Wednesday, February 9, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Tuệ ngữ của Đạt Lai Lạt Ma – tập 2

Posted: 09 Feb 2011 01:07 PM PST

 

Chào các bạn,

Mình và anh Hoành vừa làm xong một slideshow Tuệ Ngữ Của Đạt Lai Lạt Ma (tập 2) để chia sẻ với các bạn. Nhạc nền là một bản nhạc của Deuter, một cao tăng Ân giáo gốc Đức.

Tập 1 đã post năm ngoái ở đây.

Xin các bạn click vào ảnh bên dưới để xem và download.

Chúc cả nhà một ngày tươi sáng.

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng


Filed under: Danh Ngôn, Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Danh Ngôn, Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa

Sen trong bùn

Posted: 09 Feb 2011 01:05 PM PST

Chào các bạn,

Chúng ta đều biết

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Câu ca dao này đương nhiên là nói về sen, biểu tượng cho sự vượt thoát, vượt lên mức bùn nhơ và tỏ lộ bản thân thanh khiết đẹp đẽ.

Nhưng…

Có bao giờ chúng ta nghĩ rằng bùn với sen là một không? Cái đẹp của sen không phải là từ bùn mà ra sao? Và không phải là sen chỉ sống trong bùn sao? Lấy ra khỏi bùn là sen chết. Thế thì không phải là sen và bùn tuy hai mà một sao?

Sự khác biệt giũa sen và bùn là củ sen. Củ sen gặp bùn và nhờ bùn thì tạo ra lá sen, ngó sen và hoa sen.

Nếu chúng ta xem bùn là cuộc đời ô trọc này, với đủ thứ tham sân si, hỉ nộ ái ố ai lạc dục, giành giật gian dối đâm chém, và ta muốn thành sen, thì ta cần phải nhận thấy hai điều:

1. Ta phải là củ sen. Điều này thì ta “đã là” rồi. Chỉ có thể là ta không thấy điều đó mà thôi.

Mỗi chúng ta đều đã có tính thiện trong người. Khổng tử nói: "Nhân chi sơ tính bản thiện" (Con người lúc đầu có bản tính thiện). Phật gia nói tất cả mọi người đều đã có Phật tính trong tâm; mỗi chúng ta là Phật đang thành. Thiên chúa gia nói mỗi chúng ta là con Thượng đế với hình ảnh và hơi thở Thượng đế trong ta.

Ta có bằng lòng chấp nhận bản tính cao qu‎ý của ta và cố gắng sống theo bản tính đó không, đó là sự chọn lựa của ta.

2. Sen thì phải sống trong bùn. Ta phải sống trong cuộc đời nhiều bụi bặm và bùn nhơ này thì mới có dưỡng chất tâm linh để thành Phật, để thành tinh khiết rực rỡ. Sen không sống trên bờ. Đừng mong bỏ bùn mà đi, chạy trốn lên núi ở một mình. Hoa hồng có thể nở trên núi rất đẹp, nhưng hoa sen cõi Phật thì phải mọc trong bùn. Không bùn thì không sen. Không có cuộc đời nhiều khó khăn gai góc và cám dỗ này (gọi là thế giới ta bà, tức là thế giới kham nhẫn, thế giới đòi hỏi nhiều nhẫn nhục), thì ta không thể thành bậc thiện tri thức.

Cho nên, các bạn, hãy nhìn một vòng quanh ta, nhìn cái đầm sình lầy nước đọng mà ta đang đứng trong đó, để cảm ơn nó rằng, chính vũng bùn này là nơi sống và nguồn sống của tôi. Tôi sẽ sống như rong rêu hay như sen trong bùn, đó là do tôi lựa chọn. Nhưng không có vũng bùn này thì có lẽ là tôi đã không có sự sống, ít ra là sự sống của loài hoa cao quý nhất trong mọi loài hoa.

Chúc các bạn một ngày tỏa mát hương sen.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Điểm sách: Can Trường Trong Chiến Bại

Posted: 09 Feb 2011 01:04 PM PST

    Đối với mọi đọc giả ngày nay, dù quan tâm hay không đến lịch sử miền Nam, chương quan trọng nhất trong quyển sách là Chương 16: Trận Hải Chiến Tại Hoàng Sa. Đây là trận chiến giữa các chiến hạm Hải quân VNCH dưới quyền của tác giả, tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải, và các chiến hạm Trung quốc, tháng 1 năm 1974.

Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại trên đảo Pattle, Hoàng Sa

Chào các bạn,

Anh Hồ Văn Kỳ Thoại là bạn vong niên của mình. Lúc anh Thoại còn làm việc tại Council for Advancement and Support of Education (CASE) ở Washington DC, hai anh em thường gặp nhau ăn trưa và hàn huyên. Quyển "Can Trường Trong Chiến Bại" là hồi ký anh Thoại viết về cuộc đời hải quân của anh, ghi lại "hành trình của một thủy thủ" từ lúc gia nhập Hải quân Việt Nam Cộng Hòa (tức miền Nam trước 1975) cho đến cuối cuộc chiến tranh Việt Nam ngày 30.4.1975, lúc anh Thoại đang là phó đề đốc hải quân (tương đương chuẩn tướng bên lục quân).

Quyển sách này liên hệ đến một số biến cố lớn của Nam Việt Nam, và trong bài điểm sách này chúng ta chỉ điểm qua vài biến cố, như cuộc đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963 (5 năm sau khi tác giả rời chức vụ tùy viên cho tổng thống Diệm), các cuộc đảo chánh và chỉnh l‎ý liên tục của các tướng lãnh sau 1963, và cuộc triệt thoái quân đội miền Nam ra khỏi quân khu 1(Quảng trị đến Đà Nẵng) đưa đến sự sụp đổ của toàn miền Nam.

Đây là một quyển sách chú tâm vào dữ kiện. Tác giả kể lại các sự kiện chính mình là nhân chứng, với một giọng văn chừng mực và khoảng cách, không phân tích, bình luận hay phê phán. Thỉnh thoảng có một hai sự kiện tác giả phải lấy từ các nhân chứng khác, thì cũng được chú dẫn nguồn rõ ràng. Cho nên các dữ kiện rất đáng tin. (Điều này mình thấy rất hợp với con người anh Thoại. Không nhiều ý kiến. Suy nghĩ và làm việc rất ngăn nắp). Vì vậy, người không rành sử miền Nam, có thể thấy hơi khó hiểu vì nhiều dữ kiện mà ít phân tích và bình luận. Nhưng những người rành sử miền Nam thì sẽ biết ơn các dữ kiện liên hệ đến lịch sử do chính một nhân chứng viết lại "như chúng là" mà không bình luận nhào nặn uốn nắn.

Đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm, 1963

Các dữ kiện về cuộc đảo chánh năm 1963 cho thấy một nhóm tướng lãnh rất bất trật tự, không biết đến đạo trung, tuân theo sự quản l‎ý của Mỹ, dùng đủ mọi thủ đoạn, kể cả hạ sát tổng thống của mình và bạn đồng nghiệp—như hạ sát Tư lệnh Hải quân Hồ Tấn Quyền, được xem là trung thành với tổng thống Diệm–để lấy được mục tiêu của mình. Rồi sau đó các quý vị lại quay sang "chỉnh lý" và thanh trừng nhau, rất hỗn loạn.

Trong tình trạng như thế, hàng ngũ lãnh đạo quân đội đương nhiên là rất yếu. Một đoạn nói về việc chọn người làm Tư Lệnh Hải Quân năm 1966 như sau:

"Khóa 1 [Sĩ quan Hải quân] thì chỉ còn trung tá Chơn là chưa có chuyện lôi thôi trong Hải quân, mặc dù đã giữ chức tư lịnh rồi nhưng chỉ trong thời gian ngắn. Đại tá Lê Quang Mỹ, tư lịnh đầu tiên thì đang ẩn dật vì tham gia vào những cuộc đảo chánh bất thành, đại tá Quyền thì bị ám hại trong cuộc đảo chánh 1963, đô đốc Cang và đại tá Tánh thì được thuyên chuyển lên núi sau cuộc nội loạn trong Hải quân, cho nên tướng Cao Văn Viên đánh lá bài chót là gọi điện thoại cho Trung tá Trần Văn Chơn lúc đó đang chỉ huy Liên đoàn Tuần giang thuộc Bộ Chỉ huy Địa Phương quân, hỏi Trung tá Chơn có muốn trở về Hải quân không." Tr. 99.

