Friday, February 25, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Alison Krauss – Nữ hoàng “Grammy” – Âm nhạc cho đêm khuya

Posted: 25 Feb 2011 01:08 PM PST

 
Alison Krauss là một ca sĩ nhạc bluegrass và country, kiêm nghệ sĩ kéo đàn vĩ của Mỹ. Cô bước vào nền công nghiệp âm nhạc từ khi còn bé, giành chiến thắng trong các cuộc thi địa phương vào năm lên mười và thu âm lần đầu ở tuổi 14. Cô ký hợp động với Rounder Records năm 1985 và phát hành album solo đầu tay năm 1987. Cô được mời tham dự ban nhạc mà cô vẫn còn biểu diễn cùng cho đến hiện nay, Alison Krauss + Union Station (AKUS). Cô phát hành album đầu tiên với nhóm nhạc vào năm 1989.

Krauss đã phát hành 11 album, xuất hiện trong nhiều nhạc phim, cũng như đem đến sự quan tâm mới của công chúng tới âm nhạc bluegrass ở Hoa Kỳ. Các nhạc phẩm trong phim mà cô biểu diễn đã giúp cô nổi tiếng hơn.

À, sở dĩ tôi đặt tên "nữ hoàng Grammy" cho Alison Krauss là vì cô đã 26 lần đoạt được danh hiệu danh giá này, nhiều hơn bất cứ một ca sĩ nào khác. Nên nhớ rằng kỷ lục về số giải Grammy thuộc về Sir Georg Solti, người Anh-Hungary, chỉ huy Dàn nhạc giao hưởng Chicago. Ông đã đoạt tổng cộng 31 giải trên 74 đề cử trước khi mất vào năm 1997.

Tôi biết đến Alison Krauss qua bản When You Say Nothing At All. Bản đã giúp cựu giọng ca của nhóm nhạc Boyzone – Ronal Keating trở nên nổi tiếng khắp Việt Nam và trên toàn Thế Giới. Nghe Alison Krauss hát rất lạ tai. Một phần vì phong cách country của cô, phần khác là sự kết hợp hoàn hảo giữa guitar, violin & Cello. Nào, mời các bạn thưởng thức.

 
When You Say Nothing At All

 
Baby, now that I’ve found you – Alison Krauss and Union Station

 
Stay – Alison Krauss & Union Station

 
That Kind Of Love

 
Let me touch you for a while


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Bị làm việc vặt ?

Posted: 25 Feb 2011 01:06 PM PST

Chào các bạn,

Nếu bạn đắt đầu nhận công việc tại một công ty mới, và bạn "bị" giao các công việc "vặt vãnh" dưới tầm khả năng của bạn, và lại bị quản lí hơi nhiều, bị chỉnh chỗ này chỗ kia lung tung, thì đừng bực bội và tự ái là ma cũ đì ma mới. Vì theo thông lệ quan lí thì nó phải như vậy.

Khi bạn bắt đầu công việc tại một công ty mới, dù là loại công việc bạn đã có kinh nghiệm rất nhiều, mỗi công ty luôn có một cách làm việc khác các công ty khác, đó là chưa kể những người làm việc hoàn toàn khác người của các công ty khác. Người lãnh đạo, như trưởng phòng, thường phải giúp nhân viên mới biết rất rõ về công việc và cách làm việc của công ty, cũng như cá tính của mỗi người trong phòng. Và không cách nào hay hơn là giao cho người mới làm các việc vặt vãnh.

Nhưng tại sao là các việc vặt vãnh trước? Thưa vì:

1. Làm việc vặt thì sai cũng không thiệt hại và đụng chạm nhiều.

2. Các việc vặt, như là sắp xếp hồ sơ lại cho trật tự, đi tìm hồ sơ, giúp sắp xếp thời khóa biểu cho cả phòng, một dự án nhỏ xíu… là kiến thức bạn cần có để làm việc sau này, nhưng bạn sẽ không có thời giờ để học các điều đó khi bạn đã bị "xoay" trong guồng máy sau này.

3. Bạn phải biết một hệ thống từ các việc nhỏ nhất lên đến các việc lớn nhất thì bạn mới giỏi. Học từ dưới lên trên là cách học (và cách dạy) hay nhất.

