Thursday, February 24, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Susan Wong – Âm Nhạc Cho Đêm Khuya

Posted: 24 Feb 2011 01:07 PM PST

 
Ca sĩ tiếp theo mà tôi muốn nhắc đến trong chuyên mục "Âm Nhạc Cho Đêm Khuya" là 1 ca sĩ người châu Á. Vâng, tên cô là Susan Wong.

Vốn sinh ra ở Hồng Kông nhưng di cư sang Úc cùng gia đình từ rất nhỏ (7 tuổi) nên khả năng phát âm tiếng Anh của cô thì khỏi phải nói rồi. Cô tốt nghiệp Đại học Trinity College ở London (Anh) chuyên ngành piano, tham gia hát trong dàn hợp xướng và xuất hiện trong bộ phim truyền hình trường học có tựa đề Gilbert & Sullivan & the like và một số cuộc thi piano khác.

Sự nghiệp âm nhạc chuyên nghiệp của cô bắt đầu khi cô tròn 16 tuổi. Lúc đó cha mẹ cô ghi danh cho cô trong một cuộc thi âm nhạc tại Sydney. Chiến thắng tại cuộc thi này, cô có được một hợp đồng thu âm với một trong những công ty âm nhạc lớn ở Hồng Kông – công ty TVB. Tuy nhiên thay vì đến Hồng Kông gặp gỡ các nhà sản xuất TVB (những người thực sự muốn được ký hợp đổng với cô) thì cô quyết định rằng sự nghiệp âm nhạc của cô nên tạm gác lại và cô muốn chuyên tâm vào con đường nghiên cứu Đại học ở Úc.

Sau khi tốt nghiệp đại học, cô trở lại Hồng Kông vào năm 1997 để giúp điều hành doanh nghiệp kế toán của gia đình, vào thời gian này, cô đã đạt được chứng chỉ CPA của mình.

Susan bắt đầu thu âm bài hát yêu thích tiếng Anh của mình và thực hiện album mang tên Close To You. Khi album ra mắt 2002, nó được đánh giá cao và nhanh chóng trở thành album được yêu thích nhất của các cửa hàng âm nhạc. Các album đã nhanh chóng leo lên các bảng xếp hạng và đạt doanh thu cao ở các nước như Hong Kong, Singapore, Thái Lan và Indonesia. Điều này giúp Susan trở thành ca sĩ hát tiếng Anh trong suốt khu vực Đông Nam Á. Việc kết hợp với nhiều nhà sản xuất âm nhạc nổi tiếng, làm album, thu âm giọng hát với nhiều chuyên gia giỏi làm cho các bản thu âm của Susan mang chất lượng cao..Mời các bạn thưởng thức vài bài tiêu biểu của cô, tất nhiên là hoàn toàn bằng tiếng Anh rồi!

The Way We Were (2004)

 
The winner takes it all

 
Love Will Keep Us Alive

 
Fly me to the moon


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Đạo đức là gì và quan trọng thế nào đến sự nghiệp của bạn?

Posted: 24 Feb 2011 01:06 PM PST

Chào các bạn,

Giả sử bạn là giám đốc nhân viên của một công ty đang đi tuyển thêm nhân viên cho công ty, thì trong các đặc điểm sau đây của một người, điều gì quan trọng nhất cho bạn trong việc tuyển mộ: kinh nghiệm, bằng cấp, thành thật, thông minh, teamwork, khiêm tốn, làm việc siêng năng, nói năng hoạt bát…?

Có lẽ bạn sẽ muốn trả lời "Mọi yếu tố đều quan trọng" (chọn hết cho chắc ăn :-) ) Tất nhiên là như thế, tuyển nhân viên thì tìm người càng có nhiều cái tốt càng hay. Nhưng bạn vẫn phải biết đâu là ưu tiên một đâu là ưu tiên hai trong các yếu tố tuyển chọn, vì thường xuyên là rất ít ứng viên hội đủ tất cả mọi điều kiện l‎ý tưởng bạn muốn.

