Tuesday, November 30, 2010

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Sunshine on my shoulders – John Denver

Posted: 30 Nov 2010 12:17 PM PST

Nắng Trên Vai Tôi

Nắng trên vai tôi làm tôi vui
Nắng trong mắt tôi làm tôi khóc
Nắng trên mặt nước thật đáng yêu
Nắng hầu như luôn luôn làm tôi say

Nếu tôi có một ngày để cho anh
Tôi sẽ cho anh một ngày như hôm nay
Nếu tôi có một bài ca để hát cho anh
Tôi sẽ hát một bài làm anh cảm xúc thế này

Nắng trên vai tôi làm tôi vui
Nắng trong mắt tôi làm tôi khóc
Nắng trên mặt nước thật đáng yêu
Nắng hầu như luôn luôn làm tôi say

Nếu tôi có một truyện để kể cho anh
Tôi sẽ kể một truyện làm anh mỉm cười
Nếu tôi có một lời cầu để cầu cho anh
Tôi sẽ cầu cho nắng sáng cả mọi thời

Nắng trên vai tôi làm tôi vui
Nắng trong mắt tôi làm tôi khóc
Nắng trên mặt nước thật đáng yêu
Nắng hầu như luôn luôn làm tôi say
Năng hầu như lúc nào cũng làm tôi say
Nắng hầu như luôn luôn…

(TĐH dịch)

Sunshine On My Shoulders

Music by John Denver, Dick Kniss and Mike Taylor
Lyrics: John Denver; Singer: John Denver

Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high

If I had a day that I could give you
I'd give to you a day just like today
If I had a song that I could sing for you
I'd sing a song to make you feel this way

Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high

If I had a tale that I could tell you
I'd tell a tale sure to make you smile
If I had a wish that I could wish for you
I'd make a wish for sunshine all the while

Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high
Sunshine almost all the time makes me high
Sunshine almost always

John Denver là một ca sĩ nhạc country của Mỹ rất nổi tiếng. Chúng ta đã có bài về Johnny Denver trước đây tại đây tại đây.


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa

Nguồn gốc của sức mạnh tập thể

Posted: 30 Nov 2010 12:16 PM PST

Chào các bạn,

Lúc còn học đại học mình học đủ thứ môn trên đời—luật, kinh tế, chính trị, xã hội, triết… Và trong các môn này ta luôn luôn học được các trường phái và các chủ nghĩa khác nhau, và đương nhiên là ta có thói quen lựa chọn các trường phái và chủ nghĩa ta cho là hay nhất. Bên cạnh đó, hành nghề luật cũng tập cho mình thói quen giấy tờ bài bản. Nhưng những năm sau này, có một sự kiện làm thay đổi thang giá trị của mình rất lớn, và làm cho mình nhìn các liên hệ con người và phát triển xã hội với một cái nhìn hoàn toàn mới—đó là sự thành công của các công ty gia đình của người Việt tại Mỹ.

Các công ty gia đình này thường là công ty nhỏ, đa số làm nhà hàng hay buôn bán nhỏ. Điều đặc biệt của các công ty này là, có lẽ vì máu di dân còn đầy, cho nên làm việc thì cũng làm hùng hục nhưng chẳng có bài bản gì cả. Thích làm nhà hàng là dành dụm một món tiền, vợ chồng con cái thuê chỗ nào đó. Nghiên cứu thị trường thì chỉ bằng cách lượn qua lượn lại khu đó, nếu thấy không có tiệm phở thì ta làm tiệm phở. Chẳng có một chiến lược chiến thuật nào ghi xuống giấy để cùng tham khảo. Hầu như chẳng ai mượn tiền ngân hàng, vì ngân hàng chẳng bao giờ cho bạn mượn tiền nếu không có một chiến lược rất đẹp trên giấy tờ. Hợp đồng thì chẳng bao giờ nhờ luật sư. Trong nội bộ thì chẳng bao giờ có hợp đồng định rõ ai được quyền gì, trách nhiệm gì, lương bổng ra sao. Nói chung là giới MBA và luật sư rất là kinh hãi khi thấy họ mở công ty.