4. Thái độ làm việc và học hỏi của bạn khi làm việc vặt nói rất nhiều về cá tính, thái độ, và teamwork của bạn.

Mình thình thoảng nhận được thơ của một bạn hỏi rằng: "Anh ơi, em mới về công ty này, nhưng bây giờ em cảm thấy có lẽ em đã quyết định sai, vì em bị bắt làm các việc nhỏ xíu, chưa bằng một góc việc cũ của em, mà cứ bị chỉnh sửa hoài. Em có cảm tưởng họ coi thường em quá đáng, như là em mới ra trường không bằng."

Và mình luôn luôn trả lời: "Các công ty biết quản lí người luôn luôn cho người mới làm các việc vặt, và chỉnh sửa thường xuyên, để người mới học được hệ thống mới. Hệ thống mỗi công ty mỗi khác. Đối với công ty mới, hệ thống này dù gần giống công ty cũ, em vẫn phải học các điều mới cẩn thận, và họ phải chỉnh sửa rất thường, vì em sẽ có khuynh hướng làm theo cách của công ty cũ, xáo trộn trật tự của công ty mới. Đây là cơ hội để em chứng minh với các bạn mới là em biết học hỏi, biết nguyên tắc quản lý của các công ty, và rất giỏi teamwork. Hãy do a good job. Đừng tự ái vặt."

Hồi nhỏ mình học được một câu mà mình còn nhớ tên tác giả là Quan Doãn Tử (dù chẳng biết ông này là ai :-) ) : "Đừng khinh việc nhỏ. Lỗ nhỏ làm đắm thuyền."
Bây giờ mình có câu này cho các bạn: "Đường lên đỉnh cao được kết bằng những nấc thang rất nhỏ."

Chúc các bạn một ngày kiên nhẫn.

Mến,
Hoành


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Ngày thầy thuốc Việt Nam: Biểu tượng y khoa, Lời thề Hippocrates, và Hải Thượng Lãn Ông

Posted: 25 Feb 2011 01:05 PM PST

Chào các bạn,

Lương y như từ mẫu. Thầy thuốc như mẹ hiền. Nghề thầy thuốc là một sứ mạng thiêng liêng cao cả, của lòng nhân ái.

Plato nói: “Trong chính trị chúng ta giả thiết là người nào biết cách lấy phiếu đương nhiên biết cách quản lý một thành phố hay một quốc gia. Khi chúng ta bị bệnh… chúng ta không tìm một thầy thuốc đẹp trai nhất hay nói hay nhất.” Thầy thuốc hoặc chữa lành được bệnh nhân hoặc không chữa được, không thể đánh bóng mình bằng các xảo thuật bên ngoài. Thầy thuốc chân thật.

Ngày chủ nhật 27 tháng 2 năm 2011 là 56 năm Ngày Thầy Thuốc Việt Nam, kể từ năm 1955 khi nhà nước Việt Nam ấn định 27/2 là Ngày Thầy Thuốc hàng năm. Chúc các bạn đã và đang trong ngành y tế một ngày nhiều tình yêu và tạ ơn.

Nhân Ngày Thầy Thuốc chúng ta hãy nói qua một chút về biểu tượng y tế, Lời thề Hippocrates, và Hải Thượng Lãn Ông, được xem là ông tổ của Đông y Việt Nam.

Biểu tượng ngành y

Biểu tượng nghề y sĩ là một cây gậy với một con rắn quấn quanh, gọi là Gậy Aesculapius hay Gậy Asklepios, dùng tên của vị thần thuốc men trong thần thoại Hy Lạp. Vị thần này có tên Hy Lạp là Asklepios và tên La Mã là Aesculapius, được xem là một vị thần hiền dịu, chữa lành các bệnh tật về thể xác cũng như tinh thần của con người. Các tín hữu của thần này lập các đền thờ gọi là asclepions, đền thờ Asklepios, đền thờ chữa bệnh. Đền thờ lớn nhất tọa lạc trong một khu vườn rộng rãi ở Corinth, một thành phố rất lớn thời cổ đại. Người bệnh khắp nơi đến đền thờ, ngủ lại đêm để chờ lấy thuốc, và thường cúng cho thần một con gà.

Aesculapius có nhiều con, kể cả Hygieia, nữ thần của sức khỏe, từ đó có chữ hygiene (vệ sinh), và Panaceia, nữ thần chữa bệnh, từ đó có chữ panacea, thần dược vạn năng.

Gậy Aesculapius là biểu tượng của y tế tại nhiều nơi trên thế giới kể cả American Medical Asociation và Bộ Y Tế Việt Nam.

