Đọt Chuối Non |
- 70s Rock – Dancing Queen – ABBA
- Trăm hay không bằng tay quen
- Cám ơn anh
- TP.HCM: Nữ sinh lớp 8 bị cởi đồ, tra tấn tại lớp
- Đạo đức là nền
- Mô hình quản trị Đông Á: Lặng lẽ học hỏi
- Các diễn văn làm thay đổi thế giới – Hãy Hướng Mặt Về Đền Thánh – Kinh Koran (2:142-167)
| 70s Rock – Dancing Queen – ABBA Posted: 26 Nov 2010 01:30 PM PST Nữ hoàng vũEm có thể vũ, em có thể lắc, em đang say mê lúc vui chơi Tối thứ sáu đèn mờ Em là nữ hoàng vũ, trẻ và đẹp, chỉ 17 Em là người khiêu gợi, em làm họ hứng khởi Em là nữ hoàng vũ, trẻ và đẹp, chỉ 17 (TĐH dịch) Dancing QueenABBA You can dance, you can jive, having the time of your life Friday night and the lights are low You are the dancing queen, young and sweet, only seventeen You're a teaser, you turn 'em on You are the dancing queen, young and sweet, only seventeen ABBA là ban nhạc Thụy Điển thành hình năm 1972, gồm Anni-Frid “Frida” Lyngstad, Björn Ulvaeus, Benny Andersson và Agnetha Fältskog. Họ là ban nhạc thành công thương mại nhất trong lịch sử âm nhạc, đứng đầu các bảng từ 1972 đến 1983 khi họ rã. ABBA bán hơn 375 triệu đĩa nhạc, trở thành nghệ sĩ bán nhiều thứ 4 trên thế giới. Và ngày nay mỗi năm họ vẫn bán từ 2 đến 3 triệu đĩa. Năm 1999, nhà soạn kịch Catherine Johnson của Anh soạn nhạc kịch Mamma Mia dựa trên các nhạc phẩm của ABBA, đưa các bản nhạc ABBA lên đầu bảng trở lại. Năm 2008 lại có phim Mamma Mia, dựa theo nhạc kịch, do Merryl Streep thủ vai chính, làm ABBA trở lại mạnh mẽ và thành phổ thông với thế hệ thanh thiếu niên ngày nay. Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa | |||||||
| Posted: 26 Nov 2010 01:29 PM PST Chào các bạn, Nhưng điểm mình muốn nói ở đây là hai chữ "tay quen". Các bạn có biết làm sao để "tay quen" hay "quen tay" không? Muốn quen tay một động tác nào đó ta cứ làm động tác đó thường xuyên, hoài hoài, mỗi ngày vài trăm lần hay vài ngàn lần. Cho đến nhiều năm sau thì ta sẽ rất quen tay với động tác đó. Ví dụ: Người học đàn, ngày nào cũng đi các thang âm "đồ rê mi fa sol la si đô, đô si la sol fa mi rê đồ" lên xuống xuống lên như thế cả trăm lần, làm cho hàng xóm điên cả đầu… Nhiều năm như thế thì các ngón tay lướt trên phím đàn nhẹ nhàng như cánh bướm. Người học võ cũng thế, trong võ đường các môn sinh mỗi ngày phải tập vài cách đấm đá, mỗi cách vài chục lần, lập đi lập lại như thế khoảng 10 năm thì thành thầy. Các nghề nghiệp cao cấp cũng vậy. Bác sĩ chuyên giải phẫu tim chẳng hạn. Cứ mỗ tim, từ tim giả đến tim người chết đến tim bệnh nhân, vài trăm lần hay nghìn lần, thì thành thầy. Quả tim chỉ có vài cơ phận. Cứ phải học hoài cho quen tay thôi. Các môn sinh của mọi môn học—nhạc, võ, vẽ, vũ…–thường bỏ cuộc vì không chịu được cái chán của lập đi lập lại một hai điều giản dị cả nhiều năm. Xem thiên hạ biểu diễn thì thấy hấp dẫn, khi mình đi học thi chẳng thấy có gì là hấp dẫn cả, chỉ là lập đi lập lại rất chán. Nhưng lập đi lập lại một vài động tác căn bản là con đường duy nhất để thành siêu sư phụ. Chẳng có đường tắt nào cả. Cho nên các bạn tu tập tư duy tích cực cũng thế, tập một vài việc căn bản hàng ngày, thường trục trong ngày, nhiều năm, như là: – Khiêm tốn: Đang tính phê bình người nào đó dốt, thì cắn răng, chận lời nói lại. Đang tính giảng cho ai đó một bài học cho sáng mắt, thì ngậm miệng lại, suy nghĩ về nghĩa lý của lời nói của họ với cái nhìn của họ (chứ không phải cái nhìn của mình). Đang nghĩ là mình phải dạy những người dốt này một chút, thì ngừng lại, tự bảo có thể mình có thể giúp họ một hai điều, nhưng họ cũng có thể có điều để dạy mình, điều gì đây, tại sao mình chưa thấy? – Thành thật: Đang tính dùng vài từ gì đó không chính xác thì ngưng lại, tìm từ chính xác nhất, đúng sự thật nhất, để nói. – Yêu người: Đang nghĩ về ai đó một cách ghét bỏ thù hận, thì ngưng lại, cầu nghuyện xin Chúa/Phật chữa lành vết thương của mình và làm nhẹ lòng mình, để mình có thể nhìn người đó một cách nhân ái hơn. Chỉ vài việc giản dị này thôi, chúng ta làm mỗi ngày vài chục lần, nhiều năm, cho đến khi ta thành sư phụ của người khác về tư duy tích cực. Các bạn, cái học ở đời thường giản dị như thế. Không thực hành mà ngồi đó suy đoán lung tung, chỉ nhức đầu mà chẳng đi đến đâu cả. Ai cũng biết học nhạc thì phải ôm đàn, học võ thì phải đấm đá. Nhưng học tư duy tích cực thì phần đông chỉ thích nói, nghe, và lý luận chứ chẳng chịu thực hành. Tư duy tich cực là môn thực hành, không phải môn ly' thuyết. Ta cứ phải lập đi lập lại các hành động tích cực rất nhiều lần trong ngày, trong rất nhiều năm. Chẳng có cách nào khác. Trăm hay không bằng tay quen. Tay quen, tay quen, tay quen. Các bạn nhớ chữ "tay quen" này. Cứ lấy tay lập đi lập lại một cử động, đến lần thứ mười nghìn thì thành rất quen tay. Lập đi lập lại "khiêm tốn, thành thật, nhân ái" cho đến lần thứ nười nghìn, bạn có thể sẽ ngộ ra những điều chỉ các bậc chân tu mới thấy. Nếu bạn không thực hành nghiêm chỉnh đến mức mà bạn bè và người thân đều nói "Lúc này thấy cậu thay đổi hết sức. Khác lúc trước nhiều", thì tức là bạn chưa tu tập gì thực sự cả. Một người thực hành nghiêm chỉnh, lập đi lập lại các hành xử tích cực trong ngày, bắt buộc phải có sự thay đổi trong lối sống như là người vừa "tái sinh"—con người cũ đã chết đi và đã tái sinh thành người mới. Tay quen, tay quen, tay quen. Cứ lập đi lập lại hàng ngày cho đến lúc bạn thành đại sư phụ. Chỉ giản dị có vậy. Chức các bạn một ngày quen tay. Mến, Hoành © copyright 2010 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | |||||||
| Posted: 26 Nov 2010 01:28 PM PST
Cám ơn anh đã cho em một đứa con. Đây cũng là một điều rõ ràng, tự nhiên và gần như hiển nhiên của mọi cặp vợ chồng. Em không biết hết một đứa con có thể đem lại cho cha mẹ những gì, nhưng điều quan trọng nhất con đem đến cho em là tình yêu, niềm vui và năng lượng sống. Xin lỗi anh vì nhiều lúc mệt mỏi và giận hờn em đã giữ con cho riêng em. Cám ơn anh đã mở ra cho em một thế giới khác, thế giới của người khác mình. Em thật sự cảm thấy rằng một người có thể đáng yêu và có giá trị theo cách khác ngoài cách em trông đợi, một người có thể đúng bằng cách khác ngoài cách em tư duy, một người có thể giới theo cách khác ngoài "hệ quy chiếu" mà em đã quen và sử dụng…. Em thật sự cảm thấy cởi mở và đón nhận hơn nhiều với mọi sự – sau khi cởi mở, đón nhận và yêu anh. Xin lỗi anh vì mặc dù thừa nhận trong lòng, ít nhiều và từng bước một, em vẫn luôn phản ứng bằng cách chứng minh mình là đúng hay giải pháp tốt hơn. Cám ơn anh đã luôn vượt qua cảm xúc của mình để hành xử theo chuẩn mực trong những năm qua. Xin lỗi anh vì em đã không lắng nghe cảm xúc của anh đằng sau những hành xử chuẩn mực ấy. Cám ơn anh đã là người lý tưởng và nguyên tắc để không chấp nhận một cuộc sống mờ nhạt, lờ đờ – nhờ thế mà cuộc sống của em cũng không bị như vậy. Xin lỗi anh vì em đã không đủ quan tâm và lắng nghe để cùng hiện thực hóa những lý tưởng và nguyên tắc của anh về một cuộc sống chung. Cám ơn anh đã giúp em đối mặt và nhận ra những sai lầm của em trong cuộc sống với anh, dù không cơ hội sửa chữa thì cũng là kinh nghiệm tốt cho con chúng mình sau này. Kể ra thì thật là nhiều: sự lơ là, sự chủ quan, sự lệ thuộc vào ngôn từ, sự vô tâm, sự xét đoán, sự đòi hỏi quá mức và thiếu chăm sóc, … Cám ơn anh đã đi và sống theo em suốt những năm qua – dù chỉ để thuyết phục em … đổi hướng đi theo anh. Xin lỗi anh vì suốt những năm đó, em đã không có được một ngày theo anh trọn vẹn. Sự ra đi của anh đã giúp em khám phá ra rất rất nhiều điều. Trong đó điều lớn nhất là em tìm thấy "bình an tại tâm" – một sự bình an không phụ thuộc vào hoàn cảnh và thấy mình trưởng thành và vững vàng hơn. Em sẽ nuôi dạy con lớn lên trong tình yêu của anh và em – dù đã là quá khứ. Con sẽ được hành trang vào đời bằng niềm tin ở những điều tốt đẹp cùng với những kinh nghiệm của cha mẹ và được "hộ mệnh" bằng "sự bình an tại tâm". Quỳnh Linh Filed under: Văn Tagged: Văn | |||||||
| TP.HCM: Nữ sinh lớp 8 bị cởi đồ, tra tấn tại lớp Posted: 26 Nov 2010 01:28 PM PST – Nhóm nữ sinh lớp 8 bắt bạn học cởi áo rồi đánh đập tàn nhẫn giữa lớp học và cuối cùng bắt nạn nhân phải quỳ xuống xin lỗi.
