Saturday, November 27, 2010

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Reflection – Christina Aguilera – Mulan (Disney film)

Posted: 27 Nov 2010 01:39 PM PST

Phản Ánh

(Trong phim Mulan – Hoa Mộc Lan – của Disney)

Hãy nhìn tôi
Bạn có thể nghĩ là bạn thấy
Con người thật của tôi
Nhưng bạn sẽ chẳng bao giờ biết tôi
Mỗi ngày, cứ như là tôi đóng một vai
Bây giờ tôi biết
Nếu tôi mang mặt nạ
Tôi có thể lừa cả thế giới
Nhưng tôi không thể lừa
Quả tim tôi
Cô gái nào đó tôi thấy
Nhìn ngược lại tôi?
Khi nào thì hình ảnh của tôi biểu lộ
Con người bên trong của tôi?
Hiên giờ tôi đang
Ở trong một thế giới mà tôi phải
Giấu quả tim mình
Và những điều tôi tin
Nhưng dù sao
Tôi cũng sẽ cho thế giới biết
Điều gì trong tim tôi
Và được yêu vì chính con người của tôi
Cô gái nào đó nhìn ngược lại tôi?
Tại sao hình ảnh của tôi
Là người tôi không biết?
Tôi phải giả là
Người khác mãi sao?
Khi nào thì hình ảnh của tôi biểu lộ
Con người bên trong của tôi?
Có một quả tim phải được
Tự do để bay
Cháy với mong muốn
Được biết lý do tại sao
Tại sao chúng ta phải che giấu
Điều ta nghĩ
Cách ta cảm xúc
Bắt buộc phải có một tôi bí mật
Mà tôi phải giấu hay sao?
Tôi sẽ không giả vờ tôi là
Một người khác
Mãi mãi
Khi nào thì hình ảnh của tôi biểu lộ
Con người bên trong của tôi?
Khi nào thì hình ảnh của tôi biểu lộ
Con người bên trong của tôi?

(TĐH dịch)

Reflection

(Artist: Christina Aguilera, in Mulan, Disney movie)

Look at me
You may think you see
Who I really am
But you'll never know me
Every day, is as if I play apart
Now I see
If I wear a mask
I can fool the world
But I can not fool
My heart
Who is that girl I see
Staring straight back at me?
When will my reflection show
Who I am inside?
I am now
In a world where I have to
Hide my heart
And what I believe in
But somehow
I will show the world
What's inside my heart
And be loved for who I am
Who is that girl I see
Staring straight back at me?
Why is my reflection
Someone I don't know?
Must I pretend that i'm
Someone else for all time?
When will my reflection show
Who I am inside?
There's a heart that must
Be free to fly
That burns with a need
To know the reason why
Why must we all conceal
What we think
How we feel
Must there be a secret me
I'm forced to hide?
I won't pretend that i'm
Someone else
For all time
When will my reflections show
Who I am inside?
When will my reflections show
Who I am inside?

Christina Aguilera – Reflection (Mulan)


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa

Thành kiến

Posted: 27 Nov 2010 01:37 PM PST

Chào các bạn,

Nếu chúng ta nghiên cứu về chế độ nô lệ ở Mỹ, mới chấm dứt chính thức năm 1863 ở Mỹ với "Tuyên cáo giải phóng" (emancipation proclamation) của tổng thống Lincohn và cuộc nội chiến Mỹ, thì chúng ta hiểu được thành kiến ảnh hưởng mạnh mẽ thế nào đến tư duy con người.

Mỹ là một quốc gia Tin Lành, tức là nhóm Thiên chúa giáo chạy tị nạn tôn giáo từ Âu Châu sang Mỹ từ thế kỷ 17. Jesus dạy bình đẳng, và Tin Lành, vì là dân tị nạn, là nhóm Thiên chúa giáo có tư duy bình đẳng nhất. Dù vậy họ vẫn không thấy chế độ nô lệ là sai.

Người nô lệ không có giá trị bình đẳng với một người da trắng. Người nô lệ không thể tự tồn tại. Mỗi người nô lệ phải có một người chủ, và người chủ sở hữu người nô lệ như là một đồ vật. Người chủ có thể bán người nô lệ cho người khác như là một đồ vật. Và người nô lệ nào bỏ chủ trốn đi sẽ bị pháp luật trừng trị. Thế thì bình đẳng ở đâu? Trong lúc gần 2 nghìn năm trước Jesus đã là khuôn mẫu cho khiêm tốn và bình đẳng? Và vào thời chế độ nô lệ ở Mỹ, hầu như là 100% người da trắng theo Thiên chúa giáo.

tĐây là một sự thật lạ lùng, phải không các bạn? Những người da trắng trong một tôn giáo đặt trọng tâm vào bình đẳng lại có chế độ nô lệ (mà phải có một cuộc nội chiến tương tàn để chấm dứt). Tại sao?

Thưa, tại vì thành kiến bóp méo tư duy của con người đến mức người ta không thể thấy được chính mình và tư duy của mình. Da đen không phải là con người, ít ra thì cũng không là con người ngang hàng da trắng. Chúa tạo da trắng cao hơn da đen, như là tạo ra con người cao hơn chó mèo, cho nên da trắng sở hữu và quản lý da đen là chuyện hợp lý, hợp ‎ý chúa. Con người được Chúa cho quản lý mọi sự thấp hơn người, như cây cối, đất đại, thú vật… hay da đen, cho nên quản lý da đen cũng là việc phải làm thôi. Và dĩ nhiên là mọi người da trắng vẫn xử với nhau trong giới da trắng một cách bình đẳng như lời Chúa dạy. Có gì sai đâu?

Tưu trung là lý luận nghe như thế. Dù là nghe rất giễu thời nay, ngày xưa nó đã là luồng tư duy chính trong các xã hội có chế độ nô lệ hàng nghìn năm.

Nhưng vào thuở xưa, chẳng thể nào ta có thể giải thích cho các chủ nô lệ rằng chế độ nô lệ là phản lời dạy của Chúa cả. Họ không thể hiểu lời nói đó, và nếu không bắt ta đem nhốt thì cũng xem ta như là người điên lảm nhảm bậy bạ. Phải có nhiều cuộc chiến giải phóng nô lệ trên thế giới, máu người nô lệ phải chảy nhiều, thì người ta mới từ từ chấp nhận là nô lệ cũng là người và cũng được quyền bình đẳng như "Chúa Giêsu của ta dạy".

Vì thế, chúng ta phải hiểu sức mạnh của thành kiến. Cực kì kinh khủng, cực kì kinh khủng. Khi ta có thành kiến thế giới là màu đỏ, thì mọi lời nói, mọi giảng huấn, mọi kinh sách, dù là từ ai, cũng đều được ta hiểu theo kiểu thế giới màu đỏ. Và nếu Thánh kinh có câu thế giới màu xanh, thì đương nhiên là ta sẽ có cách giải thích "Chữ 'xanh' trong Thánh kinh thực ra có nghĩa màu đỏ".

Vì quyền lực kinh khủng của thành kiến, giải tỏa tất cả để ta có thể "nhìn sự vật như nó là" là trọng tâm của tu tập Phật gia. Vô chấp. Xóa bỏ tất cả mọi chấp, xóa bỏ tất cả thành kiến, xóa bỏ tất cả vướng mắc trong tư tưởng, bằng thiền định, để tâm trí có thể nhìn mọi sự với một "tâm không", một tâm trí hoàn toàn tinh tuyền, không hề có tí thành kiến nào che mờ.

Nói thì dễ nhưng làm thì khó. Vì thế, người tu thì nhiều, người đạt ngộ ít hơn kim dưới đáy biển.

Thiên chúa giáo thì dạy người ta thực tập "Yêu người vô điều kiện". Và nhiều người, như thánh Francis of Assini, thương cả loài vật. Tình yêu mãnh liệt giúp chúng ta nhìn người khác với con mắt bao dung độ lượng và hy vọng là nhờ thế mà ta mất đi thành kiến về họ. (Nhưng nhìn lịch sử Tây phương thì ta có thể thấy cách này có thể là không hiệu nghiệm mấy, vì chế độ nô lệ mới hết trên giấy tờ chỉ hơn 100 năm nay, và chế độ thuộc địa mới chấm dứt vài mươi năm nay).

Theo mình nghĩ, nếu chúng ta thực sự khiêm tốn, yêu thương và lắng nghe, lắng nghe người kia, cố gắng hiểu được tư duy và cách suy nghĩ của họ, cố gắng hiểu được tại sao họ buồn, tại sao họ vui… để ta có thể đạt được cách nhìn sự việc qua con mắt của họ, thì lúc đó may ra ta có thể thấy được thành kiến của ta để mà xóa bỏ.

Xoá bỏ thành kiến không phải là việc khó. Nhưng trước đó, thấy mình có thành kiến mới là việc khó. Không thấy thì chẳng có gì để xóa.