Tuy vậy, ngày nay, nhiều nơi đã nhầm lẫn và dùng Gậy Caduceus làm biểu tượng y tế. Gậy Caduceus (phát âm /kəˈdjuːsiəs, -ʃəs/, từ tiếng Hy Lạp kerykeion κηρύκειον) là một cây gậy ngắn với hai cánh ở đầu và hai con rắn quấn quanh thân.

Gậy này trước là do Iris mang. Iris là thần thông tin của nữ thần Hera, vợ của vua trời Zeus. Sau này, gậy này đổi tên là Đũa Thần của Hermes, vì thần Hermes mang nó. Gậy này về sau lại là biểu tượng của thần Mercury, hành tinh trong Thái dương hệ.

Dù chẳng liên hệ gì đến y ‎ tế, ngày nay gậy Caduceus được dùng là biểu tượng y tế nhiều nơi, chỉ vì người ta lẫn lộn nó với gậy Asclepius.

Hippocrates và Lời thề Hippocrates

Hippocrates (khoảng 460 – 370 Trước Công Nguyên) là một y sĩ Hy Lạp thời cổ đại và được xem là tổ phụ của nền y khoa Tây phương. Hippocrates khởi xướng một nền y khoa có tính cách khoa học và bị chống đối kịch liệt bởi hệ thống y khoa của Hy Lạp thời đó là hệ thống chữa bệnh một nửa là y học một nửa là pháp thuật phù thủy. Vì các chống đối này mà Hippocrates bị ở tù 20 năm. Ở trong tù ông viết quyển "Cơ Thể Phức Tạp", nhiều điều trong đó về cơ thể con người vẫn đúng cho đến ngày nay.

Y khoa các nước Tây phương (và có lẽ mọi quốc gia trên thế giới ngày nay) có "Lời Thề Hippocrates" cho các bác sĩ tuyên thệ khi vào nghề. Ở Việt Nam ta còn gọi là “Lời thề Y đức”. Hiện nay lời thề Hippocrates có vài phiên bản mới. Sau đây là phiên bản nguyên thủy của lời thề Hippocrates:

I swear by Apollo, the healer, Asclepius, Hygieia, and Panacea, and I take to witness all the gods, all the goddesses, to keep according to my ability and my judgment, the following Oath and agreement:

To consider dear to me, as my parents, him who taught me this art; to live in common with him and, if necessary, to share my goods with him; To look upon his children as my own brothers, to teach them this art.

I will prescribe regimens for the good of my patients according to my ability and my judgment and never do harm to anyone.

I will not give a lethal drug to anyone if I am asked, nor will I advise such a plan; and similarly I will not give a woman a pessary to cause an abortion.

But I will preserve the purity of my life and my arts.

I will not cut for stone, even for patients in whom the disease is manifest; I will leave this operation to be performed by practitioners, specialists in this art.

In every house where I come I will enter only for the good of my patients, keeping myself far from all intentional ill-doing and all seduction and especially from the pleasures of love with women or with men, be they free or slaves.

All that may come to my knowledge in the exercise of my profession or in daily commerce with men, which ought not to be spread abroad, I will keep secret and will never reveal.

If I keep this oath faithfully, may I enjoy my life and practice my art, respected by all men and in all times; but if I swerve from it or violate it, may the reverse be my lot.

 
 

Tôi tuyên thệ với Apollo, thần chữa bệnh, Asclepius, Hygieia, và Panacea, và tôi minh chứng với tất cả các nam thần, các nữ thần, tôi gìn giữ, tùy theo khả năng và thẩm định của tôi, lời thề sau đây:

Yêu kính, như là cha mẹ tôi, người đã dạy tôi môn học này; sống hòa nhã với thầy và, nếu cần, chia sẻ tài sản với thầy; chăm sóc con cái thầy như là anh chị em tôi, và dạy họ môn học này.

Tôi sẽ kê toa vì lợi ích của bệnh nhân, tùy theo khả năng và thẩm định của tôi, và không bao giờ làm hại ai.

Tôi không bao giờ đưa thuốc giết người cho bất kì ai hỏi tôi, và sẽ không tư vấn một kế hoạch như vậy; và cũng như thế tôi sẽ không cho bất kì người phụ nữ nào một dụng cụ phá thai.

Nhưng tôi sẽ giữ tinh khiết cho đời tôi và cho nghề nghiệp của tôi.

