người sống một mình,thích có người trò chuyện) Cụ bảo, trước đây cũng đã là Đảng viên tham gia kháng chiến chống Pháp, nhưng hết tuổi sinh hoạt thì thôi. Lấy việc công đức tu bổ, nhang khói đền chùa làm tài sản tinh thần để lại cho con cháu.

Có lẽ bởi gốc tích như thế, nên cụ nói chuyện rành rẽ, đâu ra đấy, chưa hề lẫn. Cái tính tò mò hay hỏi của một nhà báo trong tôi, liên tục bị cụ cắt ngang, vì " bác đừng hỏi, tôi nói cho mà nghe". Hết chuyện nhà đến chuyện nước, cụ bảo : Người Việt mình có 4 điều cần phải làm , làm được thì nước mới giàu, dân mới mạnh :

Một là phải giữ lấy chế độ cộng sản. Nó có thế nào cũng là gốc của người nghèo

Hai là phải tu bổ đền chùa cho tâm linh mọi người đều mát mẻ, đất nước mới thoát nạn ngoại xâm.

Ba là phải đẩy mạnh buôn bán thương mại với cả trong và ngoài nước ( theo cụ, chính doanh nhân mới là người làm giàu cho đất nước )

Bốn là, những người đã chạy đi, nay muốn quay về quê hương, hãy cho phép và tạo mọi điều kiện đơn giản nhất để họ nhận thấy quê hương đất nước sau 35 năm giải phóng, đã đổi thay như thế nào.

Không chỉ đưa ra kết luận, cụ còn dẫn chứng rất cụ thể từng thời kỳ biến động của lịch sử Việt Nam nữa chứ. Nào là chiến tranh liên miên, nào là từ Đảng mở cửa đến nay nước giàu, dân mạnh…

Ngẫm cho kỹ những lời cụ cũng thật chí lý. Nhưng mà giời ạ! bà lão coi đền một mình hàng chục năm, không sách báo, không tivi, mà nói cứ như " lãnh đạo" thế thì sao không một đồn mười, mười đồn trăm kia chứ. Khách du lịch đến đây đều muốn trò chuyện với cụ.

Nghe tôi kể đã đi dạo mấy đền quanh đây, cụ lại thuyết một hồi về tâm linh. Qua hết chuyện thánh thần rồi, cụ đọc cả một bài thơ dài dặn dò, mà tôi chỉ kịp nhớ mỗi một câu " làm việc tốt không cần người phải biết".

"Đi một ngày đàng học một sàng khôn", các cụ từng dạy thế, ngẫm ra chẳng sai chút nào.

Còn cần gì phải bình luận thêm về câu chuyện này nữa nhỉ.

Linh Nga Niê Kdăm


Filed under: Văn, Văn Hóa Tagged: Văn, Văn Hóa

Bà bụt của những người tật nguyền

Posted: 16 Nov 2010 01:08 PM PST

SGTT.VN – Hai mươi đứa trẻ, mỗi đứa một khuyết tật riêng. Một cô giáo đã quá tuổi hưu nhẫn nại đi đến từng bàn, cầm tay từng em. Em nào em nấy ríu rít gọi tên cô, trìu mến như trong gia đình đầm ấm…

Để giúp các em nhận biết và tô màu trái đu đủ, cô Nga phải hướng dẫn cụ thể như thế này. Ảnh: Bích Uyên

Một khoảng sân nhỏ bên hiên nhà. Vách là những tấm tôn cũ và cả vải che, gần mười cái bàn học nhỏ, một tấm bảng đã cũ. Học trò đứa nào cũng khó nhọc lấy cho đủ bốn chiếc ống hút nhựa thay cho que tính cầm vào tay phải rồi cầm thêm hai chiếc vào tay trái. Cô giáo hướng dẫn các em nhập số que tính ấy vào để có kết quả bài toán cộng.

Khi cô là mẹ

Lớp học ấy do cô giáo Nguyễn Thị Quỳnh Nga mở ra ngay trong nhà mình ở phường 4, thành phố Vĩnh Long. Không một đồng học phí, ngày ngày cô chăm lũ trẻ như chăm những đứa con của mình.

36 năm gắn bó với nghề giáo, trong đó 16 năm làm công tác phổ cập, xoá mù chữ, cô Nga biết còn nhiều lắm những đứa trẻ kém may mắn thích được đến lớp, còn nhiều lắm những người lao động chưa biết viết tên mình. Thế nên, ngày về hưu, được cha động viên, cô Nga mở ra lớp học ấy để đón nhận những đứa trẻ tật nguyền nghèo khổ, những em nhỏ thiểu năng trí tuệ; đón nhận những người lớn, những phụ huynh muốn đọc chữ, muốn biết làm toán cộng toán trừ.

Học trò của cô mỗi em một cảnh, em nào cũng nghèo. Có nhà sinh ba con thì cả ba đều tật nguyền, chậm trí. Có em từ cha mẹ đến bản thân mình đều ngơ ngác, nhớ quên. Có em lãng tai, có em không sáng mắt. Em mồ côi cả cha lẫn mẹ, em bán vé số, em làm thuê. Em nào cô cũng thương nên cô dạy chúng bằng nỗ lực bù đắp cho những điều thiếu may mắn trong cuộc đời. Không chỉ dạy chữ, cô còn dạy kỹ năng sống, giúp các em vơi đi những thiệt thòi. Dạy học cũng là để các em có niềm vui rằng mình cũng như nhiều bạn khác, cũng được đến trường, cũng biết đọc biết viết, biết hát múa và cũng có nhiều bạn bè…

Vừa gạt nước mắt, chị Nguyễn Thị Thu Đẹp ở Vĩnh Long vừa kể: "Nhà có hai đứa con, đứa nào sinh ra cũng tật nguyền, chậm trí. Thấy con đã 15, 16 tuổi, lại hay đòi đi học cũng xót xa mà đành chịu vì nghèo quá, phải đi làm mướn làm thuê. Biết cô Nga mở lớp mà không thu học phí, tôi đem cháu Nhi gửi cho cô. Dù không nhớ nhiều, nhưng cháu đã biết viết chữ và ngoan lắm. Hôm nào phải nghỉ học, cháu lại khóc, đòi cô. Mấy đứa trong lớp này, đứa nào cũng thương cô Nga như mẹ mình vậy đó!"

Phụ huynh gửi con, chỉ mong con mình có thêm niềm vui, biết thêm điều gì mừng thêm đôi chút nhưng cô Nga thì nghĩ đến chặng đường dài. Ngày trước, học trò khuyết tật của cô cũng có đứa theo học đến lớp 9, lớp 10. Cô hy vọng sẽ có em trong lớp học này đủ điều kiện để vào học ở trường phổ thông bởi giờ đây, nhiều em đã đọc chữ trôi chảy, biết làm toán. Ở lớp học của cô không có sự bực bội khi các em làm sai mà chỉ có nụ cười chia sẻ, động viên.

Nguyện đi đến phút cuối

Cực nhọc với học trò nhỏ buổi sáng thôi chưa đủ, buổi tối, lớp học của cô Nga cũng sáng đèn với bảy học viên là người lớn đến xoá mù chữ. Đó là những người lao động tay chân, có người trẻ tuổi, cũng có người đã quá bốn mươi. Chỉ một vài người bình thường, còn lại đều chậm chạp, khờ khạo. Lớp nào cũng miễn phí, lớp nào cô cũng tận tâm. Ngày trước, cô đi tìm học trò còn giờ đây học sinh, phụ huynh tự tìm đến với cô để được biết đọc, biết viết mà vượt qua mặc cảm, để có thể học nghề hoặc tìm được công việc tốt hơn.

Anh Lê Hoàng Vương (Vĩnh Long) cho biết do điều kiện gia đình khó khăn, anh không được đi học. Bây giờ trưởng thành, anh xấu hổ vì bị bạn bè chọc quê, xin đi học nghề không được. Giờ thì Vương đã đọc và viết chữ thành thạo, anh hy vọng mình sẽ được nhận vào học nghề để thay cho cuộc sống lao động vất vả lâu nay.

Có lẽ niềm vui được chia sẻ với mọi người đã khiến cô Nga quên việc đi tìm hạnh phúc riêng. Bao yêu thương, cô gửi trọn cho nghề. Tiền lương hưu, cô cùng các em mình phụng dưỡng cha già, chút ít còn lại, cô lo cho lớp học. Học trò của cô còn nghèo, còn khổ lắm, cô biết nhà từng người, thuộc từng hoàn cảnh. Thế nên, san sẻ được đến khi nào, cô cũng sẵn lòng, miễn sao có thể trao cho họ những nụ cười và niềm tin vào cuộc sống.

bài và ảnh Bích Uyên

 

Những hình ảnh xúc động và đáng yêu ở lớp học tình thương của cô Quỳnh Nga sẽ được gửi đến vào lúc 21 giờ 40 phút tối thứ ba 16.11 trên kênh HTV9 trong chương trình Tiếp sức người thầy. Mong nhận được nhiều chia sẻ cho các em nhỏ thiếu may mắn ở lớp học này. Mọi đóng góp xin gửi về: báo SGTT, 25 Ngô Thời Nhiệm, P.6, Q.3, TP.HCM, ĐT: 08 39307825, email: tiepsucnguoithay@sgtt.com.vn hoặc gửi vào tài khoản của chương trình: quỹ Hỗ trợ phát triển giáo dục – EDF, số tài khoản: 001234230001 (VND) hoặc 001234230002 (USD) tại ngân hàng Đông Á – chi nhánh quận 3.

Ngân hàng Đông Á đồng hành cùng chương trình Tiếp sức người thầy


Filed under: Mỗi ngày 1 tin sáng Tagged: Tin sáng

Sống chung với láng giềng lớn hơn: Thực tiễn và chính sách

Posted: 16 Nov 2010 01:07 PM PST

Tác giả: Nguyễn Vũ Tùng

Nước lớn thường coi nhẹ quyền lợi của các nước nhỏ, thậm chí đem ra đổi chác trong ván bài nước lớn: nếu hợp tác, nước lớn hơn thường giành lợi lớn hơn; nếu xung đột, nước lớn hơn thường bắt nạt nước nhỏ hơn; và luật lệ không ràng buộc nước lớn hơn, vì nước lớn thường cho mình quyền “phá lệ”.

LTS: Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 81 (tháng 6/2010) đăng tải bài viết “Sống chung với láng giềng lớn hơn: Thực tiễn và chính sách” của PGS, TS Nguyễn Vũ Tùng, Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao, Học viện Ngoại giao phân tích về mối quan hệ giữa nước lớn và nước nhỏ (hơn).

Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Đối với nước nhỏ, quan hệ với nước lớn chung biên giới luôn là một mối quan hệ khó khăn.[1] Các khó khăn này có những nguồn gốc từ (i) sự chênh lệch rõ rệt về tầm vóc – vốn là kết quả của cả một quá trình lịch sử phát triển lâu dài liên quan tới các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, chính trị, ngoại giao… dẫn đến (ii) quan niệm về bản sắc nước lớn – nước nhỏ và từ đó đưa ra những đặc thù về hành vi nước lớn – nước nhỏ, theo đó nước lớn thường có tâm lý “đại quốc” và do vậy có hành vi coi thường, chèn ép “tiểu quốc”.

Trong tất cả các cặp quan hệ nước lớn – nước nhỏ, có hai yếu tố song hành tạo nên sự khó khăn trong quan hệ nước lớn – nước nhỏ: Sự vượt trội về tầm vóc của một nước thường đi cùng với tâm lý và hành vi nước lớn của nước đó so với các nước khác.

Nga (cũng như Liên Xô trước kia), Mỹ, Nhật, Trung Quốc luôn thường trực tâm lý mình là nước lớn và từ đó có hành vi nước lớn thể hiện qua cách xác định lợi ích và cách thức đạt tới lợi ích của mình trong mối giao tiếp với các nước khác.

Bài viết này tập trung phân tích (i) vai trò của yếu tố địa lý trong mối quan hệ phức tạp này, và (ii) tìm hiểu và đánh giá một số chiến lược ứng phó của nước nhỏ đối với nước lớn láng giềng.

Tác động của yếu tố địa lý

Yếu tố địa lý làm tăng thêm dạng tâm lý và hành vi đại quốc – tiểu quốc. Tâm lý và hành vi nước lớn thể hiện chung trong chính sách của nước lớn và thể hiện cụ thể nhất qua chính sách và quan hệ với nước nhỏ láng giềng.

Trong các trường hợp đặc thù nhất (một nước được thừa nhận là nước lớn so với một nước láng giềng có sức mạnh vật chất và tiềm lực nhỏ hơn nhiều lần), có thể thấy rằng tính chất bất cân xứng đóng vai trò quy định bản chất mối quan hệ này. Nói cách khác, sự bất cân xứng càng lớn thì tâm lý và hành vi nước lớn – nước nhỏ càng rõ rệt.

Sự cận kề địa lý làm sự so sánh có “địa chỉ” hơn, thậm chí nó còn mở rộng ra để cho sự chênh lệch tuy chưa tới mức vượt trội cũng đã làm cho tâm lý và hành vi nước lớn hình thành. Trường hợp quan hệ Thái Lan – Campuchia và phần nào là Nhật Bản – Hàn Quốc cho thấy xu hướng đó.

Thái Lan và Nhật Bản tuy không phải là nước lớn nhưng kề cận nhau về địa lý và đặc biệt nhạy cảm với sự chênh lệch dù là nhỏ nhất so với nước kia. Sự so sánh hơn – kém và cùng với nó là tâm lý nước lớn hơn – nước nhỏ hơn cũng theo đó hình thành.[2] Chính vì thế, khung quan hệ nước lớn – nước nhỏ thoạt đầu được cho là chỉ nảy sinh giữa các nước rất lớn và rất nhỏ, nay cần được bổ sung bằng thực tế của quan hệ giữa các nước có sự chênh lệch về tiềm lực. Nói cách khác, khung phân tích rộng và thích hợp hơn sẽ là quan hệ láng giềng giữa các nước lớn hơnnhỏ hơn.

Điều này trùng hợp với nghiên cứu về tổ hợp an ninh do Barry Buzan khởi xướng. Theo Buzan, tổ hợp an ninh chính là những mối quan hệ láng giềng chặt chẽ và có thể bị can thiệp, tác động từ những nước lớn hơn ở bên ngoài do sự bất cân xứng về sức mạnh. Đáng chú ý, Buzan còn cho rằng một nước vừa có thể là một nước lớn hơn trong một tổ hợp an ninh này nhưng lại là một nước nhỏ hơn trong tổ hợp an ninh khác.[3]

Nói cách khác, so sánh nước lớn – nhỏ chỉ có tính chất tương đối và tâm lý/ hành vi nước lớn – nước nhỏ không nhất thiết chỉ có trong cặp quan hệ giữa hai nước láng giềng cực lớn và cực nhỏ.

Sự kề cận địa lý, qua nhiều nghiên cứu đã cho thấy, là điều kiện tự nhiên làm tăng mức độ phức tạp của mối quan hệ bất cân xứng này. Đó là vì yếu tố địa lý tạo điều kiện dễ dàng cho hai bên giao lưu với nhau, và càng dễ giao lưu, càng phát sinh nhiều vấn đề. Các vấn đề đó có thể có nguồn gốc lịch sử.

Trong tất cả các tình huống nghiên cứu, các vấn đề lịch sử thường thấy (xếp theo thứ tự quan trọng) là: (1) tranh chấp lãnh thổ; (2) khác biệt liên quan tới quá trình hình thành và phát triển đất nước, giao lưu về văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ giữa các nhóm dân cư; (3) lịch sử quan hệ nói chung theo đó các vấn đề lịch sử được diễn giải và các tranh chấp/ khác biệt được tiếp cận và xử lý. Đặc biệt, các vấn đề liên quan tới nhận thức và xử lý các vấn đề lịch sử có tác động lớn đến quan hệ trong hiện tại.

Các vấn đề phát sinh cũng có thể có nguồn gốc từ một mối quan hệ đang phát triển. Nhiều tình huống nghiên cứu cho thấy giữa các nước láng giềng chung biên giới nổi lên một số vấn đề chính sau: (1) tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết, (2) tranh chấp kinh tế, thương mại và các quyền lợi kinh tế khác, (3) các lực lượng chính trị trong nước lợi dụng vấn đề đối ngoại để tập hợp lực lượng trong cuộc đấu tranh quyền lực nội bộ, (4) bên thứ ba khai thác mâu thuẫn trong quan hệ song phương nước lớn – nước nhỏ để tranh giành ảnh hưởng thông qua các chính sách chia rẽ, lôi kéo, bao vây…

Như vậy, sự cận kề địa lý cộng với yếu tố chênh lệch sức mạnh đã làm quan hệ giữa hai nước láng giềng vốn phức tạp lại có xu hướng phức tạp hơn.

Tuy nhiên, bản thân yếu tố cận kề địa lý và chênh lệch sức mạnh không quyết định sự tồn tại của các phức tạp và mức độ phức tạp trong quan hệ. Chúng là các yếu tố khách quan tồn tại: địa lý là yếu tố bất biến và sự chênh lệch sức mạnh phần lớn cũng là do yếu tố địa lý mang lại khi sức mạnh được đo bằng các tiêu chí cổ điển như diện tích lãnh thổ, tài nguyên, dân số… vốn là những yếu tố đầu tiên chi phối sự vận hành của quy luật phát triển không đều giữa các nước.

Hơn nữa, với các yếu tố đó, sự chênh lệch sẽ là vĩnh viễn và không thể san bằng. Như vậy, có thể cho rằng yếu tố cận kề địa lý và chênh lệch sức mạnh chỉ là điều kiện cần cho mối quan hệ phức tạp giữa hai nước láng giềng.

Điều làm cho mối quan hệ phức tạp này trở thành hiện thực nằm trong yếu tố chủ quan. Các yếu tố chủ quan này phần lớn thuộc về chính sách, với các khía cạnh sau:

(1)  Nhận thức và tâm lý nước lớn: Như đã nêu ở trên, nhận thức về sự vượt trội trong so sánh về sức mạnh (nhất là sức mạnh cứng, và một phần là sức mạnh mềm) làm nảy sinh tinh thần nước lớn, ý thức hệ hoặc thế giới quan nước lớn với bản chất là coi thường nước nhỏ. Qua một số nghiên cứu tình huống, điểm nổi bật là tinh thần nước lớn của Nga, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản đối với các nước láng giềng của mình. Tinh thần “đại quốc” là có thật và thường trực.

(2)  Thái độ ứng xử nước lớn: Tinh thần nước lớn thể hiện rõ nhất qua thái độ đối xử với nước nhỏ hơn. Hiếm khi thấy các nước lớn có chính sách thực sự tôn trọng nước nhỏ và nhạy cảm về những tác động của hành vi nước mình gây ra cho nước nhỏ. Sự không tôn trọng thể hiện qua suy nghĩ và hành động, với tác động tổng thể là làm khắc sâu nhận thức về địa vị nước lớn – nước nhỏ, thường theo chiều hướng tiêu cực.

Quan trọng hơn, tinh thần nước lớn thể hiện rõ nhất trong cách thức nước lớn xử lý các vấn đề tồn tại cũng như vấn đề phát sinh. Các nước lớn thường coi nhẹ quyền lợi của các nước nhỏ, thậm chí đem ra đổi chác trong ván bài nước lớn: nếu hợp tác, nước lớn hơn thường giành lợi lớn hơn; nếu xung đột, nước lớn hơn thường bắt nạt nước nhỏ hơn; và luật lệ không ràng buộc nước lớn hơn, vì nước lớn thường cho mình quyền “phá lệ”.[4]

(3)  Tình trạng mất lòng tin trong quan hệ: Do tác động của tâm lý nước lớn và hành động của nước lớn, ở các nước nhỏ láng giềng cũng phát triển tâm lý nước nhỏ và hành vi nước nhỏ. Tương tác giữa hai dạng nhận thức và hành vi này càng làm rộng thêm khoảng cách nước lớn – nước nhỏ thậm chí khiến các nước nhỏ mất lòng tin vào nước lớn.

Nhiều nghiên cứu cho thấy vì các lý do lịch sử và hiện tại, không nước nhỏ nào tin vào lòng tốt mà nước lớn dành cho mình, viện trợ bao giờ cũng có điều kiện về sự thần phục, một hành vi không nể mặt của nước nhỏ bao giờ cũng phải trả giá…

Ngoài ra, sự không nhất quán giữa lời nói và việc làm của các nước lớn thường xuyên xảy ra. Để tự bảo vệ mình, các nước nhỏ áp dụng chính sách lôi kéo bên thứ ba để tăng thế mặc cả cũng như tăng cường thảo luận nội bộ để lựa chọn chính sách tối ưu với nước lớn. Điều này làm cho nước lớn cũng mất lòng tin vào nước nhỏ. Vòng xoáy mất lòng tin vì thế càng leo thang.