Các bạn, nếu các bạn nghĩ rất kỹ về hậu quả của thành kiến trong mỗi người chúng ta, các bạn sẽ rất tội nghiệp cho loài người—con người, cả gần 8 tỉ người trên thế giới, chỉ là một đám mù sờ voi, chỉ có thể thấy con voi như là cái gì mình đã sờ–vòi, tai, đuôi, chân—chứ không làm sao có thể biết được con voi thật sự như thế nào.

Rất nhiều khi mình thấy ai đó rất sai về một chuyện, nhưng không làm sao giải thích cho người ấy hiểu được sự thật, vì thành kiến của họ che mắt họ quá kỹ. Nói cách gì thì họ cũng chỉ biến lời nói của mình thành màu sắc thành kiến trong đầu họ mà thôi.

Tại sao người này thờ Thần Đất? Tại sao người vùng này khuyến khích người ta lập gia đình lúc 13 tuổi? Tại sao dân vùng này ghét Mỹ? Tại sao dân vùng này ghét Hồi giáo? Tại sao dân vùng này nghi kị Công giáo? Tại sao dân vùng này ghét người Kinh? Tại sao dân vùng này cứ nhất định đòi để hoang vùng đất này, chống khai phá?…

Những câu hỏi như thế, nếu ta xóa ngay được trong đầu ta những trả lời có sẵn–như là "Họ chậm tiến, không hiểu nhiều", "Họ ngu dốt", "Họ bị nhồi sọ"—và bắt đầu tìm hiểu vì sao họ, dưới góc nhìn của họ, có lý do hợp lý để cảm xúc và tư duy như thế, thì may ra, may ra mà thôi, chúng ta thấy được thành kiến của mình, và có thể xóa bỏ thành kiến của mình.

Và các bạn, việc xoá bỏ thành kiến này chẳng liên hệ gì đến thông minh hay khả năng lãnh đạo của bạn cả. Có rất nhiều lãnh đạo chính trị và tôn giáo trên thế giới thành kiến đến mức điên rồ, và họ lãnh đạo người của họ đi vào mọi loại chiến tranh và mâu thuẫn. Thực ra các lãnh đạo lớn, tự cao tự đại, xem như mình là ánh sáng trí tuệ của loài người, là những người bị thành kiến che mờ mạnh nhất, và làm nhiều việc điên rồ nhất, thường khi đưa đến hủy diệt cho cả triệu người.

Loại bỏ thành kiến chỉ tùy thuộc vào khiêm tốn và nhân ái của bạn với thế giới quanh bạn. Không còn chấp tôi, không còn chấp người khác, không còn chấp chúng sinh. Không còn thấy giữa tôi và người khác và các chúng sinh khác có sự khác biệt và tách biệt. Chỉ có mức đó mới thực sự xóa bỏ được các thành kiến hoàn toàn.

Kinh Kim Cang nói thành kiến ("chấp") làm ta "điên đảo mộng tưởng". Điên. Và chẳng có người điên thứ thiệt nào biết là họ điên cả. Đó là vấn đề lớn của con người chúng ta.

Cho nên, các bạn, nếu chúng ta có thể đạt được con mắt trí tuệ Bồ tát thì đó là ân phúc vô cùng lớn. Nhưng nếu không được trí tuệ Bồ tát, nếu chúng ta chỉ hiểu được và tìm cách lột bỏ từ từ các lớp thành kiến của mình, như là lột các lớp vỏ hành, thì đó cũng là một ân phúc rất lớn ta đã làm được cho chính ta. Và cho cuộc đời này.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Sư thầy Thích Chơn Hữu:Cất quá khứ giang hồ ngoài cánh cửa

Posted: 27 Nov 2010 01:36 PM PST

Ít người biết rằng, sư thầy Thích Chơn Hữu, trụ trì chùa Định Quang ở thôn Dạ Lê, phường Thuỷ Phương, thị xã Hương Thuỷ, Thừa Thiên – Huế từng là một “đại ca” giang hồ khét tiếng đất Tây Nguyên nhiều năm trước.

Sư Chơn Hữu và lớp học tình thương dành cho HS nghèo ở địa phương. Ảnh: Nguyên Bình
Sư Chơn Hữu và lớp học tình thương dành cho HS nghèo ở địa phương. Ảnh: Nguyên Bình

6 năm nay, sư thầy Thích Chơn Hữu, trụ trì chùa Định Quang ở thôn Dạ Lê, phường Thuỷ Phương, thị xã Hương Thuỷ, Thừa Thiên – Huế rất nổi tiếng qua việc hỗ trợ, cưu mang hàng ngàn người nghèo; mở lớp dạy học miễn phí cho hàng trăm học sinh… bằng kinh phí do bán các tác phẩm ảnh nghệ thuật của mình và vận động Phật tử, các nhà hảo tâm quyên góp. Nhưng ít  người biết rằng, sư Chơn Hữu từng là một “đại ca” giang hồ khét tiếng.

Nghe công đức từ thiện của chùa Định Quang và bí ẩn cuộc đời của trụ trì Thích Chơn Hữu, tôi nhiều lần đến xin diện kiến nhưng sư thầy từ chối với lý do: “Làm từ thiện cần cái tâm và không đòi hỏi gì nhiều nên chùa không muốn phô trương. Còn cuộc đời riêng của thầy nên để vào quá khứ thì hơn”. Thuyết phục mãi vẫn không được. Cho đến một ngày, tôi buộc phải dùng “chiêu” cuối cùng là đem pháp danh Nguyên Bình cùng việc ăn chay niệm Phật của mình ra làm bảo chứng, sư mới động tâm mở lòng.

“Đại ca” khét tiếng…

Sinh năm 1971 tại xã Vinh Xuân, huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế. Mới 4 tuổi, Huỳnh Thiện Hữu (tên tục của sư Chơn Hữu) cùng gia đình đến Lâm Đồng lập nghiệp. Suốt quãng thời gian học cấp I, II, cậu bé Hữu chăm ngoan, học giỏi, thường xuyên có mặt trong các kỳ thi học sinh giỏi văn của Đà Lạt. Đang học lớp 9, bất hạnh ập lên gia đình Hữu khi cha qua đời vì tai nạn giao thông, để lại 5 đứa con nhỏ cho người mẹ quanh năm đau ốm. Hữu thấy hụt hẫng, chán nản khi thiếu vắng tình thương của cha và nỗi đau của mẹ.

Cậu bé gắng gượng đi học, nhưng rồi những trang văn hay cứ thưa dần. Những ngày đó, Hữu thường trốn học theo các học sinh cá biệt quậy phá trong trường. Hữu đi học võ và dần khẳng định được vị thế “đàn anh” qua những lần đánh nhau, dằn mặt những học sinh không nghe theo mình. Mẹ Hữu không ít lần được mời lên họp phụ huynh vì những trò quậy phá của Hữu. Cho đến một lúc, thầy cô, nhà trường đành bất lực với cậu học trò “côn đồ” này nên phó mặc cho gia đình.

Năm 16 tuổi, Hữu gia nhập nhóm “Ánh Sáng” – một băng giang hồ lớn ở Đà Lạt, chuyên đâm thuê chém mướn, làm luật rừng ở các quán bar, vũ trường và tổ chức đua xe trái phép. Băng này với 20-30 thanh niên liều lĩnh, có võ nghệ. Ngày ngủ, đêm đến, Hữu và chiến hữu đến các vũ trường chơi bời, làm bảo kê, đòi nợ thuê và dằn mặt những kẻ nào dám chơi trội, vượt mặt, chống lại bang hội mình; “che chở” cho vũ nữ, gái điếm… và thu lệ phí của họ.

Sư Chơn Hữu nhớ lại: “Lúc bấy giờ, băng Ánh Sáng ở địa vị số một. Ai cũng lạnh lùng, tàn nhẫn, sẵn sàng đè đầu cưỡi cổ, sát phạt đối phương bằng mọi cách để đạt được mục đích”. Giơ ngón trỏ tay trái bị cụt lên, sư  kể: “Một lần thanh toán nhau giành địa bàn, “Ánh Sáng” thắng lợi, còn nhiều người khác bị chém trọng thương, đau đớn quằn quại. Mình muốn thử nỗi đau xác thịt nên lấy tay đưa vào miệng cắn gần đứt rồi lấy dao chặt đứt luôn”. Tôi thắc mắc về vết thương dài từ bả vai xuống khuỷu tay phải, sư cười: “Một lần, nhóm giang hồ từ Sài Gòn được một phụ nữ thuê lên lên Đà Lạt để xử một cô vũ nữ ở vũ trường Minh Tâm vì dám vụng trộm với chồng mình.

Sư Chơn Hữu cũng chiếc bình bát - vật bất ly thân để đi khất thực.
Sư Chơn Hữu cũng chiếc bình bát – vật bất ly thân để đi khất thực.

Cô kia chạy đến cầu cứu, “Ánh Sáng” phải ra tay dàn xếp. Bằng sức mạnh, lợi thế chủ nhà và sự liều lĩnh, “Ánh Sáng” đánh tan nhóm kia, họ tháo chạy tán loạn. Các anh em truy đuổi định chém chết kẻ cầm đầu. Không hiểu thế nào mà mình lao đến đỡ một nhát chém quyết định và nói anh em cho họ con đường sống”. “Ánh Sáng” còn tổ chức đua xe trái phép và Hữu là một tay đua cừ khôi. Chiếc Cup 67 được mệnh danh là “hung thần đường đua” và mang về cho Hữu những khoản tiền lớn.