Trong khi các bạn suy nghĩ câu trả lời, mình sẽ cho các bạn câu trả lời của mình. Mình có thể đặt các yếu tố theo thứ tự ưu tiên như sau: (1) Khiêm tốn, thành thật, teamwork, làm việc siêng năng, (2) nói năng hoạt bát, thông minh, kinh nghiệm, bằng cấp.

• Trong nhóm số 1 thì đạo đức là chính. Nhóm số 2 thì tài năng là chính.

Nhưng tại sao mình lại để nhóm 1 ưu tiên cao hơn nhóm 2 ? Thưa, vì tài năng và kinh nghiệm thì rất dễ dạy. Nếu một nhân viên chưa có kinh nghiệm, lớ nga lớ ngớ, nhưng chịu học hỏi, ta có thể huấn luyện người ấy thành nhân viên thượng thừa rất dễ. Nhưng nếu người có tính khí kiêu căng, dối trá, hoặc hay ganh tị và gây gổ với đồng nghiệp, hoặc làm việc thiếu siêng năng và quyết tâm, thì rất khó để thay đổi tính khí người đó.

Đạo đức là cách ta sống với những người quanh ta, thường thuộc về "tính khí" của ta—khiêm tốn, thành thật, siêng năng, kính trọng vui vẻ với mọi người. Tài năng là những gì ta biết có tính cách kỹ thuật như ly' luận, phân tích, luật, kinh tế, vi tính, thuốc men…

Khi bạn tuyển người cho công ty, tức là bạn và các đồng nghiệp sẽ phải làm việc chung với người ấy, thì cũng như đi kiếm vợ kiếm chồng. Việc quan trọng nhất là tìm người mà bạn có thể sống chung hòa bình vui vẻ lâu năm, chứ không phải là người đó tài ba đến đâu. Người rất tài về việc gì đó, mà ở với mình chỉ 3 ngày đã bắt đầu gây lộn, thì cũng như không! Thà mình ở một mình còn hơn.

Cho nên, các bạn cần hiểu rõ căn bản này. Nếu bạn không tự luyện tập đạo đức (mà chẳng trường nào dạy bạn) thì bạn sẽ gia nhập cuộc đời như người bại liệt, rất khó cho bạn tiến xa được sau này. Ở đâu thì người có bằng cấp cũng nhiều như lá rụng mùa thu. Trong số những người có bằng cấp đó, thiểu số người mạnh về đạo đức sẽ là những người thành công vượt trội.

• Cho đến lúc này, chúng ta đã nói đến "đức" và "tài" như là hai điều biệt lập, theo kiểu thiên hạ thường nói xưa nay. Nhưng đó lại là một lầm lẫn lớn. Đức và tài thực ra không biệt lập, mà đạo đức là nền tảng để phát triển tài năng.

Tại sao?

Rất dễ hiểu. Người khiêm tốn thì xử với ai cũng như thầy nên rất nhiều người xung phong chỉ cho kiến thức. Người thành thật thì ai cũng tin nên sẽ chỉ cho nhiều bí mật nghề nghiệp. Người siêng năng (tức là sử dụng thời giờ của công ty một cách chân thành) thường được giao nhiều công việc, cho nên kinh nghiệm rất nhiều. Người làm việc nhóm giỏi (tức là được các bạn trong nhóm yêu thương kính phục) thì đương nhiên là sẽ tiếp thu được nhiều kiến thức của các bạn, đồng thời giỏi phối hợp và quản lý.

Cho nên khi nói rằng tài và đức quan trọng ngang nhau, người ta hiểu rất sai bản chất của vấn đề. Đức là cánh tay mở toang mọi cánh cửa u minh của đầu óc chúng ta, để ánh sáng trí tuệ tràn vào, để tài năng chúng ta có thể phát triển. Đức là cái nền của tài.