Việc tổng kết các yếu tố kể trên cho thấy trách nhiệm làm giảm tình hình căng thẳng phần lớn thuộc về nước được coi là lớn hơn. Nước nhỏ có nhiều lý do để nghi ngờ động cơ và hành vi của nước lớn và do đó nước lớn phải chịu gánh nặng lớn hơn trong việc xua tan sự nghi kị của nước nhỏ.[5]

Còn nữa


* Tiêu đề do Tuần Việt Nam tự đặt

[1] Khái niệm “chung biên giới” được áp dụng cho cả biên giới bộ hoặc/và biển. Giữa hai nước chung biên giới biển, nhận thức về mối đe dọa an ninh có thể giảm bớt do khoảng cách địa lý rộng hơn. Tuy nhiên, yếu tố tranh chấp lãnh thổ vẫn có, và khả năng rút ngắn khoảng cách bởi kỹ thuật vận tải và vũ khí ngày càng cao. Do đó, khái niệm láng giềng chung biên giới vẫn có thể sử dụng chung và mức độ phức tạp vẫn nguyên vẹn.

[2] Một điều lý thú là hầu hết các nước trong một giai đoạn cụ thể đều coi mình là nước lớn. Ở Đông Nam Á có Đại Xiêm, Đại Việt, thậm chí cả Đại Lào. Xem D. E. Hall, Lịch sử Đông Nam Á (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995).

[3] Buzan, Barry (1995), “The Post-Cold War Asia Pacific Security Order: Conflict or Cooperation?” trong Andrew Mack và John Ravenhill (chủ biên), Pacific Cooperation: Building Economic and Security regimes in the Asia Pacific region (Boulder: Wesview), trang 130-151; Buzan, Barry (1991), People, States, and Fear: An Agenda for International Security Studies in the Post-Cold War Era (New York: Harvester Wheatsheaf).

[4] Ví dụ Nga tự cho mình quyền can thiệp, đưa quân đội sang các nước thuộc khu vực Liên Xô cũ để bảo vệ công dân Nga ở đó. Ngày 12/8/2009, tại cuộc gặp với lãnh tụ các đảng phái trong Duma Quốc gia, Tổng thống Dmitry Medvedev nói rõ rằng sở dĩ Tổng thống phải trình dự luật đưa quân đội ra nước ngoài là vì chính cuộc chiến tranh 5 ngày với Gru-di-a cách đây một năm đã khiến ông phải nghĩ đến điều đó khi cần thiết. Trên thực chất, việc trình dự luật này liên quan tới sửa Luật Quốc phòng hiện hành ở Nga. Xem http://www.baovietnam.vn/the-gioi/229449/23/TT

[5] Đây là bản chất của lô-gíc “gánh nặng vĩ nhân” khá phổ biến trong quan hệ cá nhân cũng như trong quan hệ quốc tế. Một người được coi là “vĩ nhân” thường được coi là người có những tiêu chuẩn đạo đức cao và do đó có những dạng hành vi được cho là “chuẩn mực”. Điều này có giá trị nêu gương cho người khác, nhưng mặt khác cũng tạo ra sức ép làm cho người đó luôn phải gìn giữ và mực thước. Đối với một nước lớn cũng vậy, các tiêu chuẩn hành vi nước đó đặt ra cho các nước khác noi theo cũng trở thành hạn chế không cho nước đó có chính sách thuộc dạng “tiêu chuẩn kép”. Do đó, nhiều khi nước lớn phải chịu thiệt để giữ lòng tin của nước nhỏ, nhất là để xóa tan điều mặc nhận là nước lớn luôn coi thường quyền lợi của nước nhỏ. Xem Đặng Đình Quý và Nguyễn Vũ Tùng, “Vấn đề lòng tin và xây dựng lòng tin trong QHQT”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1/2009.

[phần hai]

Các phân tích trên cho thấy rằng ngoài việc coi sự kề cận địa lý và sự chênh lệch tiềm lực với nước lớn là thực tế khách quan, các nước nhỏ cũng phải coi lối suy nghĩ và hành vi ứng xử của các nước lớn cũng là một thực tế phải đương đầu. Nói cách khác, quyền chủ động nằm trong tay nước lớn. Ở mức tối ưu, nước nhỏ chỉ có thể giành quyền chủ động trong thế bị động. Nhưng chừng đó cũng có thể trở thành nội dung của những “chính sách thông minh” giúp các nước nhỏ đối phó với nước lớn.

Chính sách đối phó với nước lớn trong thời đại ngày nay được xây dựng trên một tiền đề quan trọng. Đó là các nước nhỏ không còn nỗi ám ảnh bị các nước lớn xâm lược, thôn tính, sát nhập.

Lô-gic của chủ nghĩa Hiện thực nhấn mạnh đến tồn vong quốc gia không thích hợp với các phát triển của chính trị quốc tế liên quan đến các nước thuộc thế giới thứ Ba: các nguyên tắc cơ bản được hình thành trong quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai cũng như từ thập kỷ phi thực dân hoá (thập kỷ 60) đã không công nhận xâm lược và sát nhập lãnh thổ trong quan hệ giữa các quốc gia. Điều đó có nghĩa là mục tiêu sinh tồn của một nước không còn trở thành ưu tiên cao nhất. Như Migdal đã nhận xét, thực tế trong quan hệ quốc tế cho thấy số lượng quốc gia ra đời nhiều hơn số lượng quốc gia bị mất tên trên bản đồ quốc tế.[6]

Đối đầu Mỹ – Cuba. Ảnh: Guardian.

Như vậy, thách thức từ các nước lớn chủ yếu liên quan tới việc các nước lớn o ép các nước nhỏ, bao gồm việc hạn chế không gian tự chủ hành động của các nước nhỏ và giành phần hơn trong việc theo đuổi lợi ích quốc gia (kể cả trong bối cảnh song phương và đa phương.)

Tất nhiên, như đã nêu ở trên, mức độ o ép tỉ lệ thuận với sự bất cân xứng về tiềm lực và sức mạnh, vì một lý do đơn giản là nước lớn hơn có nhiều nguồn lực và công cụ để gây ảnh hưởng tới nước ít nguồn lực và công cụ hơn.

Thách thức từ các nước lớn chủ yếu liên quan tới việc các nước lớn o ép các nước nhỏ, bao gồm việc hạn chế không gian tự chủ hành động của các nước nhỏ và giành phần hơn trong việc theo đuổi lợi ích quốc gia (kể cả trong bối cảnh song phương và đa phương.)

Nhiều nghiên cứu tình huống đã cho thấy một số dạng chính sách các nước nhỏ sử dụng để đối phó với nước lớn và bước đầu phân tích các điều kiện để dạng chính sách đó có hiệu quả, nhất là nếu được đặt từ góc độ sức mạnh thông minh.

Xuất phát điểm đầu tiên là chính sách của một nước lớn có thể khác nhau với các nước láng giềng khác nhau. Điều này cho thấy chính sách của nước lớn lệ thuộc nhiều vào chính sách của nước nhỏ (với các yếu tố giá trị địa chiến lược/địa kinh tế đặc thù của nước nhỏ đó).

Tất nhiên, chính sách của nước nhỏ cũng lệ thuộc vào lịch sử của chính sách nước lớn đối xử với nước nhỏ đó và quá trình tương tác chính sách này sinh ra những sự khác biệt: một nước lớn đối xử với các nước láng giềng theo các cách khác nhau. Tuy nhiên, nếu coi tinh thần trịch thượng của nước lớn và sự chênh lệch về sức mạnh của nó với nước láng giềng và sự kề cận địa lý là thực tế khách quan thì sự chủ động chính sách của nước nhỏ nhằm hạn chế điểm tiêu cực, phát huy điểm tích cực trong chính sách của nước lớn mới là điều đáng bàn. Đây chính là bản chất của một chính sách đối ngoại thông minh, dựa trên ý tưởng chủ đạo cho rằng “ngoại giao là nghệ thuật của những điều có thể”.

Nói cách khác, các nước nhỏ thông minh không bao giờ chấp nhận và đổ lỗi cho “thực tế khách quan” mà luôn luôn tìm ra những giải pháp có lợi nhất trong hoàn cảnh thực tế. Quả thực, trong quan hệ quốc tế vẫn có những tình huống nước nhỏ “dắt mũi” được nước lớn.

Lựa chọn chính sách cho nước nhỏ

Một số nét chính liên quan tới chính sách của các nước nhỏ là:

1. Ở mức chung nhất, “phù thịnh” dường như là một chính sách được nhiều nước theo đuổi hơn khi kết quả quan sát được là một mối quan hệ tương đối ổn định và có lợi hơn cho nước nhỏ.

Trong không gian hậu Xô-viết, các nước như Bê-la-rút, Ka-dắc-xtan áp dụng chính sách này và kết quả là đã nhận được trợ giúp nhiều mặt của Nga, nhất là về kinh tế, an ninh và sự tôn trọng ở một mức độ nào đó. Nhưng một số vấn đề cốt lõi trong quan hệ nước lớn – nước nhỏ vẫn còn nguyên. Đó là tinh thần nước lớn của Nga, và theo đó là tính chất bất bình đẳng trong quan hệ song phương, dù đã giảm đi so với thời Liên Xô còn tồn tại.

Nhưng, điểm chung đáng lưu ý là trong quan hệ song phương giữa các nước này với Nga đã không xảy ra những vấn đề quá gay cấn buộc phải sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Nga đem lại cơ hội nhiều hơn là thách thức cho các nước này.

Có một số lý do giải thích vì sao các nước này lại áp dụng chính sách phù thịnh (thân Nga hơn các nước khác). Tuy nhiên, có thể thấy rằng thái độ ôn hòa của Nga đối với các nước này trong hiện tại và quá khứ kết hợp với nhiều yếu tố khác như: Chính trị tương đối tập trung ở các nước Bê-la-rút và Ka-dắc-xtan – điều đưa tới sự nhất trí trong nội bộ các nước này về chính sách thân hữu với Nga và chấp nhận ở một mức độ nào đó ảnh hưởng của Nga trong nội trị của mình; Vị trí địa chiến lược của các nước này quan trọng đối với Nga hơn là các nước lớn khác – điều đưa tới sự dính líu ở mức vừa phải của nhân tố nước lớn thứ ba… đã làm cho quan hệ giữa Nga và các nước này khá hữu nghị, dù vẫn còn các yếu tố phức tạp của quan hệ nước lớn – nước nhỏ.

Như vậy, có thể cho rằng các nước chủ trương hữu hảo với Nga đã có chính sách tương đối phù hợp và hiệu quả trong việc giảm thiểu sự bất lợi trong mối quan hệ bất cân xứng với nước láng giềng lớn là Nga. Thậm chí, trong trường hợp của Bê-la-rút, Nga còn áp dụng chế độ bao cấp/ưu đãi về mặt năng lượng như thời Liên Xô cũ.