“Ánh Sáng gây nhiều tội lỗi như vậy, công an và chính quyền không làm gì sao?” – tôi hỏi. Sư Chơn Hữu bảo, bang hội thường “xử” các đối tượng ở nơi kín đáo, xoá hết dấu vết và các nạn nhân rất sợ nên không ai dám khai báo.

Vào chùa

Bốn năm sau, Hữu thành lập bang hội mới và cầm đầu 20 “đệ tử” rồi kéo nhau lên bãi vàng Tà In (huyện Đức Trọng) làm ăn. Đây cũng là cách để anh tránh cho gia đình những phiền phức bởi kẻ thù của anh rất nhiều. Nhóm của Hữu gồm những thành phần bất hảo, liều lĩnh nên nhanh chóng chiếm được vị thế ở bãi vàng và ăn nên làm ra. Hữu mua máy ảnh để thoả sở thích yêu thiên nhiên của mình. Quanh năm ngày tháng, cuộc sống chìm ngập trong chém giết, cướp bóc, Hữu dần thấy chán. Thỉnh thoảng, anh đi lang thang chụp ảnh, gặp gỡ những du khách, người lao động bình thường và tìm thấy niềm vui.

Ở rừng thiêng nước độc lâu ngày, một hôm Hữu bị sốt rét nặng phải đi bệnh viện. Lúc mê man, anh mơ thấy cảnh chém giết, hồn chết lởn vởn quanh mình. Anh thấy cả những đồng bọn chết vì nghiện ngập, tai nạn, đánh nhau… Tỉnh dậy, Hữu thấy mẹ nằm bên đã kiệt sức vì khóc con. Suốt mấy đêm, bà thức để chăm sóc anh. Hữu nghĩ, một ngày không xa, mình cũng nhận kết cục thảm như các đại ca khác. Cùng lúc đó, anh nhận được hung tin người bạn thân cũng là một đại ca khét tiếng chết vì bệnh “ết”; người bạn nữa cùng 2 em đều là những giang hồ lẫy lừng nhưng tự kết liễu cuộc đời bằng việc uống thuốc độc. Thấy 3 con chết đau đớn, người mẹ cũng không thiết sống nữa nên cùng… tự tử bằng thuốc độc. Bệnh sốt rét cùng những cái chết thương tâm của bạn bè, người thân dồn dập đến cùng lúc làm Hữu bừng tỉnh và ngộ ra được nhiều điều.  Sau khi lành bệnh, Hữu khóc, tạ lỗi với mẹ và hứa sẽ hoàn lương, nhưng lại từ chối về nhà vì lo mẹ sẽ khổ…

Sư Chơn Hữu (bên phải) trong một lần trao quà cứu trợ đồng bào bão lụt tại Huế.
Sư Chơn Hữu (bên phải) trong một lần trao quà cứu trợ đồng bào bão lụt tại Huế.

Sau khi rời bệnh viện, việc đầu tiên mà anh nghĩ tới là quy y cửa Phật nhằm giải thoát bế tắc cũng như gột rửa cho quá khứ tội lỗi cho mình. “Ý tưởng của mình lúc đó bị anh em phản đối vì bang hội đang ăn nên làm ra. Nhưng khi mình đã quyết điều gì rồi thì không ai có thể ngăn cản được”, anh kể. Nói là làm, sau khi tổ chức tiệc chia tay chiến hữu, anh rời bỏ giang hồ, tìm về quê cũ ở Thừa Thiên – Huế để làm lại cuộc sống. Anh tìm đến chùa Huyền Không Sơn Thượng, thuộc hệ phái Nam Tông ở Thừa Thiên – Huế xin làm công quả rồi xuất gia tu hành với pháp danh Thích Chơn Hữu. Hàng ngày, anh thức dậy ngồi thiền, đọc kinh Phật và đi khất thực khắp nơi, không chỉ ở Huế mà trong nước, rồi sang tận các nước Lào, Thái Lan…

Năm 2005, sư Chơn Hữu được hệ phái cử làm trụ trì chùa Định Quang. Lúc này, chùa chỉ là một đống đổ nát. Nhưng bằng nỗ lực và sự hỗ trợ của chính quyền, đóng góp của các nhà hảo tâm, bây giờ chùa đã có cơ ngơi khang trang, hàng trăm Phật tử sinh hoạt thường xuyên. Lúc rảnh rỗi, sư Chơn Hữu chụp ảnh nghệ thuật, ban đầu chỉ để chơi cho vui. Nhưng sau thấy những người trong giới khích lệ và đánh giá cao, sư đã tổ chức triển lãm, và đến thời điểm này, nhà sư đã 5 lần tổ chức triển lãm ảnh ở Thừa Thiên – Huế và toàn quốc. Không chỉ triển lãm, sư Chơn Hữu còn bán được rất nhiều ảnh và tiền bán ảnh được dùng hết vào việc làm từ thiện.

Năm 2009, nhà sư xây dựng một lớp học tình thương mang tên “Tuệ học đường” tại chùa, nhờ giáo viên về dạy tiếng Anh miễn phí cho học sinh khó khăn ở thị xã Hương Thuỷ. Hiện có 300 em đang theo học 9 lớp, trong đó, có 3 học sinh năm vừa rồi thi đậu vào Đại học Ngoại ngữ Huế, 8 người là học sinh giỏi, xuất sắc toàn thị xã. Nhắc đến sư Chơn Hữu, ông Trương Văn Công – Phó Chủ tịch UBND xã Thuỷ Phương – tự hào và đánh giá rất cao: “6 năm qua, chùa Định Quang là một biểu tượng về tốt đời, đẹp đạo ở địa phương khi luôn có nhiều hoạt động thiết thực đối với những gia đình nghèo, người neo đơn, nạn nhân lũ lụt, người tàn tật, học sinh nghèo…”.

Sư Chơn Hữu tâm sự về việc làm từ thiện của chùa bằng một triết lý: “Một giọt nước ngoài đại dương chỉ bình thường là giọt nước, nhưng giọt nước ấy nếu vào đến sa mạc khô cằn thì trở nên quý giá vô cùng. Sự san sẻ cộng đồng sẽ sưởi ấm những mảnh đời bất hạnh đang thổn thức, hấp hối”.


Filed under: Mỗi ngày 1 tin sáng Tagged: Tin sáng

Nhà dài truyền thống của người Cơ Tu

Posted: 27 Nov 2010 01:35 PM PST

Thứ hai, 22 – 11 – 2010 16:20 |

Tại miền núi Quảng Nam, đồng bào Cơ Tu sinh sống phân bố trong 197 buôn, làng thuộc các  huyện Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang thành ba vùng: người Cơ Tu vùng  cao (Cơ Tu đriu), người Cơ Tu vùng trung (Cơ Tu nal) và người Cơ Tu vùng thấp (Cơ Tu phương). Dù ở vùng nào, khi lập làng, dựng nhà thì người Cơ Tu đều chọn đất, chọn rừng nơi núi cao, nơi đầu con suối, con sông.

Làng (Vêêl, Kar non, Bươl) của người Cơ Tu tồn tại theo hình thức đơn vị cư trú, tự quản, đứng đầu có chủ làng (tako vel) do hội đồng già làng bầu ra. Làng của người Cơ Tu chứa đựng nhiều mối quan hệ xã hội như: gia đình – gia tộc, láng giềng, xóm… Mỗi làng (Vêêl, Kar non, Bươl) thường có một cái tên riêng, hoặc mang tên nguồn nước, khe suối, đồi núi… nơi đồng bào Cơ Tu cư trú.

Mô hình nhà dài truyền thống vào loại cổ nhất của người Cơ Tu còn sót lại trên vùng Trường Sơn hiện nay được phục dựng tại “Làng truyền thống Cơ Tu” ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.

Khi đến làng của đồng bào Cơ Tu, chúng ta thấy có hai loại nhà, một loại nhà của từng hộ riêng lẻ, một loại của cả một gia tộc, và do vậy mà cấu trúc của hai loại nhà này cũng có những nét khác nhau. Nhưng bao giờ cũng có một cây cột cái ở chính giữa để đỡ cây đòn nóc, xung quanh có nhiều cột khác nối với cây đòn nóc bằng các kèo gỗ, được che kín bằng các liếp tre hoặc nứa cao từ sàn đến mái, hướng các cây đòn nóc của những nhà kề cận không được đâm vào nhau.