Tôi sẽ không giải phẩu để lấy sạn, kể cả đối với bệnh nhân biểu lộ là mang bệnh này; tôi sẽ dành việc giải phẩu cho những y sĩ, chuyên gia về bệnh này.

Mỗi căn nhà tôi bước vào, tôi bước vào vì lợi ích của bệnh nhân của tôi, giữ gìn tôi khỏi mọi ý đồ xấu xa và mọi cám dỗ và đặc biệt là khỏi các khoái lạc tình yêu với phụ nữ hay với nam giới, dù họ là người tự do hay nô lệ.

Tất cả mọi điều tôi biết trong khi hành nghề hay trong giao tiếp với mọi người, mà không nên để lộ ta ngoài, tôi sẽ giữ bí mật và sẽ không bao giờ tiết lộ.

Nếu tôi giữ lời thề này một cách thành khẩn, tôi sẽ được an hưởng đời tôi và thực hành nghề tôi, được mọi người kính trọng mãi mãi; nhưng nếu tôi đi trái đường và vi phạm lời thề, những điều ngược lại sẽ đến với tôi.

(TĐH dịch)


Phiên bản của Bộ Y Tế Việt Nam có thể tìm thấy ở đây
.

Ông tổ Đông Y Việt Nam

Ở Âu Mỹ, Hippocrates của Hy Lạp (460 B.C. – 377 B.C.) được xem là thủy tổ của y học.

Ở Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông ngày nay được xem là biểu tượng cho y sĩ. Hải Thượng Lãn Ông (“Ông già lười Hải Thượng”) là biệt hiệu của danh y Lê Hữu Trác.

Lê Hữu Trác sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý 1720 tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Khi ấy, 20 tuổi, ông vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, nhưng xã hội bấy giờ rối ren, các phong trào nông dân nổi dậy khắp nơi, ông bắt đầu nghiên cứu thêm binh thư và võ nghệ, “nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình”.
Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, nhiệt tình chữa khỏi.

Trong thời gian hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông thường đọc “Phùng thị cẩm nang” và hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, bèn đem hết những hiểu biết về y học truyền cho ông.

Ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu “Hải Thượng Lãn ông”. Hải Thượng là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là xã Bầu Thượng quê mẹ. “Lãn ông” nghĩa là “ông lười”, ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi.

Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ “Y tôn tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng Lãn ông.

Ông qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng, (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn.

Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, kế thừa xuất sắc sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh thiền sư. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 22 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh là công trình y học suất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh ký sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học. (Theo Wikipedia)

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành


Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa

Y đức và Đạo đức học y khoa

Posted: 25 Feb 2011 01:04 PM PST

Chào các bạn,

Lương y như từ mẫu và đạo đức thầy thuốc rất cao. Nghề thầy thuốc thế giới có những chuẩn mực đạo đức rõ ràng để các thầy thuốc có thể theo đó mà làm việc.

Nhân ngày thầy thuốc, Diệu Sương giới thiệu đến các bạn một bài viết khá đầy đủ về Đạo đức học cho thầy thuốc, của tác giả Huỳnh Tấn Tài, Đại Học Illinois, USA.

Mời các bạn click vào link dưới đây để đọc và download

Chúc các bạn một ngày từ ái.

Diệu Sương

Y đức và Đạo đức học y khoa


Filed under: Giáo dục Tagged: Giáo dục

Đi hội chứ không phải đi… “cướp”!

Posted: 25 Feb 2011 01:03 PM PST

Tác giả: Khánh Linh (thực hiện)

“Còn như bây giờ, chính những người làm văn hóa lại góp phần “cải biên” hội cổ truyền thì còn nói được ai? Người soạn văn bản luật quy định về hoạt động văn hóa lại không hiểu rõ văn hóa. Cấm đủ thứ chuyện không đáng cấm thì làm sao có thể chấn chỉnh được hoạt động lễ hội? Xin hãy trả lại quyền sáng tạo văn hóa cho người dân và hãy trở về học dân xem họ hiểu thế nào là hội!” – GS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian.

GS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian

Mạnh ai nấy “cướp”

- Trong một số hội dân gian cổ truyền người ta thường cầu được may mắn. Như hội đánh phết, từ xưa đã có quan niệm “ai giành được quả phết về tay mình thì may mắn cả năm”. Kết quả như báo chí phản ánh là “hàng trăm thanh niên lao vào tranh cướp, thậm chí ẩu đả”. Quan niệm may mắn lại dẫn đến sự tranh cướp, ẩu đả là đúng hay sai? GS lý giải thế nào về hiện tượng này?