Và ngay ở cấp lãnh đạo cao nhất trong nước thì:

"Một việc làm tôi suy nghĩ rất nhiều, tôi được tận tai nghe ba người lãnh đạo không đồng ý chính sách của Mỹ tại Việt Nam. Cả ba vị này đều phải ra đi bằng cách này hay cách khác, một cách đột ngột. Đó là Tổng thống Ngô Đình Diệm, đại tướng Nguyễn Khánh và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu." Tr. 90.

Rất đau lòng!

Sở Phòng Vệ Duyên Hải (1966-1970)

Đoạn kết luận của chương nói về thời tác giả là trung tá tư lệnh Sở Phòng Vệ Duyên Hải, cơ quan chuyên công tác mật ra phía Bắc, viết:

"Để kết luận, hoạt động của Sở Phòng Vệ Duyên Hải quá lệ thuộc Hoa Kỳ, một chuyến công tác tại Bắc vĩ tuyến dù nhỏ đến mấy cũng cần có sự đồng ‎ý của tòa Bạch Ốc vì sợ sự bành trướng quy mô có thể gây sự nhập cuộc của Trung Cộng và khối Sô Viết. Chúng tôi hoàn toàn căm phẫn đối với một vài tác giả Hoa Kỳ dựa trên nhận xét nông cạn nói rằng chiến sĩ thuộc Sở Phòng vệ Duyên Hải thi hành công tác vì tiền và không có tinh thần chiến đấu mãnh liệt." (Tr. 128-129)

Triệt thoái khỏi quân khu 1 (3/1975)

Trong cuộc triệt thoái khỏi quân khu 1 vào tháng 3 năm 1975, Hải quân trong tay của tác giả, lúc đó là đang là phó đề đốc tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải, là phương tiện di tản chính, vì đường bộ hoàn toàn bị cắt. Tác giả viết trước khi triệt thoái khỏi Đà Nẵng:

"Ngồi trên trực thăng bay từ Căn Cứ Thủy Quân Lục Chiến, trời sập tối, trở về Bộ Tư Lịnh Hải Quân tại Tiên Sa nhìn xuống cầu Trịnh Minh Thế và trên con đường đi từ cầu đến Sơn Chà, một cảnh tượng hết sức hỗn độn với đèn xe hơi, cảnh người chạy bộ trông thấy hãi hùng và muốn rơi nước mắt. Tại sao lại chạy xuống bãi biển và tìm tàu ghe mà đi? Trong các trận chiến trước đây chống Pháp, Nhựt, tôi còn nhớ rõ lúc còn nhỏ, khi giặc tới người dân thường lẫn trốn về miền quê để tránh bom đạn. Còn đây lại khác, người dân quyết định bỏ hết của cải nhà cửa ruộng vườn, mồ mã ông cha mà ra đi về một phương trời xa lạ. Tại sao người dân sợ đoàn quân sắp tấn công thị thành của họ là người Việt Nam hơn là họ sợ đoàn quân của ngoại bang xâm chiếm quê hương họ? Tôi liên tưởng đến cuộc di dân từ Bắc vào Năm nẳm 1954 và lo âu cho dân miền Trung." Tr 218

Và sau khi triệt thoái khỏi Đà Nẳng vào tháng 3 năm 1975, nhận công việc mới tại Vũng Tàu, tác giả có viết một phúc trình gởi đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, về cuộc triệt thoái. Phần kết luận của bản phúc trình có viết:

"A. Việc quyết định cho tàu chuyển vận của quân đội, thương thuyền trưng dụng và tàu ngoại quốc để di tản dân chúng gây ảnh hưởng tâm lý dây chuyền đến gia đình binh sĩ và các binh sĩ đang chiến đấu, bất lợi cho việc cố thủ các thị trấn.

B. Một số cấp chỉ huy không kiểm soát được đơn vị và quân nhân trực thuộc, gây tình trạng hỗn loạn tại vài nơi khi các chiến hạm di tản quân và dân."