Theo phong tục của người Cơ Tu, những người có quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống trong một dòng họ lớn, nếu sống với nhau trong một ngôi nhà thì ngôi nhà ấy là ngôi nhà dài, một kiểu nhà đặc biệt chỉ có ở miền núi Trường Sơn – Tây Nguyên. Nhà dài truyền thống của người Cơ Tu gồm nhiều gian nối với nhau và kéo dài tới chục mét; đặc biệt có nhà dài trên dưới một trăm mét. Độ dài của nhà tuỳ thuộc vào quy mô và số bếp, số người trong gia tộc. Sàn, cột, xà nhà làm bằng các loại gỗ quý như gõ, sến, dổi… Chúng được đẽo đục công phu và liên kết với nhau theo kỹ thuật riêng của nghệ nhân người Cơ Tu. Để chống ẩm, chống mối mọt, người Cơ Tu kê cột lên các tảng đá dày to và vuông vức. Ngôi nhà cũng nhờ vậy mà thêm vững chãi, chắc chắn, bề thế.

Vách nhà được làm bằng tấm phên tre hoặc lồ ô, những tấm gỗ mỏng. Trên vách, các ông thợ thường chạm khắc nhiều hình thù như hoa lá, chim muông… để làm vật trang trí. Đáng lưu ý là lá lợp nhà. Xưa, người Cơ Tu dùng lá mây rừng để lợp nhà dài. Loại lá mây có độ bền hơn lá tranh và lại mang tính thẩm mỹ cao (nay loại lá mây này chỉ còn thấy lợp ở nhà Gươl) Người Cơ Tu vào rừng chọn các phiến lá không già quá mà cũng không non quá, cắt lấy và đem về phơi héo, rồi ép cho phẳng theo từng lớp. Khi lợp, các lớp lá mây được nối kết với nhau bằng các sợi mây nhỏ chuốt nhẵn. Từng lớp lá được lợp chồng lên nhau theo một thứ tự nhất định, rất kỹ thuật đã tạo nên các mái nhà vừa phẳng phiu, vừa đẹp mắt. Mái nhà dài của người Cơ Tu lại nghiêng với độ nghiêng vừa phải và trải rộng về bề ngang. Đầu hồi nhà dài, người Cơ Tu thường khắc hình chim tring, biểu tượng cho cuộc sống bình an, đoàn kết, ấm no, hạnh phúc…

Nhà dài được phân thành nhiều gian khác nhau: gian dùng làm phòng khách hoặc hội họp, vui chơi; gian bếp, gian ngủ, gian sinh hoạt của từng gia đình nhỏ (bếp). Phòng khách nằm ở gian giữa nhà và rộng hơn các gian khác nhiều. Các đồ thờ cúng, cồng chiêng… được đặt gian này. Các con lớn của các bếp cũng thường tới ngủ ở gian khách. Ngoài ra, nơi đây còn trưng bày các loại cung tên, sừng thú, da thú… Vào các ngày vui của gia tộc, mọi người cùng quây quần nơi gian khách để trò chuyện, hát lý, nhảy múa tung tung-da dá rất say sưa, ấm cúng…

Nối kết giữa các gian nhà là một dải hành lang dài bên ngoài và ba cầu thang được bố trí ở ba nơi: hai ở đầu hồi và một dẫn vào gian chính. Do vậy việc đi lại, vào ra rất thông suốt và tiện lợi. Bên cạnh loại nhà dài có hành lang bên ngoài, còn có loại nhà lối đi lại được bố trí giữa lòng nhà. Nhà kiểu này, giữa các gian (các bếp) không có vách ngăn. Các đôi vợ chồng trẻ được bố trí ở trong các phòng lồi có phên tre hoặc lồ ô che kín. Đây cũng là phòng cất giữ của cải của mỗi bếp riêng biệt.

Thuở xưa, các thành viên trong gia tộc người Cơ Tu sống trong các nhà dài thường ở chung, làm chung và ăn chung, về sau cùng ở chung, làm chung nhưng lại ăn riêng hoặc ở chung, làm riêng và ăn riêng. Dù thuộc dạng nào, người cùng cư trú dưới một mái nhà vẫn luôn giữ mối quan hệ tốt đẹp, bền chặt, ứng xử với nhau bằng tình yêu thương sâu sắc và sống có nề nếp, kỷ cương. Mọi sự bất hóa giữa người này với người khác, giữa bếp này với bếp khác đều được giải quyết ổn thỏa, êm thấm. Phong tục, lễ nghi của bộ tộc, của gia tộc được giữ gìn, phát huy. Lương thực, thực phẩm (gạo, ngô, rau quả, thịt cá…) là do công sức của cả gia tộc làm ra, được phân chia rất công bằng cho từng bếp. Mỗi bếp tự nấu nướng, vợ chồng con cái ăn riêng với nhau, trừ lúc cả gia tộc có việc chung như lễ tết, cưới hỏi, ma chay… Cha mẹ già thì sống với con trưởng, song các bếp và mọi thành viên của gia tộc đều có trách nhiệm chăm nom săn sóc, nuôi dưỡng người đã sinh thành ra mình.

Ngày nay, kinh tế phát triển, để phù hợp với điều kiện và môi trường sống, các bếp trong ngôi nhà dài truyền thống của người Cơ tu, tách riêng thành các hộ cá thể với ngôi nhà riêng của mình. Những ngôi nhà dài ngót trăm mét không còn nữa, song nó vẫn là nét văn hóa đặc sắc và là biểu tượng tính cộng đồng của dân tộc Cơ Tu  trên núi rừng Trường Sơn bao la và hùng vĩ.

Nguyễn Văn Sơn


Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa

Phát triển Đông Á : Các nhà lãnh đạo

Posted: 27 Nov 2010 01:34 PM PST

Từ Khổng Tử tới Kennedy: Cắt nghĩa sự phát triển Đông Á

Đông Á lúc bấy giờ bị nhìn nhận như một bài học về sự thất bại trong câu chuyện phát triển. Thật may mắn là chỉ chín năm sau, Đông Á đang từng bước xây dựng được niềm tin và vị thế của mình.

Câu chuyện về sự phát triển luôn kích thích trí tò mò. Trong thời kỳ hậu chiến tranh thế giới thứ II khi mà sự lạc quan vì vừa thoát ra khỏi chủ nghĩa thực dân đang lên cao, cả thế giới lúc bấy giờ đều chia sẻ một quan  điểm chung rằng tất cả các quốc gia đều có tiềm năng để trở thành những quốc gia phát triển. Sự kết hợp giữa một trật tự kinh tế quốc tế tương đối hài hòa, những chính sách kinh tế mở cửa thị trường tự do đúng đắn và ít lệ thuộc vào sự giúp đỡ từ các nước phát triển là công thức cho bất cứ quốc gia nào mong muốn gia nhập vào hàng  ngũ các nước công nghiệp phát triển.

Nửa thế kỷ trôi qua, sự lạc quan này đã không còn, mà thay vào đó là sự một sự hoài nghi và bi quan vào tương lai. Trong thâm tâm, không ít người đã bắt đầu tin rằng có lẽ chỉ các quốc gia phương Tây mới có thể thành công và tiếp tục phát triển.

Ngày nay, khu vực duy nhất trên thế giới dường như có khả năng thoát khỏi định kiến này là Đông Á. Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á những năm 1997-1998 đã khiến các nền kinh tế Đông Á bị ảnh hưởng trầm trọng do hiệu ứng đô-mi-nô. Không ai dám lên tiếng khẳng định nhưng những tiếng xì xào đã lan ra khắp nơi rằng sự “thần kỳ” của Đông Á giờ đây đã chỉ còn là một ảo ảnh xa xôi.

Cũng giống như các khu vực đang phát triển khác trên thế giới như châu Á, châu Phi hay Mỹ Latinh, Đông Á lúc bấy giờ bị nhìn nhận như một bài học về sự thất bại trong câu chuyện phát triển.

Thật may mắn là chỉ chín năm sau cuộc khủng hoảng đó, Đông Á đang từng bước xây dựng được niềm tin và vị thế của  mình. Đông Á đang cố gắng chứng minh cho thế giới rằng mình đang quay lại đúng quỹ đạo của sự phát triển kinh tế thần tốc. Rất nhiều nước trong khu vực hiện nay đã ra nhập hàng ngũ các nước phát triển cùng với Nhật Bản và điều kỳ diệu là ở chỗ thành tựu này đạt được chỉ trong giai đoạn của một thế hệ trong khi người phương Tây phải trải qua rất nhiều thế hệ mới có thể đạt được.

Sự khác biệt mấu chốt: Những nhà lãnh đạo Đông Á

Mọi quan điểm đều nhất trí rằng Đông Á là một khu vực phát triển khá thành công tuy nhiên lại có sự chia rẽ trong các luồng quan điểm là tại sao lại có sự thành công ấy.

Các học giả phương Tây  về chính trị và phát triển kinh tế không thể giải thích được sự trỗi dậy của Đông Á. Vấn đề ở đây nằm ở chỗ không phải dân chủ hay thể chế chính trị là những nhân tố quyết định cho sự phát triển. Sự tham gia vào thị trường kinh tế phát triển tự do là một yếu tố cần, nhưng chưa đủ để làm nên sự thành công của Đông Á. Vai trò của nhà nước trong sự phát triển kinh tế trong khu vực Đông Á có rất nhiều khác biệt. Tất cả những điểm trên đưa chúng ta tới một điều là đã đến lúc phải có một cách nhìn hoàn toàn khác về sự phát triển của Đông Á. Đó là lý do tại sao bài viết này của tôi đến tay quý vị.