Các chương trình giáo dục ngày nay chẳng còn biết dạy đạo đức là gì. Thế thì các bạn phải biết tự học và tự luyện tập đạo đức. Phải biết tự lo cho cuộc đời và tương lai của mình.

Và các bạn nên nhớ rằng, võ sĩ vô địch cũng phải luyện tập hàng ngày, cả đời. Siêu sao ca nhạc cũng phải luyện hát hàng ngày, cả đời. Cho nên mỗi khi ta nói "luyện tập" các bạn nên nhớ chữ "luyện tập" luôn luôn có chữ "hàng ngày, cả đời" nằm trong đó. (Và đương nhiên là "luyện tập" không chỉ có nghĩa là "đọc bài này trong 10 phút").

Chúc các bạn một ngày nhiều đạo đức.

Mến,
Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Các diễn văn làm thay đổi thế giới – Bài diễn văn trên đoạn đầu đài – Vua Charles I

Posted: 24 Feb 2011 01:05 PM PST

Vua Charles I của Anh (1600 – 1649) là vua của Anh, Scotland và Ireland từ 1625 đến 1649. Charles I là một thành viên của Triều đại Stuart. Ông là con trai của James I của Anh và Anne của Đan Mạch. Ông lên ngôi vua ngày 27 tháng 3 năm 1625 sau khi cha qua đời. Triều đại Charles I được khắc họa bởi những khó khăn về tài chính và xung đột giữa Triều Đình và Nghị Viện với hạt nhân là xung đột về các vấn đề tôn giáo và kết thúc bằng cuộc Nội Chiến.

Charles cưới Henrietta Maria, con gái của vua nước Pháp và là một người theo Công giáo Roman, không lâu sau khi lên ngôi, khơi mào cho sự chia cắt giữa Charles với đại bộ phận dân chúng là những người Kháng Cách (Protestant). Sự chia cắt này ngày càng được khoét sâu hơn bởi khuynh hướng tôn giáo nghiêng về Công giáo Roman trong các quyết định đối nội và đối ngoại của ông.

Thế nên tuy "thừa hưởng" những vấn đề về tài chính từ thời cha và thường trong tình trạng khó khăn, ông luôn thất bại khi kêu gọi sự ủng hộ về tài chính của Nghị Viện do không đáp ứng các yêu cầu của giới quý tộc. Đức Vua không thể tăng thuế nếu không được Nghị Viện chấp thuận. Không những thế, lần đầu tiên trong lịch sử nước Anh, Nghị Viện yêu cầu được chất vấn các cố vấn của Đức Vua. Từ năm 1625, sau khi Charles I lên ngôi, đến 1629, Nghị Viện đã được triệu tập và giải tán ba lần. Mười một năm sau đó, Nhà Vua đã cố gắng cai trị đất nước mà không triệu tập Nghị Viện bằng cách bán các đặc quyền kinh tế và thu thuế xây dựng hải quân (Ship Money). Thuế này theo truyền thống chỉ được thu mỗi khi đất nước đối mặt với hiểm họa xâm lăng, thế nhưng Charles ra lệnh thu thuế này liên tiếp mỗi năm, và một lần nữa, ông lại bị dân chúng phản đối vì lạm thu thuế.

Đỉnh cao của xung đột giữa Triều Đình và Nghị Viện là cuộc Nội Chiến nổ ra vào cuối 1642. Cuộc Nội Chiến này cũng mang tính chất một cuộc chiến giữa những người ủng hộ Anh Giáo (Anglicans) và Công Giáo (Catholics) phía Bắc và Tây Nam nước Anh, và những nguời ủng hộ Thanh Giáo (Puritans) tập trung ở London và Đông Nam nước Anh. Kết quả là phe Triều Đình thất trận. Charles bị bắt và trao cho Nghị Viện vào tháng 1/1647. Tháng 10/1647 ông trốn thoát và huy động quân đội Scotand để tiếp tục chiến tranh. Một lần nữa quân Nghị Viện lại thắng và Charles bị bắt vào tháng 8/1648. Tháng 1/1649, Nghị Viện quyết định đưa Charles ra xét xử với cáo buộc về "phát động chiến tranh với Nghị Viện" và phải chịu trách nhiệm về tất cả những tổn thất, mất mát mà cuộc Nội Chiến đã gây ra cho đất nước.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Anh, một vị vua bị đem ra xét xử. Charles đã không thừa nhận quyền xét xử của Nghị Viện đối với ông và từ chối bào chữa trước các cáo buộc của Nghị Viện. Cuối cùng, dưới sự kêu gọi của tướng Oliver Cromwel, Nghị Viện cũng đã thông qua án tử hình đối với ông. (http://www.spartacus.schoolnet.co.uk/STUcharles1.htm)