Đương nhiên đây là ảnh hưởng tâm lý dây chuyền. Quân đội miền Nam tự động rã hàng, chỉ vì việc rút quân (từ Pleiku và Ban Mê Thuột, rồi sau đó là từ Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng). Việc rút quân làm toàn quân mất sĩ khí, và rã hàng, không kiểm soát được. Trong chiến trận sĩ khí quyết định ít nhất là 70% thắng thua.

Trên đường lưu vong (4/1975)

Và trên đường hải hành đi ra nước ngoài ngày 30 tháng 4 năm 1975, tác giả viết:

"Ngày 30 tháng tư năm 1975, trên cơ xưởng hạm Vĩnh Long, trên biển Nam Hải, hải hành hướng về căn cứ Subic Bay của Hải Quân Hoa Kỳ, Phi Luật Tân, tôi cùng gia đình rời khỏi lãnh hải Việt Nam. Cha tôi, một người suốt đời hãnh diện mình là người Việt, chỉ mang theo một bị nhỏ trong đó có quyển gia phả, lá quốc kỳ Việt Nam, màu vàng ba sọc đỏ, và cái áo dài mà ba tôi ghi lại trong nhựt k‎ý là để sang nước ngoài mặc lúc cúng ông bà.

Cha tôi ngồi trên tàu nhìn tôi, trong bộ quân phục xanh tôi mặc lần cuối, đang đi tới gần, nói nhỏ cho tôi vừa đủ nghe: 'Ba hết sức thất vọng.' Tôi hiểu ‎ý cha tôi và đau đớn đến nhói tim. Tôi đau đớn và cảm thấy tủi nhục vì đó là lời trách móc của một công dân Việt Nam trách móc một quân nhân không làm tròn bổn phận đã được quốc dân tin tưởng và giao phó. Một công dân thất vọng khi nhìn một tướng lãnh thua trận. Một người cha thất vọng vì đã có ba đứa con trai ở trong quân ngũ mà bây giờ phải bỏ quê hương bỏ hết nhà cửa với những vật kỷ niệm của gia đình để ra đi một cách tủi nhục.

Ám ảnh bởi lời nói cha tôi, tôi lúc nào cũng nghĩ là tôi còn thiếu nợ cha tôi, một món nợ rất lớn vì đó là chuyến xuất ngoại cuối cùng của cha tôi, một người suốt đời hãnh diện mình là người Việt Nam mà khi nhắm mắt không được nằm tại quê hương." Tr. 284.

Và tác giả kết luận:

"Cái quả ngày nay là do cái nhân ngày trước mà tất cả chúng ta, quân cũng như dân đều có một phần trách nhiệm, từ một anh thường dân trốn lính đến một ông tướng ra một quyết định sai, nhưng dưới con mắt của một quân nhân Hải Quân nên có thể quá chủ quan, quân đội miền Nam gặp nhiều khó khăn bởi:

Cuộc đảo chánh năm 1963 của các tướng lãnh thâm niên thời đó gây tai hại cho kỷ luật và trách nhiệm của quân đội nếu không nói là sai lầm lớn nhứt kéo đến sự sụp đổ của miền Nam. Với sự khuyến khích của ngoại bang, một số người bất mãn, không nghĩ xa đã phá vỡ trật tự và kỷ luật của quân đội. Chánh quyền dân sự không còn tin tưởng tuyệt đối vào quân đội dù chính quyền đó do một vị tướng lãnh đạo. Quân đội thì nghĩ rằng mình có vũ khí nên có quyền quyết định vận mạng của đất nước bất chấp hiến pháp…" Tr. 291

Trận Hải Chiến Hoàng Sa (1/1974)

Đối với mọi đọc giả ngày nay, dù quan tâm hay không đến lịch sử miền Nam, chương quan trọng nhất trong quyển sách là Chương 16: Trận Hải Chiến Tại Hoàng Sa. Đây là trận chiến giữa các chiến hạm Hải quân VNCH dưới quyền của tác giả, tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải, và các chiến hạm Trung quốc.