Sự khác biệt mấu chốt giữa châu Á và phần còn lại của thế giới chính là nằm ở đặc tính của hàng ngũ những nhà lãnh đạo, những người đang quản lý rất thành công các quốc gia của mình. Về cơ bản, họ là những người làm việc thực sự hiệu quả chứ không lệ thuộc vào người khác. Mặc dù con đường đến với quyền lực có khác nhau, họ gặp nhau ở một điểm là hướng tới sự phát triển quốc gia và xã hội trong thời gian đương nhiệm.

Ngoài hai sự ngoại lệ duy nhất là Hồng Kông (Trung Quốc) và Xinh-ga-po, không quốc gia, vùng lãnh thổ nào trong khu vực tránh khỏi vấn nạn tham nhũng. Mặc dù vậy, mối quan tâm chính của những người lãnh đạo vẫn là tạo ra những sự thay đổi tốt đẹp cho xã hội hơn là chỉ lo giữ đặc quyền, đặc lợi cho mình. Đặc điểm chung này có thể tìm thấy ở rất nhiều nơi trong khu vực từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đến Đài Loan (Trung Quốc) và Xinh-ga-po.

Để hiểu rõ nhất về sự thành công của Đông Á, không có cách tốt hơn là làm phép so sánh về giới lãnh đạo của khu vực này và khu vực Mỹ Latin. Cũng giống như Đông Á, Mỹ Latin khởi đầu thế kỷ 20 và giai đoạn hậu thế chiến thứ II với những kỳ vọng thậm chí còn vượt xa cả Đông Á. Ác-hen-ti-na vào năm 1900 được xếp trong top 10 những quốc gia giàu nhất trên thế giới. Sự có mặt của giới lãnh đạo xuất thân từ châu Âu ở Mỹ Latin là lý do rất tốt để tin rằng những con người này sẽ học hỏi và chuyển giao những kinh nghiệm tốt nhất từ xã hội châu Âu sang Mỹ Latin.

Tuy nhiên đến những năm cuối cùng của thế kỷ 20 khi mà Xinh-ga-po, một quốc đảo nhỏ bé không có tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Á đã nổi lên thành một biểu tượng của sự phát triển thì ở bên kia bán cầu, Haiti cũng là hiện thân của một biểu tượng khác nhưng là một biểu tượng hoàn toàn đối lập. Ngay cả sự bảo trợ của người Mỹ cũng không thể giúp Haiti thoát khỏi tình trạng lún sâu vào nghèo đói và kém phát triển.

Câu hỏi đặt ra là tại sao các nhà lãnh đạo Đông Á lại có thể làm tốt hơn những người đồng nhiệm của mình ở Mỹ Latin? Câu trả lời đầy đủ nhất cho câu hỏi trên chỉ có thể được tìm thấy khi đi vào tìm hiểu một cách sâu xa tính phức tạp của Đông Á. Và văn hóa là một phần không thể thiếu của câu trả lời.

Kể từ thời Khổng Tử cho đến nay, trách nhiệm đối với xã hội đã trở thành một phần không thể tách rời khi nói đến đạo đức của mỗi con người trong xã hội Đông Á. Tuy nhiên đặc điểm tương tự cũng có thể tìm thấy ở những nước Thiên chúa giáo hay Hồi giáo.

Đặt lợi ích của xã hội lên trước lợi ích của cá nhân không chỉ là tư tưởng duy nhất đối với người Đông Á. Bắt đầu từ thời kỳ Minh Trị tại Nhật Bản, xã hội Đông Á dần dần nhận thức ra một điều, đặc biệt là trong những năm 1960 và 1970 rằng chỉ có bằng việc học hỏi những kinh nghiệm thành công của các nước phương Tây thì mới có thể giúp đất nước mình tiến lên phía trước. Vì thế mà một đặc điểm chung rất dễ nhận thấy ở các nhà lãnh đạo Đông Á là tư tưởng rất cởi mở với phương Tây.

Hàng ngàn người trong số đó đã từng theo học tại các trường đại học của Mỹ trong những năm 1950, 1960. Hành trang theo họ về nước là một sự tin tưởng hiếm thấy vào câu chuyện  nước Mỹ hậu thế chiến thứ II rằng một xã hội thành công có thể được tạo ra bằng sự can thiệp của chính con  người.

Sự lạc quan vô hạn của thế hệ thời Kennedy cũng có những tác động không nhỏ đến Đông Á. Do đó có thể nói rằng những giá trị đạo đức từ thời Khổng Tử cùng với đó là những tác động từ quan điểm của Kennedy đã tạo ra sự trỗi dậy của Đông Á mặc dù không thể phủ nhận rằng quan điểm của hai nhân vật này có vẻ như ở thái cực hoàn toàn khác nhau.

Đặc điểm nổi bật của các nhà lãnh đạo Đông Á chính là thái độ sẵn sàng học hỏi những gì tốt nhất từ phương Tây và sau đó biến đổi và áp dụng nó cho phù hợp với điều kiện thực tiễn ở quốc gia mình. Về mặt lý thuyết, việc sao chép mô hình của phương Tây có thể làm rấy lên nỗi sợ hãi về việc có thể đánh mất bản sắc văn hóa.

Tuy nhiên trong thực tiễn, các nhà lãnh đạo này đã thành công trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình, học hỏi nhưng không làm mất các giá trị riêng. Do đó có thể nói rằng khả năng học hỏi và tự tin áp dụng những gì học được từ phương Tây là những nhân tố trung tâm của câu chuyện thành công ở Đông Á.

Một khía cạnh thường vẫn chưa được hiểu thấu đáo về sự thành công của Đông Á là sự nổi lên của một số lượng đông đảo các nhà lãnh đạo xuất chúng trong khu vực. Việc duy trì tốc độ phát triển ở một xã hội đã phát triển ổn định có lẽ không đòi hỏi phải nhiều nỗ lực. Đó là lý do tại sao mà những thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) không bị ảnh hưởng nhiều cho dù đội ngũ lãnh đạo chỉ thường thường bậc trung thậm chí không muốn nói là kém cỏi.

Ở một khía cạnh khác, thực tế chứng minh rằng không một quốc gia, vùng lãnh thổ nào có thể thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói kém phát triển để trở thành phát triển hiện đại mà không cần đến các nhà lãnh đạo kiệt xuất. Sự thần kỳ của Nhật Bản có dấu ấn rõ nét từ những nhà cải cách từ thời Minh Trị. Trung Quốc tự hào có Đặng Tiểu Bình. Người Hàn Quốc luôn nhắc đến Park Chung Hee. Sự phát triển của Đài Loan cũng nhờ phần lớn vào tài lãnh đạo của Chiang Ching-kuo. Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng là  những nhà lãnh đạo xuất chúng này luôn có bên cạnh mình những người trợ thủ đắc lực để có thể cùng với họ đưa đất nước đi lên.

Rất tiếc là cho đến nay chưa một nghiên cứu lớn nào tập trung vào so sánh ảnh hưởng của vai trò lãnh đạo đối với sự phát triển của Đông Á.

Hãy xem xét hai câu chuyện phát triển đối lập giữa Hàn Quốc và Phi-líp-pin. Sau chiến tranh thế giới II, Phi-líp-pin khởi đầu một thời kỳ mới với những kỳ vọng còn vượt xa cả Hàn Quốc: thu nhập bình quân đầu  người cao, đội ngũ lãnh đạo được đào tạo tốt, dễ dàng thâm nhập thị trường Mỹ và một cộng đồng kiều bào rất tài năng đang định cư ở khắp nơi trên thế giới.

Tuy nhiên do ảnh hưởng từ thời phong kiến hacienda và yếu kém trong lãnh đạo cả dưới chế độ dân chủ và độc tài đã khiến Phi-líp-pin không thể tận dụng được những lợi thế vượt trội của mình so với Hàn Quốc. Hàng chục thập kỷ chiến tranh và bị xâm lược đã phá hủy đất nước Hàn Quốc. Tuy nhiên Hàn Quốc có một tài sản vô giá là những nhà lãnh đạo xuất chúng và tâm huyết với công cuộc phát triển đất nước chứ không vì lợi ích cá nhân. Câu chuyện phát triển của Hàn Quốc và Phi-líp-pin đã cho thấy một điểm rõ ràng rằng tài năng của những nhà lãnh đạo chính là nhân tố then chốt để đánh giá về số phận và tài sản của quốc gia.

Còn tiếp….

Dương Ngọc Quyến biên dịch theo spp.edu.sg

————

Chú thích

1: Trích dẫn trong Nishikawa (1993) trang 8 được đăng tải lại trên website của Cơ quan giáo dục quốc tế (International Bureau of Education, Tổ chức giáo dục, kho học và Văn hóa của Liên hợp quốc – UNESCO, Paris) tại địa chỉ http://www.ibe.unesco.org/publications/ThinkersPdf/fukuzawe.pdf. Nguyên văn được lấy từ Fukuzawa (1885) và do Sinh Vinh dịch trên Fukuzawa Yukichi nenkan (Annals) 11, Mita, Tokyo, Fukuzawa Yukichi koykai 1984.