Edward Hyde, tác giả cuốn History of the Great Rebellion (Lịch sử về cuộc Đại Nổi Loạn) nhìn nhận các sai lầm của Charles nhưng cũng đưa ra những nhận xét trực giác về ông như sau: “…nếu từng có người nào thì ông ấy là người xứng đáng nhất với danh hiệu con người lương thiện – con người yêu công lý đến mức không có sự cám dỗ nào có thể khiến ông làm điều sai trái, ngoại trừ điều rất đáng phẫn nộ về ông rằng ông tin đó là chân chính." (http://www.britannia.com/history/monarchs/mon47.html)

Tinh thần "con người lương thiện" này đã được ông thể hiện rõ ràng trong bài diễn văn cuối cùng của mình trước khi bị chém đầu. Trong bài diễn văn của mình, ông cũng nêu lên quan điểm tự do trong các vấn đề tôn giáo và giải quyết xung đột bằng con đường đối thoại, hòa bình và trong trật tự: "Một hội nghị tôn giáo quốc gia phải được triệu tập tự do, tranh luận tự do giữa mọi người, để giải quyết vấn đề này, khi mọi ý kiến được lắng nghe một cách tự do và rõ ràng… Tự Do của họ [Nhân Dân] có được khi có Chính Phủ; tức là Luật Lệ nhờ đó mà Thần Thánh của họ là do họ lựa chọn". Đây là một điểm mới trong truyền thống "thánh chiến" của Ky-tô giáo và mới cả với chính tính cách bảo thủ và kiên định của Charles.

–oOo–

    "Sẽ rất ít người ở đây nghe thấy ta, do vậy, ta sẽ nói một chút với mọi người ở đây. Rõ ràng, Ta có thể giữ im lặng cho mình, nếu Ta không nghĩ rằng giữ im lặng cho mình sẽ làm cho một số người cho rằng Ta phạm tội và đáng bị trừng trị. Nhưng Ta nghĩ rằng nhiệm vụ của Ta trước tiên là với Chúa và rồi với đất nước, là Ta phải chứng minh rõ ràng Ta là một người chân thành và một vị vua tốt cũng như một Ki Tô hữu ngoan đạo. Ta sẽ bắt đầu trước tiên với sự trong sạch của mình. Thật sự, Ta nghĩ rằng chẳng cần thiết lắm để Ta nhắc lại điều này nữa, vì cả thế giới biết rằng Ta không bao giờ khởi phát Chiến Tranh với hai Nghị Viện. Và Ta xin Chúa, là người mà Ta sẽ sắp sửa phải đối diện, làm chứng rằng Ta không bao giờ có ý định xâm phạm đến đặc quyền của họ. Họ đã bắt đầu chống lại ta, họ đã bắt đầu chống lại chính Dân Quân, họ thừa nhận rằng, Dân Quân thuộc về ta, nhưng họ nghĩ rằng lấy Dân Quân khỏi tay Ta là phù hợp. Và nói ngắn gọn, nếu bất kỳ ai xem lại những ngày tháng của các Đặc lệnh, đặc lệnh của họ và của Ta, cũng như các Tuyên Ngôn, sẽ thấy rõ rằng họ đã bắt đầu những chuyện bất hạnh này chứ không phải Ta. Do vậy, vì Ta bị cáo buộc vào những tội khủng khiếp này, Ta hi vọng ở Chúa rằng Chúa sẽ rửa sạch những tội lỗi ấy cho Ta chứ Ta sẽ không làm việc đó, Ta ở trong khoan dung. Chúa nghiêm cấm Ta cáo buộc hai Nghị Viện; sẽ không cần thiết cho bất kỳ viện nào, Ta hi vọng rằng họ không phạm tội này; vì Ta rất tin rằng những biện pháp bệnh hoạn giữa họ và Ta là nguyên nhân chính gây nên tất cả những sự đổ máu này; vì thế bằng cách nói ra, như Ta thấy Ta không phạm tội, Ta hi vọng (và cầu Chúa) rằng họ cũng có thể thấy là họ không phạm tội; nhưng cho tất cả những điều này, Chúa nghiêm cấm Ta trở nên một Ki Tô hữu bệnh hoạn đến nỗi không nói rằng các Phán Quyết của Chúa về ta là công chính. Nhiều lần Người đã thực thi Công Lý bằng một Hình Phạt bất công, điều đó là bình thường; Ta sẽ chỉ nói rằng một Hình Phạt bất công mà Ta đã phải gánh chịu để chờ thực thi, bây giờ được thực hiện trừng phạt bởi một Hình Phạt bất công đối với Ta; đó là, như Ta đã nói, để cho các người thấy Ta là một người vô tội. 