Phù thịnh không có nghĩa là nước nhỏ bỏ hoặc coi nhẹ các nguyên tắc chủ yếu trong quan hệ với nước lớn. Cụ thể nước nhỏ vẫn phải giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong quan hệ với nước lớn. Đây là yếu tố “bất biến” trong quan hệ với nước lớn. Chừng nào nước lớn không chấp nhận nguyên tắc này, nước nhỏ phải kiên quyết đấu tranh. Đây không chỉ là vấn đề chiến lược mà còn là vấn đề có tính chiến thuật trong quan hệ với nước lớn: càng giữ được độc lập, giá trị của nước nhỏ sẽ càng cao trong quan hệ với nước lớn

Xét cho cùng, thái độ ôn hòa của Nga với các nước này dường như là sự “đền đáp” cho những nước quan tâm đến lợi ích của Nga. Cụ thể hơn, trong ba lợi ích an ninh, phát triển và ảnh hưởng trong chính sách đối ngoại của bất cứ quốc gia nào,[7] lợi ích ảnh hưởng dường như nổi trội hơn đối với các nước lớn. Nga không lo bị tấn công và các nước láng giềng cũng lệ thuộc nhiều vào nền kinh tế Nga.

Nhưng nếu “tự ái nước lớn” của Nga bị đe dọa (nhất là khi các nước láng giềng thuộc không gian hậu Xô viết tỏ ra độc lập hơn, bắt tay với các nước lớn khác, và có các hành động phủ nhận lịch sử để qua đó phủ nhận vai trò của Nga) thì Nga sẽ có hành động cứng rắn. Đây là một biểu hiện của tinh thần nước lớn, có lẽ ngày càng không thích hợp với tình hình và xu thế quan hệ quốc tế hiện nay.

Chọc giận Nga, làm cho tự ái nước lớn của Nga bị tổn thương cũng không phải là một chính sách thông minh và thực tế cho thấy các nước như Bê-la-rút và Ka-dắc-xtan đã không đi theo hướng này.

Độc lập, đa phương đa dạng hóa, nhưng coi Nga “nhỉnh” hơn so với các nước khác đã góp phần quan trọng trong việc giải tỏa quan hệ với Nga.

Thêm vào đó, trên cơ sở chứng minh được ưu tiên trong quan hệ với Nga, ngoài khả năng tăng cường quan hệ hợp tác, việc đấu tranh chống các biểu hiện nước lớn cũng như tranh thủ thu thêm lợi ích từ quan hệ với Nga sẽ trở nên dễ dàng hơn.

Tóm lại, chính sách theo hướng phù thịnh tỏ ra tương đối có hiệu quả trong hai trường hợp của Bê-la-rút và Ka-dắc-xtan.

2. Về thực chất, chính sách trung lập cũng mang nhiều nét tương đồng với sự lựa chọn “phù thịnh”. Trường hợp của Phần Lan tương đối điển hình.

Về nguyên tắc, Phần Lan chủ trương trung lập nhưng trên thực tiễn, nước này áp dụng chính sách thiên về Nga một cách khá tinh tế mà bản chất của chính sách đó là xây dựng được lòng tin của lãnh đạo Nga về một nước Phần Lan – tuy có chế độ chính trị và kinh tế khác với Nga – nhưng trân trọng và ưu tiên quan hệ với Nga cũng như có các kênh để truyền tín hiệu đó và hành động chứng tỏ cách tiếp cận đó.[8]

Một mặt, Phần Lan tích cực tăng cường quan hệ với các nước phương Tây để bớt lệ thuộc vào Nga. Mặt khác, chính Nga cũng không phản đối Phần Lan tăng cường quan hệ với phương Tây khi hiểu rằng Nga vẫn là ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của Phần Lan. Vị thế của Phần Lan trong chính sách của Liên Xô từ sau năm 1945 và nhất là sau chiến tranh Lạnh có thể nói là tối ưu.

3. Chính sách đối đầu dường như là sự lựa chọn ít hiệu quả nhất. Có nhiều lý do để các nước nhỏ chọn lựa sự đối đầu. Tuy nhiên, sự lựa chọn đối đầu dường như có mối liên hệ với mâu thuẫn nội bộ của nước nhỏ láng giềng. Trường hợp của Gru-di-a và U-crai-na cho thấy khá rõ điều này.

Các thế lực tranh giành quyền lực chính trị bên trong từng nước đã sử dụng Nga như là một mối đe dọa để kích động tinh thần dân tộc, dùng tinh thần dân tộc làm ngọn cờ tập hợp lực lượng trong cuộc đấu đá nội bộ. Lô-gic phổ biến của hiện tượng này là dùng nguy cơ bên ngoài để ổn định bên trong.[9] Cứ mỗi khi lực lượng thân Nga có ảnh hưởng trội hơn, quan hệ của Nga với U-crai-na và Gru-di-a trở nên ổn định và hợp tác hơn, theo đó các tranh chấp, mâu thuẫn song phương có thể có hướng giải quyết, các vấn đề gay cấn có thể tháo ngòi nổ. Nhưng cứ mỗi khi đấu tranh nội bộ ở hai nước này tăng lên, quan hệ với Nga lại trở nên khó khăn, căng thẳng, thậm chí xung đột.

Các nước nhỏ phần lớn bị thiệt hại khi lâm vào cuộc xung đột trực tiếp với nước lớn láng giềng

Sự lựa chọn đối đầu của nước nhỏ còn có thể được hình thành khi nước lớn – vì những lý do nhất định – có chính sách cực đoan, uy hiếp và đe dọa nhằm khuất phục nước nhỏ láng giềng.

Trường hợp của Cuba cho thấy Mỹ có thái độ xấu với Cuba kể từ khi cuộc cách mạng Cuba thắng lợi năm 1959 hoàn toàn do sự cay cú của tầng lớp lãnh đạo cao cấp của Mỹ thuộc cả hai đảng trước sự hình thành của một nhà nước Mác-xít ngay tại sân sau của Mỹ. Sự cay cú này bị mất đi phần lớn yếu tố ý thức hệ sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, nhưng sở dĩ không mất hẳn là vì sự ngạo mạn nước lớn của Mỹ đối với Cuba vẫn còn.

Ngoài ra, chính sách của Mỹ còn bị tác động bởi nhóm lợi ích hình thành trong số những người Cuba lưu vong chống chính quyền ở La Havana – đủ mạnh để ngăn chính quyền Mỹ có bước đi theo hướng hòa giải với Cuba. Quan hệ Mỹ – Cuba vì thế vẫn chưa có bước tiến về chất.

Các bước cải thiện quan hệ có thể diễn ra khi Mỹ có chính sách ôn hòa hơn, bớt đi liều lượng can thiệp, lật đổ trong cách tiếp cận mặc dù âm mưu thay đổi chế độ vẫn được theo đuổi – điều chính quyền Obama dường như đang áp dụng.

Nếu có thể tách bạch vòng luẩn quẩn có tính nhân quả của mối quan hệ thù địch nước lớn – nước nhỏ thì có thể cho rằng chính sách không khôn khéo của nước nhỏ cũng gây phức tạp thêm tình hình nhất là khi nước lớn không thiếu cách gây khó dễ cho nước nhỏ láng giềng.

Trong trường hợp này sự lựa chọn đối đầu và các nỗ lực đẩy mạnh quan hệ với các nước khác để cân bằng mối đe dọa từ phía nước lớn theo mô hình “cân bằng” là tương đối dễ hiểu. Yếu tố khác biệt về ý thức hệ và sự tập trung quyền lực trong nước nhỏ (cụ thể là không có sự thách thức đáng kể với lực lượng chính trị cầm quyền và theo đó là những tranh cãi về lựa chọn chính sách) càng làm cho sự đối đầu thêm sâu sắc, kể cả sau khi chiến tranh Lạnh chấm dứt.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào kết quả, các nước nhỏ phần lớn bị thiệt hại khi lâm vào cuộc xung đột trực tiếp với nước lớn láng giềng. Mức độ thiệt hại này thể hiện trên nhiều mặt. Trước hết, nước lớn bị đẩy tới vị thế khó có thể thỏa hiệp, vì lo sợ rằng bất cứ sự thỏa hiệp nào cũng là dấu hiệu của sự nhượng bộ cũng như thế yếu so với nước thứ ba. Vì thế, cách tiếp cận giải quyết tranh chấp thường theo hướng xung đột, quan hệ thường theo hướng căng thẳng trên nhiều mặt và nước lớn không thiếu cách để gây sức ép.

Về mặt chính trị, nước lớn luôn tìm cách ủng hộ phái thân mình ở nước nhỏ láng giềng và nếu phái chống mình nắm quyền, nước lớn sẽ tìm cách để gạt bỏ phái đó.

Ngoài ra, nước lớn còn kích động chủ nghĩa ly khai trong nội bộ nước nhỏ, xoáy sâu vào các mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo trong lòng nước nhỏ để làm suy yếu nước nhỏ hơn nữa. Do đó, chính sách nước lớn phần lớn có dấu hiệu can thiệp công việc nội bộ – điều làm cho tinh thần chống nước lớn có cơ hội phát triển mạnh hơn cũng như củng cố vị trí của phái chống, cô lập phái thân nước lớn.

Mức độ rủi ro đối với nước nhỏ là cao hơn, vì thế nhu cầu “chính sách thông minh” rõ ràng cao hơn.

Về mặt kinh tế, nước lớn tìm cách bao vây, cấm vận và tận dụng thế lệ thuộc của nước nhỏ về mặt kinh tế để gây sức ép kinh tế, qua đó tạo sức ép chính trị. Nói cách khác, nếu có thể tách bạch vòng luẩn quẩn có tính nhân quả của mối quan hệ thù địch nước lớn – nước nhỏ thì có thể cho rằng chính sách không khôn khéo của nước nhỏ cũng gây phức tạp thêm tình hình nhất là khi nước lớn không thiếu cách gây khó dễ cho nước nhỏ láng giềng.

Trên thực tế, do nước nhỏ ít có cơ hội sửa sai chính sách hơn so với nước lớn, mức độ rủi ro đối với nước nhỏ là cao hơn, vì thế nhu cầu “chính sách thông minh” rõ ràng cao hơn.

Thay lời kết luận

Tóm lại, việc áp dụng chính sách “phù thịnh” (ở các mức độ khác nhau) là một sự lựa chọn chính sách phổ biến hơn so với chính sách đối đầu (tức cân bằng lực lượng) với nước lớn láng giềng.