2. Chaebols: là những tập đoàn kinh tế lớn tại Hàn Quốc.

Tài liệu tham khảo:

Elegant, Simon, and Michael Elliot. 2005. “Lee Kuan Yew Reflects”. Time Asia 166 (24), on the Web on December 5. http://www.time.com/time/asia/covers/501051212/lky_intvu6.html.

Fukuzawa, Yukichi. 1885. “Datsu-A Ron” [Our Departure from Asia]. Jiji-shimpo, March 16.

Goh Keng Swee. 1995a. “Public Administration and Economic Development in LDCs.” In

Wealth of East Asian Nations: Speeches and Writings by Goh Keng Swee, ed. Linda Low,

128-45. Singapore: Federal Publications.

—. 1995b. “The Vietnam War: Round 3.” In Wealth of East Asian Nations: Speeches and

Writings by Goh Keng Swee, ed. Linda Low, 313-32. Singapore: Federal Publications.

—. 1995c. The Economics of Modernization. Singapore: Federal Publications.

IMF (International Monetary Fund). 2003. “Interview with Raghuram Rajan: Top Economist

Calls for Rethink of IMF’s Role.” IMF Survey 32 (22): 361-64. http://www.imf.org/external/

pubs/ft/survey/2003/121503.pdf.

Lee Kuan Yew. 1998. The Singapore Story: Memoirs of Lee Kuan Yew. Singapore: Times

Editions.

—. 2000. From Third World To First: The Singapore Story, 1965-2000. Singapore: Times

Media Private Ltd.

McNamara, Dennis L. 1990. Colonial Origins of Korean Enterprise, 1910-1945. Cambridge:

Cambridge University Press.

Nishikawa, Shunsaku. 1993. “Fukuzawa Yukichi.” Prospects: The Quarterly Review of

Comparative Education XXIII (3/4): 493-506.

Vogel, Ezra F. 1991. The Four Little Dragons: The Spread of Industrialization in East Asia.

Cambridge, MA: Harvard University Press.

Nhận diện giới lãnh đạo Đông Á

Hành động của người lãnh đạo là nhân tố có tính quyết định đến sự thành bại trong phát triển của mỗi quốc gia. Vấn đề là làm sao tạo ra được sự chuyển biến trong nhận thức của tầng lớp lãnh đạo đối với việc điều hành một xã hội.

Là một trong những học giả hàng đầu về Đông Á, Vogel đã cố gắng tìm hiểu cội rễ sâu xa của những đặc thù của tầng lớp lãnh đạo khu vực Đông Á (mặc dù ông chú trọng nhiều vào nghiên cứu Nhật Bản và bốn con hổ Châu Á hơn cả). Trong những nét đặc thù này, ông chú ý vào bốn điểm chung chính như sau (Vogle 1991, 93-101):

- Những nhà lãnh đạo tài năng và tâm huyết: Theo Vogel, trách nhiệm của tầng lớp quan lại trong xã hội thời Khổng Tử lớn hơn so với ở phương Tây và giới quan lại cũng được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi hơn. Họ cảm thấy phải có trách nhiệm đối với sự an nguy của xã hội nói chung cũng như khía cạnh về mặt đạo đức trong xã hội.

Trong thời hiện đại, những người tài năng nhất trong xã hội được lựa chọn. Họ tiếp tục phát huy năng lực của mình để phục vụ cho những lợi ích công và lợi ích tư thì chỉ duy trì ở mức độ rất hạn chế. Chính những mối quan tâm tới lợi ích của xã hội nói chung hơn là vì những lợi ích cá nhân đã thúc đẩy họ nỗ lực không ngừng để có thể nhân rộng cơ hội cho tất cả mọi người.

- Hệ thống tuyển dụng thông qua thi đầu vào: Thi cử là một hình thức cần thiết để tuyển lao động vì những kỹ năng ngày càng trở nên quan trọng. Đó cũng là cách thức quan trọng để có thể hạn chế được nạn “con ông cháu cha” trong việc tuyển dụng. Tất cả những thành viên trong xã hội do đó đều được trao những cơ hội như nhau để được trọng dụng và có thu nhập cao hơn.

- Vai trò quan trọng của tập thể: Xã hội Đông Á không bị ràng buộc quá nhiều vào những nguyên tắc của luật pháp như ở các nước phương Tây nhưng họ có nguyên tắc cụ thể riêng về cách hành xử của từng cá nhân trong một tập thể. Vogel nhấn mạnh đến sự trung thành, sự đáp ứng của từng cá nhân trong một tổ chức đối với những yêu cầu chung của tập thể và khả năng dự đoán được hành vi của mỗi cá nhân trong môi trường tập thể. Đặc điểm đó đã trở nên rất thích hợp đối với nhu cầu công nghiệp hóa, đặc biệt là cho những quốc gia đang cố gắng để bắt kịp với các nước khác.

- Khả năng tự trau dồi học hỏi: Đây cũng là một điểm tương đồng với những người Tin lành khi họ cố gắng để nâng cao khả năng của mình. Sự tự trau dồi học hỏi bắt nguồn từ mong muốn của mỗi người muốn kiểm soát tốt hơn những cảm xúc của mình. Nó đòi hỏi phải học tập và phản xạ. Nó có thể được nâng lên thành một hành vi mang tính mục đích và chủ động thông qua việc nâng cao những kỹ năng trong công việc như là học thêm ngoại ngữ, sử dụng máy tính hoặc là tìm hiểu về thị trường nước ngoài.

Từ những cá nhân, khả năng này sẽ tác động lên kết quả công việc chung của tập thể. Những khát vọng hoàn thiện bản thân không ngừng vượt xa hơn cả những nhu cầu về vật chất và mang tầm chiến lược lâu dài.

Vogel đã lựa chọn bốn đặc điểm này để phân tích về nét đặc thù của giới lãnh đạo Đông Á. Trong đó hành vi của giới lãnh đạo có vai trò quan trọng. Đó có thể là nhân tố quan trọng nhất lý giải việc tại sao Đông Á lại có thể phát triển trở thành một xã hội hiện đại. Hãy xem Vogel miêu tả cụ thể thế nào về đặc điểm này:

Hệ thống công quyền trong xã hội hiện đại đóng vai trò quan trọng công nghiệp hóa… Thực tế là giới chức lãnh đạo đã được lựa chọn dựa trên tài năng và nhân cách đạo đức… Chính sự quan tâm đối với những ổn định xã hội nói chung đã khiến họ rất chú trọng đến tình trạng bất bình đẳng trong giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hóa và cũng khiến họ nỗ lực không ngừng để tạo ra cơ hội có thu nhập cho tất cả mọi tầng lớp trong xã hội (Vogel 1991, 95)

Danh sách liệt kê những tố chất lãnh đạo có thể được sử dụng như một bài kiểm tra đơn giản cho những quốc gia mà cho đến thời điểm này vẫn thất bại để tạo ra một lực đẩy tích cực trên con đường phát triển: Có bao nhiêu nước trong số này có được những nhà lãnh đạo có phẩm chất giống như vậy?

Rất nhiều những nhà nghiên cứu về phát triển đã gặp rất nhiều khó khăn khi tìm cách lý giải tại sao các quốc gia lại thất bại trong phát triển. Gần đây như năm 2003, chuyên gia kinh tế trưởng của Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF, Raghuram Rajan cũng đã nhận thấy rằng:Tình thế tiến thoái lưỡng nan trong phát triển chính là khó khăn kinh tế lớn nhất mà thế giới sẽ phải đối mặt trong dài hạn. Và sẽ không có một giải pháp nào là đơn giản. Đó không chỉ đơn thuần là đổ thêm tiền vào nền kinh tế. Chúng ta cần phải hiểu rằng làm thế nào mô hình phát triển lại thành công ở một số nước. Thực tế, một trong những lĩnh vực khiến tôi băn khoăn nhất đó là việc thiếu hẳn kim chỉ nam trong kinh tế để làm thế nào chúng ta có thể khởi động được nhận thức về phát triển ở các nước nghèo nhất trên thế giới. (IMF 2003, 363)

Bí mật thực sự của việc khởi động những nhận thức đó không nằm ở việc bắt buộc một quốc gia phải chấp nhận theo mô hình của một nước khác. Điều đó là cần thiết nhưng chưa đủ. Điều quan trọng hơn là làm sao tạo ra được sự chuyển biến trong nhận thức của tầng lớp lãnh đạo đối với việc điều hành một xã hội. Ví dụ như sẽ rất có ích nếu như chúng ta xây dựng được chỉ số đánh giá quốc tế về quản trị tốt trong đó có thể đánh giá được năng lực của những lãnh đạo dựa trên những đặc điểm mà Vogel đã chỉ ra trong những nghiên cứu về giới lãnh đạo ở Đông Á đã đề cập trên đây. Hành động của người lãnh đạo là nhân tố có tính quyết định đến sự thành bại trong phát triển của mỗi quốc gia.