"Quần đảo Hoàng Sa gồm nhiều đảo… Bốn đảo chánh thuộc chủ quyền Việt Nam vì luôn luôn có sự hiện điện của người Việt. Đó là các đảo Pattle (hoàng Sa), đảo Robert (Cam Tuyền), đảo Duncan (Quang Hòa Đông) và Đảo Drummond (Duy Mộng). Sau khi người Pháp rút khỏi Đông Dương, thì lúc nào Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng có quân đội đóng trên các đảo này. Riêng tại đảo Pattle, Việt Nam Cộng Hòa còn có một đài khí tượng thuộc hệ thống khí tượng Quốc tế." Tr. 114.

"Năm 1970, khi tôi vừa nhận chức Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên Hải, tôi đặt khẩu hiệu của Hải quân Vùng 1 Duyên Hải là 'Hoàng Sa Trấn, Hải Biên Phòng'." Tr. 145.

Ngày 16.1.1974 các chiến hạm Trung quốc xuất hiện và đổ quân lên các hải đảo Duncan và Drummond. Phó Đề Đốc Thoại báo cáo tình hình cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

"Sau khi nghe tôi trình bày xong, Tổng thống Thiệu lấy bút giấy ra viết liên tục trong khoảng 15 phút. Sau khi viết xong, ông gọi tôi đến trước mặt ông và yêu cầu tôi đọc mấy trang giấy đó. Tổng Thống Thiệu nói: 'Anh Thoại đến đây và đọc trước mặt tôi đây, có gì không rõ ràng cho tôi biết ngay bây giờ'." Tr. 149.

"Sau khi trao thủ bút cho tôi Tổng Thống Thiệu hỏi các vị tướng lãnh bộ binh hiện diện có ý kiến gì không. Không ai trả lời. Ông nói tiếp: 'Chúng ta không để mất một tấc đất nào cả'." Tr. 150.

"Trận hải chiến thật sự chỉ kéo dài hơn ba mươi phút… Chiến hạm Việt Nam không đuổi theo tàu địch mà chiến hạm Trung Cộng cũng không đuổi theo chiến hạm Việt Nam.

Tôi gọi điện thoại về Bộ Tư lịnh Hải quân xin can thiệp với cố vấn Mỹ yêu cầu Đệ thất Hạm đội của Hoa kỳ vớt các thủy thủ Việt Nam, nhưng dường như họ có được chỉ thị nên không một chiến hạm Mỹ nào đến gần nơi xảy ra cuộc hải chiến.

Với những đe dọa từ phía Trung Cộng, sự không tham dự của quốc gia mà chúng ta gọi là 'đồng minh', sự từ chối của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ trong việc cứu người trôi trên biển tôi cảm thấy rất ê chề…" Tr. 162.

"Ai là người Việt Nam có quyền hãnh diện là trận hải chiến Hoàng Sa là một trận hải chiến duy nhất của Việt Nam và của thế kỷ, chống ngoại xâm, và bảy thế kỷ sau khi tướng Trần Hưng Đạo đánh bại quân Mông Cổ từ phương Bắc, trên mặt nước.

Còn những ai nghĩ là Việt Nam Cộng Hòa còn lệ thuộc Mỹ phần nào thì đây là bằng chứng rõ rệt là việc tấn công lực lượng Trung Cộng là hoàn toàn do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lịnh, không có sự đồng ý của của Hoa Kỳ và không có sự giúp đỡ của Hoa Kỳ dù là nhân đạo tối thiểu như vớt người trôi trên biển cả." Tr. 168.

Kết luận

Trong phần kết luận, tác giả viết:

"Như các hàng cuối của bản phúc trình tôi gởi lên đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, tất cả quân nhân Hải Quân trên các chiến hạm, chiến đỉnh, hải thuyền cũng như trên các căn cứ đều thi hành bổn phận của mình một cách can trường và xứng đáng với màu áo, trong cuộc thất thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Quân Khu 1. Đó không phải là một sự ngẫu nhiên hay may mắn mà nhờ Hải Quân có một truyền thống đẹp, một tổ chức vững vàng, một kế hoạch tuyển mộ và huấn luyện cho nhân viên rất tốt và nhờ tài lãnh đạo của sáu vị tư lịnh Hải Quân, mỗi người một cách, đã biến tinh thần kỹ luật và lương tâm nghề nghiệp của người chiến sĩ áo trắng thành một thói quen." Tr. 286

Thắng thua là lẽ thường. Điều quan trọng là chúng ta làm tròn nhiệm vụ của mình với tất cả cố gắng. Đây là quyển sách nói về một phần của lịch sử Hải quân Việt Nam, nhưng chắc chắn là nó sẽ là một phần quan trọng trong việc tranh cãi chủ quyền Hoàng Sa trên công luận quốc tế, vì nó kể lại hành động xâm lăng của Trung quốc năm 1974. Chỉ vì Hoàng Sa mà thôi cũng đã đáng cho chúng ta đọc.