Nhiều của tiệm chết, đó không phải là chuyện đáng ngạc nhiên. Chuyện ngạc nhiên là rất nhiều tiệm sống và sống rất mạnh, làm cho dân Mỹ phải kinh ngạc và khiếp sợ sức sống của dân Việt.

Chuyện gì đã xảy ra? Tại sao họ không đánh nhau, cãi nhau tranh giành tiền, trong khi chẳng có hợp đồng rõ ràng gì cả? Tại sao họ không chết trong khi chẳng có chiến lược gì cả? Và nhiều công ty trở thành công ty bạc triệu, bất chấp tiên doán của luật sư và MBA là họ sẽ chết vì thiếu bài bản ?

Thưa, họ sống mạnh vì họ đoàn kết. Vì họ là gia đình, và các bạn đã biết gia đình Việt Nam đoàn kết mạnh như thế nào.

Vì đoàn kết nên họ không đánh nhau. Có vấn đề họ cùng nhau chịu trận và chia sẻ. Cần chiến lược thì họ chạy hỏi bạn bè hay các chuyên gia. Cần vào tòa thì họ nhờ luật sư. Sức sống, tài năng, và thành công của họ chỉ đến từ một điểm: Đoàn kết. (Ồ còn một điểm nữa mà hầu như mọi người Việt đều có—đó là "làm việc tận lực").

Trong khi đó, làm việc trong môi trường các công ty Mỹ, mình thất rất nhiều hợp đồng, mỗi bên k‎ý có cả một dàn luật sư cố vấn, nhưng trước khi k‎ý là mình có thể doán biết là hơp đồng nào sẽ phải vào tòa cãi nhau sớm, chỉ vì thấy được việc không tin nhau giữa hai bên.

Vì thế những năm sau này, mình luôn luôn cố vấn cho các thân chủ là: "Trước khi ký‎ hợp đồng anh phải cảm thấy rất tin tưởng và thoải mái và rất muốn "làm đám cưới" với người kia. Không thể dùng luật sư, chiến lược, và giấy tờ làm chính. Phải dùng cái tâm và lòng tin yêu đối với nhau là chính".

Và điều này đúng không chỉ trong hợp đồng thương mại mà còn là trong phát triển quốc gia. Thực sự là các vấn đề chủ nghĩa, chính sách, chiến lược chỉ quan trọng hàng thứ nhì. Hàng đầu phải là đồng bào anh em cùng một nước phải "cùng với nhau" vì yêu nhau và lo lắng cho nhau. "Cùng với nhau" có nghĩa là tư duy và cảm xúc của anh em cùng một nhà, cùng nhau lo lắng cho nhau và lo lắng cho căn nhà tổ quốc. Còn các suy nghĩ khác nhau của mỗi người, thì đó chỉ là những cách nhìn từ mọi góc cạnh khác nhau của vấn đề, để làm phong phú kiến thức cho nhau. Không phải là lý do để cãi nhau hay chia rẽ.

Đoàn kết để chiến thắng. Chỉ giản dị có vậy.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Chạy Theo Hay Chống Lại

Posted: 30 Nov 2010 12:15 PM PST

Thích Thái Hòa

Bạn thử nghĩ, một người ca ngợi những chú chó ăn phẩn và một người khác chống lại việc của những chú chó ăn phẩn, cả hai hạng người làm như vậy có ích lợi gì cho họ và cho cả những chú chó?

Đối với các dục ở trong thế gian cũng vậy, có những người đem hết tâm lực để ca ngợi sự hưởng thụ các dục và có một số người khác cũng đem hết tâm lực để chống đối lại việc con người hưởng thụ các dục, cả hai hạng người làm như vậy, có lợi gì cho họ và cho thế giới con người?

Thật vô ích và hoài công cho cả hai và cho cả xã hội con người. Việc con người chạy theo các dục, vì họ sống với các chủng tử tâm hành liên hệ đến vô minh, mọi sinh hoạt của họ là sinh hoạt trong bóng đêm, và ngay cả ánh sáng cũng chỉ là bóng đêm của họ mà thôi, nên đối với những hạng người như thế, ta chạy theo họ hay chống lại họ đều là vô ích.