Một môi trường thuận lợi

Việc nhấn mạnh đến hành động của các nhà lãnh đạo có thể gây khó khăn cho các học giả phương Tây đương thời khi tiến hành nghiên cứu. Những luồng quan điểm chính trị mang tính chuẩn xác đang bao trùm khắp châu Âu khiến việc có một phân tích tương đối cân bằng về vấn đề này trở nên khó khăn hơn. Yếu tố chính trị ở đây là các giá trị về dân chủ như người phương Tây vẫn thường nhắc đến thật đáng buồn là không thể giúp cải thiện điều kiện sống ở những nước như Haiti. Một sự thật rất đơn giản. Nhưng khi điều đơn giản  này không được đề cập đến thì rất nhiều những vấn đề sẽ nảy sinh ngăn cản những cố gắng để có những nhìn nhận khách quan hơn về vấn đề này.

Vấn đề về quan điểm chính trị chính xác này đã được người Mỹ hết sức coi trọng từ những giả thuyết vàng từ thời kỳ Kennedy đến những giải thuyết về tối giản dưới thời Reagan về quản trị. Chính quyền Kennedy tin tưởng rằng những xã hội tốt đẹp chỉ có thể được tạo nên bởi những chính phủ do những người tài năng lãnh đạo. Họ có thể mắc sai lầm nhưng họ vẫn có một niềm tin chắc chắn vào vai trò của những lãnh đạo trong việc thay đổi xã hội. Ở một thái cực khác, thời Reagan người ta lại nhận thức rằng một chính phủ tốt là một chính phủ tối giản nhất. Mục tiêu là phải làm sao để đơn giản hóa bộ máy làm việc của chính phủ và giảm thiểu vai trò của những người lãnh đạo trong chính phủ với giả thuyết rằng thị trường sẽ vận hành theo đúng cách của mình nếu như chính phủ đứng ngoài cuộc chơi.

Thật may mắn là Đông Á chịu ảnh hưởng nhiều của những giả thuyết chính trị của Kennedy hơn là Reagan. Tất cả những nhà lãnh đạo châu Á đều tin rằng một bộ máy nhà nước và đội ngũ lãnh đạo tốt sẽ đóng vai trò then chốt trong việc lãnh đạo và thay đổi xã hội. Giả thuyết này thực ra là rất nhất quán với truyền thống văn hóa. Tuy nhiên thì những giả thuyết trong thời kỳ của Kennedy đã cung cấp một đòn bẩy tâm lý cho nhận thức này.

Và thực tế thì những gì mà thời đại Kennedy mang lại không chỉ là đòn bẩy tâm lý mà còn là một môi trường thuận lợi. Hãy hình dung xem nếu như các nước Đông Á cố gắng thực hiện những chính sách của những năm 1960 trong bối cảnh năm 1860s thì chắc chắn họ đã gặp phải cản trở rất lớn từ tham vọng thực dân của những cường quốc Châu Âu lăm le mở mang bờ cõi ở khu vực Đông Á.

Trái ngược hoàn toàn, thời đại Kennedy vào những năm 1960 (tất nhiên có rất nhiều lý do để lý giải điều này, trong đó bối cảnh chiến tranh lạnh cũng là một nguyên nhân quan trọng) lại muốn được thấy sự thành công ở Đông Á. Chính quyền Kennedy hiểu rõ những thiệt hại mà chiến tranh thế giới II đã gây ra.

Do đó, họ mong muốn giữ vững cam kết về trật tự thế giới đa cực hình thành năm 1945, trong đó có có những nguyên tắc ủng hộ cho việc hình thành nên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp định chung về Thuế và Thương mại (GATT)  những định chế mà sau này đã trở thành một sân chơi chung cho tất cả các nền kinh tế tiếp tục phát triển.

Vì vậy mà sẽ là sai lầm nếu chỉ nhắc đến vai trò của Khổng Tử trong câu chuyện thành công của Đông Á.  Đạo Khổng chính là gốc rễ tạo nên các giá trị văn hóa thuận lợi cho sự phát triển. Nhưng không kém phần quan trọng phải kể đến vai trò lãnh đạo về chính trị và kinh tế của Mỹ trong những năm 1960 đã tạo động lực thúc đẩy vai trò của các nhà lãnh đạo Đông Á. Thời gian tại nhiệm của Kennedy thật ngắn ngủi tính đến ngày ông bị ám sát tuy nhiên bằng ấy thời gian ngắn ngủi đó cũng đủ để ông có thể tạo ra những ảnh hưởng sâu rộng tới một trào lưu mới. Và chính trào lưu đã giúp thổi nguồn năng lượng vào sự phát triển của Đông Á ngày nay.

Tôi viết ra tất cả những điều này dựa trên những cảm nhận mang tính cá nhân. Những năm 1960 cũng là những năm tháng quan trọng nhất và nhiều dấu ấn nhất trong cuộc đời tôi. Lớn lên ở Xinh-ga-po, chúng tôi có thể cảm nhận một cách sâu sắc những biến động về kinh tế và chính trị. Mặc dù vậy chúng tôi cũng có thể thấy rõ những tia hy vọng mới đang mở ra cho cuộc đời mình. Chúng tôi cảm nhận được rằng chúng tôi đang vận động để đi tới một tương lai tốt đẹp hơn.

Và sự lạc quan này đã được kiểm chứng. Giai đoạn hậu chiến tranh thế giới II có lẽ là kỷ nguyên tươi sáng nhất mà các nước Đông Á đã trải qua. Và người Mỹ chính là những người đặt nền móng. Và vì thế, câu chuyện về Đông Á mà tôi kể cho các bạn nghe ngày hôm nay có thể được phác họa như là một cuộc hành trình từ Khổng Tử tới Kennedy.

Và một tin tức thực sự tốt lành đối với Đông Á là hành trình này mới chỉ bắt đầu. Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng có thể cùng tham gia. Nhân tố cốt lõi là vai trò của những nhà lãnh đạo mà thôi. Với những con người lãnh đạo tài năng, tất cả các nước đều có cơ hội tiến bộ và thành công.

Dương Ngọc Quyến biên dịch theo spp.edu.sg

———————————-

Chú thích

1: Trích dẫn trong Nishikawa (1993) trang 8 được đăng tải lại trên website của Cơ quan giáo dục quốc tế (International Bureau of Education, Tổ chức giáo dục, kho học và Văn hóa của Liên hợp quốc – UNESCO, Paris) tại địa chỉ http://www.ibe.unesco.org/publications/ThinkersPdf/fukuzawe.pdf. Nguyên văn được lấy từ Fukuzawa (1885) và do Sinh Vinh dịch trên Fukuzawa Yukichi nenkan (Annals) 11, Mita, Tokyo, Fukuzawa Yukichi koykai 1984.

2. Chaebols: là những tập đoàn kinh tế lớn tại Hàn Quốc.

Tài liệu tham khảo:

Elegant, Simon, and Michael Elliot. 2005. “Lee Kuan Yew Reflects”. Time Asia 166 (24), on the Web on December 5. http://www.time.com/time/asia/covers/501051212/lky_intvu6.html.

Fukuzawa, Yukichi. 1885. “Datsu-A Ron” [Our Departure from Asia]. Jiji-shimpo, March 16.

Goh Keng Swee. 1995a. “Public Administration and Economic Development in LDCs.” In

Wealth of East Asian Nations: Speeches and Writings by Goh Keng Swee, ed. Linda Low,

128-45. Singapore: Federal Publications.

—. 1995b. “The Vietnam War: Round 3.” In Wealth of East Asian Nations: Speeches and

Writings by Goh Keng Swee, ed. Linda Low, 313-32. Singapore: Federal Publications.

—. 1995c. The Economics of Modernization. Singapore: Federal Publications.

IMF (International Monetary Fund). 2003. “Interview with Raghuram Rajan: Top Economist

Calls for Rethink of IMF’s Role.” IMF Survey 32 (22): 361-64. http://www.imf.org/external/

pubs/ft/survey/2003/121503.pdf.

Lee Kuan Yew. 1998. The Singapore Story: Memoirs of Lee Kuan Yew. Singapore: Times

Editions.

—. 2000. From Third World To First: The Singapore Story, 1965-2000. Singapore: Times

Media Private Ltd.

McNamara, Dennis L. 1990. Colonial Origins of Korean Enterprise, 1910-1945. Cambridge:

Cambridge University Press.

Nishikawa, Shunsaku. 1993. “Fukuzawa Yukichi.” Prospects: The Quarterly Review of

Comparative Education XXIII (3/4): 493-506.

Vogel, Ezra F. 1991. The Four Little Dragons: The Spread of Industrialization in East Asia.

Cambridge, MA: Harvard University Press.