Còn một vài sự kiện khác trong quyển sách dày 328 trang, nhưng chúng ta không đào sâu trong bài điểm sách này, như trận Vũng Rô của Hải quân VNCH ở Phú Yên đưa đến việc Hải quân Hoa Kỳ tham gia chiến tranh Việt Nam, và cuộc nổi loạn của trong Hải quân VNCH năm 1965.

Cám ơn Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại đã gởi sách cho mình điểm. Và cám ơn tình bạn của anh.

Đồng thời vinh danh các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa ngày trước.

Việt Nam chúng ta là một quốc gia của các chiến sĩ và của nghìn năm chinh chiến. Và vì thế chúng ta luôn luôn tôn trọng chiến sĩ, dù là khác giới tuyến, dù ai thắng ai thua. Đó là Võ Sĩ Đạo, hay Chiến Sĩ Đạo. Chúng ta đã cư xử đúng đạo nghĩa đó giữa các chiến binh Việt Mỹ. Và hy vọng là chúng ta sẽ thấy Chiến Sĩ Đạo được ứng xử giữa các chiến binh Việt Việt.

Thành kính ghi ơn.

Trần Đình Hoành
Virginia, USA
8 tháng 2, 2011.

Bài đọc liên hệ: Tuyên Cáo của Việt Nam (Cộng Hòa) năm 1974 về Trận Hải Chiến Hoàng Sa

Thông tin mua sách:

Mỗi quyển: US $20
Cước phí (priority mail): Mỹ $3 – Các nước khác $9
Ngân phiếu gởi về:
Hovanky
P.O.Box 721322
Houston, TX 77272-1322
USA

Hay trả bằng credit card tại
www.cantruong.com


Filed under: Biển Đông, Văn Hóa Tagged: Biển Đông, Văn Hóa

Dự trữ ngoại hối của VN chỉ còn 10 tỷ USD

Posted: 09 Feb 2011 01:03 PM PST

BBC

Ông Võ Hồng Phúc tại hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam
Ông Võ Hồng Phúc là Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư

Bộ trưởng Kế hoạch-Đầu tư Võ Hồng Phúc được trích lời nói dự trữ ngoại hối của Việt Nam chỉ còn khoảng 10 tỷ đôla cuối năm 2010 từ con số 16 tỷ một năm trước đó.

Hãng thông tấn Reuters dẫn nguồn Thời báo Kinh tế Việt Nam đưa ra con số này.

Thực ra, ngay tại Đại hội Đảng XI họp hồi tháng 1/2011, Bộ trưởng Phúc đã đưa ra cảnh báo về mức dự trữ ngoại hối.

Lúc đó, ông Võ Hồng Phúc, Ủy viên Trung ương Đảng, nói: “Năm 2010, tăng tưởng của nước ta đạt 6,8%, nhưng lạm phát cao, dự trữ ngoại hối chỉ khoảng 10 tỷ đôla”.

“Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chậm được cải thiện; cân đối vĩ mô chưa thực sự vững chắc.”

Như vậy, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã sụt dần trong mấy năm trở lại đây, gây quan ngại lớn.

Kinh tế gia kỳ cựu Lê Đăng Doanh nhận xét: “Dự trữ ngoại tệ thấp như vậy sẽ vô cùng nguy hiểm vì chỉ còn tương đương khoảng 5-6 tuần nhập khẩu, trong khi mức tối thiểu phải có là 12 tuần theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF”.

“Như vậy, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ không tránh khỏi và sẽ diễn ra không xa vì sức chịu đựng của dự trữ ngoại tệ không cáng đáng nổi nữa. Tỷ giá như hiện nay cản trở xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu.”