Cũng như kẻ sống trong bóng đêm, ta không thể nói gì về ánh sáng đối với họ. Ta càng nói về ánh sáng, thì khiến cho họ càng bị rối bời lên và có những câu hỏi cực kỳ ngớ ngẩn rằng: "Ánh sáng có như bóng đêm không?"… Và vì họ ngớ ngẩn như vậy, nên họ sống trong bóng đêm, nhưng họ cũng chẳng biết bóng đêm là gì!

Nên, đối với họ ta không cần diễn tả về ánh sáng, không cần nói tác dụng của ánh sáng, mà ta chỉ cần có ánh sáng và bật ánh sáng lên là tức khắc người kia biết ánh sáng là gì mà ta không cần phải lý giải.

Vì vậy, việc chạy theo những con người tham dục hay chống lại họ đều là những việc làm vô ích. Chẳng khác nào ta chạy theo những chú chó ăn phẩn để ca ngợi chúng hay chống lại việc ăn phẩn của chúng! Sự hữu ích cho hành động của một người, chỉ xảy ra khi nào người ấy không hành động theo vô minh mà biết hành động theo tuệ giác và dùng hành động của mình như ngọn đèn tuệ giác, sáng lên cho mọi người cùng thấy, chứ không phải chạy theo hay chống lại.

T. T.H

http://thuviencophap-net.blogspot.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

GS.Michael Porter: Tư nhân phải là khu vực dẫn đầu nền kinh tế

Posted: 30 Nov 2010 12:14 PM PST

Tác giả: Cao Nhật – Phạm Huyền

(VEF) – “Tư nhân phải là khu vực dẫn đầu trong phát triển nền kinh tế, Nhà nước phải nhìn nhận nó như là một tài sản cực kỳ quan trọng”, GS Michael Porter nhấn mạnh tại Hội thảo công bố báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam sáng nay (30/11).

GS Michael Porter: “Đã tới lúc Việt Nam cần thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về môi trường kinh doanh mà thế giới biết tới.

Vị giáo sư được coi là “cha đẻ” của chiến lược cạnh tranh còn nhấn mạnh thêm, nếu không dẫn đầu thì tối thiểu khu vực tư nhân cũng phải là người tham gia cực sâu trong quá trình phát triển kinh tế.

Nhận thức lại vai trò của Chính phủ

Theo GS Michael Porter, trong giai đoạn hiện nay, Chính phủ Việt Nam cần xác định được một vai trò mới cho mình, phù hợp với yêu cầu của  một nền kinh tế thị trường năng động, đang trỗi dậy và đang hội nhập ngày càng sâu rộng.

“Từ kiểm soát, vai trò của Chính phủ cần chuyển sang xây dựng lợi thế cạnh tranh cho một nền kinh tế thị trường, Chính phủ cần hướng tới tạo ra một điểm đến kinh doanh với các lợi thế cạnh tranh rõ ràng”, GS nhấn mạnh.

Với vai trò này, Chính phủ sẽ đảm nhận những công việc tạo điều kiện và đảm bảo thị trường được vận hành theo nguyên tắc của nó. “Chính phủ sẽ phải cung cấp một môi trường thể chế minh bạch và hiệu quả, trong đó các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trên mọi mặt”.

Theo đánh giá của GS, trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế ấn tượng, Việt Nam giờ đã trở thành một bộ phận năng động của nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên mức độ thịnh vượng và năng suất còn thấp, những quan ngại về tính bền vững của mô hình phát triển hiện nay ngày càng tăng.

“Việt Nam vẫn hấp dẫn các nhà đầu tư chủ yếu do yếu tố chi phí nhân công thấp nhưng trong một môi trường toàn cầu đang thay đổi, điều này là không đủ để duy trì tăng trưởng bền vững”, ông khuyến cáo.

GS Michael Porter cho rằng Việt Nam đang đứng trước thời điểm chuyển giao quan trọng từ tăng trưởng dựa trên các lợi thế so sánh sẵn có sang tăng trưởng dựa trên việc nâng cấp năng lực cạnh tranh và xây dựng những lợi thế cạnh tranh mới ở trình độ cao hơn.

“Đã tới lúc Việt Nam cần thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam mà thế giới sẽ biết tới”, GS Michael Porter nhấn mạnh.