Theo nguồn tin riêng của VietNamNet, ngày 23/11 Công an Q.5, TP.HCM đang phối hợp cùng phòng Giáo dục Q.5 điều tra tra, xử lý đối với những nữ sinh có mặt trong 1 đoạn clip cực sốc liên quan đến trường THCS Mạch Kiếm Hùng (nằm trên đường Nguyễn Trãi, P.11, Q.5).
Theo thông tin ban đầu, trong gần 10 ngày nay, nhiều học sinh tại địa bàn Q.5, mà đặc biệt là học sinh trường THCS Mạch Kiếm Hùng đã chuyền tay nhau 1 đoạn clip được quay qua ĐTDĐ miêu tả cảnh 1 nữ sinh lớp 8 bị nhóm bạn học tra tấn dã man. Được biết đoạn clip "độc" đã có tốc độ lan truyền nhanh chóng và nhiều bậc phụ huynh đã được con em giới thiệu. Những bậc phụ huynh này đã không khỏi bàng hoàng khi xem những hình ảnh bạo lực học đường cực sốc và đã khẳng định rằng "không thể tưởng tượng nổi". Theo ghi nhận của VietNamNet, đoạn clip có thời lượng 5'17 đã miêu tả khá chi tiết một cảnh tượng gây sốc khi 3 nữ sinh tra tấn bạn học ngay giữa lớp học một cách đầy… chợ búa. Cụ thể, ban đầu nhóm nữ sinh đều mặc đồng phục học sinh bắt 1 nữ sinh khác, cũng đang mặc đồng phục học sinh, đứng vào góc lớp học. Sau đó nhóm nữ sinh bắt nạn nhân quỳ xuống nền lớp học. Đoạn clip pha lẫn nhiều tiếng nữ sinh tranh luận và hỏi nạn nhân là muốn cởi áo hay là muốn bị đánh? Nhưng sau đó nhóm nữ sinh quát nạt, bắt nạn nhân phải lần lượt cởi áo ngoài và áo lót để lộ ngực trần ngay giữa lớp học, trước sự chứng kiến cũng như la hét, cười đùa bỡn cợt của các học sinh khác. Mặc dù nạn nhân tỏ ra sợ sệt, co ro người nhưng các nhóm 3 nữ sinh vẫn chưa buông tha. Tiếp tục sau đó một nữ sinh đổ chai nước suối lên đầu nạn nhân. Một số nam sinh lẫn nữ sinh chứng kiến bên ngoài còn yêu cầu nạn nhân tiếp tục cởi quần nhưng chính những người trong cuộc đã kịp can ngăn "cởi áo là được rồi".Hơn 2 phút cuối của đoạn clip dành để miêu tả cận cảnh 3 nữ sinh lần lượt xông vào đấm đá, tát túi bụi cô bé nạn nhân đang khóc, chỉ biết co rúm người chịu đòn. Cứ mỗi cái bạt tai giáng xuống hoặc 1 cú đá tung ra thì kèm theo một vài tiếng chửi thề tục tĩu văng ra từ những nữ sinh đang mặc áo trắng. Màn cuối cùng là các nữ sinh bắt nạn nhân tiếp tục quỳ xuống giữa lớp và liên tục nhấn mạnh, lặp đi lặp lại câu nói "xin lỗi các bạn". Chỉ vì cái liếc nhìn thiếu… thiện cảm Theo tìm hiểu riêng của VietNamNet và chính ông Đinh Phan Long (Hiệu trưởng trường THCS Mạch Kiếm Hùng) thì nạn nhân bị đánh đập trong đoạn clip nói trên là em T.T.T.T. 3 nữ sinh tham gia màn đánh hội đồng gồm các em L.T.N.N, V.P.H và L.T.M; người dùng ĐTDĐ để ghi lại hình ảnh là em L.M.P. Tất cả 5 nữ sinh nói trên đều SN 1997, đều đang theo học tại lớp 8A5 của trường.
Ông Long còn cho biết thêm, vụ việc chỉ được Ban Giám hiệu trường THCS Mạch Kiếm Hùng biết vào chiều 19/11 – khi toàn bộ thầy cô giáo của trường đang tổ chức hoạt động chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam. Ông Long xác nhận, lúc này vị Chủ tịch UBND P.11, Q.5 đã gọi điện thoại trực tiếp cho ông để thông báo về đoạn clip cực sốc nói trên; cùng thời điểm này có phụ huynh của học sinh tìm đến trường để phản ánh về vụ việc. Trước đó, cơ quan công an P.11 cũng đã nhận được đoạn clip do phụ huynh của học sinh trình báo và cung cấp. Được biết ngay sau khi tiếp nhận thông tin, Ban giám hiệu trường THCS Mạch Kiểm Hùng đã khẩn trương kiểm tra, xác định đây đúng là học sinh của trường và việc nhóm nữ sinh hành hung hội đồng bạn học diễn ra ngay tại lớp 8A5 trong giờ ra chơi. Theo xác nhận của ông Lê Hoàng Kiểng (phó hiệu trường nhà trường, phụ trách mảng kỷ luật học sinh), trong số các em hành hung, làm nhục em T có trường hợp em V.P.H là lớp trưởng của lớp 8A5 và là học sinh có học lực giỏi. Ngay sau đó, vào ngày 22/11, công an P.11, Q.5 đã lần lượt lấy lời khai đối với 5 nữ sinh vi phạm lẫn nạn nhân, trước sự giám hộ của 3 cán bộ đại diện cho nhà trường, gồm: ông Lê Hoàng Kiểng (Phó hiệu trưởng), bà Ngô Tuyết Mai (chuyên viên tư vấn tâm lý của trường) và ông Phan Thế Thắng (giám thị khối lớp 8). Thông tin ban đầu mà các em này khai nhận là trước đây cả 5 em chơi chung nhóm với nhau, nhưng sau đó em T có liếc nhìn thiếu thiện cảm với một trong số các nữ sinh nói trên nên đã dẫn đến vụ đánh hội đồng như trong đoạn clip đã phản ánh. Cũng theo ông Kiểng, có thể vụ việc xảy ra nhanh chóng, ngay đúng giờ ra chơi vừa bắt đầu nên cán bộ giám thị chưa kịp kiểm tra phát hiện. Chính 4 nữ sinh tham gia màn đánh hội đồng cũng khai nhận là không nhớ đã đánh vào ngày nào, chỉ biết là buổi chiều của một ngày học đầu tháng 11/2010. Riêng trường hợp nạn nhân T.T.T.T cũng tường trình là sau màn đánh hội đồng, một trong số các nữ sinh nói trên đã cảnh cáo em "nếu mà để thầy cô hoặc cha mẹ biết, mày mà đến trường thì tao đánh cho lết về nhà luôn". Do đó em T. không dám trình báo với ai. Thậm chí, nữ sinh này đã được các bạn học cho xem đoạn clip của mình nên em tỏ ra buồn chán, không dám đến trường nhưng vì cha mẹ động viên nên hiện nay tâm lý của em đã dần ổn định. Trao đổi với VietnamNet, ông Đinh Phan Long xác nhận, hiện phía nhà trường đang chờ phía cơ quan công an kết luận chính thức về vụ việc. Được biết hiện trường THCS Mạch Kiếm Hùng đã thành lập hội đồng kỷ luật để có biện pháp xử lý đối với các nữ sinh có liên quan đến đoạn clip sốc nói trên. Dự kiến hôm nay (24/11), Ban Giám hiệu nhà trường sẽ làm vịêc với phụ huynh của các nữ sinh có liên quan Ông Long bày tỏ lo ngại "cho đến thời điểm hiện nay, tôi chưa thấy đoạn clip xuất hiện trên mạng Internet. Nếu clip phát tán rộng rãi thì hậu quả sẽ khôn lường". Ngay sau khi xảy ra vụ việc, trong ngày 22 và 23/11, Ban Giám hiệu nhà trường đã kiểm tra và tạm thu giữ 60 ĐTDĐ của học sinh 4 khối lớp (khối lớp 6, 7, 8 và 9) đang theo học tại trường, nhưng rất may trong số ĐTDĐ này không có lưu trữ đoạn clip. Hiện công an Q.5 cũng đang điều tra về mức độ phát tán của clip nói trên. Hiện cơ quan công an Q.5 đang làm rõ. VietNamNet sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc này. Filed under: Các vấn đề xã hội Tagged: Các vấn đề xã hội | |||||||
| Posted: 26 Nov 2010 01:27 PM PST (VEF) – Nhấn mạnh nền tảng văn hóa bao nhiêu cũng không đủ trong tình trạng làm giàu vô kỷ luật ở ta. Trên thửa đất trống đạo đức, ai thừa cơ múa gậy vườn hoang nếu không phải là tham nhũng?