Tuy nhiên, phù thịnh không có nghĩa là nước nhỏ bỏ hoặc coi nhẹ các nguyên tắc chủ yếu trong quan hệ với nước lớn. Cụ thể nước nhỏ vẫn phải giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong quan hệ với nước lớn. Đây là yếu tố “bất biến” trong quan hệ với nước lớn. Chừng nào nước lớn không chấp nhận nguyên tắc này, nước nhỏ phải kiên quyết đấu tranh. Đây không chỉ là vấn đề chiến lược mà còn là vấn đề có tính chiến thuật trong quan hệ với nước lớn: càng giữ được độc lập, giá trị của nước nhỏ sẽ càng cao trong quan hệ với nước lớn.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu chiến lược này, các nước nhỏ sẽ phải có những bước triển khai chính sách theo những phương châm đặc thù, thể hiện đúng so sánh lực lượng chênh lệch với nước lớn.

Một nền ngoại giao hòa hiếu với nước lớn là điều cần có đầu tiên. Như đã phân tích ở trên, nếu chính sách “phù thịnh” (ở các mức độ khác nhau nhưng đều có đặc điểm là hòa bình chung sống, tôn trọng vị thế, ưu tiên lợi ích và đẩy mạnh quan hệ hợp tác với nước lớn láng giềng) là sự lựa chọn chính sách thì một nền ngoại giao hòa hiếu với nước lớn đó sẽ đóng một vai trò quan trọng.

Ở mức cực đoan, hòa hiếu thậm chí phải được hiểu là sự nhún nhường, kể cả nhịn nhục và chấp nhận một số thỏa hiệp miễn là không vi phạm đến mục tiêu căn bản của chính sách đối ngoại.

Mức độ phải chịu “nín nhịn” có thể được giảm đi thông qua các giải pháp sau: (i) Về song phương, tăng cường xây dựng lòng tin và thỏa thuận quy tắc ứng xử, đồng thời tăng cường quan hệ các mặt để tạo thế đan xen lợi ích, nhất là kinh tế (ii) Mở rộng quan hệ với các nước thứ ba để tạo thêm thế và lực cho nước nhỏ trong quan hệ với nước lớn, và (iii) Tham gia các cơ chế đa phương để tạo thêm ràng buộc hành vi và trách nhiệm của nước lớn đối với nước nhỏ.

Bản chất của chiến lược này là xây dựng sự lệ thuộc lẫn nhau, đan xen lợi ích một cách rất linh hoạt. Đặc điểm của quan hệ quốc tế hiện nay cho thấy có điều kiện để chiến lược này được triển khai. Các đặc điểm đó bao gồm: sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ; toàn cầu hóa và sự lệ thuộc lẫn nhau; sự nổi lên của các vấn đề toàn cầu; quá trình dân chủ hóa quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển và chi phối mạnh mẽ cục diện quốc tế…

Ngoài ra, các nước lớn tuy cạnh tranh gay gắt với nhau cũng đồng thời tìm kiếm sự thỏa hiệp, đẩy mạnh hợp tác làm cho nhu cầu tìm kiếm đồng minh từ các nước nhỏ không còn trở nên bức thiết như trong thời kỳ chiến tranh Lạnh.

Càng giữ được độc lập, giá trị của nước nhỏ sẽ càng cao trong quan hệ với nước lớn. Ảnh: Reuters.

Hơn nữa, khi toàn cầu hóa phát triển, các nước đều có thể tận dụng lợi thế so sánh của mình để phát triển: nước nhỏ, kể cả nghèo nàn và lạc hậu, cũng có thể có cơ hội hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động quốc tế.[10] Kết quả tổng thể của tình trạng này là vai trò và vị trí của các nước nhỏ tăng lên trong chính sách của các nước lớn, đa phương được ưa chuộng hơn đơn phương, và các nước nhỏ có nhiều điều kiện hơn để giữ vững độc lập chính trị và phát triển kinh tế. Trong hoàn cảnh đó thuận lợi đó, nước nhỏ có thể bớt đi liều lượng “nhịn nhục”.

Nếu bản chất của chính sách Câu Tiễn là “biến đại sự thành tiểu sự” thì trong tình huống này, nước nhỏ – với sự hỗ trợ của các thể chế/ tổ chức quốc tế và sự ủng hộ của các nước khác – cũng có thể “biến tiểu sự thành đại sự” để dùng sức mạnh bên ngoài đấu tranh với nước lớn láng giềng (giới hạn ở trong phạm vi không làm mất mặt nước lớn).

Tất nhiên, điều này càng chứng minh rằng những mặt thuận lợi mà điều kiện khách quan đưa lại phải được phát huy bằng những tư duy và chính sách có tính chủ quan. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng một số nước đã có chính sách hiệu quả hơn, tận dụng hoàn cảnh bên ngoài thuận lợi để đương đầu với nước lớn láng giềng.

Nói cách khác, mức độ “thông minh” trong chính sách khác nhau sẽ đưa tới kết quả chính sách khác nhau, do tuy có chung các điều kiện khách quan, các nước nhỏ không có một khuôn mẫu hoặc công thức chính sách chung để đương đầu với nước lớn láng giềng trong các hoàn cảnh cụ thể.

—-

(*) Tiêu đề phụ do Tuần Việt Nam đặt

[6] Joel Migdal, Strong Societies and Weak States: State-Society Relations and State Capability in the Third World, (Princeton, N. J.: Princeton University Press, 1988). Xem thêm đề tài An ninh phi truyền thống ở Đông Nam Á (Học viện Ngoại giao, 2007).

[7] Xem Vũ Khoan, “An ninh, phát triển và ảnh hưởng trong hoạt động đối ngoại” trong Chính sách đối ngoại Việt Nam, Học viện Quan hệ Quốc tế, (Hà nội: Nhà xuất bản Thế giới, 2007).

[8] Khi các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ có làn sóng đập tượng Lênin, Phần Lan đã tìm cách đem tượng của Lênin về trưng bày trang trọng ở Phần Lan. Hành động này làm cho lãnh đạo và nhân dân Nga – nhất là trong giai đoạn Tổng thống Nga V. Putin muốn khôi phục lại một số giá trị thời Liên Xô – rất cảm kích và theo đó Nga càng ôn hòa hơn với Phần Lan.

[9] Xem Edward D. Mansfield và Jack Snyder, From Voting to Violence: Democratization and Nationalist Conflict; Myths of Empire: Domestic Politics and International Ambition; (New York: Columbia University, 1998).


Filed under: Các vấn đề xã hội Tagged: Các vấn đề xã hội

“Bài kiểm nghiệm” của dân

Posted: 16 Nov 2010 01:06 PM PST

Tác giả: Thanh Tường

Trong xã hội hiện nay, dù chỉ là cá biệt, vẫn còn có những “Đầy tớ thì ở nhà lầu, cha con ông chủ giấy dầu che mưa. Đầy tớ bù khú sớm trưa, cha con ông chủ rau dưa qua ngày …”.

“Đầy tớ thì ở nhà lầu, cha con ông chủ giấy dầu che mưa”…

Trên báo Cứu Quốc (tiền thân của báo Đại Đoàn kết hiện nay) số ra ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Là đầy tớ của dân, Đảng và Nhà nước phải tận tâm, tận lực với dân trong từng việc làm. Cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, gương mẫu, sâu sát và dám chịu trách nhiệm với dân. Việc gì có lợi cho dân, phải hết sức làm; việc gì hại cho dân phải hết sức tránh” (trích thư gửi “Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” ).

Tương tự, khi nói về mục tiêu hoạt động của bộ máy Đảng và chính quyền các cấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Dân là chủ của nước, nước là nước của dân. Các cơ quan Đảng và Nhà nước là tổ chức được dân ủy thác làm công vụ cho dân. Đảng ta không có mục tiêu nào khác là đem lại lợi ích cho dân. Để thực hiện được mục tiêu đó, Đảng phải thu phục, chinh phục được nhân dân. Muốn vậy, Đảng phải làm tròn trách nhiệm đầy tớ của nhân dân, phải trung thành, tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân“.

Đó là những lời dạy về đội ngũ “công bộc” của dân mà từ thuở chính quyền cách mạng non trẻ đã được Bác Hồ dạy và nguyên nghĩa giá trị cho đến ngày nay!

Ảnh Hoàng Long

Làm cán bộ là làm đầy tớ trung thành của nhân dân. Dân làm chủ và có quyền giám sát đầy tớ của mình! Điều này thì quá ít người không biết. Nhưng trong xã hội hiện nay, dù chỉ là cá biệt, vẫn còn có những “Đầy tớ thì ở nhà lầu, cha con ông chủ giấy dầu che mưa. Đầy tớ bù khú sớm trưa, cha con ông chủ rau dưa qua ngày …”.

Đó đây trong xã hội ta, vẫn có những đầy tớ lướt xe hơi xịn vèo vèo, để mặc “ông chủ” lầm than cơ cực như ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Hoặc có những đầy tớ bỏ mặc dân đói rét nơi rốn lũ và mưa bão mịt mùng, tự cho mình cái quyền “ăn trên, ngồi trốc” như ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh…

Xin được nhắc lại, đó chỉ là những trường hợp cá biệt, và đã bị xử lý bằng những hình thức khác nhau như bắt tạm giam hoặc cách chức. Nhưng rõ ràng hiện tượng đó đã làm xấu đi hình ảnh của người cán bộ cách mạng sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân phục vụ, cống hiến.

Sẽ là thiếu công bằng, minh bạch nếu mang vài trường hợp dạng “con sâu bỏ rầu nồi canh” đó ra mà quy chụp. Nhưng cũng thật đau lòng, khi có những cán bộ đã không giữ được lập trường, không thắng được sự cám dỗ của vật chất tầm thường, để rồi làm trái luật pháp, làm mất lòng tin của nhân dân và làm nhói tim những cán bộ, đảng viên chân chính!

"Bài kiểm nghiệm" của dân

Thế nên, thời gian qua ở hầu khắp các địa phương trên toàn quốc đã và đang rất nghiêm túc triển khai lấy phiếu tín nhiệm các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và UBND cấp xã phường.