Khu vực Tư nhân là tài sản cực kỳ quan trọng

Thừa nhận thực tế các DNNN vẫn là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam và sẽ vấn tiếp tục giữ vai trò này trong thời gian tới nhưng GS cho rằng cách tiếp cận chính sách hiện nay trong quản lý DNNN không tạo ra được các doanh nghiệp mạnh, có năng lực cạnh tranh cao nhưng mong đợi ban đầu của các nhà hoạch định chính sách.

“Cách tiếp cận chính sách mới cần tách biệt vai trò của Chính phủ với tư cách là chủ sở hữu với vai trò quản lý điều tiết và ra quy định, cùng với đó phải xây dựng và thực thi các tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp hiện đại đối với các DNNN”, ông nhấn mạnh.

Ngoài ra, GS cũng nói thêm rằng các DNNN cần phải tuân thủ các quy định chặt chẽ về công bố thông tin như các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là thông tin về kết quả tài chính của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động, các mối liên hệ về tài chính với Chính phủ…”

“Cách tiếp cận chính sách mới cần tách biệt vai trò của Chính phủ với tư cách là chủ sở hữu với vai trò quản lý điều tiết và ra quy định, cùng với đó phải xây dựng và thực thi các tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp hiện đại đối với các DNNN”

Cũng theo GS Michael Porter, Việt Nam cần thay đổi từ việc chỉ tập trung vào khu vực DNNN và FDI sang sự kết hợp do thị trường điều chỉnh giữa doanh nghiệp tư nhân trong nước, FDI và các DNNN được cải cách.

Theo đó, cần có sự cạnh tranh bình đẳng giữa các khu vực, từ đó cho phép những doanh nghiệp có đóng góp nhiều nhất vào sự thịnh vượng và hiệu quả của nền kinh tế được phát triển.

“Tôi tin Tư nhân phải là khu vực dẫn đầu trong phát triển nền kinh tế, Nhà nước phải nhìn nhận nó như là một tài sản cực kỳ quan trọng để dẫn dắt và thúc đẩy sự cải thiện năng lực cạnh tranh”, GS Michael Porter nhấn mạnh.

Theo GS, thảo luận chính sách hiện nay của Việt Nam thường tập trung vào quan điểm chính trị về sở hữu nhưng thực ra cấu trúc thị trường, gồm những yếu tố như mức độ cạnh tranh, quan trọng hơn nhiều so với yếu tố sở hữu trong việc quyết định năng suất của một doanh nghiệp.

Đề xuất lập Hội đồng năng lực cạnh tranh

Dựa trên kinh nghiệm của nhiều quốc gia khác, GS Michael Porter và nhóm nghiên cứu đưa ra đề xuất thành lập Hội đồng năng lực cạnh tranh Việt Nam thì theo ông, đối với mỗi sáng kiến cải cách cụ thể cần có một cơ quan hay nhóm công tác chịu trách nhiệm chính về triển khai thực hiện sáng kiến đó.

Chính điều này đòi hỏi phải có một cơ quan ở vị trí trung tâm của hệ thống nhằm quản lý toàn bộ các hoạt động, chương trình cải cách, để đảm bảo rằng những nhiệm vụ, hoạt động quan trọng nhất sẽ được ưu tiên thực hiện.

Quang cảnh Hội thảo

Cụ thể hội đồng này sẽ làm nhiệm vụ điều phối, hỗ trợ các cơ quan chính phủ. Hội đồng cũng sẽ giám sát và báo cáo với các cơ quan của Đảng và cộng đồng về tiến trình thực hiện chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhưng để thực hiện được các nhiệm vụ trên, GS cho rằng phải hội đủ được ba yếu tố quan trọng.

Đầu tiên là vai trò lãnh đạo của Chính phủ, “những lãnh đạo cao nhất của Chính phủ phải thấy được sự hữu ích của Hội đồng này và tham gia cũng như lắng nghe một cách sâu sắc, không hình thức”

Sau đó, Hội đồng phải tập hợp được những cá nhân xuất sắc, quan tâm đến lợi ích chung của đất nước chứ không phải chỉ lo cho lợi ích của chính họ hay nhóm của họ.

Điều rất quan trọng không thể thiếu nữa là phải có một ban thư ký giúp việc tuyệt vời, làm vệc chuyên nghiệp, tận tụy và trách nhiệm.