LTS: GS.TS Cao Huy Thuần sinh ra tại Huế, là sinh viên Viện Đại học Huế trước khi bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Paris đầu năm 1969. Sau đó, ông là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về Cộng đồng châu Âu tại Đại học Picardie. Hiện ông là giáo sư giảng dạy tại Đại học Picardie, Pháp. Cùng với những trí thức Việt kiều khác, ông thường xuyên về Việt Nam tham dự các cuộc hội thảo về các lĩnh vực chính trị, xã hội. Ông đã in rất nhiều tác phẩm bằng tiếng Pháp về khoa học chính trị và quan hệ quốc tế. Với tiếng Việt, ông cũng đã in và viết rất nhiều bài báo tại Việt Nam và được đánh giá là các tác phẩm văn chương chính trị, điển hình, như Thượng đế, Thiên nhiên, Người, Tôi và Ta (Triết lý luật và tư tưởng Phật giáo); Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam; Từ Đông sang Tây (chủ biên); Tôn giáo và xã hội hiện đại… Trong bài tham luận “Từ bao giờ và bằng cách nào, người Nhật thoát khỏi quỹ đạo tư tưởng của Trung Quốc” gửi Hội thảo hè năm 2010 tại Philadelphia (Mỹ), GS Cao Huy Thuần đã phân tích những biến hóa tư tưởng của hai học giả Nhật Sorai và Norigana, để tìm hiểu tại sao, vào thế kỷ 17-18, xã hội Nhật còn đóng, cô lập với thế giới nhưng tư tưởng lại có thể mở, đi trước thời đại và chính nhờ đó, vua Minh Trị đã dám quả quyết mở nước Nhật cho thế giới bên ngoài. Nếu bài viết đó dựa trên một công trình nghiên cứu bác học, theo tác giả, bài viết này tóm tắt một tác phẩm luận đề. Cả hai đều giống nhau trên cùng một quan điểm: hiện đại hóa không nhất thiết đồng nghĩa với Tây phương hóa. Diễn đàn Kinh tế Việt Nam (VEF) – Báo VietNamNet xin trân trọng giới thiệu với độc giả. Bất cứ ai đã từng dạo chơi vào môn xã hội học đều biết luận thuyết trứ danh của Max Weber: chủ nghĩa tư bản đã phát triển được ở châu Âu là nhờ ảnh hưởng tác động của đạo đức Tin Lành. Khám phá này, tuy chẳng phải là định lý có thể giải thích tất cả như một định lý khoa học, nhưng đã rọi ánh sáng vào một yếu tố then chốt của quá trình phát triển kinh tế: yếu tố đó là văn hóa. Giữa phát triển kinh tế và môi trường văn hóa, tương quan rất khăng khít. Theo gót Weber, nhiều tác giả đã thử rọi thứ ánh sáng đó vào các trường hợp phát triển kinh tế khác. Nhật Bản là trường hợp điển hình. Là quốc gia đầu tiên phát triển thành công lên kinh tế tư bản trong một bối cảnh văn hóa khác Tây phương, kinh nghiệm Nhật Bản vừa có thể chứng minh luận thuyết của Weber vừa nới rộng luận thuyết đó bằng cách thay thế đạo đức Tin Lành bởi đạo đức Khổng giáo. Michio Morishima là tác giả danh tiếng đã thử làm công việc đó trong những năm 1980, khi Nhật Bản đang vươn lên đến bậc cường quốc kinh tế thứ hai sau Mỹ. “Tại sao Nhật Bản thành công?” là nhan đề quyển sách của ông[1]. Để củng cố công trình lý thuyết của ông, Morishima phải giải quyết vấn nạn đầu tiên: Khổng giáo là triết lý của Trung Hoa, vậy tại sao Trung Hoa lại lệt đệt như vịt bầu trong khi Nhật Bản cất cánh như diều hâu? Trả lời của tác giả dựa trên Weber: giống như thánh kinh là một, nhưng Thiên chúa giáo và Tin Lành giải thích hai cách khác nhau, Khổng giáo là một nhưng Nhật giải thích không giống Tàu. Khổng giáo làm nền tảng cho phát triển kinh tế ở Nhật, vì vậy, là Khổng giáo Nhật Bản, không phải Khổng giáo ở chính quốc. Hai thứ đạo đức khác nhau tạo ra hai cá tính dân tộc khác nhau, đưa hai nước đi theo hai con đường riêng trên quá trình hiện đại hóa, anh đường anh tôi đường tôi, tình nghĩa Khổng giáo đôi ta có thế thôi. Cũng vậy, thứ Khổng giáo đặc biệt Nhật Bản đó, thứ đạo đức đặc biệt Nhật Bản đó, thứ cá tính dân tộc đặc biệt đã làm Nhật Bản là Nhật Bản đó, tóm lại, thứ văn hóa nền tảng đó, cũng đã làm tư bản chủ nghĩa ở Nhật phát triển không giống ai, nghĩa là không giống tư bản chủ nghĩa ở chính quốc Tây phương. Đó là hai phần trong thuyết giảng của Morishima về phát triển kinh tế của Nhật. Hai phần như hai mặt của một đồng tiền duy nhất, đồng tiền đạo đức Khổng giáo Nhật Bản. Mặt thứ nhất cắt nghĩa Khổng giáo Nhật khác Khổng giáo ở Trung Quốc thế nào. Mặt thứ hai cắt nghĩa như thế nào tư bản Nhật khác tư bản gốc. Khổng giáo Nhật Bản Nhật là hòn đảo, đại dương cách biệt, chẳng núi liền núi sông liền sông, nên khi Khổng giáo đến Nhật thì cách hiểu cũng chẳng liền nhau. Đức Khổng dạy: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Học ngài, Trung Hoa đặt “nhân” lên hàng đầu, quan trọng nhất trên tất cả mọi giá trị. Cũng học ngài, Nhật không nhấn mạnh “nhân” mà lại xem trọng nhất là “trung”. Khổng Tử cũng dạy trung hiếu tiết nghĩa, nhưng cốt tủy trong triết lý của ngài vẫn là nhân. Khác biệt đó là căn bản, giải thích tất cả, theo Morishima. Vua Minh Trị, trong huấn lệnh ban cho quân sĩ, sắp hạng lại năm giá trị của Khổng giáo theo thứ bậc khác: trung, lễ, dũng, tín và đạm bạc. Không chỗ nào nói đến nhân. Quân đội cũng như toàn thể dân chúng, năm giá trị đó áp dụng như nhau. Mà điều đó cũng chẳng có gì mới: từ xưa đã vậy, chỉ càng ngày càng rõ hơn, khi nước Nhật đi vào hiện đại hóa. Ý nghĩa của “trung” cũng khác nhau giữa Nhật và Trung Hoa. Ở Trung Hoa, “trung” còn hàm nghĩa thành thật với lương tâm. Trung với chúa có khi đặt vấn đề trái hay không trái với lương tâm của mình. Ở Nhật, ai cũng hiểu “trung” là tận tâm tận lực phò chúa cho dù phải hy sinh thân mạng, chuyện lương tâm không đặt ra. Ý nghĩa đó sâu đậm trong những năm cuối cùng của triều đại Tokugawa rồi phổ thông trong thời Minh Trị. Trung thành với chủ, hiếu để trong gia đình, tôn trọng bậc trưởng thượng: đó là ba giá trị chỉ huy các mối quan hệ trên dưới trong xã hội, đặt cơ sở trên quyền lực, huyết thống, tuổi tác. Trong suốt lịch sử của Nhật, cá nhân chủ nghĩa chẳng bao giờ phát triển, cho nên tự do chủ nghĩa cũng chưa hề có đất đứng. Khác nhau trên bậc thang giá trị, Nhật Bản và Trung Hoa còn khác nhau trên định chế chính trị. Trung Hoa cai trị bằng một bộ máy quan liêu hoàn toàn dân sự, cho dù lãnh thổ thống nhất hay chia năm xẻ bảy giữa các chư hầu. Ở Nhật, trái lại, chỉ một dòng họ trị vì suốt lịch sử, nhưng từ 1192 đến 1867, quốc gia đặt dưới hai trung tâm chính trị khác nhau, một dưới quyền uy hữu danh vô thực của thiên hoàng, một dưới thực quyền của Tướng Quân, trung tâm thứ nhất gồm quan chức dân sự, nhưng trung tâm thứ hai là bộ máy cai trị quân sự do giới võ sĩ lãnh đạo. Triều đại Tokugawa (1603-1867) là mô hình rõ nhất của chế độ quân sự: các tướng quân cầm đầu một bộ máy hành chánh võ sĩ cha truyền con nối. Tôn giáo của vua là thần đạo, nhưng ý thức hệ chính trị của cả hai trung tâm là Khổng giáo. Trung Hoa, như vậy, là một quốc gia Khổng giáo và dân sự; Nhật Bản là một quốc gia Khổng giáo và quân sự. Đặt nặng trên “nhân”, Khổng giáo ở Trung Hoa phù hợp với đặc tính dân sự của chế độ chính trị. Đặt nặng trên “trung”, Khổng giáo của Nhật đáp ứng đặc tính quân sự của xứ sở võ sĩ. Đạm bạc là giá trị của con nhà võ, cung đình ở Nhật không có thái giám và ba ngàn cung nữ. Trên nguyên tắc, võ sĩ chỉ ngủ với thanh gươm. Vừa thờ thiên hoàng vừa thờ tướng quân, làm thế nào anh võ sĩ thời Tokugawa dung hòa được lòng trung thành với cả hai? Bằng cách triệt để tôn trọng thứ bậc, đẳng cấp. Anh võ sĩ quèn ở cấp dưới trung thành với tiểu tướng quân của anh ở cấp trên trực tiếp; anh tiểu tướng quân trung thành với cấp trên trực tiếp là đại tướng quân; đại tướng quân trung thành với thiên hoàng. Bằng thứ bậc trung thành như thế, toàn thể dân chúng, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, trung thành với vua. Dù quyền uy chính trị nằm trong thế lưỡng đầu, đạo đức trung thành vẫn không gặp mâu thuẫn, ít nhất là trên lý thuyết. Cả