    Và bây giờ để chứng tỏ với mọi người rằng Ta là Ki Tô hữu tốt; Ta hi vọng có một người tốt (chỉ về Cha Juxon) sẽ làm chứng cho Ta rằng Ta đã tha thứ cho tất cả mọi người, và thậm chí cụ thể cả những người chính yếu gây nên cái chết của Ta. Dù họ là ai, Chúa biết, Ta không muốn biết, Chúa tha thứ họ. Nhưng chưa hết, lòng khoan dung của Ta cần đi xa hơn. Ta mong rằng họ có thể ăn năn, thực sự họ đã phạm một tội lỗi to lớn trong việc này. Ta cầu Chúa, với Thánh Stephen, rằng điều này sẽ không khiến cho họ phải trả giá. Không, không chỉ như vậy, mà là họ có thể đi đúng đường dẫn đến với hòa bình của vương quốc, vì sự khoan dung của Ta điều khiển Ta không chỉ tha thứ cho những con người cụ thể, mà sự khoan dung của Ta điều khiển Ta nỗ lực đến hơi thở cuối cùng cho nền Hòa Bình của Vương Quốc. Vì thế, thưa quý vị, Ta mong ước với cả tâm hồn mình, và Ta hi vọng rằng có một số quý vị đây sẽ tiếp tục thực hiện nó, rằng họ sẽ nỗ lực vì hòa bình của Vương Quốc. Bây giờ, (thưa các ngài), Ta phải cho cả hai viện thấy các ngài đã đi chệch đường như thế nào và đưa các ngài trở lại con đường; trước tiên, các ngài đã đi sai đường rõ ràng là tất cả con đường các ngài đã từng theo, như Ta có thể thấy, là con đường của xâm chiếm. Rõ ràng, đó là một con đường bệnh hoạn, vì sự Xâm Chiếm, (thưa các ngài) theo quan điểm của Ta, không bao giờ công chính, trừ khi có một Chính Nghĩa tốt đẹp, dù là vấn đề có Chính Danh hay không, và khi các ngài vượt ra khỏi Chính Nghĩa này, vấn đề đấu tranh đầu tiên các ngài gặp phải khiến cho con đường của các ngài cuối cùng thành bất công dù nó công chính lúc đầu: Nhưng nếu chỉ là vấn đề Xâm Chiếm, thì đó là một Vụ Cướp lớn lao; như một tên Cướp Biển đã nói với Alexander, rằng Ông ấy là một tên Cướp lớn, còn hắn ta chỉ là một tên Cướp nhỏ mọn; và vì thế, thưa các ngài, Ta thật sự nghĩ rằng con đường các ngài đang theo là hoàn toàn sai lầm. Giờ đây, thưa các ngài, để đưa các ngài trở lại đúng đường, hãy tin rằng các ngài sẽ không bao giờ làm điều gì đúng và Chúa cũng sẽ không bao giờ nâng đỡ để các ngài trở nên thịnh vượng, cho đến khi các ngài trả cho Chúa phần của Chúa, trả cho Vua phần của Vua (đó là, những Người Kế Vị của Ta) và trả cho Nhân Dân phần của Nhân Dân; Ta đối với họ cũng như bất kỳ ai trong các ngài: Các ngài phải trả cho Chúa phần của Chúa bằng cách điều hành đúng đắn Giáo Hội của Người (theo Thánh Kinh) mà hiện nay đang rối ren. Để đưa các ngài về đúng đường, cụ thể hiện nay thì Ta không thể, nhưng chỉ có một cách này. Một hội nghị tôn giáo quốc gia phải được triệu tập tự do, tranh luận tự do giữa mọi người, để giải quyết vấn đề này, khi mọi ý kiến được lắng nghe một cách tự do và rõ ràng.