“Vấn đề quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay là hành động, chúng ta đã nói, đã bàn bạc rất nhiều, nhưng cần phải có những bước đi cụ thể và cương quyết, đó cũng chính là điều mà báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam lần này hướng đến”, GS Michael Porter nhấn mạnh.

Trao đổi tại phiên thảo luận sau đó, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng như Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đánh giá rất cao những kiến nghị trong báo cáo nói chung cũng như về đề xuất thành lập Hội đồng năng lực cạnh tranh nói riêng.

“Chúng tôi sẽ báo cáo lên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và sẽ có những bàn bạc cụ thể đổi với những đề xuất này”, ông Hoàng Trung Hải khẳng định.

Trả lời câu hỏi của VietNamNet, theo GS đâu là những điểm yếu trong cạnh tranh của các Doanh nghiệp Trung Quốc, GS Michael Porter cho rằng câu hỏi này rất khó, Trung Quốc có một thị trường rất lớn đằng sau họ cũng đang cải thiện năng lực cạnh tranh một cách rất nhanh. Nhưng Trung Quốc vẫn thường có sự bóp méo về tiếp cận vốn, về các trợ cấp của nhà nước.

Cho nên làm thế nào để các doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh được với các doanh nghiệp Trung Quốc là một câu hỏi lớn, tuy có được đề cập trong báo cáo này nhưng không nhiều.

Doanh nghiệp Việt Nam khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp Trung Quốc về mặt quy mô, mình không thể có quy mô như họ, nên mình phải khéo léo đặt vị thế chiến lược của mình và cần phải chọn ra được những phân đoạn thị trường khác mà mình có thể phát huy được lợi thế.


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Công bố báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam

Posted: 30 Nov 2010 12:13 PM PST

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải phát biểu tại hội thảo. (Nguồn: Internet)

Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010 đã được Văn phòng Chính phủ phối hợp với Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương và Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á tổ chức hội thảo công bố ngày 30/11, tại Hà Nội.

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải; giáo sư Michael E. Porter, Trường Quản lý Kinh doanh Harvard, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Quốc tế, Học viện Năng lực Cạnh tranh châu Á cùng nhiều quan khách trong nước và quốc tế đã tham dự.

Bản báo cáo đầu tiên về năng lực cạnh tranh Việt Nam đã cung cấp các số liệu, phân tích và những đề xuất cụ thể nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách trong quá trình xác định hướng đi tương lai. Báo cáo đưa ra những phân tích tổng hợp làm đầu vào cho việc xây dựng một chiến lược kinh tế vừa dựa trên các kinh nghiệm quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam; đồng thời đi sâu phân tích những nguồn lực dẫn dắt tăng trưởng của Việt Nam thời gian qua cũng như những vấn đề lớn mà đất nước phải giải quyết để tiếp tục duy trì và thúc đẩy phát triển kinh tế.

Theo báo cáo, trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đã tiến được một chặng đường dài. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung khép kín, Việt Nam đã trở thành một bộ phận năng động của nền kinh tế toàn cầu. Quá trình này đem lại những lợi ích to lớn cho đời sống của người dân, mức sống được nâng cao và tỷ lệ đói nghèo giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, dù thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vừa chạm tới ngưỡng thu nhập trung bình thấp, nhưng mức thu nhập tuyệt đối vẫn còn thấp hơn nhiều so với hơn 100 quốc gia khác trên thế giới.

Sự chênh lệch về mức độ phát triển giữa các vùng miền đang tăng lên. So sánh với nhiều quốc gia khác, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn nhiều, sự tăng năng suất lao động chủ yếu là do kết quả của gia tăng vốn đầu tư cùng với sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang khu vực chế biến, chế tạo và dịch vụ.

Phân tích các chỉ số kinh tế cho thấy vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một động lực chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu. Tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu là do việc mở cửa thị trường đem lại. Chính sách tài khóa bị cản trở rất nhiều bởi các thâm hụt cơ cấu lớn của khu vực Nhà nước.