Filed under: Kỹ năng lãnh đạo, Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Triều Tiên: Trung Quốc tìm cách giảm căng thẳng – Chính sách ngoại giao “pháo hạm” của Mỹ

Posted: 27 Nov 2010 01:32 PM PST

Trung Quốc tìm cách giảm căng thẳng ở Triều Tiên

Người dân Nam Hàn biểu tình chống Bắc Hàn
Người dân Nam Hàn biểu tình chống Bắc Hàn.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc bắt đầu liên lạc với các bên để giảm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.

Trung Quốc đang mở thương thảo tay ba với các nước có liên quan, gồm Hoa Kỳ, Nam Hàn và Bắc Hàn.

Quan chức Trung Quốc cho hay mục đích đầu tiên là tránh lập lại căng thẳng như hôm thứ Ba (23/11) khi đạn pháo của Bắc Hàn nhắm đến hòn đảo của Nam Hàn.

Nam Hàn pháo kích đáp trả. Và Seoul loan báo cuộc tập trận chung với Hoa Kỳ, bắt đầu hôm Chủ Nhật (28/11).

Bình Nhưỡng nói cuộc tập trận chung giữa hai nước đã đẩy bán đảo Triều Tiên đến miệng hố chiến tranh.

Hoa Kỳ và một số cường quốc khác liên tục thúc giục Bắc Kinh, đồng minh duy nhất của Bắc Hàn, nên dùng ảnh hưởng để tháo ngòi nổ cuộc khủng hoảng.

Theo bài viết của Tân Hoa Xã, thứ Sáu (26/11) ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đích thân gặp đại sứ Bắc Hàn.

Sau đó ông nói chuyện qua điện thoại với người tương nhiệm ở Hoa Kỳ và Nam Hàn.

Tân Hoa Xã viết: "Ưu tiên hàng đầu hiện nay là giữ cho tình hình ổn định, ngăn chặn bạo lực xảy ra."

Ưu tiên hàng đầu hiện nay là giữ cho tình hình ổn định, ngăn chặn bạo lực xảy ra

Tân Hoa Xã

Chi tiết của cuộc nói chuyện giữa ngoại trưởng Trung Quốc với ba nước liên quan chưa được tiết lộ, và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chưa đưa ra bình luận.

Ít nhất bốn người Hàn Quốc thiệt mạng hôm thứ Ba sau khi đạn pháo của Bắc Hàn rơi xuống đảo Yeonpyeong ở phía Nam.

Từ chức

Sự cố này khiến Bộ trưởng Quốc phòng Nam Hàn từ chức, và toàn bộ cư dân trên đảo được đưa đi sơ tán.

Thêm một vụ bắn pháo nữa vào chiều thứ Sáu, lúc đó nhiều người nghe thấy đạn pháo bắn gần hòn đảo, người dân hoảng hốt tìm chỗ trú ẩn.

Về sau Nam Hàn cho hay tiếng đạn pháo có thể xuất phát từ cuộc tập trận thường xuyên của Bắc Hàn.

Khi căng thẳng lắng dịu người ta thấy chỉ huy quân Hoa Kỳ tại Nam Hàn, tướng Walter Sharp tới thăm đảo Yeonpyeong.

Vụ Bắc Hàn bắn pháo hôm thứ Ba là hành động hiếu chiến nhất kể từ hồi kết thúc cuộc chiến Triều Tiên năm 1953. Hai miền ngưng chiến nhưng không có hòa ước.

Bình Nhưỡng đổ lỗi cho Nam Hàn có hành động khiêu khích khi tổ chức tập trận gần đảo Yeonpyeong.

Sau đó KCNA, hãng thông tấn chính thức của miền Bắc, cảnh báo cuộc tập trận chung bắt đầu hôm Chủ Nhật giữa Hoa Kỳ và Nam Hàn.

"Bán đảo Triều Tiên đang tiến gần đến miệng hố chiến tranh do hành động bất cẩn của những kẻ tìm niềm vui qua diễn tập quân sự, hành động nhắm đến miền Bắc," bản tin của KCNA viết.

Cuộc thao diễn quân sự trong bốn ngày giữa hải quân Nam Hàn và Hoa Kỳ đã được lên kế hoạch từ lâu. Tuy nhiên hành động này khiến Trung Quốc và Bắc Hàn bực bội.

 

Hoa Kỳ và chính sách ‘ngoại giao pháo hạm’

Nick Childs
Phóng viên quốc phòng BBC


Tàu USS George Washington đã từng vào gần bán đảo Triều Tiên sau vụ đắm tàu Cheonan 

Hàng không mẫu hạm nguyên tử USS George Washington và các tàu chiến, phi cơ của Mỹ đang kéo vào gần bờ bán đảo Triều Tiên sau vụ bùng phát vừa qua giữa hai miền Nam Bắc Hàn.

Đây quả thật là chính sách ‘ngoại giao pháo hạm’ theo kiểu Thế kỷ 21.

Năm nay, tàu George Washington cũng đã từng vào vùng biển này, theo sau căng thẳng của vụ tàu chiến Cheonan của Nam Hàn bị đánh chìm hồi tháng Ba mà nhiều người cho là do miền Bắc gây ra.

Khi ấy, cũng như bây giờ chiếc tàu đến để gửi ra thông điệp: vừa để trấn an miền Nam, vừa để răn đe miền Bắc.

Đây cũng là động thái Hoa Kỳ làm nhiều lần để đối phó với các cuộc khủng hoảng thời Chiến tranh Lạnh và sau này.

Trên nhiều phương diện, hạm đội các tàu sân bay của Hoa Kỳ vừa là phương tiện ngoại giao, vừa là một thứ vũ khí.

Hải quân Mỹ từng tự hào khoe rằng cứ khi nào nổ ra khủng hoảng, câu hỏi đầu tiên của Tổng thống Hoa Kỳ luôn là: “Hàng không mẫu hạm gần nhất hiện ở đâu?”

Ví dụ, Hoa Kỳ điều tàu sân bay nguyên tử USS Enterprise đến Vịnh Bengal để tỏ sức mạnh trong thời gian nổ ra cuộc chiến Ấn Độ với Pakistan năm 1971.

Thuyền trưởng Chip Miller của tàu USS George H.W. Bush đón quan chức quốc phòng Việt Nam trong một chuyến thăm

Vào năm 1981, hàng không mẫu hạm Mỹ cũng vào gần bờ biển Libya và trong cuộc đối đấu, hai phi cơ của Mỹ đã bắn hạ hai máy bay chiến đấu Libya.

Năm 1996, khi căng thẳng giữa Bắc Kinh và Đài Bắc lên cao, Tổng thống Bill Clinton đã điều hai hàng không mẫu hạm vào vùng biển đó.

Trong suốt thập niên 1990, khi xung khắc với chế độ Saddam Hussein tăng độ nóng, Washington đã tỏ thái độ rằng họ rất nghiêm túc về tình hình bằng cách gửi tàu sân bay vào vùng Vịnh Ba Tư, có lúc cả ba chiếc.

Gây niềm ghen tỵ

Không nước nào có nhiều hàng không mẫu hạm như Hoa Kỳ.

Nếu có dịp lên tàu, bạn hẳn sẽ được mời lên đài chỉ huy để gặp thuyền trưởng.

Sĩ quan này sẽ khoa tay múa chân chỉ về hướng sàn bay rất lớn để nói rằng diện tích bốn acres đó chính là “lãnh thổ Hoa Kỳ” được “khoanh lại, gửi đi” ra các đại dương nhằm chuyển thông điệp của Washington.

Cũng vì lý do đó, các cường quốc đang nổi như Ấn Độ và Trung Quốc hiện suy tính nghiêm túc về cách xây dựng hàng không mẫu hạm của riêng họ.

Nhưng liệu Bình Nhưỡng có hiểu hết thông điệp Washington gửi về phía họ lần này?

Có vẻ như lần ra khơi trước của tàu George Washington không tạo hiệu ứng mong muốn.

Vậy lần này nó có đủ sức làm Seoul yên tâm không?

Có nhiều chủ đề tế nhị tại đây. Bắc Kinh đã than phiền về chuyến hải hành của chiếc tàu Mỹ.

Lần trước họ đã làm được chuyện thay đổi kế hoạch của tàu George Washington.

So với tàu HSM Invincible của Anh thì tàu USS George Washington của Mỹ lớn gần gấp đôi(So với tàu HSM Invincible của Anh thì tàu USS George Washington của Mỹ lớn gần gấp đôi)

Trong giai đoạn cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và nước Trung Quốc đang lên, chiếc hàng không mẫu hạm có mặt ở Thái Bình Dương là một biểu tượng quan trọng.

Đây là chỉ dấu rằng Hoa Kỳ quyết tâm muốn duy trì sự hiện diện của mình.

Cùng lúc, đang có cuộc tranh luận nóng về tầm quan trọng trong kế hoạch của Trung Quốc muốn phát triển tên lửa đạn đạo được thiết kế chuyên để nhắm vào các hàng không mẫu hạm.

Điều này giải thích vì sao Washington sững người khi một tàu ngầm Trung Quốc bất chợt nổi lên ngay gần nhóm hàng không mẫu hạm đang tập trận ở phía Nam Nhật Bản năm 2007.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

No comments:

Post a Comment