Mới đây, các nhà phân tích của Citigroup dự đoán tiền đồng Việt Nam sẽ mất giá thêm 3% trong quý I/2011.

Các chuyên gia cảnh báo việc tiền đồng mất giá, lạm phát cao sẽ đi kèm nhiều vấn đề xã hội.

Tiến sỹ Trần Văn Thọ, Giáo sư Kinh tế Đại học Waseda (Nhật Bản), nói chính phủ Việt Nam cần cân nhắc kỹ lưỡng trước việc phá giá đồng tiền hay nâng giá các mặt hàng thiết yếu.

“Tăng giá hàng hóa trong lúc này luôn đi kèm nguy cơ bất ổn xã hội.”

Năm ngoái, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam là 11,75%, cao hơn chỉ tiêu Quốc hội đề ra.

Tuy nhiên, ông Thọ cho rằng chính phủ trong nước đang có những nỗ lực lớn để giảm thâm hụt ngân sách và giảm chi tiêu công, nhưng “kết quả còn phải chờ mới rõ”.

Trong một phỏng vấn mới với báo Tuổi Trẻ, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc cũng khẳng định Nhà nước đã cố gắng giảm bội chi ngân sách và “đang cố gắng những năm tới sẽ đưa trở lại mức 5%”.


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Nhân sự Ban Bí thư Trung ương Đảng

Posted: 09 Feb 2011 01:02 PM PST

BBC

Ông Trương Tấn Sang
Ông Trương Tấn Sang vẫn làm thường trực Ban Bí thư

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản VN Nguyễn Phú Trọng mới đây đã ký quyết định phân công thành phần Ban Bí thư Trung ương khóa XI với 10 thành viên.

Đây là quyết định nhân sự đầu tiên của ông Trọng, đại diện cho Bộ Chính trị khóa mới.

Theo đó, ông Trương Tấn Sang tiếp tục làm Thường trực Ban Bí thư, chức vụ mà ông đảm nhiệm từ khóa X.

Ông Lê Hồng Anh được phân công phụ trách công tác nội chính.

Ông Ngô Văn Dụ, nguyên Chánh Văn phòng Trung ương Đảng khóa X, sau khi trúng cử vào Bộ Chính trị khóa XI, được phân công vị trí Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương.

Ngoài ra, hai vị trí chủ chốt khác mới được bổ nhiệm là ông Tô Huy Rứa làm trưởng ban Tổ chức Trung ương và ông Đinh Thế Huynh, trưởng ban Tuyên giáo Trung ương.

Được biết hai ông Rứa và Huynh đã có cuộc gặp mặt với báo chí trong nước sáng thứ Tư 09/02 để “bàn giao công việc”.

Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN nhiệm kỳ này có 10 vị, tương đương khóa X.

Trong số đó có sáu vị là ủy viên Bộ Chính trị, gồm năm vị có tên ở trên cùng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Bốn vị khác là ủy viên Trung ương, gồm các ông bà Ngô Xuân Lịch, Trương Hòa Bình, Hà Thị Khiết và Nguyễn Thị Kim Ngân.

Thường trực Ban Bí thư

Ông Trương Tấn Sang đã giữ cương vị Thường trực Ban Bí thư từ 2006 tới nay.

Sinh năm 1949 tại Long An, ông từng giữ chức Bí thư thành ủy TP Hồ Chí Minh trước khi được chuyển sang làm Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Đảng khóa IX.

Ông được coi là người có quan điểm cải cách.

Ông Trương Tấn Sang cũng là ủy viên Bộ chính trị trong ba khóa liền và từng được cho là ứng viên sáng giá cho các chức vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước.

Đại hội Đảng XI bế mạc tại Hà Nội hôm 19/01 đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 175 ủy viên chính thức và 25 ủy viên dự khuyết.

Bộ Chính trị mới gồm 14 vị cũng đã ra mặt đại hội trong ngày hôm đó.

Một gương mặt mới tham gia Bộ Chính trị khóa XI là ông Ngô Văn Dụ.

Ông Dụ sinh năm 1947, quê quán tại Vĩnh Phúc.

Ông tốt nghiệp trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và Cao cấp Lý luận chính trị.