Đánh giá cao những những nỗ lực của các bên trong việc hoàn thành báo cáo đầu tiên về năng lực cạnh tranh của Việt Nam, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia là một chương trình dài hạn, không bao giờ ngừng và điều cần quan tâm là phải triển khai, giám sát chương trình hành động đó thế nào cho hiệu quả. Việc triển khai các chương trình, giải pháp cần có sự nỗ lực không chỉ của Chính phủ, của các bộ, ngành, các cấp mà còn là của cả doanh nghiệp và mọi người dân Việt Nam.

Phó Thủ tướng khẳng định sẽ sử dụng báo cáo này như một nền tảng cho việc xây dựng các kế hoạch và giải pháp trong 10 năm tới. Các bộ, ngành sẽ tiếp tục nghiên cứu, đưa vào những chương trình hành động, kế hoạch chiến lược và quy hoạch từng ngành trong giai đoạn tới. Các đề xuất trong báo cáo sẽ được các bộ nghiên cứu trình lên Thủ tướng. Chính phủ luôn lắng nghe các doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Phó Thủ tướng nói.

Giáo sư Michael E. Porter cho rằng mặc dù đã có một số cải thiện trong những năm gần đây nhưng môi trường hành chính ở Việt Nam nói chung chưa thông thoáng, làm hạn chế sức hấp dẫn với các nhà đầu tư. Các doanh nghiệp nhà nước lớn hoạt động theo mô hình tập đoàn nhưng thiếu sự gắn kết và bổ trợ. Giữa khu vực doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp nước ngoài có khoảng cách lớn về hiệu quả và năng suất. Những dòng vốn lớn đổ vào làm kích thích tăng cầu nội địa và lạm phát.

Các thị trường tài chính còn non trẻ và chưa phát triển sâu. Các công ty tư nhân quy mô nhỏ còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn. Thị trường chứng khoán có nhiều biến động mạnh và thiếu minh bạch, đặc biệt là các thông tin về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà nước. Cạnh tranh chủ yếu vẫn tập trung về giá và đối đầu trực tiếp chứ không dựa trên chất lượng và khác biệt hóa sản phẩm dịch vụ.

Thêm vào đó, tỷ lệ tăng trưởng GDP so với đầu tư ngày càng giảm làm tăng sự phụ thuộc vào các dòng vốn bên ngoài để duy trì tăng trưởng; tăng trưởng nhu cầu đang vượt quá năng lực vi mô của nền kinh tế về mặt kỹ năng lao động và hạ tầng kỹ thuật; khoảng cách giữa vốn FDI công bố và vốn thực hiện ngày càng tăng. Tham nhũng ở mức độ cao cũng là một trong những thách thức đối với Việt Nam…

Theo giáo sư Michael E. Porter, ba nhóm vấn đề quan trọng nhất Việt Nam phải giải quyết là các mất cân đối kinh tế vĩ mô (mất cân đối về cán cân thương mại và tài khoản vãng lai, mất cân đối tiết kiệm-đầu tư, lạm phát và tỷ giá hối đoái); các nút thắt cổ chai về kinh tế vi mô (thiếu hụt kỹ năng lao động và hạ tầng; tỷ lệ giải ngân và tác động lan tỏa tích cực của khu vực FDI thấp, mối quan hệ giảm dần giữa đầu tư và tăng trưởng) cũng như những yếu tố nền tảng của năng lực cạnh tranh như hàm lượng giá trị gia tăng khu vực xuất khẩu thấp, lợi thế cạnh tranh về giá đang giảm dần, sản phẩm trong nước có năng suất thấp hơn so với các sản phẩm nhập khẩu…

Từ những phân tích trên, giáo sư Michael E. Porter khuyến nghị Việt Nam cần một phương pháp tiếp cận đồng bộ và hiệu quả trong việc xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô.

Theo giáo sư, cần thành lập cơ quan trung ương có chức năng theo dõi và báo cáo về tình hình tài khóa của các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp nhà nước cũng như về tình trạng của nền kinh tế; thiết lập cơ chế thường xuyên theo dõi, kiểm toán chi tiêu công; củng cố chất lượng và hiệu quả của quản lý nợ công; làm rõ vai trò của Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng Trung ương trong điều hành chính sách tiền tệ và xác định rõ ràng những mục tiêu của chính sách này; củng cố năng lực quản lý giám sát thị trường tài chính thông qua Ngân hàng Trung ương cũng như chức năng nhiệm vụ và hoạt động của Hội đồng chính sách tài chính tiền tệ quốc gia.