- Câu chuyện bạn vừa nhắc đến, hay chuyện tranh cướp hoa tre ở hội Gióng phản ánh cách ứng xử của xã hội. Xưa kia mọi người tôn trọng sự may mắn của người cướp được vật thiêng. Nay thì người ta giành giật nhau để có sự may mắn. Vì sao ư? Trong xã hội đồng tiền lên ngôi, may mắn được người ta tin là sẽ đẻ ra đồng tiền, thì người ta phải tranh giành thôi. Cứ nhìn cảnh xã hội đổ xô về đền Bà Chúa Kho để vay đầu năm, rồi trả cuối năm thì rõ. Bà Chúa Kho chỉ là bà chúa giữ kho, có phải “cơ quan tín dụng” đâu, nhưng vì xã hội đã “cố tình” giải thích chữ kho khác đi, vậy là người kinh doanh hối hả tới, người không kinh doanh cũng hối hả tới luôn.

Những gì xảy ra ở lễ hội phản ánh quan niệm của xã hội thôi. Sự tranh cướp xuất phát từ thái độ đua tranh không lành mạnh để giành quyền lợi vật chất cho mình, không ai biết tôn trọng ai. Cứ ra đường, quan sát cách cả xã hội tham gia giao thông là thấy rõ, mạnh ai nấy đi, mạnh ai nấy lách. Khi đến với đình chùa thì họ đem cái vụ lợi vật chất để áp dụng vào toàn bộ hành vi ứng xử của họ, nên mới có nhiều câu chuyện đáng buồn như thế.

Nguyễn Văn Tèo thành Nguyễn Văn… William?

- Nói như GS thì bối cảnh xã hội đã khiến chủ nhân của lễ hội lẫn người tham gia lễ hội bị biến tướng. Là chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian, chắc GS đã đi khắp các vùng quê, vậy nhiều vùng có còn các lễ hội giữ được bản chất lễ hội của dân, của làng không?

-Thứ nhất, phải nói rõ là trước đây không có khái niệm lễ hội. Từ lễ hội là do nghiên cứu theo cách nhận thức duy lý, phân tích tính, vốn xuất hiện vào thời kỳ cơ khí hóa, nên mới tách biệt phần lễ là nghiêm trang, phần hội là vui vẻ.

Khái niệm này hoàn toàn không phù hợp với cách nhận thức của người phương Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng. Người Việt Nam nhìn sự vật là tổng thể, hội là hội. Lúc nào nghiêm trang, lúc nào vui vẻ chỉ là thành tố của một tổng thể hội thôi. Người dân chỉ nói làng tôi mở hội, làng tôi đóng đám, làng tôi vào đám, người chủ trì hội gọi là cai đám thôi. Cái nhìn tổng thể này xuyên suốt toàn bộ nhận thức, đánh giá mọi vật xung quanh con người.

Phần vui chơi trong hội thực ra mang tính biểu tượng rất rõ. Những phần thi như bắn nỏ, sới vật… là biểu tượng của yếu tố dương, trong khi con gái nấu cơm thi là biểu hiện khả năng của giới âm. Âm dương họp nhau lại. Xin hãy nhìn kỹ xem, sới vật hình tròn, trải chiếu đỏ lên trên là hình tượng mặt trời.

Khi bắt đầu thì hai ông già vào vật trước để lấy khước. Đó là thế hệ cũ bàn giao cho thế hệ mới trên nền mặt trời. Rồi mới đến thanh niên vật, không chọn người vô địch, mà ai thắng được thưởng một vuông nhiễu màu đỏ và một gói chè. Thi vật trên nền năng lượng mặt trời, nên người thắng sẽ được nhiều năng lượng hơn, cũng giống như sự may mắn khi tranh được quả phết, hoa tre vậy. Đó là quan niệm của rất nhiều dân tộc, chứ không riêng của ta.

Bây giờ với sự “hiện đại hóa”, người ta gọi là “phần hội” để có cả vui chơi có thưởng và các môn thể thao vào.

Sau vài chục năm không làm hội (từ những năm 1990, hội mới được khôi phục) nên chuẩn mực của hội xưa không mấy ai nhớ để theo, nên không có trọng tài.