lý thuyết lẫn thực tế, nếu Khổng giáo Trung Hoa được xem như là “nhân bản”, thì Khổng giáo Nhật Bản đúng là mang tính dân tộc chủ nghĩa. Một dân tộc chủ nghĩa lúc đầu hãy còn đậm bản năng tự vệ, phát sinh do mặc cảm tự ty về văn hóa so với văn minh Trung Hoa. Yếu kém, lạc hậu về văn hóa, Nhật phải xác nhận đặc tính dân tộc của mình là dũng khí và kỹ luật đạm bạc. Cũng vậy, cũng vì tự ty mặc cảm đối với tiến bộ Tây phương hồi thế kỷ 16, Nhật phải canh tân trên cùng cơ sở văn hóa dân tộc chủ nghĩa ấy để lấp đầy khoảng trống cách biệt. Trong khi guồng máy quan chức Trung Hoa rung đùi với thơ phú, guồng máy võ sĩ đạo của Nhật chú mục vào khí giới của Tây phương, mà khí giới là khoa học, kỹ thuật. Từ đó, nẩy mầm một đặc điểm mấu chốt của chủ nghĩa tư bản Nhật: khác với động lực tự do cá nhân đã thúc đẩy tư bản chủ nghĩa ở Tây phương, ở Nhật động lực là quyết tâm của giới lãnh đạo phải bắt kịp cho bằng được tiến bộ quân sự, khoa học, kỹ thuật của phương Tây. Cá nhân ở đây không phải là giá trị tối thượng như trong triết lý Tây phương mà phải biết hy sinh để phụng sự lý tưởng chung: “trung” là vậy. Là vậy, đó là xương sống của chủ nghĩa tư bản Nhật. Khác về giá trị xử thế, khác về định chế xã hội, Nhật còn khác Trung Hoa về cấu trúc xã hội. Sĩ, nông, công, thương là bốn giai cấp trong xã hội Trung Hoa, trong đó sĩ đứng đầu, cung cấp nhân sự cho guồng máy chính trị và hành chánh. Ở Nhật, sĩ cũng đứng đầu, nhưng quý vị này không phải là các nhà nho mà là samourai. Trung dũng là giá trị của họ. Triều đại Minh Trị mở rộng giai cấp võ sĩ này ra bằng cách phổ biến Khổng giáo và mở mang giáo dục phổ thông cho đến tận hang cùng ngõ hẻm. Ngày trước, Khổng giáo chỉ hạn chế trong giới thượng lưu, bây giờ làng xóm đều mở trường dạy học, con trẻ đâu đâu cũng ê a chữ nghĩa thánh hiền. Đồng thời với phát triển kinh tế, trình độ học thức của giới võ sĩ cũng được nâng lên. Trước, võ sĩ quèn nhiều anh mù tịt chữ; bây giờ anh buộc phải học. Ba giới kia, nông công thương, nếu có học thức cũng được xem trọng như võ sĩ, xếp hàng ngang nhau. Từ đó, pha trộn xã hội đã xảy ra từ cuối triều đại Tokugawa: một anh nông dân có học xin đeo chiếc nhẫn cưới vào ngón tay của cô quý nữ con nhà samourai là chuyện vui vẻ cả làng. Giáo dục càng được dân chủ hóa với Minh Trị, giai cấp võ sĩ sùng Khổng càng nới rộng ra: Khổng giáo trở thành ý thức hệ phổ thông. Ý thức hệ đó tồn tại song song với thần đạo, tôn giáo của thiên hoàng mà dân chúng tôn thờ. Hậu quả của tình trạng đó là thăng tiến xã hội, thăng tiến giữa hàng ngũ võ sĩ cũng như thăng tiến giữa các giai cấp khác. Điều này cắt nghĩa tại sao sau khi chủ nghĩa tư bản đã được an bài ở Nhật dưới thời Minh Trị, người Nhật không xem kinh tế tư bản như thiết lập trong nước họ, khác với Tây phương, một xã hội giai cấp với hai giai cấp đối nghịch nhau, tư bản và công nhân. Với giáo dục được mở rộng và hiện đại, con cái của các giai cấp dưới đều có điều kiện để học lên cao, đều được bổ nhiệm vào những chức vụ tương xứng, chẳng có kính hiển vi nào chiếu vào lý lịch.
Thăng tiến xã hội; giáo dục hiện đại, phổ thông; hành chánh lành mạnh, hữu hiệu; lãnh đạo sáng suốt; nhân dân kỹ luật; than ôi, sao người ta làm ăn hay thế nhỉ? Phát triển kinh tế là cái xác, người ta biết thế. Cho nên, than ôi, người ta cũng biết chú trọng cái hồn. Vì vậy, than ôi, ông Minh Trị kia mới dám đưa ra khẩu quyềt để đời: “hồn Nhật, kỹ thuật Tây”. Bên trong ông mạnh nên bên ngoài ông mới thắng. Hình như bí quyết nào cũng đơn giản thế thôi. Minh Trị và tư bản Nhật Cách nhìn vấn đề như đã nói ở trên chia lịch sử nước Nhật ra làm hai thời kỳ: từ thế kỷ thứ 6 đến giữa thế kỷ 17 khi nước Nhật ý thức được hiểm họa an ninh đến từ Trung Hoa; thời kỳ thứ hai bắt đầu với cuối trào Tokugawa khi hiểm họa an ninh đến từ yếu kém khoa học, kỹ thuật. Hai thời kỳ được khâu lại với nhau bằng một sợi chỉ điều văn hóa: đạo đức Khổng giáo được dân tộc hóa, quân sự hóa. Với đạo đức đó, Minh Trị phát triển kinh tế. Lịch sử phát triển có thể chia ra ba giai đoạn: giai đoạn một kéo dài đến cuối thế giới chiến tranh thứ nhất; giai đoạn hai nằm giữa hai chiến tranh; giai đoạn ba sau khi Nhật thất trận. Trong thời kỳ đầu, chủ nghĩa tư bản Nhật là chủ nghĩa tư bản Nhà nước, xây dựng trên việc thành lập những xí nghiệp công, hiện đại, tầm vóc khổng lồ, tổ chức hoàn bị, kỹ luật chặt chẽ, phát động tinh thần thượng võ sẵn có. Đâu phải dễ dàng gì lúc đầu, cái gì cũng thiếu, thiếu doanh nhân đã đành, thiếu cả nhân viên, thiếu cả công nhân có tay nghề. Chuyện đầu tiên là tìm nhân viên ở đâu? Tất nhiên trong giới võ sĩ. Do đó, hồi mở đầu, các doanh nghiệp Nhà nước nhận giới võ sĩ vào làm nhân viên. Giới này làm việc với tinh thần võ sĩ đạo của họ, nghĩa là vì chủ quên mình, và chủ ở đây là Nhà nước, là lý tưởng dân tộc. Công nhân cũng thiếu, tìm đâu? Tìm cả nữ, và nữ công nhân được tuyển trong gia đình giới võ sĩ cấp dưới. Còn nam? Hai vấn đề phải giải quyết: một là kiếm cho ra số lượng công nhân có tay nghề, hai là kiếm ra rồi thì phải giữ họ thật lâu để tránh họ vượt biên qua hãng khác. Đào tạo công nhân có khả năng là bước đầu tiên. Công việc đó được trao cho giáo dục. Tuy vậy, lúc đầu tình trạng khan hiếm công nhân chuyên môn trầm trọng đến mức các xí nghiệp phải “ăn cắp” công nhân lẫn nhau. Giáo huấn, tôi luyện tính trung thành với xí nghiệp coi bộ chưa đủ, trung thành bèn được củng cố thêm bằng một biện pháp cụ thể: trả lương hậu. Từ đó, bắt đầu xuất hiện chính sách trả lương theo thâm niên. Khởi thủy, biện pháp đó được áp dụng cho nhân viên bàn giấy trong các đại xí nghiệp, nghĩa là đa số các võ sĩ thời đại mới. Các xí nghiệp nhỏ và vừa không đủ sức để mua trung thành theo kiểu đó. Bù lại, các xí nghiệp lớn buộc nhân viên và công nhân phải làm việc suốt đời với hãng. Nhảy rào qua hãng khác bị xem như một hành động phản bội, và kẻ phản bội không bao giờ được tha thứ trong xã hội võ sĩ. May lắm là anh phản bội kiếm được chỗ dung thân trong một xí nghiệp tư nhỏ và vừa. Nói một cách khác, có hai thị trường lao động. Thị trường thứ nhất mở rộng thường xuyên, gồm các xí nghiệp nhỏ và vừa. Thị trường thứ hai chỉ mở ra một lần duy nhất trong đời của các anh kẻ sĩ Nhật. Một lần tuyển dụng là trăm năm chăn gối. Anh gắng học cho giỏi, đỗ thật cao, xuất thân từ trường danh tiếng, thế là anh mới có triển vọng được tuyển dụng. Tuyển xong, liệu cái thần hồn, đừng hòng mơ tưởng ly dị với ly thân. Tầng lớp thượng lưu trong thế giới kỹ nghệ Nhật không có chút tự do nào trong đời sống nghề nghiệp. Hoàn cảnh của họ y hệt như cha ông họ trước đây, tôi ngay trung thành một chúa. Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, các cường quốc tư bản Tây phương xâu xé nhau, kinh tế Nhật thừa cơ chiếm lĩnh thêm thị trường. Sản xuất, sản xuất, sản xuất tăng gia không ngừng, nhân công lại thiếu. Thể thức thâm niên được nới rộng ra thêm, áp dụng cho cả công nhân. Như vậy có phản kinh tế chăng? Có hại cho việc sinh lời chăng? Chẳng lẽ lương cao chỉ vì tuổi tác? Vì sống lâu lên lão làng? Hay là phải hạ mức lương khởi đầu, khi tuyển dụng, để mức lương cuối không quá cao? Cũng không ổn, vì giới trẻ, khi bắt đầu vào nghề, tội gì không chọn chỗ nào trả lương cao? Biện pháp cuối cùng đề ra là đặt nặng việc đào tạo nghề nghiệp trong nội bộ xí nghiệp. Công nhân được đào tạo tại chỗ, trẻ học tay nghề, già truyền kinh nghiệm, trẻ khởi hành với việc tay chân, già từ từ kết thúc với việc phối hợp, điều khiển. Giữa trẻ với già, ngay cả trong xí nghiệp, giá trị Khổng giáo vẫn giữ được trọn tình trọn nghĩa. Vì vậy, trong nội bộ xí nghiệp, sự phân biệt giữa hai hạng công nhân, làm việc tay chân hay không, không rõ ràng. Người thợ không có ý thức phân minh về chuyên môn nghề nghiệp; ý thức rõ ràng nhất trong đầu họ là làm việc cho xí nghiệp nào. Suốt đời họ làm việc cho xí nghiệp ấy, từ việc tay chân qua việc không tay chân, chính xí nghiệp định đoạt thay cho họ công việc mà họ làm, họ làm suốt đời cho xí nghiệp, trung thành với xí nghiệp, chứ không phải suốt đời cho một nghề, trung thành với một nghề. Điều này cắt nghĩa tại sao phong trào thợ thuyền yếu đến thế ở Nhật. Nâng cao tinh thần tranh đấu với cái búa không phải là việc của chàng công nhân; việc của chàng là nâng cao hiệu quả qua không khí làm việc trong xí nghiệp, tình đồng đội đồng sở, tình gia đình, tình gia trưởng. Bởi vậy, các xí nghiệp lớn đi xa hơn nữa trong chính sách đào tạo nghề nghiệp nội bộ. Họ mở trường dành riêng cho nhân viên. Hiệu quả sản xuất tăng vọt so với các xí nghiệp vừa và nhỏ. Lương cũng vậy. Lúc đầu, lương ở các xí nghiệp Nhà nước vượt lương ở các xí nghiệp tư nhân, dần dần khoảng cách cũng diễn ra giữa các xí nghiệp tư nhân với nhau. Cái này lôi kéo theo cái khác: hiệu quả kinh tế cao kéo theo lời cao, lời cao kéo theo lãi cao, lãi cao kéo theo tích lũy tư bản cao, kéo theo canh tân kỹ thuật, kéo theo hiệu quả kinh tế, và cứ thế vòng tròn xoáy ốc tái diễn. Nghĩa là gì? Là lương cao vượt xa các xí nghiệp nhỏ. Mà đâu phải chỉ lương: còn bao nhiêu lợi ích xã hội khác nữa đãi ngộ nhân viên. Chưa đủ, các xí nghiệp lớn còn đào tạo luôn cả tính nết của nhân viên, nâng cao kiến thức văn hóa, truyền đạt nghệ thuật làm chủ. Đến mức họ có cả một đội bóng, một câu lạc bộ thể thao, một hội thơ văn, những buổi trà đạo, hoa đạo. Rồi họ hoạt động như một ngân hàng tiết kiệm, nhận tiền ký thác của nhân viên với mức lãi cao hơn bên ngoài, như một hãng bảo hiểm, như một hợp tác xã, cung cấp dịch vụ tốt hơn, gần gũi hơn. Với bao nhiêu lợi ích đó, nhân viên, công nhân gắn bó với xí nghiệp suốt đời. Không chừng hơn cả cưới nhau. Khi dạm mặt – nghĩa là tuyển dụng – xí nghiệp xem thử anh chàng ứng viên kia tính nết thế nào, trung thành hay không, keo sơn đến đâu, ấy là chuyện chính. Khả năng nghề nghiệp tính sau. Tư bản chủ nghĩa ở Tây phương đâu có chơi kiểu đó! Gia trưởng là tinh thần làm việc trong xí nghiệp, giống như trong gia đình. Xí nghiệp là một gia đình đoàn kết trên dưới. Toàn thể nhân viên trong xí nghiệp là một ê kíp, đối đầu với các xí nghiệp khác, cũng như một ê kíp. Trăm người như một. Giữa nhân viên, đồng nghiệp, không có tranh đua cá nhân, chỉ một lòng hợp tác, tương trợ, tranh đấu tập thể. Làm việc trong xí nghiệp cũng giống như làm việc trong cảnh sát, quân đội. Vinh quang không phải dành cho cá nhân mà cho tập thể. Cá nhân hài lòng khi lòng trung thành được chứng tỏ. Nếu cần, sẵn sàng làm thêm giờ không thù lao. Nếu đội bóng của hãng cần mình đến cổ võ, phải biết sẵn sàng bỏ một cuộc hẹn cuối tuần với cô bạn gái. Những cử chỉ trung thành như thế, hãng sẽ không quên, sẽ tưởng thưởng xứng đáng. Trong bối cảnh xã hội như vậy, kẻ nào rêu rao tự do cá nhân, kẻ ấy chỉ có thể là tên phản bội, khiêu khích, tự mình cô đơn hóa số phận. Tây phương không thể hiểu nổi thứ hợp đồng lao động đó. Trung thành là giá trị tột bậc. Mà, học cho kỹ nhé, thị trường trung thành chỉ mở ra một lần duy nhất trong đời anh samourai tân trào. Nếu vô phúc anh không thích chủ nữa, tương lai duy nhất của anh sẽ y hệt anh samourai cựu trào, nghĩa là samourai vô chủ, xách kiếm lang thang giết mướn chém thuê. Xưa cũng như nay: hai thị trường lao động song song, ai muốn tự do cứ tìm trên thị trường lính thuê. Nhưng thị trường này chỉ dành cho những kẻ đã hỏng chân trên thị trường trung thành. Tự do, đâu có phải ai cũng biết chết với nó! Tóm lại, hai cấu trúc xí nghiệp tồn tại song song. Cạnh tranh có không trong tư bản Nhật? Có, và khiếp lắm. Nhưng cạnh tranh giữa các xí nghiệp, không phải giữa các cá nhân. Mỗi xí nghiệp là một xã hội riêng, tổ chức đủ mọi hoạt động, lo lắng cho nhân viên cả phần xác lẫn phần hồn. Chủ nghĩa tư bản Nhật là tư bản “dân tộc chủ nghĩa, gia trưởng chủ nghĩa, phi cá nhân chủ nghĩa”. Nhưng đừng quên: mục tiêu của Minh Trị là xây dựng một Nhà nước hiện đại. Các xí nghiệp có bổn phận góp phần vào lý tưởng đó. Giống như các Tướng Quân ngày xưa, trung thành với Nhà nước là nỗi lòng của xí nghiệp. Cạnh tranh nhau, được. Nhưng khống chế Nhà nước, không. Chưa đầy 50 năm, Nhật trở thành cường quốc. **************** Bài tóm tắt nhỏ này được viết không ngoài mục đích bổ túc thêm cho một bài viết đã được phổ biến vài tháng trước đây dưới nhan đề: “Từ bao giờ và bằng cách nào Nhật Bản thoát ra khỏi quỹ đạo văn hóa của Trung Quốc?” Bài viết kia dựa trên một công trình nghiên cứu bác học. Bài viết này tóm tắt một tác phẩm luận đề. Cả hai đều giống nhau trên cùng một quan điểm: hiện đại hóa không nhất thiết đồng nghĩa với Tây phương hóa. Nhưng luận đề thì dễ bị bắt bẻ từ căn bản. Ngoài những bắt bẻ mà Weber đã nhận lãnh, hoặc đúng hoặc sai, trình bày của Morishima còn bị thêm nhiều phản biện khác. Có cần phải viện dẫn Khổng giáo để giải thích chính sách cứng rắn của Minh Trị trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa? Có nước chậm phát triển nào không can thiệp gân guốc như vậy để cất cánh kinh tế, kể cả nước Đức, kể cả nước Nga? Mà Nhật đâu có phải chỉ có Khổng giáo? Đâu là ảnh hưởng của thiền tông trên tinh thần võ sĩ đạo? Nơi nhan đề của quyển sách, tác giả đã đặt hai chữ thành công trong ngoặc kép: “Tại sao Nhật Bản “thành công”?. Ông biết dân tộc chủ nghĩa và quân sự chủ nghĩa đã đưa nước Nhật đến thảm họa nào. Và ông cũng biết thành công kinh tế của Nhật cũng xây dựng trên sự khai thác nông dân và công nhân. Tất cả những điều đó đã khiến tác giả phải xác nhận ngay trong phần mở đầu và lặp lại trong phần kết thúc: “Lịch sử nước Nhật là một lịch sử đặc biệt”. Những giá trị văn hóa làm nòng cốt cho phát triển kinh tế cũng là những giá trị riêng biệt của Nhật. Hạn chế tầm nhìn như vậy thì giảm giá trị phổ quát của một luận đề mà Weber muốn chứng minh, nhưng lại có cái lợi là cũng hạn chế chỉ trích. Bởi vì, dù sao đi nữa, không ai chối cãi được tầm quan trọng của yếu tố văn hóa trong quá trình cất cánh kinh tế. Trước Morishima, một tác giả Mỹ, Robert Bellah, đã trình bày cùng một quan điểm trong quyển sách của ông, “Tokugawa Religion” (Beacon Press, Boston, 1957). Không ai bác bỏ được mấy câu mào đầu của Morishima trong nhập đề: Nếu các biến đổi về những điều kiện vật chất có thể dần dần làm thay đổi những đặc điểm văn hóa, thì ngược lại, “cấu trúc kinh tế và những quan hệ kinh tế cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những giá trị đạo đức của một dân tộc. Nhiều trường hợp cho thấy dù cho những điều kiện vật chất có giống nhau đến mấy đi nữa, cái gì xảy ra được ở Nhật có thể không xảy ra ở Tây phương và ngược lại”. Nhấn mạnh nền tảng văn hóa đó bao nhiêu cũng không đủ trong tình trạng làm giàu vô kỷ luật ở ta. Nhưng vừa nói xong thì đã nghẹn lời. Ai có chút lòng với đất nước đều chua xót: Phát triển kinh tế ở ta không dựa trên một đạo đức gì cả. Đạo đức cá nhân cũng không. Đạo đức dân tộc cũng không. Trên thửa đất trống đạo đức, ai thừa cơ múa gậy vườn hoang nếu không phải là tham nhũng? [1] Why has Japan “succeeded”. Western Technology and the Japanese Ethos, Cambridge University Press, 1984, 2nd edition. Bằng tiếng Pháp: Capitalisme et Confucianisme. Technologie occidentale et éthique japonaise, Flammarion, 1987. Michio Morishima (1923-2004) đã từng dạy tại các đại học danh tiếng nhất: Oxford, Yale, London School of Economics. Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế | |||||||