Giải quyết các nút thắt vi mô, phát triển các cụm ngành theo hướng tổ chức lại các chính sách, lấy cụm ngành làm trung tâm; tạo dựng nền tảng về giáo dục và kỹ năng lao động, cơ sở hạ tầng, quản trị doanh nghiệp nhà nước; thành lập Hội đồng Năng lực cạnh tranh quốc gia… cũng là những khuyến nghị được giáo sư Michael E. Porter đưa ra đối với Việt Nam./.


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Wikileaks có nhiều tài liệu về Việt Nam

Posted: 30 Nov 2010 12:12 PM PST

BBC

Trang Wikileaks
Wikileaks đang công bố dần các tài liệu họ có

Tổ chức Wikileaks nói họ có nhiều thông tin từ các cuộc trao đổi giữa các nhà ngoại giao Hoa Kỳ ở Việt Nam và chính phủ Mỹ.

Hiện tổ chức này chưa công bố nội dung của bất kỳ cuộc trao đổi nào.

Số đầu tài liệu mà Wikileaks có được liên quan tới Việt Nam ở mức trung bình cao, đứng thứ 37 so với vị trí thứ 35 của Miến Điện, 33 của Indonesia, 32 của Thái Lan và 5 của Trung Quốc.

Các tài liệu mà trang chuyên tiết lộ thông tin này có được là trao đổi giữa 250 đại sứ quán và lãnh sự quán Hoa Kỳ tại hơn 90 nước trên thế giới với Washington.

Wikileaks cho biết họ có hơn 2.300 bức điện tín gửi đi từ Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội và gần 800 từ Lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh.

Trong số hơn 3100 điện tín này có cả những loại thuộc diện ‘mật’.

Hoan nghênh

Cho tới nay Wikileaks mới công bố nội dung của hơn 200 bức điện tín trong số hơn 250.000 bức mà họ có.

Trong số những bức được công bố chưa có bức nào được đánh đi từ Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh.

Các điện tín này là những cuộc trao đổi giữa các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ ở trên khắp thế giới với Bộ Ngoại giao và các cơ quan khác của Mỹ.

Các quan chức Hoa Kỳ lên án việc công bố các tài liệu này và nói rằng nó đe dọa tính mạng của các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ và những người có liên quan.

Tuy nhiên ông Dan Esllberg, người đã công bố 7000 trang tài liệu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam, từng lên tiếng bảo vệ việc công bố các tài liệu của Wikileaks.

Ông hoan nghênh những người đã rò rỉ thông tin quân sự cho Wikileaks trong lần trước đây và nói:

“Tôi từng đối mặt với rủi ro cách đây 40 năm và tôi thấy hoàn toàn đáng đối mặt với khả năng phải đi tù để giúp rút ngắn cuộc chiến… mà cuộc chiến khi đó chúng ta đối mặt là cuộc chiến Việt Nam.”


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

Trung Quốc muốn Triều Tiên thống nhất

Posted: 30 Nov 2010 12:12 PM PST

BBC

Hai lãnh tụ Hồ Cẩm Đào và Kim Jong-il
Giới chức Trung Quốc tỏ ra ngày càng hết kiên nhẫn với Bắc Hàn

Điện tín ngoại giao Mỹ bị rò rỉ trên Wikileaks cho thấy quan chức cao cấp của Trung Quốc tin rằng bán đảo Triều Tiên cần được thống nhất dưới sự lãnh đạo của Seoul.

Lãnh đạo Trung Quốc được nói đã cho một cựu quan chức Nam Hàn biết rằng Bắc Kinh không coi trọng gì Bắc Hàn.

Trong khi đó, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Hà Á Phi nói Bình Nhưỡng hành xử như “đứa trẻ con được nuông chiều đâm hư đốn”.

Một tài liệu được Wikileaks tung ra hôm thứ Hai ghi lại cuộc thảo luận trong buổi ăn trưa hồi tháng 2/2010 giữa Thứ trưởng Ngoại giao Nam Hàn Chun Yung-woo và Đại sứ Mỹ tại Seoul, Kathleen Stephens.