    Về Nhà Vua, chắc chắn Ta sẽ không (rồi quay về phía người vừa chạm vào cái rìu, và nói, Đừng làm đau cái rìu, có thể làm đau Ta). Cho Nhà Vua, Các Luật Lệ của Vương Quốc sẽ hướng dẫn cho các ngài một cách rõ ràng về điều đó; do đó, vì điều này liên quan đến Riêng ta, Ta chỉ nói sơ qua để các ngài biết.

    Đối với Nhân Dân, Ta thật sự mong họ được Tự Do nhiều như Bất Kỳ Ai có thể có. Nhưng Ta phải nói với các ngài, rằng Tự Do của họ có được khi có Chính Phủ; tức là Luật Lệ nhờ đó mà Thần Thánh của họ là do họ lựa chọn. Điều này không có nghĩa là dính líu vào một Chính Phủ (thưa các ngài) mà hầu như chẳng có gì liên quan đến họ. Một thần dân và một đế vương rõ ràng là khác nhau, và do vậy cho đến khi họ có được điều đó, ý Ta là các ngài đặt nhân dân vào tự do đó như Ta nói, chắc chắn là họ sẽ không bao giờ được hạnh phúc.

    Thưa các ngài, chính vì điều này mà bây giờ Ta ở đây. Nếu Ta đi theo con đường Chuyên Chính, thay đổi toàn bộ Luật Lệ bằng sức mạnh của Lưỡi Gươm, Ta đã không phải đến đây; và do đó, Ta nói với các ngài (và Ta cầu Chúa không bắt các ngài phải chịu trách nhiệm) rằng Ta Là Người Tử Vì Đạo của Nhân Dân.

    Thực tế, thưa các ngài, Ta sẽ không giữ các ngài thêm nhiều nữa vì Ta sẽ chỉ nói với các ngài bấy nhiêu. Rằng trong thực tế Ta có thể mong muốn thêm một ít thời gian nữa, vì Ta đã có thể sắp đặt những điều Ta nói cho có trật tự hơn một chút, và sâu sắc hơn là Ta đã nói một chút. Và, do vậy, Ta hi vọng các ngài sẽ bỏ qua cho Ta.

    Ta đã nói ra Lương Tâm mình. Ta cầu xin Chúa rằng các ngài chọn những con đường tốt nhất cho Vương Quốc và cho sự Cứu Rỗi của chính các ngài.