| Mô hình quản trị Đông Á: Lặng lẽ học hỏi Posted: 26 Nov 2010 01:27 PM PST
>> Phần 1 Sau thất bại khi xây dựng một mô hình xã hội mang nặng tính quân sự trong nửa đầu thế kỷ 20, Nhật Bản rất nỗ lực duy trì cam kết về một mô hình dân chủ trong giai đoạn nửa sau của thế kỷ. Ngày nay, câu chuyện về sự thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản phần nào đã bị lu mờ bởi sự thành công vượt bậc của người láng giềng Trung Quốc, quốc gia đang duy trì một nền kinh tế chuyển đổi dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Hàn Quốc cũng bắt đầu giai đoạn phát triển kinh tế thần tốc dưới sự nắm quyền của Park Chung Hee trong khi Hồng Kông phát triển trong thời gian nằm dưới sự cai trị của thực dân Anh. Bỏ qua những sự khác biệt rất lớn về hệ thống chính trị, đâu là điểm chung trong sự phát triển của Đông Á? Để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi trên đây, có lẽ chúng ta nên bắt đầu từ việc tìm hiểu xem Nhật Bản đã làm thế nào để khơi dậy làn sóng học tập trong những nhà lãnh đạo. Nhật Bản là quốc gia đầu tiên ở Đông Á thức tỉnh sau nhiều thập kỷ chìm trong giấc ngủ say. Chính những chuyến đi của người phương Tây, đặc biệt là chuyến thám hiểm của đại tá hải quân Perry vào năm 1853 đã khiến Nhật Bản nhận thức được điểm yếu và sự tụt hậu của mình so với thế giới bên ngoài. Nhìn sang các nước láng giềng, người Nhật thấy rõ sự nhu nhược của Trung Quốc trước phương Tây và họ hiểu rằng họ cũng sẽ chịu chung số phận nếu không tiến hành những cải cách sâu rộng. Một nhóm những nhà cải cách trẻ tuổi đã dũng cảm đứng lên lật đổ chế độ cai trị của Tokugawa Shogunate và khôi phục vai trò hoàng đế cho Minh Trị. Cuộc cách mạng này đã đánh dấu sự khởi đầu cho quá trình cải cách tại Nhật Bản. Fukuzama Yukichi, một trong những người lãnh đạo nhóm cải cách đã nói: “Việc ngay lập tức chúng ta phải làm là không thể mất thời gian chờ đợi lâu hơn nữa sự trỗi dậy của các nước láng giềng để cùng với họ tạo nên một châu Á phát triển. Tốt hơn hết là chúng ta cần phải tự tìm ra con đường riêng của mình và phải thử vận may từ những nước văn minh phương Tây. Chúng ta cần phải hợp tác với họ chính xác như cách người phương Tây đang làm với chúng ta.”1 Nhật Bản vì thế đã trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Á nhận thức được rằng học tập phương Tây là yếu tố cơ bản để phát triển một cách thành công. Điều gì đã thôi thúc những nhà cải cách Minh Trị hành động trong bối cảnh cuối thế kỷ 19? Mối quan tâm lớn nhất với họ trong giai đoạn bấy giờ chính là sự an nguy của quốc gia chứ không phải số phận của bản thân họ. Mong muốn cháy bỏng của họ là làm sao đất nước mình không phải cúi đầu, quỵ lụy trước những người phương Tây. Chính điều đó đã tạo ra động lực để họ tìm đến mọi ngõ ngách trên thế giới để tìm ra chân lý làm nên một quốc gia hùng cường. Những nhà cải cách đã thể hiện một tinh thần rất thực tế khi đem áp dụng những gì mình đã học hỏi. Thay vì cố gắng tìm ra một hệ thống các công thức hay bài học từ một xã hội, họ rất hứng khởi trong việc kết hợp những thực tiễn thành công từ rất nhiều nguồn. Iwakura Tomomi, một trong những nhà cải cách Minh Trị, đã có chuyến đi kéo dài hai năm tới 54 vùng lãnh thổ trên khắp thế giới. Những gì họ được mắt thấy tai nghe thực sự làm họ vô cùng kinh ngạc và khiến họ nhận ra được yêu cầu phải thay đổi xã hội một cách toàn diện. Ví dụ trong lĩnh vực giáo dục, người Nhật đã áp dụng hệ thống giáo dục giống như của Pháp nhưng chương trình giảng dạy lại theo mô hình của người Mỹ. Họ tập trung vào việc phổ cập giáo dục tiểu học và nhân rộng giáo dục bậc trung học cơ sở. Mô hình này cũng cho phép những học sinh tài năng có thể tiếp tục tiến xa hơn. Người Nhật cũng vận dụng hệ thống tuyển dụng công chức theo kiểu của người Đức thông qua các kỳ thi đầu vào. Trong lĩnh vực chính trị, Nhật Bản tiến hành những nghiên cứu sâu rộng về hệ thống luật của phương Tây. Các nhà cải cách Minh Trị cũng học hỏi được kỹ thuật làm nông nghiệp của phương Tây để giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Goh Keng Swee, một trong những người được coi là “công thần khai quốc” của Singapore cũng đã đánh giá: “Bằng việc học hỏi kỹ thuật của phương Tây, chiêu mộ những chuyên gia phương Tây và tạo ra những giống mới thông qua những thử nghiệm, nền nông nghiệp Nhật Bản đã tạo ra những bước tiến vượt bậc và không ngừng đến mức mà ngay cả ngày nay, khi số lượng nông dân ở Nhật Bản dù là rất nhỏ so với giai đoạn đầu Minh Trị thì sự gia tăng dân số cũng không gây ra áp lực nào cho ngành nông nghiệp hiện đại” (Goh 1995a, 139) Goh Keng Swee đã nỗ lực không mệt mỏi trong việc tìm hiểu về mô hình cải cách thời Minh Trị. Cùng với Lý Quang Diệu và S. Rajaratnam, Goh Keng Swee được biết đến là một trong những người làm nên sự thành công như ngày nay của Singapore. Và ông luôn nhắc đến những nhà cải cách thời Minh Trị trong rất nhiều những bài viết của mình. Khi ông có bài phát biểu để tưởng nhớ Harry. G Johnson tại Royal Society, London ngày 28/7/1983 với chủ đề “Hành chính công và phát triển kinh tế ở các nước kém phát triển nhất”, ông đã thảo luận rất nhiều bài học từ câu chuyện thành công của Nhật Bản, đặc biệt là những cải cách thời Minh Trị (Goh 1995). Một điều có thể dễ dàng nhận thấy là Goh Keng Swee đã cố gắng áp dụng những bài học từ những nhà cải cách Minh Trị để phát triển Singapore. Thực tế, sự cống hiến của ông cho sự phát triển của Singapore là không hề nhỏ. Lý Quang Diệu, người sau này trở thành Thủ tướng của đảo quốc sư tử cũng đã kể lại rằng bất cứ lúc nào ông gặp những khó khăn trong việc điều hành đất nước, ông luôn đặt Goh Keng Swee vào vị trí đó. Lý Quang Diệu đã từng mô tả về Goh Keng Swee như sau: “Trong suốt quá trình làm việc 21 năm cho đến ngày ông ấy nghỉ hưu khi giữ cương vị Phó Thủ tướng vào năm 1984, ông ấy luôn là người bạn tri kỷ của tôi, luôn hoài nghi, luôn đi đến ngọn ngành của mọi vấn đề để tìm ra cái sai của nó và giúp tôi thay đổi nó. Ông ấy là một con người rất uyên bác và một người đấu tranh quả cảm” (Lee 1998, 510). Goh Keng Swee đã từng giữ trọng trách là bộ trưởng tại rất nhiều bộ khác nhau, từ Bộ Quốc phòng cho đến Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục, Ngân hàng Trung ương trong suốt sự nghiệp chính trị của mình. Không mắc một sai lầm nào, ông đã vượt qua hết khó khăn này đến khó khăn khác. Ông cũng đã để lại dấu ấn đậm nét của mình trong mỗi cương vị mà ông đã từng kinh qua. Một cách đáng kinh ngạc là ông có thể xử lý mọi khó khăn dù lớn hay nhỏ. Vườn chim Jurong, Vườn thú Singapore (cả vườn thú ban ngày và ban đêm), Dàn nhạc Giao hưởng quốc gia Singapore và Viện Đông Á (trước đây đã từng là viện nghiên cứu đạo Khổng) vẫn tiếp tục phát triển và trưởng thành dựa trên chính những nền tảng mà ông đã dày công xây dựng. Tôi đã một lần được tháp tùng Goh Keng Swee trong cuộc gặp gỡ của ông với Paul Volcker, người sau này đã giữ chức Chủ tịch Ban Lãnh đạo của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) vào năm 1985. Trước chuyến thăm, chúng tôi có thảo luận về vai trò của Fed. Tôi có thể thấy rõ ràng là chỉ trong có vài phút ngắn ngủi, Goh đã nắm bắt được về Fed và hệ thống tiền tệ của Mỹ một cách rất sâu sắc. Trên thực tế, ông đã áp dụng mô hình tương tự của phương Tây ở Singapore, Cơ quan Tiền tệ của Singapore (MAS) một cách rất khôn ngoan và hoàn toàn không phải là bản sao lệ thuộc vào phương Tây. Đó đã trở thành nguyên tắc trong quản lý của Goh: học hỏi từ thực tiễn thành công của tất cả các nước trên thế giới và áp