Thứ trưởng Chun tiết lộ trong bữa ăn rằng giới lãnh đạo trẻ của Trung Quốc nay không còn coi Bắc Hàn là đồng minh thân cận nữa, và cũng không muốn thấy xung đột vũ trang trên bán đảo Triều Tiên.

Bà Stephens viết trong điện tín của mình rằng ông thứ trưởng dự đoán “Bắc Hàn đã sụp đổ về kinh tế, và sẽ sụp đổ về chính trị chỉ hai hoặc ba năm sau khi lãnh tụ Kim Jong-il qua đời”.

Bà viết thêm: “Khi nói về sự khác nhau trong thái độ của các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc, ông Chun nói có người tin rằng Triều Tiên cần được thống nhất dưới sự lãnh đạo của Nam Hàn”.

Ông Chun cũng nói quan chức Trung Quốc “sẵn sàng chấp nhận thực tế là CHDCND Triều Tiên nay không còn nhiều giá trị đối với Trung Quốc và kể từ sau cuộc thử hạt nhân năm 2006 của Bắc Hàn thì quan điểm này ngày càng được nhiều lãnh đạo Trung Quốc chia sẻ”.

“Thứ trưởng Chun nói ngay cả trong trường hợp Bắc Hàn sụp đổ hoàn toàn, Trung Quốc vẫn không muốn thấy hiện diện quân sự của Mỹ ở phía Bắc khu phi quân sự giữa hai bên”.

“Trung Quốc sẽ chấp nhận một nước Triều Tiên thống nhất dưới sự lãnh đạo của Seoul và đồng minh một cách hòa dịu với Hoa Kỳ, chừng nào Triều Tiên không thù địch với Trung Quốc”.

Tuy nhiên, theo các biên tập viên BBC Tiếng Trung tại London thì đây chỉ là lời trích dẫn từ phía Nam Hàn cho nên cần phải xem xét kỹ trước khi có đánh giá quá chắc chắn về thái độ thực của Bắc Kinh với Bắc Triều Tiên.

Bắc Kinh vẫn luôn có mối quan hệ mật thiết với Bình Nhưỡng ở cấp cao nhất nên việc phát ngôn của một số nhân vật ngoại giao chưa hẳn đã là chỉ dấu về đường lối.

Hôm nay, ông Choe Thae-bok, bí thư Trung ương đảng Lao Động Triều Tiên sang thăm Bắc Kinh năm ngày để bàn về các vấn đề liên quan đến tình hình bán đảo Triều Tiên.

‘Trẻ con hư’

Wikileaks cũng tiết lộ rằng Thứ trưởng Ngoại giao Hà Á Phi nói với Đại biện Mỹ tại Bắc Kinh rằng Bắc Triều Tiên cư xử như “trẻ con hư” để thu hút chú ý của Washington khi thử hỏa tiễn hồi tháng 4/2009.

Ông Hà nói Bình Nhưỡng muốn “đàm phán trực tiếp với Mỹ và do vậy, hành xử như một đứa trẻ được chiều quá đâm ra hư đốn nhằm được người lớn chú ý”.

“Trung Quốc muốn Mỹ, sau một thời gian, trở lại đàm phán với Bắc Hàn”.

Một điện tín khác đề ngày từ tháng 9/2009 nói ông Hà đã giảm nhẹ tầm quan trọng của chuyến đi của Thủ tướng Ôn Gia Bảo tới Bình Nhưỡng, khi nói với Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James Steinberg rằng: “Chúng tôi cũng chẳng thích thú gì bọn họ… nhưng chúng tôi là láng giềng.”

Ông nói ông Ôn Gia Bảo sẽ thúc đẩy giải trừ hạt nhân và quay lại bàn đàm phán”.

Vài tháng sau đó, Đại sứ Trung Quốc tại Kzakhstan nói chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên là “đe dọa cho cộng đồng quốc tế”.

Một bức điện từ sứ quán Mỹ tại Seoul vào tháng 1/2009 trích lời quan chức nói Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cố ý giả vờ không nghe thấy Tổng thống Nam Hàn Lee Myung-bak, khi ông này hỏi Bắc Kinh nghĩ gì về tình hình chính trị bên trong Bắc Hàn và liệu Trung Quốc có kế hoạch đối phó gì hay không.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

No comments:

Post a Comment