Chỉ còn những người già thì có hồi ức, ký ức về hội xưa. Còn những người từ 50 tuổi trở xuống được đào tạo theo kiểu mới, được tiếp cận với những thứ mà họ nghĩ là hiện đại, thậm chí đã có thời hội bị coi là mê tín dị đoan, nên vô tình họ cũng muốn làm hội theo kiểu mới, chứ không muốn trở về với truyền thống.

- Phải chăng đó là sự đứt gãy? Chúng ta quá lạm dụng khái niệm hiện đại chăng?

- Đúng là sự đứt gãy. Cả hai cặp phạm trù về văn hóa mà chúng ta đang “lạm dụng” đều không đúng.

Cặp phạm trù thứ nhất là truyền thống – hiện đại. Phải phân biệt rõ, hiện đại là phẩm chất, là chất lượng cuộc sống, còn văn hóa là tính cách của cuộc sống. Chất lượng có thể đổi, nhưng tính cách không đổi. Chúng ta đã vô tình phân định, truyền thống đồng nghĩa với quá khứ, hiện đại nghĩa là hôm nay, không lẽ truyền thống lại chỉ đến “trước hôm nay” thôi sao?

Với hội cổ truyền của nhân dân, giá trị của nó rất nhiều mặt, nhưng hạt nhân của nó phải là tính thiêng. Tôi đến hội là để đắm mình trong không gian thiêng của hội, nơi hội tụ của anh linh trời đất. Nơi hội nhập của quá khứ và hiện tại, của tổ tiên và con cháu, để tôi có được những giây phút thăng hoa, để tôi được thoát ra khỏi cái thân phận thường ngày của mình. Trạng thái thăng hoa ấy đã tạo ra rất nhiều hình thức văn học nghệ thuật mang đậm chất dân tộc. Thế nên các cụ mới nói tả tơi xem hội. “Rách” tả tơi vẫn đi, dù chen với nhau vẫn phải đến hội. Hội xưa nếu không có yếu tố thiêng thì không còn hội nữa.

Phải thấy rõ, truyền thống là quá trình động, còn dân tộc thì còn sáng tạo ra truyền thống, truyền thống là hệ thống các tinh hoa, là sự kết tinh văn hóa của các thời kỳ, nó giống như chuỗi ngọc. Ngay cả kết tinh đó cũng đem ra giũa lại thì làm sao còn truyền thống? Cha tôi là Nguyễn Văn Tèo, giờ để “hiện đại” đổi thành Nguyễn Văn William được không? Lẽ ra phải gọi đó là truyền thống và đương đại (chứ không phải là “hiện đại”)

Tương tự như thế là cặp phạm trù dân tộc – hiện đại, không lẽ dân tộc là lạc hậu sao? Không lẽ dân tộc thì không hiện đại, còn hiện đại thì không dân tộc? Thế nên xem truyền hình mới thấy ngập tràn những chương trình “hiện đại”. Lẽ ra phải là dân tộc và ngoại tộc, hay dân tộc và nước ngoài mới đúng.

Đúng là xã hội thay đổi thì văn hóa cũng thay đổi, nhưng không phải mọi thứ trong văn hóa đều phải thay đổi. Như trên đã nói, những giá trị của quá khứ mang ý nghĩa tinh hoa và là biểu trưng của truyền thống sáng tạo của dân tộc thì việc biến đổi nó phải rất thận trọng, nếu không thì tự mình sẽ đánh mất lịch sử của chính mình

Không còn cái “thiêng” thì không còn hội nữa

- Vậy giá trị cốt lõi nhất của hội cổ truyền là gì, thưa GS?

- Với hội cổ truyền của nhân dân, giá trị của nó rất nhiều mặt, nhưng hạt nhân của nó phải là tính thiêng. Tôi đến hội là để đắm mình trong không gian thiêng của hội, nơi hội tụ của anh linh trời đất. Nơi hội nhập của quá khứ và hiện tại, của tổ tiên và con cháu, để tôi có được những giây phút thăng hoa, để tôi được thoát ra khỏi cái thân phận thường ngày của mình. Trạng thái thăng hoa ấy đã tạo ra rất nhiều hình thức văn học nghệ thuật mang đậm chất dân tộc. Thế nên các cụ mới nói tả tơi xem hội“. “Rách” tả tơi vẫn đi, dù chen với nhau vẫn phải đến hội. Hội xưa nếu không có yếu tố thiêng thì không còn hội nữa.