Theo điều 26 của Pháp lệnh Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã ghi rõ: “Hai năm một lần trong mỗi nhiệm kỳ của HĐND cấp xã, Ban Thường trực UBMTTQ Việt Nam cùng cấp tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã; thành phần tham gia lấy phiếu tín nhiệm gồm các thành viên UBMTTQ Việt Nam, thành viên ban thường vụ của các tổ chức chính trị – xã hội cấp xã, trưởng ban thanh tra nhân dân, trưởng ban giám sát đầu tư của cộng đồng (nếu có), Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng ban công tác Mặt trận thôn, Tổ dân phố; Ban Thường trực UBMTTQ cấp xã gửi kết quả lấy phiếu tín nhiệm và kiến nghị của mình tới HĐND cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”…

Đây là một “bài kiểm nghiệm” cần thiết không chỉ đối với chính “đày tớ” của dân, vì qua những đợt lấy phiếu tín nhiệm này, “đày tớ” của dân sẽ thấy rõ mình đang ở vị trí nào, được bao nhiêu “điểm” trong cách điều hành, xử lý công việc chuyên môn và phục vụ nhân dân?

“Tai mắt” của nhân dân trong từng hành động, cách cư xử, ứng xử, lề lối làm việc… của mình đối với dân, với nước còn được bao nhiêu? Từ đó có những biện pháp và tư duy điều chỉnh người cán bộ cách mạng của dân và vì dân được hữu ích hơn, trung thực hơn.

Theo bà Nguyễn Thị Đàng, Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ tỉnh Bình Định cho biết: “Việc lấy phiếu tín nhiệm, sẽ giúp cấp ủy Đảng có thêm cơ sở để đánh giá đúng năng lực, phẩm chất cán bộ chủ chốt ở cơ sở; từ đó, có định hướng trong việc xây dựng và quy hoạch đội ngũ cán bộ cơ sở, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đồng thời, đây cũng là điều kiện để Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và UBND cấp xã được gần dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân về những ưu điểm để phát huy và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; kịp thời khắc phục những hạn chế, khuyết điểm; tăng cường mối quan hệ gần gũi, gắn bó với nhân dân.

Việc lấy phiếu tín nhiệm cũng tạo thêm điều kiện để MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên phát huy vai trò, vị trí, trách nhiệm của mình trong việc thay mặt nhân dân giám sát cán bộ, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền và cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong sạch, vững mạnh”.

Qua theo dõi việc thực thi lấy phiếu tín nhiệm của nhân dân, ở một số tỉnh như Bình Phước, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nam Định, Hải Phòng …đã đưa ra những con số minh chứng cụ thể về sự tín nhiệm của dân đối với hệ thống công bộc này còn bộc lộ những bất cập, uy tín trong dân còn chưa cao.

Điều này chứng tỏ công tác “xây dựng lực lượng” đối với các công bộc của dân cần nghiêm túc, thẳng thắn và cố gắng nhiều hơn để đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân.

  • Theo Đại Đoàn Kết

Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

70s Rock – Touch Me – The Doors

Posted: 15 Nov 2010 03:53 PM PST

Hãy chạm tay vào anh

(Ban nhạc The Doors)

Vâng, đến đi, đến đi, đến đi, đến di
Bây giờ, hãy chạm tay vào anh, em yêu
Em không thấy là anh không sợ sao?
Điều em đã hứa là gì?
Sao em không nói cho anh biết điều cô ấy nói?
Điều em đã hứa là gì?

Nào, anh sẽ yêu em
Cho đến khi mọi bầu trời ngưng mưa
Anh sẽ yêu em
Cho đến khi các tinh tú rơi từ trời cho anh và em

Đến đi, đến đi, đến đi, đến di
Bây giờ, hãy chạm tay vào anh, em yêu
Em không thấy là anh không sợ sao?
Điều em đã hứa là gì?
Sao em không nói cho anh biết điều cô ấy nói?
Điều em đã hứa là gì?

Anh sẽ yêu em
Cho đến khi mọi bầu trời ngưng mưa
Anh sẽ yêu em
Cho đến khi các tinh tú rơi từ trời cho anh và em
Anh sẽ yêu em
Cho đến khi mọi bầu trời ngưng mưa
Anh sẽ yêu em
Cho đến khi các tinh tú rơi từ trời cho anh và em

(TĐH dịch)

Touch Me

(The Doors)

Yeah! Come on, come on, come on, come on
Now touch me, baby
Can’t you see that I am not afraid?
What was that promise that you made?
Why won’t you tell me what she said?
What was that promise that you made?

Now, I’m gonna love you
Till the heavens stop the rain
I’m gonna love you
Till the stars fall from the sky for you and I

Come on, come on, come on, come on
Now touch me, baby
Can’t you see that I am not afraid?
What was that promise that you made?
Why won’t you tell me what she said?
What was that promise that you made?

I’m gonna love you
Till the heavens stop the rain
I’m gonna love you
Till the stars fall from the sky for you and I
I’m gonna love you
Till the heavens stop the rain
I’m gonna love you
Till the stars fall from the sky for you and I

The Doors là một ban nhạc rock Mỹ thành hình năm 1965 ở Los Angeles, California, gồm có ca sĩ Jim Morrison, keyboardist Ray Manzarek, trống John Densmore, và guitarist Robby Krieger. Tên của ban nhạc đến từ quyển sách The Doors of Perception của Aldous Huxley, có ý nghĩa từ câu nói của William Blake: "Khi cánh cửa của nhận xét được chùi sạch, mọi thứ hiện ra với con người như chúng thật là… vô hạn" (When the doors of perception are cleansed, things will appear to man as they truly are…infinite).

Sau khi ca sĩ Jim Morrison qua đời năm 1971, 3 người còn lại tiếp tục chơi đến năm 1973 rồi ngưng. Dù vậy, nhạc của The Door tiếp tục được ưa chuộng và đã bán được 32,5 triệu đĩa chỉ tính trong nước Mỹ. Ray Manzarek và Robby Krieger vẫn thỉnh thoảng trình diễn nhạc The Door với nhau.


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa

Già cứng

Posted: 15 Nov 2010 03:52 PM PST

Chào các bạn,

Cây cối già, loài vật già, người già thường giống nhau ở điểm là cứng—vỏ cứng, thân cứng, cành cứng, tay chân thân thể cứng, không dịu dàng uyển chuyển như thuở còn trẻ. Tư duy và thái độ cũng thế. Ta càng già lớn, ta càng cứng nhắc. Có nghĩa là càng già lớn ta càng bị đóng cứng vào các khung tư duy và thái độ. Cho nên nhiều khi chúng ta thấy một số người lớn tuổi có vẻ rất khó chịu trong một số các trường hợp. Lại thêm bệnh lãng tai, ai nói gì cũng không nghe (hay không thèm nghe?).

Có nghĩa là, càng lớn tuổi ta càng có nguy cơ bị chấp vào các thành kiến của mình về tốt xấu, đúng sai, đẹp tồi. Rất đáng chán khi một người có cái đầu hẹp hòi và cứng ngắc như thế.

Cách làm cho chúng ta đỡ cứng đương nhiên là tập cho thân thể mềm dẻo bằng các môn tập như yoga hay khiêu vũ. Và đương nhiên là tâm trí chúng ta cũng cần phải có những môn yoga và khiêu vũ như thế.

Yoga và khiêu vũ đòi ta phải cúi nhiều, cong nhiều, xoay nhiều và giãn nhiều.

Cúi là khiêm tốn, hạ mình xuống một chút. Hạ càng nhiều thì người mình càng uyển chuyển dẻo dai.

Cong là đừng có thẳng cứng một chiều. Nhường nhịn một tí, cho ý kiến người khác có cơ hội một tí, uyển chuyển trong vị thế và lập trường một tí.

Xoay là một vòng 360 độ, nghĩa là nhìn rộng một tí để thấy được quan điểm của tất cả mọi người chung quanh ta, thay vì cứ nhìn vào một đường hầm thẳng đơ trước mắt.

Giãn là kéo dài hơn một tí, rán giãn ra một tí trong thái độ và tư duy để có thể "sờ" được người khác, đừng co rút trong hộp thái độ của mình.

Các bạn, đây là các động tác thể dục cho người lớn tuổi. Giản dị. Hiệu nghiệm. Và rất dễ nhớ.

Càng lớn ta càng cứng về thân thể lẫn tinh thần. Nếu chúng ta không khôn ngoan để luyện tập dẻo dai thường xuyên, thì đừng trách tại sao ai cũng có vẻ ngại ta như ông/bà già phù thủy.

Và nếu bạn còn trẻ mà cơ thể và tinh thần bị bệnh già trước tuổi, thì đây cũng là một bài thể dục thường xuyên cho bạn.

Chúc các bạn một ngày dẻo dai.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Mùa đông còn lại gì

Posted: 15 Nov 2010 03:52 PM PST

    TĐH: Kinh Tâm Thích Pháp Bảo, tu sĩ tại Thiền viện Vạn Hạnh, Sài Gòn, nhân đọc và mến Đọt Chuối Non đã gởi bài này để chia sẻ với các anh chị em vườn chuối. Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Mong là mối duyên lành này sẽ sinh nhiều quả phước mai sau. Cám ơn thịnh tình của Đại Đức Thích Pháp Bảo.

Mùa đông về thật rồi ư, cây cối trở nên hiu quạnh, đâu đó nỗi buồn man mác chợt hiện về. Biển cũng âm thầm cất lời sám hối, con giã tràng đang gọi một linh hồn vô thường nơi cát mộng. Để lại trong trong tôi những ý niệm nhớ thương. Mùa Đông năm ấy, tháng chín bầu trời bỗng sập tối, tha thiết tìm lại bóng dáng người xưa. Mọi người tưởng rằng, Đông là trong bốn mùa tuyệt vọng, dường như với tôi là khác, nó vẫn băn khoăn tiếp nối. Bất cứ tái sinh ở cảnh giới nào, đều là cách giới của sự sống, bất tuyệt mầu nhiệm. Còn lại một mùa đông mãi trong ký ức của tôi.

(Kinh Tâm)

…Sáng mở cửa, uống trà, nhìn mây và ngắm nắng từ vô tận. Những nhành cây lặng lẽ trong tiếng thời gian quá khứ. Mặt hồ tĩnh mặc như một bức họa vô tâm, trên màng nước còn sót lại chiếc lá và đám rong mây của mùa thu qua. Con đường lạ lẫm mà chưa một lần bước đến nay đã trở thành huyền thoại. Nơi vô thủy ấy, ta chỉ biết có lời kinh hóa ngọc, lời pháp tỉnh lòng mê và vô số điều uyên thâm đắc đạo của những bậc thượng thủ.

Ta đã trở về với chính ta,
Ta cùng chư Phật chung một nhà,
Ta đi phiêu bạt trong hoàn vũ,
Chẳng phải nơi nào chẳng phải ta.