dụng vào điều kiện rất đặc thù của Singapore. Để làm được điều đó, ông đã hành động đúng như những gì mà những nhà cải cách Minh Trị đã từng làm ở Nhật Bản gần 100 năm trước đây. Nếu như Goh học hỏi và áp dụng từ người Nhật thì bản thân ông cũng là người truyền cảm hứng cho một quốc gia khác, đó là Trung Quốc. Ít ai biết được rằng chính Trung Quốc trong giai đoạn đầu dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình đã nỗ lực rất lớn để học hỏi và áp dụng mô hình thành công của Singapore. Đặng Tiểu Bình xứng đáng được vinh danh là một những nhà lãnh đạo xuất sắc của mọi thời đại vì những đóng góp to lớn của ông trong việc cải thiện đời sống cho một tỷ người Trung Quốc. Ngay cả những những triết gia người Anh theo trường phái học thuyết thực thế kỷ 19 cũng phải ca ngợi những cống hiến của ông đối với xã hội Trung Quốc. Điều kỳ diệu là ở cách ông thay đổi đất nước đông dân nhất trên thế giới đơn giản như cách người ta xoay mặt một đồng xu và biến Trung Quốc từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung kiểu xã hội chủ nghĩa thành một nền kinh tế thị trường tự do. Ngay cả khi đến ngày nay, những thành công to lớn của Đặng Tiểu Bình đã được công nhận thì cũng không có nhiều người hiểu được những nhận thức về thế giới của ông đã chuyển biến như thế nào trên suốt chặng đường đó. Suốt từ khi 20 tuổi cho đến khi đã về già ở độ tuổi 75, thời điểm ông bắt đầu cho tiến hành chính sách Bốn hiện đại hóa, ông vẫn luôn là một người cộng sản chân chính. Ông cũng là một chứng nhân lịch sử của Công cuộc đại nhảy vọt thất bại vào những năm 1958-1960 và cả Cuộc Đại cách mạng Văn hóa vào năm 1966-1967. Đã từng có hai lần ông bị Mao Trạch Đông và những người thân cận với Mao thanh trừng ra khỏi Đảng Cộng sản, do đó, hơn ai hết ông ý thức rõ hơn cả những sai lầm của mô hình kinh tế kiểu xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên điều gì đã đưa ông đến việc quyết định chuyển đổi mô hình kinh tế theo những nguyên tắc của thị trường tự do? Câu chuyện này có lẽ chưa một ai được biết đến. Nhưng nếu chúng ta quay ngược thời gian để tìm hiểu về những thách thức ông phải đối mặt vào thời điểm vừa được phục chức và bắt đầu quay lại làm việc vào tháng 7 năm 1977 có lẽ chúng ta sẽ tìm ra được một phần câu trả lời. Ngoài việc phải giải quyết những hậu quả nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng xã hội do cuộc Đại Cách mạng văn hóa gây ra, ông cũng phải đối mặt với một cục diện địa chính trị nhiều rối ren chưa từng thấy. Việt Nam đưa quân vào Campuchia năm 1978, sau khi kí hiệp định với Moscow ngày 3/11 cùng năm trong đó có điều khoản Moscow sẽ đảm bảo an toàn cho Hà Nội trong trường hợp bị Trung Quốc tấn công. Đặng Tiểu Bình đã thân chinh đến Washington vào tháng Một năm 1979 để giải thích với Tổng thống Carter việc tại sao Trung Quốc cần phải phản ứng chống lại hành động của Việt Nam. Trong ký ức của Zbigniew Brzinski, cố vấn an ninh quốc gia của Carter, người đã có mặt trong cuộc gặp gỡ năm đó, hình ảnh về Đặng Tiểu Bình vẫn vô cùng sống động. “Đó là hiện thân ấn tượng nhất của quyền lực chính trị mà tôi từng gặp trong suốt 4 năm làm việc tại Nhà Trắng”, ông nói (Goh 1995b, 325). Chúng ta cũng nên nhớ lại rằng cũng trong chuyến thăm đó, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra một quyết định rất mạnh mẽ để biến xã hội Trung Quốc trở nên thịnh vượng giống như Hoa Kỳ. Đây thực sự là một rủi ro chính trị rất lớn bởi nó đã chứng minh một điều gần như ngược lại với những nhận thức đã ăn sâu vào tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc rằng người dân Mỹ rất nghèo khổ và luôn phải chịu đàn áp. Tuy nhiên ông Đặng đã đánh cược cả sự nghiệp chính trị của mình vào canh bạc đó. Quyết định mang tính lịch sử đó cũng đã cởi trói cho sức mạnh của Trung Quốc. Điều họ học được từ người Mỹ chính là một cuộc sống tốt đẹp hơn đang chờ đợi nếu như họ chấp nhận chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường tự do. Cũng không thể trách được bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào nếu họ chỉ chăm chăm vào giải quyết những thách thức nảy sinh từ cục diện địa chính trị trong bối cảnh rất nhiều khó khăn như lúc bấy giờ (đó cũng là những gì mà những nhà Lãnh đạo Xô-viết đã từng làm trong thời điểm đó). Tuy nhiên Đặng Tiểu Bình đã lựa chọn cho mình một hướng đi khác khi ông đã tập trung gần như tất cả sức lực của mình vào việc cải cách kinh tế trong nước, những gì mà Trung Quốc phải tiến hành. Đồng thời, ông Đặng đã quyết định đi thăm một số nước trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Singapore. Những chuyến thăm này đã giúp ông mở mắt để thấy được những phát triển kinh tế thần kỳ đang diễn ra trong khu vực. Tháng 12 năm 2005 khi trả lời phỏng vấn của tạp chí Thời đại Châu Á, Lý Quang Diệu đã nhớ lại những phản ứng của ông về chuyến thăm của ông Đặng tới Singapore: “Tôi có thể thấy được rằng chuyến thăm của ông ấy tới Bangkok, Kuala Lumpur và Singapore vào tháng 11 năm 1978 đã thực sự gây sốc cho ông ấy. Cái ông ấy từng hình dung trước đó là hình ảnh về những thành phố thuộc thế giới thứ 3 nhưng những gì ông ấy thấy lại là hình ảnh về những thành phố của thế giới thứ hai phát triển hơn nhiều so với Thượng Hải hay Bắc Kinh. Khi cánh cửa chuyên cơ của ông ấy đã đóng lại, tôi quay sang nói với các đồng nghiệp của mình, những trợ lý của ông ấy giờ này có lẽ đang phải chịu trận vì họ đã đưa cho ông ấy những báo cáo sai lệch.” Trong vài tuần tiếp theo, tờ Nhân dân Hàng ngày đã thay đổi những lời lẽ khi viết về Singapore, Singapore không còn là con chó trung thành chỉ biết chạy theo người Mỹ nữa; đất nước đó giờ đây là một thành phố xinh đẹp, xanh tươi, sạch sẽ và rất nhiều công trình nhà ở xã hội chất lượng cao đã được xây dựng. Họ đã thay đổi luận điệu. Còn ông ấy thì đã chuyển sang chính sách “mở cửa”. Suốt cả một đời là một người cộng sản tận tụy, ở độ tuổi 74, ông ấy đã thuyết phục những người trong Đảng hướng đến mô hình kinh tế thị trường. (Elegant and Elliot 2005, 6) Sau chuyến thăm tới Singapore, Đặng Tiểu Bình đã làm hết sức để thúc đẩy việc cải cách kinh tế. Để công cuộc cải cách có thể lan tỏa tới một tỷ người dân, ông Đặng luôn phải giữ một quan điểm rất rõ ràng, như ông ấy đã từng mô tả một cách rất đơn giản rằng: “Không quan trọng là mèo trắng hay mèo đen, miễn là nó có thể bắt chuột thì đấy vẫn là một con mèo tốt.” Ông ấy muốn truyền cho người Trung Quốc quan điểm theo hướng thực tiễn chủ nghĩa chứ không phải cách tiếp cận duy ý chí như trước đây dưới thời Mao Trạch Đông. Ông ấy cũng muốn đem đến cho người dân Trung Quốc một hình mẫu mà họ có thể tin trưởng. Nhật Bản hay bốn con hổ châu Á (Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan) đều có thể là những hình mẫu đó. Tuy nhiên Nhật Bản và Hàn Quốc nằm ngoài sự lựa chọn bởi những đối đầu về chính trị do ảnh hưởng của thời kỳ chiến tranh lạnh. Xét từ góc độ văn hóa, cũng không dễ dàng để người Trung Quốc chấp nhận đi theo Hàn Quốc hay Nhật Bản (đến nay vẫn được xem là những vệ tinh của văn hóa Trung Quốc). Hồng Kông hay Đài Loan cũng không thể được tính tới bởi chừng nào những bộ phận lãnh thổ đó còn tách rời khỏi Trung Quốc, chừng đó người Trung Quốc còn coi đó là một nỗi hổ thẹn trong lịch sử của dân tộc mình và Trung Quốc lúc bấy giờ vẫn đang phải từ từ hồi phục sau những thất bại đó. Vì thế mà gần như mặc định, Singapore trở thành hình mẫu mà người Trung Quốc rất coi trọng. Ông Đặng đã có chuyến đi thị sát quanh một loạt các địa phương trong nước để bảo đảm rằng Trung Quốc có thể học được một hay hai bài học từ những kinh nghiệm