Ông Ngô Văn Dụ là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt ba khoá IX, X và XI.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

Mỹ muốn tăng đầu tư quân sự ở châu Á

Posted: 09 Feb 2011 01:01 PM PST

BBC


Hải quân Mỹ tại cảng Busan, Hàn Quốc đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á

Trong chiến lược quân sự mới nhất, Lầu Năm góc nói Mỹ cần chú trọng và tăng cường nguồn lực vào các nước Đông Nam Á, trong có Việt Nam.

Đây là Chiến lược Quân sự Quốc gia được sửa đổi lần đầu kể từ năm 2004 tới nay, và là phần đóng góp của Bộ Quốc phòng Mỹ cho Chiến lược An ninh Quốc gia 2011.

Chiến lược An ninh Quốc gia thường kỳ là tổng hợp các đánh giá của chính phủ Mỹ về các đe dọa an ninh cũng như cách thức đối phó.

Chiến lược Quân sự Quốc gia, công bố hôm thứ Ba 08/02/2011, khuyến cáo Hoa Kỳ nên có thêm các cuộc tập trận với Việt Nam, Thái Lan và Philippines cùng một số quốc gia khác.

Đồng thời, văn bản này cũng chỉ ra nhu cầu mở rộng và làm sâu thêm quan hệ quân sự với Ấn Độ và Trung Quốc, tuy tỏ ra quan ngại về các tiến bộ kỹ thuật quốc phòng của Bắc Kinh.

Sức mạnh và quan ngại

Bộ Quốc phòng Mỹ trong Chiến lược Quân sự Quốc gia chú trọng vào ba chủ đề chính: châu Á như một khu vực đang ngày càng mạnh lên và cũng gây thêm nhiều quan ngại; đe dọa của các cuộc tấn công trên không gian ảo (cyberattacks) và ảnh hưởng của các cuộc chiến tranh đối với quân đội, đặc biệt là người dân Mỹ.

Hàng không mẫu hạm của MỹHàng không mẫu hạm của Mỹ tham gia tập trận với Nam Hàn

Khi quân đội Hoa Kỳ đang bước vào năm thứ 10 của cuộc chiến ở Iraq, văn bản này cảnh báo về các hậu quả của “sự mệt mỏi mà chiến sự lâu dài gây ra cho máy móc và con người của chúng ta”

Nói về Á châu, một quan chức cao cấp của Lầu Năm góc cho rằng sự chú trọng mới không có nghĩa sẽ có thêm quân Mỹ tại khu vực này, nhưng có khả năng sẽ có sự phân bổ lại quân số lính Mỹ ở các nơi, thí dụ ở châu Âu nay không còn cần nhiều lính Mỹ vì đã có hệ thống phòng thủ tên lửa của Nato.

Bản chiến lược mới nói quân đội Mỹ cần tìm cách "tăng chú ý và đầu tư nguồn lực vào Đông Nam Á và Nam Á”, tăng số lượng các cuộc tập trận với Thái Lan, Philippines và Việt Nam, cùng một số nước khác.

Báo cáo này được đưa ra trùng với thời điểm cuộc tập trận Hổ mang Vàng với sự tham gia của 11.000 quân nhân, trong đó có hơn 7.000 lính Mỹ, đang diễn ra tại Thái Lan.

Quan điểm về Trung Quốc của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ là “quan ngại về quy mô và mục đích chiến lược của quá trình hiện đại hóa quân sự Trung Quốc, cũng như thái độ ngày càng mạnh bạo của nước này trong không gian, không gian ảo, tại Hoàng Hải, Đông Hải và Biển Đông”.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi thận trọng sự phát triển quân sự của Trung Quốc cũng như tác động của nó lên cán cân quân sự ở khu vực.”

Bắc Hàn vẫn được duy trì như một trong các đe dọa cho mục tiêu an ninh c̀ủa Mỹ.

Tại Trung Đông, Lầu Năm góc cho rằng một nước Iran có vũ khí nguyên tử trong tay có thể khiến nhiều nước khác tìm cách vũ trang hạt nhân hoặc tăng cường vũ trang, dẫn tới xung đột khu vực.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

No comments:

Post a Comment