Còn bây giờ, khái niệm “lễ hội” được dùng tràn lan. Nó khác hẳn so với hội cổ truyền. Nó đáp ứng cho những mục đích tuyên truyền chính trị, tôn vinh ngành nghề, tuyên dương thành tích, thu hút du lịch, mở hội chợ v.v. Nên nó cần một hình thức “hoành tráng”, vừa là một cuộc mít tinh vừa có thêm phần biểu diễn nghệ thuật theo kiểu “chương hồi”; vừa có khai mạc của các vị lãnh đạo, vừa có biểu diễn theo kịch bản.

Nhân dân là người đến xem, thường ngồi, hoặc đứng sau hàng ghế các quan chức. Họ được hưởng thụ những món văn hóa của giới chuyên nghiệp chứ không phải là hội của họ. Gọi những tổ chức như thế là “lễ hội” hay là gì thuộc về quyền của mọi người. Có điều, đừng lẫn nó với hội cổ truyền và nhất là đừng đem nó làm “mẫu chuẩn” để “hiện đại hóa” hội xưa.

Tục “cướp hoa tre” lấy lộc trong lễ hội Gióng. Ảnh: Hà Tùng – SGGP

- Ngay cả những hội truyền thống ngày xưa cũng ít nhiều biến dạng đấy chứ, thưa GS? Trong bối cảnh xã hội mà GS đã phân tích, khi cả người đi hội lẫn chủ nhân của hội đều là sản phẩm của sự đứt gãy, phải làm sao để trở về với những giá trị tốt đẹp của hội ngày xưa?

- Trách nhiệm của nhà nước, của chính quyền các cấp phải vào cuộc thôi. Phải tuyên truyền cho dân phân biệt hội làng của dân và cái gọi là lễ hội thời nay. Nhưng quan trọng hơn cả là cần có một hệ chuẩn mực không chỉ cho hoạt động hội, mà cho mọi hoạt động của xã hội.

Ví dụ, hãy cứ điều chỉnh hành vi tham gia giao thông đi đã. Còn như bây giờ, chính những người làm văn hóa lại góp phần “cải biên” hội cổ truyền thì còn nói được ai? Người soạn văn bản luật quy định về hoạt động văn hóa lại không hiểu rõ văn hóa, cấm đủ thứ chuyện không đáng cấm thì làm sao có thể chấn chỉnh được hoạt động lễ hội? Xin hãy trả lại quyền sáng tạo văn hóa cho người dân và hãy trở về học dân xem họ hiểu thế nào là hội!


Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa

Người Việt đi đẻ thuê ở Thái Lan

Posted: 25 Feb 2011 01:02 PM PST

BBC

Phụ nữ Việt Nam vừa được giải cứu trong đường dây đẻ thuê ở Bangkok.

14 phụ nữ trẻ người Việt vừa được cảnh sát Thái Lan giải cứu trong đường dây đẻ thuê cho chủ Đài Loan.

Những người này được đưa từ các tỉnh phía Nam sang Thái Lan với hứa hẹn ban đầu là "làm việc gì đó phù hợp với sức khỏe".

Tuy nhiên sau khi đến Thái Lan, nhóm phụ nữ người Việt, tuổi từ 19 đến 26 đã bị chủ thu giữ hộ chiếu.

Phần lớn họ bị giam lỏng trong nhà, được cho ăn uống đầy đủ. Bảy trong số các phụ nữ này đã mang bầu.

Báo Thái Lan đưa tin phụ nữ người Việt được đưa sang Thái để tham gia đường dây đẻ thuê cho chủ Đài Loan.

Họ được chăm sóc ăn uống, được trả 5.000 USD cho mỗi lần sinh đẻ.

Khi có bầu mỗi cô nhận trước 1.000 USD.

Số còn lại sẽ được giao cho gia đình ở Việt nam sau khi sanh.

Hộ chiếu của các phụ nữ này nói đến nơi cư trú là Bạc Liêu, An Giang, Hậu Giang và Cà Mau.

Chủ của đường dây này, báo Thái Lan cho hay, là người Đài Loan thực hiện dịch vụ đẻ thuê qua phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.

Một số khách hàng của đường dây đẻ thuê là người nước ngoài giàu có.

Cảnh sát Thái Lan đã khởi tố người chủ Đài Loan (được biết đến dưới tên Xieng Lung Lo) các tội danh như, cung cấp chỗ ở, che giấu người nước ngoài trái phép ở Thái Lan; buôn bán người; sử dụng lao động bất hợp pháp.