phát triển của Singapore. Như Lý Quang Diệu đã kể lại trong cuốn hồi ký của mình, thái độ của Trung Quốc đối với Singapore đã thay đổi đáng kể chỉ ngay sau chuyến thăm của ông Đặng năm 1978. Ông Lý đã trích dẫn lời của Đặng Tiểu Bình trong bài phát biểu vào tháng 10 năm 1979 (2000, 668-69): “Tôi đến Singapore để học cách làm thế nào họ sử dụng nguồn vốn từ nước ngoài. Singapore đã được hưởng lợi từ việc để người nước ngoài vào xây dựng nhà máy tại nước mình: thứ nhất, những công ty nước ngoài này sẽ trả 35% lợi nhuận ròng của mình vào thuế, tất nhiên là nhà nước thu được khoản tiền này; thứ hai là người lao động có thu nhập; và thứ ba là những khoản đầu tư nước ngoài sẽ thúc đẩy các ngành dịch vụ. Tất cả những khoản thu nhập này đều có lợi cho nhà nước“. Ông Lý còn nói thêm rằng: “Tất cả những gì ông Đặng thấy được ở Singapore đã trở thành một điểm tham khảo cho những gì nhỏ nhất mà người Trung Quốc cần phải đạt được”. Chính phủ Trung Quốc tiếp tục theo đuổi việc học hỏi bằng cách mời Goh Keng Swee làm việc với vai trò như một cố vấn kinh tế cho Ủy ban Nhà nước của Trung Quốc về phát triển vùng ven biển từ năm 1985 đến giữa những năm 1990. Chúng ta sẽ không có cách nào biết được đầy đủ những gì mà Tiến sỹ Goh đã cố vấn cho Chính phủ Trung Quốc. Hầu hết những thông tin này là bí mật. Nhưng có lẽ TS. Goh cũng đã đề cập với phía Trung Quốc rằng những gì ông học được hoặc là từ những nhà cải cách Minh Trị hoặc là áp dụng hình mẫu phát triển của phương Tây. Ông đã có lần mô tả về kinh nghiệm phát triển của Singapore như thế này: “Nếu như kinh nghiệm của chúng ta có thể được sử dụng làm kim chỉ nam cho chính sách ở các nước đang phát triển thì bài học ở đây là ở chỗ hệ thống kinh doanh tự do, được định hướng đúng đắn và quản lý một cách khéo léo có thể trở thành một công cụ rất quyền lực và linh hoạt để phát triển kinh tế.” (Goh 1995c). Ông Goh chắc hẳn cũng đã chia sẻ suy nghĩ đó với Chính phủ Trung Quốc. Câu chuyện về một người đàn ông học hỏi từ những cải cách thời Minh Trị, áp dụng những bài học đó vào Singapore và sau đó chia sẻ kinh nghiệm với Trung Quốc cách thức quản lý Singapore có lẽ chỉ là một minh họa rất nhỏ để thấy rằng giữa những nhà lãnh đạo Đông Á đã có rất nhiều sự trao đổi, học hỏi qua lại trong suốt quá trình họ nỗ lực để thúc đẩy sự phát triển đi lên trong xã hội. Tất nhiên sẽ còn rất nhiều những dẫn chứng hùng hồn khác nhưng sẽ còn phải có thêm thời gian cho những nghiên cứu sâu hơn. Tuy nhiên một số trong những câu chuyện này có thể sẽ mãi mãi là bí mật. Ví dụ như ai cũng biết rằng sự thành công của nền kinh tế Hàn Quốc là dựa trên sự phát triển từ những gì học được từ mô hình của Nhật Bản. Một cách thông thường thì sẽ không có gì phải bàn nếu như người Hàn Quốc công khai công nhận điều đó. Tuy nhiên lịch sử chính trị hiện đại của mối quan hệ Hàn Quốc và Nhật Bản là rất phức tạp và khó lường. Giai đoạn Nhật Bản chiếm đóng Hàn Quốc từ những năm 1910 đến 1945 vẫn là những trang lịch sử đầy đau buồn và tàn khốc. Người Hàn Quốc thậm chí còn không được phép nói tiếng nói của dân tộc mình trong thời kỳ bị chiếm đóng. Mọi thứ còn trở nên tồi tệ hơn khi mà ngay cả đến ngày nay, Nhật Bản cũng vẫn né tránh đề cập đến những đau đớn mà họ đã gây ra cho Hàn Quốc. Vì thế không có gì ngạc nhiên khi Hàn Quốc trong một động thái tương tự luôn tránh phải công nhận những đóng góp tích cực của Nhật Bản cho sự phát triển của mình. Vết thương vẫn chưa được hàn gắn. Sẽ phải mất rất nhiều thời gian để hai bên có thể tìm được tiếng nói chung về khía cạnh tích cực hơn của mối quan hệ đầy phức tạp này. Tuy nhiên không thể phủ nhận được những mối liên hệ giữa Hàn Quốc và Nhật Bản. Bên ngoài người ta vẫn thấy thái độ hằn thù đối với Nhật Bản ở Hàn Quốc là một hiện tượng phổ biến bởi những quá khứ đau buồn về thời kỳ bị Nhật chiếm đóng vẫn ám ảnh người Hàn Quốc. Tuy nhiên, đằng sau sự hằn thù đó vẫn là một thái độ trân trọng các giá trị văn hóa và những thành tựu của Nhật Bản ẩn sâu bên trong. Nhiều nhà phát triển kinh tế chỉ ra rằng vào năm 1960, GDP bình quân thu nhập đầu người ở Hàn Quốc thậm chí còn thấp hơn cả những nước đang phát triển khác trong khu vực với khoảng 80 USD. Con số này ở Ghana là 200 USD và Argentina là 2700 USD. Ngày nay, trong khi Hàn Quốc đã đạt đến mức 13900 USD thì Ghana mới chỉ dừng lại ở 380 USD và Argentina là 3700 USD. Liệu người Nhật có đóng góp gì cho sự phát triển này của Hàn Quốc hay không? Những nhà sử học Hoa Kỳ, những người không bị ảnh hưởng bởi khía cạnh cảm xúc trong quan hệ Nhật Bản – Hàn Quốc, đã nỗ lực tổng kết những bài học mà Hàn Quốc đã học được từ Nhật Bản. Dennis L. McNamara, một nhà nghiên cứu xã hội tại trường Đại học Georgtown tìm hiểu sự khởi đầu của mô hình tư bản ở Hàn Quốc và mô hình những chaebols2 (McNamara 1990) và đã được Ezra Vogel bổ sung như sau: Sau chiến tranh thế giới II, chỉ có chính phủ Hàn Quốc và Singapore là nghiên cứu rất nghiêm túc về những kinh nghiệm của Nhật Bản một cách chi tiết tuy nhiên những điểm chính về chiến lược phát triển của Nhật Bản đều đã được các con rồng châu Á tìm hiểu. Họ đều hiểu rằng Nhật Bản khởi đầu từ những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và sử dụng thu nhập từ xuất khẩu trong các ngành này để mua mới các trang thiết bị, máy móc, cùng lúc đó Nhật cũng từng bước tăng cường việc đào tạo nguồn nhân lực và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực năng suất cao có thể tạo ra thu nhập cao hơn cho người lao động. Họ cũng thấy được vai trò then chốt của chính phủ trong việc dẫn dắt những thay đổi này. Những gì họ thấy được từ mô hình của Nhật Bản đã cho họ một niềm tin rằng họ cũng có thể thành công và những gì họ cần phải theo đuổi. (Vogel 1991, 91). Còn tiếp… Dương Ngọc Quyến biên dịch theo spp.edu.sg Filed under: Phát triển kinh tế, Văn Hóa Tagged: Phát triển kinh tế, Văn Hóa | |||||||
| Các diễn văn làm thay đổi thế giới – Hãy Hướng Mặt Về Đền Thánh – Kinh Koran (2:142-167) Posted: 25 Nov 2010 11:04 AM PST Hãy Hướng Mặt về Đền Thánh Kinh Koran được viết dưới thể văn xuôi, theo vần bằng tiếng Ả Rập, có lẽ cho dễ thuộc, dễ nhớ vì việc thuộc lòng Kinh Koran nhắc lại mỗi khi cầu nguyện theo đúng nguyên bản tiếng Ả Rập là điều bắt buộc đối với mỗi tín đồ Hồi Giáo. Để tránh sai sót, người Hồi Giáo không chấp nhận bản Thánh Kinh được dịch lại sang ngôn ngữ khác. Các bản dịch Kinh Koran sang những ngôn ngữ khác nhau chỉ được sử dụng để tìm hiểu, học tập hay tham khảo mà không được xem là một phiên bản của Thánh Kinh (ví dụ như để sử dụng trong cầu nguyện). Trước khi có kinh Koran, người Ả Rập có mặc cảm là một chủng tộc thiếu văn hóa và họ tỏ ra trọng nể người Do Thái và Ki Tô. Sự xuất hiện kinh Koran vào đầu thế kỷ 7 đã đem lại cho các dân tộc Ả Rập một niềm tự hào vì từ nay họ có Thánh Kinh viết bằng tiếng Ả Rập. Họ đón nhận đạo Hồi là đạo của dân tộc chứ không phải là đạo ngoại lai. Kinh Koran và đạo Hồi là hai yếu tố quan trọng đem lại sự hứng khởi tinh thần và là chất keo văn hóa nối kết các bộ lạc Ả Rập lại với nhau và biến đại khối Ả Rập thành một lực lượng chính trị và quân sự hùng mạnh trong nhiều thế kỷ. (Charlie Nguyễn, http://sachhiem.net/CHARLIE/CN_TGHG/KinhKoran.php) Đoạn trích được giới thiệu dưới đây trích từ Surat 2, câu 142 đến 167, nói về việc Allah tạo ra một dân tộc mới, với hướng cầu nguyện, qibla. hướng về Mecca.
Bài tiếp theo: Kinh Chuyển Pháp Luân Filed under: Các diễn văn làm thay đổi thế giới, Văn Hóa Tagged: các diễn văn làm thay đổi thế giới, Văn Hóa |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |
No comments:
Post a Comment