(Thơ.Đồng Nhãn)

Cái thấy mà không bám víu, cái biết hòa điệu như một cung bậc thăng trầm, đi nhưng không phải là đi, ở cũng chẳng sá gì chỉ nhắm mắt thiếp ngủ hai ba lúc rồi thức dậy. Chúng ta phải nhìn thấu được sự hiện hữu của " Một nhà" là đến lúc ta biết an trú vào đối tượng quán chiếu, thân hành nơi thân hành, tâm trong tâm, ý xúc tác mà không chạm, miệng giữ yên không động thì có thể chúng ta cứ tiếp tục nhiếp phục tóm thâu mọi nắm bắt kia. Dường như mùa đông cũng thế, chúng cũng chịu buông bỏ cái lớp vỏ bên ngoài để vững an từ cái nội tại. Có đôi khi chúng còn thừa hưởng sự tụ khí và đón nhận cái chân lý ' Là Không' bao trùm cõi nhân địa, sống trong tỉnh gíác trở về với tâm:

Ta lại tìm ta chốn bụi hồng,
Cho hồn ta nhập với núi sông,
ở đây nương tựa vầng mây khói,
vạn nẻo luân hồi vạn nẻo không.

Như một chiếc bình cổ, qua sự biến đổi của hiện thể, chúng ta dễ dàng thấy vết nứt trên thân bình, trên vành miệng bình, chúng ta mãi mê lau chùi chiếc bình cho bóng loáng mà quên đi một tác động nhỏ đến từ bên ngoài, làm hoại dần sự trong sáng vốn có của nó. Từng tơ bụi có thể đọng lại mà ta không hề hay biết, nhưng chúng cũng có khả năng bảo tồn dính chặt vào khe hở của chiếc bình muôn tuổi. Do ta không biết đó thôi, Mùa Đông lắm lúc cũng là sự chuyển dần của một bước ngoặc mới trong ý thức, trong căn cơ và trong mỗi hơi thở bất diệt vô sanh. Ngày hôm qua chưa chắc là của ngày hôm qua, sáng nay cũng vậy, chúng tiềm tàng ở mọi thế giới khác nhau, xóa tan đi những đám mây hư vô và bước chân ta luôn có mặt với thực tại để sống và để một lần nữa hòa mình vào dòng chảy vô dư y niết bàn.

Như một hành giả, gánh tọa cụ và nước lên núi để tìm hang động ẩn thất, đang trên đường đi tới thì bỗng cành cây khô vướng lại, choán cả lối mòn lên núi, bằng mọi cách vị Thiền Sư ấy, quăng các thứ còn lại xuống và cởi chiếc áo ra móc vào thân cây gần đó, để làm dấu. Từ từ Vị ấy nhận ra rằng cái mà hồi nãy giờ ta lặn lội đi tìm kiếm là một cành cây khô đã mục nát lâu ngày chỉ còn sót lại dăm ba nhánh bên đường, làm cản trở chuyến lên ẩn thất của tôi. Một trạng thái chân tục đế, hữu dư y niết bàn mà sở dĩ ta vội vàng được một nhà học giả gọi là "Trạng thái tâm vắng lặng mà thường biết là đương thể của Niết bàn. Thế nên, Niết bàn chính là bản tâm thanh tịnh xưa nay. Nhờ cái đương thể của Niết bàn mà thế gian sinh diệt mới có chỗ dựa tối hậu. Niết bàn hay sinh tử rốt cùng cũng chỉ là cái tâm của chúng ta, vì sinh tử (mê) và Niết bàn (giác) chỉ là biểu tượng hai mặt của tâm. Có khi người ta hiểu Niết bàn là một cảnh giới, nhưng là một cảnh giới vi diệu mà ở đấy tất cả dục vọng vô minh của cá thể không còn tồn tại nữa. Vì thế, những người đệ tử Phật muốn biết Niết bàn là gì, chỉ có thể kinh nghiệm một cách trực tiếp vào nguồn tâm của chính mình. Và khi nào mà ý niệm về ta và của ta không còn năng lực hoạt động trong tâm, thì tự nhiên hành giả sẽ kinh nghiệm được cái một, cái thuần nhất bất tạp của muôn loài vạn vật. Có thể nói, Niết bàn là chân lý tuyệt đối, nó vượt ngoài nhị nguyên và tương đối. Người đạt được Niết bàn là người phục vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất, vì họ không còn nghĩ về mình, họ đã thoát khỏi mọi sai lầm về Ngã và lòng khát khao muốn trở thành. Trong Niết bàn, không còn có thái độ thiên chấp và bưng bít. Niềm vui chân thật chỉ xuất hiện khi nào ta thoát khỏi mọi thành kiến ngã chấp và ý niệm có sẵn. Những người có lối sống phàm thường, đam mê trong dục lạc thật khó mà biết được sự an lạc nội tâm của các nhà tu hành đắc lực. Nhất là thời hiện đại này, nhiều người đã xem nhẹ truyền thống tâm linh và đạo đức, lại xem trọng tri thức và vật chất. Và chính đó là mầm mống thác loạn trong đời sống nội tâm và đời sống xã hội loài người hôm nay" và rồi sẽ "Cái gì có nương tựa, cái ấy có giao động; cái gì không nương tựa, cái ấy không giao động. Không có giao động thời có khinh an, có khinh an thời không có thiên về, không có thiên về thời không có đến và đi, không có đến và đi thời không có diệt và sanh, không có diệt và sanh thời không có đời này, không có đời sau, không có đời giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau".

Người Thiền sư suốt đêm qua luôn gác tay suy tư về điều mà Ông chứng kiến buổi hôm qua, Ông cho rằng cái mà vừa sắp diễn ra là cái chưa một lần đến và cái sắp bắt đầu là cái không biết chắc xảy ra. Bởi vậy mùa đông giúp cho chúng ta biết thêm về sự tương quan tương duyên của cuộc sống, tưởng chừng ta đơn độc như vị Sư Thiền kia, một mình lên núi, một mình cởi áo và cũng một mình đoạn trừ các lậu hoặc trước khi chiếm tới đỉnh núi ẩn thất. Chúng ta sẽ tìm ra sự phòng hộ giữa các chuyển mùa với nhau, đừng ích kỷ tách biệt cái này của ta và cái này là của ta. Bị bám víu vào các cảm thọ sum tụ, vui sướng, nóng lạnh thì ta đang mắc kẹt ở các pháp.

Có một thiền khách hỏi:

Sau khi mùa đông đi qua, để lại gì cho ta?

Sư đáp:

- Hãy nơi sinh tử mà nhận lấy.

"Tất cả pháp hữu vi sinh diệt trong từng sát na. Quá khứ đã trôi qua, vị lai thì chưa đến, sự tồn tại chân chính chỉ có thể tìm thấy trong từng sát na hiện tại. Vì thế, Niết bàn chỉ có ở sát na hiện tại, ngay tại đây và bây giờ. Niết bàn cũng là chỗ tiềm ẩn của thế giới hiện thực, song song tồn tại với thế gian vô thường, và vô thường chính là dụng lực của Niết bàn vô vi đó vậy".*

Thế cho nên thế giới Hoa Nghiêm luôn hiển hiện ở cùng khắp và đâu có cũng có chân lý tuyệt đối. Một Chân lý huyền diệu mà ta có thể cảm được, chạm được thì hẳn nhiên hạnh phúc mà ta bắt gặp được trong từng giây từng phút là chuyện đương nhiên, chẳng có khó khăn gì lắm đâu, nếu tự thân chúng ta phải biết trải nghiệm và buông bỏ bớt mọi cái thấy, cái nghe rác bẩn. Như có một người chèo thuyền ra biển khơi, lúc gặp gió lớn, sóng dữ, người ấy chẳng cần dụng công lực chi nhiều mà hãy thả trôi vô sự, chờ đến khi sóng yên, gió lặng ta tiếp tục lái con thuyền đi mọi hướng không theo vọng tâm của chúng ta.

Tùng non lớp lớp giữa nền trời
Đùa reo với gió chừng thảnh thơi
Từng bước ta đi trên lối cỏ
Muôn ngàn giọt nắng dõi theo chơi.

Mỗi khi sự sống vắng vẻ thì lúc tâm thức biểu hiện qua vô vàn sự biến chuyển. Nó như muốn ngừng thở và nó như muốn tái sinh và nó như muốn trở về…và mùa đông cũng vậy, nó luôn là một thứ gì đó rất ư tự nhiên, nó luôn muốn lột xác, để lại chút gì cho thế gian. " Tất cả là một". Một cõi đi về mà thôi.

Kinh Tâm – Thích Pháp Bảo
http://vanhoaphatgiaophapbao.blogspot.com/


Filed under: Thiền, Văn Tagged: Văn

Hình ảnh NSND Đặng Nhật Minh trong đêm tôn vinh tại Mỹ

Posted: 15 Nov 2010 03:50 PM PST

(Dân trí) - Đạo diễn – NSND Đặng Nhật Minh đã có buổi tôn vinh tại Mỹ với những đóng góp của ông dành cho điện ảnh Việt Nam. Phóng viên Dân trí đã có được những bức hình hiếm hoi về buổi lễ tôn vinh NSND Đặng Nhật Minh tại Mỹ.

 

Tối 10/11 (theo giờ địa phương), NSND Đặng Nhật Minh đã được tôn vinh tại Mỹ. Chương trình được Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Mỹ tổ chức dưới hình thức tọa đàm tại trung tâm điện ảnh thế giới Hollywood. NSND Đặng Nhật Minh được tôn vinh với những đóng góp của ông dành cho điện ảnh Việt Nam qua hàng loạt tác phẩm xuất sắc như: Thương nhớ đồng quê, Bao giờ cho đến tháng 10, Thị xã trong tầm tay, Cô gái bên sông, Mùa ổi, Đừng đốt…
Dưới đây là một số hình ảnh hiếm hoi về NSND Đặng Nhật Minh trong đêm tôn vinh tại Mỹ:
NSND Đặng Nhật Minh chụp ảnh cùng diễn viên Kiều Trinh, diễn viên Đỗ Hải Yến trước đêm tôn vinh

Đỗ Hải Yến và bạn trai có mặt để chia sẻ niềm vui với NSND Đặng Nhật Minh


NSND Đặng Nhật Minh trong đêm tôn vinh tại Mỹ.

H.H
Ảnh: Trần Hoàng Anh

Filed under: Mỗi ngày 1 tin sáng Tagged: Tin sáng

Bill Clinton khẳng định quan hệ Mỹ-Việt lâu bền

Posted: 15 Nov 2010 03:49 PM PST

BBC

Ông Clinton vẫy tay chào các sinh viên ở Đại học Ngoại thương
Ông Clinton thăm và nói chuyện với sinh viên tại Đại học Ngoại thương Hà Nội.

Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đang có chuyến thăm Hà Nội trong chuyến đi tăng cường quan hệ và hợp tác song phương trên một số lĩnh vực bao gồm cả mậu dịch, y tế, khí hậu và hợp tác an ninh.

Báo tài chính Bloomberg ngày 14/11 đưa tin trong chuyến thăm Việt Nam lần này, ông Clinton đã gặp Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và nói chuyện với sinh viên tại Đại học Ngoại thương Hà Nội.

Trong bài phát biểu trước sinh viên, ông được trích dẫn nói "Nay giữa Hoa Kỳ và Việt Nam có một “quan hệ đối tác lâu bền”.

Báo Bloomberg cho biết một báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Hoa Kỳ ra vào năm ngoái nói lợi ích của Hoa Kỳ trong mối quan hệ với Việt Nam bao gồm cả quan ngại chung về sức mạnh đang lên của Trung Quốc.

Ông Clinton cũng nói về “hợp tác an ninh” khi liệt kê các lĩnh vực mà Hoa Kỳ và Việt Nam đã và đang làm việc cùng nhau trong chuyến thăm này.

Mậu dịch

Tầm quan trọng về mối quan hệ của chúng tôi với Việt Nam là một trong số ít chủ đề mà cả hai chính đảng ở Washington thấy đồng thuận

Bill Clinton

Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ cho hay xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng mạnh kể từ khi Thỏa thuận Mậu dịch Song phương (BTA) có hiệu lực vào năm 2001.

Xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng từ mức một tỷ đô la năm 2001 lên hơn 12 tỷ đô la trong năm ngoái.

Chỉ riêng trong chín tháng đầu năm nay, Việt Nam xuất khẩu một lượng hàng hóa trị giá gần 11 tỷ đô la trong khi xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam đạt 2,5 tỷ.

Các thỏa thuận mậu dịch “là việc làm đúng đắn cho cả hai nước”, ông Clinton nói.

“Chúng tôi (Hoa Kỳ) đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của các bạn và Hoa Kỳ cũng là một trong những nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam.”

“Việc bình thường hóa quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là một trong những khoảnh khắc đáng tự hào nhất của nhiệm kỳ tổng thống của tôi,” ông Clinton nói.

“Tầm quan trọng về mối quan hệ của chúng tôi với Việt Nam là một trong số ít chủ đề mà cả hai chính đảng ở Washington thấy đồng thuận.”

'Cầu nối'

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cảm ơn sự hỗ trợ của cá nhân ông Clinton.

Tin đưa trên trang web chính phủ Việt Nam cho hay trưa 14/11 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong buổi tiếp cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã cảm ơn sự hỗ trợ của cá nhân ông Clinton trong quá trình bình thường hoá và thúc đẩy xây dựng quan hệ đối tác hữu nghị Việt Nam – Hoa Kỳ.

Ông Dũng cũng được trích dẫn nói lời cảm ơn tấm lòng và sự hỗ trợ nhân đạo mà ông Clinton và Quỹ Clinton đã dành cho Việt Nam trong các hoạt động phòng chống HIV, AIDS, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Báo điện tử chính phủ Việt Nam cũng đưa tin nói rằng ông Clinton cho biết, ông sẵn sàng làm cầu nối giới thiệu các đối tác hai bên hợp tác triển khai những dự án hạ tầng, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Báo điện tử Dân Trí cho hay ông Clinton cho rằng Việt Nam là nước bị tổn thương do biến đổi khí hậu, nhất là tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và ông khẳng định sẽ làm hết sức thúc đẩy quan hệ giữa hai nước, trong đó Quĩ Bill Clinton tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu.

Ông Clinton mong muốn nhiều người dân Việt Nam tham gia vào hoạt động phòng chống HIV/AIDS và khẳng định Quỹ Bill Clinton để phòng chống HIV/AIDS sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong phòng chống và điều trị HIV/AIDS, báo Dân Trí cho hay.

Hồi tháng 12 năm 2006 cựu Tổng thống Hoa Kỳ, Bill Clinton, trong chuyến thăm Việt Nam đã tham gia vào cuộc tọa đàm với giới sinh viên và thanh niên Việt Nam về chủ đề HIV/Aids tại Hà Nội.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

Thành viên Mặt trận Tổ quốc kêu gọi cải tổ

Posted: 15 Nov 2010 03:48 PM PST

BBC


Ông Đằng kêu gọi cán bộ, đảng viên và nhân dân không nhân nhượng với cái sai, cái nguy hại cho đất nước, dân tộc.

Một luật gia, cựu quan chức cao cấp Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam ở TP Hồ Chí Minh vừa công bố hai bài viết kêu gọi đấu tranh cho dân chủ và yêu cầu công bố rộng rãi cho toàn dân kiến nghị của các trí thức, nhân sỹ đòi dừng dự án Bauxite Tây Nguyên gây nhiều tranh cãi.

“Lòng dân đang rất bất an, dân không thể tiếp tục tin yêu chế độ nếu tình hình cứ tiếp tục như thế này,” trên trang mạng Bấm Bauxite Việt Nam, ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận TQVN TPHCM nhận định về tâm lý chung trong quần chúng.

“Đảng Cộng sản phải nhận rõ vấn đề để chủ động chuyển đổi thể chế chính trị phù hợp với tình hình mới,” ông Đằng lên tiếng trong bài viết có tựa đề “Dân chủ là giải pháp cho các vấn đề của đất nước” khởi đăng trên trang mạng không chính thức trong nước, hôm 15/11.

Sau khi nêu dẫn chứng về việc lãnh đạo láng giềng của quốc gia cộng sản Trung Quốc, Thủ tướng Ôn Gia Bảo vừa công khai cảnh báo nguy cơ của ĐCS Trung Quốc nếu không ‘cải cách để dân chủ hóa xã hội,’ người hiện đang giữ chức Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương MTTQVN, nhận định:

Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh. Đấu tranh mà không phá vỡ sự ổn định xã hội, đó là bài toán phải giải quyết, nhưng quyết không thể nhân danh ổn định mà kìm hãm đấu tranh để xây dựng nền dân chủ.
Luật gia Lê Hiếu Đằng

“Tuy nhiên, toàn dân không thể thụ động ngồi chờ chính quyền tự thay đổi,” ông Đằng viết.

“Trong đời hoạt động của mình, tôi luôn được dạy rằng: không có người cai trị nào tự nguyện từ bỏ quyền lực, ghế ngồi của mình.”

“Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh.”

Đánh giá rằng việc đấu tranh mà không phá vỡ ‘sự ổn định chính trị’ là một bài toán phải giải quyết, tuy nhiên ông Đằng khẳng định: “Nhưng quyết không thể nhân danh ổn định mà kìm hãm cuộc đấu tranh để xây dựng nền dân chủ.”

‘Tín hiệu đáng mừng

Mà tại sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ, bị lịch sử phủ nhận.
Ông Lê Hiếu Đằng

Ông cũng đánh giá những tín hiệu xã hội mà ông cho là đáng mừng về điều mà ông gọi là sự ‘nâng cao ý thức dân chủ’ của người dân.

Ông Đằng trích dẫn các trường hợp người dân khởi kiện các cơ quan nhà nước vì xâm phạm lợi ích của họ như một người dân ở Sài Gòn kiện ngành giao thông, người dân huyện Bình Chánh kiện điện lực thành phố và người dân tỉnh Quảng Nam kiện thủy điện xả lũ.

“Thời gian qua đã có những dấu hiệu đáng mừng về nâng cao ý thức dân chủ của người dân: những vấn đề lớn của đất nước người dân không còn để mặc chính phủ tự quyết định như thói quen từ trước đến nay…,” cựu quan chức TPHCM tổng kết.

“Hơn thế nữa, người dân đã bắt đầu dám đứng lên thực hiện một quyền được pháp luật cho phép mà không ai có thể chụp mũ này nọ: quyền kiện các cơ quan nhà nước xâm phạm lợi ích công dân.”

Trong khi trong nước đang rộ lên dư luận về các vụ bắt bớ những người bất đồng chính kiến hoặc có ý kiến phản biện, phản bác công khai Đảng Cộng sản và nhà nước, có khả năng tiếp tục sau vụ luật gia Cù Huy Hà Vũ bị bắt mới đây, cũng như một số trang blog cá nhân về thời sự, nghị luận chính trị xã hội, có thể bị ‘tấn công’ hoặc ‘xóa sổ’, tác giả bài bài báo viết:

“Trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, chúng ta không có gì phải sợ…”

“Mà tại sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ, bị lịch sử phủ nhận.”

Thông điệp nhắn nhủ

Đã đến lúc tất cả chúng ta, cán bộ, Đảng viên, nhân dân, phải có ý kiến, không thể nhân nhượng, không thể dĩ hòa vi quý với cái sai, cái nguy hại cho đất nước, cho dân tộc.
Ông Lê Hiếu Đằng

Còn trong bài viết thứ hai với tựa đề “Phải công bố bản kiến nghị về bauxite,” ông Lê Hiếu Đằng trên trang mạng Bauxite Việt Nam ‘nhờ’ trang này nhắn nhủ một thông điệp tới các lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước vốn là cựu đồng chí của ông trong thời gian chiến tranh.

“Nhân đây, tôi cũng xin qua mạng Bauxite Việt Nam để nhắn chủ những đồng chí từng sát cánh chiến đấu với tôi ở nội thành Sài Gòn – Gia Định, các chiến trường miền Đông Nam Bộ, ven Sài Gòn…,” ông Đằng viết.

“Đó là các đồng chí Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Lê Thanh Hải. Mong các đồng chí lên tiếng đấu tranh để ngăn chặn những nguy cơ cho đất nước như Dự án Bauxite và việc cho thuê rừng đầu nguồn nói trên.”

Sau khi đề nghị Quốc hội công bố rộng rãi bản kiến nghị trước toàn dân về dự án tranh cãi Bauxite, đồng thời yêu cầu cơ quan lập pháp này ‘tập trung làm rõ’ hai vấn đề trên, tránh ‘để bị lạc hướng vì những chuyện khác’, luật gia Lê Hiếu Đằng kêu gọi:

“Đã đến lúc tất cả chúng ta, cán bộ, Đảng viên, nhân dân, phải có ý kiến, không thể nhân nhượng, không thể dĩ hòa vi quý với cái sai, cái nguy hại cho đất nước, cho dân tộc.”

“Chúng ta không có gì phải sợ, vì chúng ta trong sáng, chúng ta thực tâm yêu nước thương nòi, chúng ta làm đúng theo luật pháp, hiến pháp.”


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

No comments:

Post a Comment