Được biết ông Xieng Lung Lo từng bị kết tội cưỡng ép phụ nữ Việt Nam và Campuchia đẻ thuê ở Đài Loan.

Sang Thái Lan làm ăn không được bao lâu ông bị phát hiện.

Vụ việc vỡ lở vì một số phụ nữ trong đường dây đẻ thuê đã bí mật liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam ở Thái Lan để nhờ can thiệp.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

Đưa công nhân Việt Nam ra khỏi Libya

Posted: 25 Feb 2011 01:01 PM PST

BBC

Người di tản tìm đường rời khỏi Libya
Di tản khỏi Libya bằng hàng không gặp khó khăn vì các chuyến bay thương mại đã bị hủy

Trong khi tình hình bất ổn tại Libya vẫn tiếp tục, giới chức Việt Nam cho hay họ sẽ “bằng mọi cách” đưa hàng ngàn người lao động Việt Nam rời khỏi nước này.

Được biết có tới khoảng 10 ngàn công nhân xuất khẩu lao động Việt Nam đang làm việc tại đây và hiện một số đã và đang được đưa về nước.

Hãng AP đưa tin trích thuật lời ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cục trưởng cục quản lý lao động ngoài nước, cho biết khoảng 2 ngàn công nhân Việt Nam đang được di tản bằng đường bộ sang các nước láng giềng của Libya và sau đó sẽ được lên máy bay đưa về Việt Nam.

Ông Quỳnh cũng nói thêm là chính phủ Việt Nam đang làm việc với các nhà thầu ngoại quốc để đưa con số 8 ngàn công nhân còn lại về nước. Phần lớn họ làm việc trong ngành xây dựng và có tới khoảng 5 ngàn người làm việc tại thủ đô Tripoli.

Trong khi đó hãng AFP trích thuật ông Lê Hữu Hùng, tham tán tại tòa đại sứ Việt Nam ở thủ đô Tripoli, cho biết: “Cho tới nay không có ai bị thương nhưng hiện đang ở trong tình trạng khó khăn, thiếu lương thực, nước uống và phương tiện đi lại”.

“Chúng tôi đang cố gắng di tản họ bằng mọi cách,” ông nói thêm.

Trước đó, hôm 18/1, Cục quản lý lao động ngoài nước cũng đã có Công văn số 211 yêu cầu các doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam sang Libya làm việc phải chỉ đạo cán bộ quản lý tại nước Bắc Phi này theo dõi và báo cáo kịp thời nếu có ảnh hưởng tới tính mạng, công ăn việc làm và thu nhập của công nhân.

Truyền thông tại Việt Nam cũng đưa tin về việc một số công nhân người Việt đã được di tản.

Tàu đưa người di tản bằng đường thủy từ thành phố BenghaziTàu đưa người di tản bằng đường thủy từ thành phố Benghazi

Theo tờ Sài gòn Tiếp Thị, khoảng 200 người lao động Việt Nam đầu tiên theo dự trù sẽ về đến Hà Nội hôm nay, 25/2, nhưng hiện vẫn đang bị kẹt lại, trong khi đó một nhóm 400 người khác đã tới Ai Cập an toàn.

Trong cuộc phỏng vấn với Sài gòn Tiếp Thị, đại sứ Việt Nam tại Ai Cập, ông Phạm Sỹ Tam, cho biết Sứ quán Việt Nam tại Ai Cập đã cử người túc trực ở điểm biên giới giữa Ai Cập và Libya để đón người lao động Việt Nam di tản qua ngả này.

Ông Tam được trích thuật nói rằng khó khăn hiện nay là làm sao thu xếp các chuyến bay để đưa công dân Việt Nam về nước và việc này tùy thuộc vào sự trợ giúp của chính phủ Ai Cập, nước hiện đang có một số lượng lớn công dân nhiều nước khác nhau bỏ chạy khỏi Libya đổ sang nước này.

Ngoài ra một số người lao động Việt Nam làm việc cho các công ty Thổ Nhĩ Kỳ tại Libya đang đi bằng tàu biển đến Thổ Nhĩ Kỳ, theo ông Phạm Quang Tùng, bí thư thứ nhất tòa đại sứ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ, được Sài gòn tiếp thị trích thuật.

Hiện tại việc di tản ra khỏi thủ đô Tripoli bằng đường hàng không đang gặp khó khăn vì các chuyến bay thương mại đều đã bị hủy và 2 sân bay tại thủ đô Tripoli không hoạt động.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

No comments:

Post a Comment