    Thực tế, thưa các ngài, Ta nghĩ rằng Lương Tâm của Ta về Tôn Giáo đã được toàn Thế Giới biết rất rõ; và do đó, Ta tuyên bố với tất cả các ngài rằng Ta chết như một người Ki Tô hữu, theo quy luật của Giáo Hội Anh Giáo, như Ta đã nhận được từ cha ta. Và Ta nghĩ con người trung thực này sẽ làm chứng cho điều đó …. Ta có một Chính Nghĩa tốt lành và một Đức Chúa nhân từ đứng về phía Ta.

    Ta đi từ một Ngai Vua có thể hư đốn đến một Ngai Vua không thể hư đốn, nơi không thể có phiền nhiễu nào, không phiền nhiễu nào trong Thế Giới đó.”

    (Ngô Quỳnh Linh dịch)

     

    I shall be very little heard of anybody here, I shall therefore speak a word unto you here. Indeed I could hold my peace very well, if I did not think that holding my peace would make some men think that I did submit to the guilt as well as to the punishment. But I think it is my duty to God first and to my country for to clear myself both as an honest man and a good King, and a good Christian. I shall begin first with my innocence. In troth I think it not very needful for me to insist long upon this, for all the world knows that I never did begin a War with the two Houses of Parliament. And I call God to witness, to whom I must shortly make an account, that I never did intend for to encroach upon their privileges. They began upon me, it is the Militia they began upon, they confest that the Militia was mine, but they thought it fit for to have it from me. And, to be short, if any body will look to the dates of Commissions, of their commissions and mine, and likewise to the Declarations, will see clearly that they began these unhappy troubles, not I. So that as the guilt of these enormous crimes that are laid against me I hope in God that God will clear me of it, I will not, I am in charity. God forbid that I should lay it upon the two Houses of Parliament; there is no necessity of either, I hope that they are free of this guilt; for I do believe that ill instruments between them and me has been the chief cause of all this bloodshed; so that by way of speaking, as I finde my self clear of this, I hope (and pray God) that they may too; yet for all this, God forbid that I should be so ill a Christian as not to say that Gods Judgments are just upon me. Many times he does pay Justice by an unjust Sentence, that is ordinary; I will onely say this, That an unjust [6/7] Sentence (Strafford) that I suffered for to take effect, is punished now by an unjust Sentence upon me; that is, so far as I have said, to shew you that I am an innocent man.

    Now for to shew you that I am a good Christian; I hope there is (pointing to D. Juxon) a good man that will bear me witness that I have forgiven all the world, and even those in particular that have been the chief causes of my death. Who they are, God knows, I do not desire to know, God forgive them. But this is not all, my charity must go further. I wish that they may repent, for indeed they have committed a great sin in that particular. I pray God, with St. Stephen, that this be not laid to their charge. Nay, not only so, but that they may take the right way to the peace of the kingdom, for my charity commands me not only to forgive particular men, but my charity commands me to endeavour to the last gasp the Peace of the Kingdom. So, Sirs, I do wish with all my soul, and I do hope there is some here that will carry it further, that they may endeavour the peace of the Kingdom. Now, (Sirs) I must show you both how you are out of the way and will put you in a way; first, you are out of the way, for certainly all the way you have ever had yet, as I could find by anything, is by way of conquest. Certainly this is an ill way, for Conquest, (Sirs) in my opinion, is never just, except that there be a good just Cause, either for matter of wrong or just Title, and then if you go beyond it, the first quarrel that you have to it, that makes it unjust at the end that was just at the first: But if it be only matter of Conquest, there is a great Robbery; as a Pirate said to Alexander, that He was the great Robber, he was but a petty Robber: and so, Sirs, I do think the way that you are in, is much out of the way. Now Sirs, for to put you in the way, believe it you will never do right, nor God will never prosper you, until you give God his due, the King his due (that is, my Successors) and the People their due; I am as much for them as any of you: You must give God his due by regulating rightly His Church (according to the Scripture) which is now out of order. For to set you in a way particularly now I cannot, but onely this. A national synod freely called, freely debating among themselves, must settle this, when that every opinion is freely and clearly heard.

    For the King, indeed I will not, (then turning to a Gentlemen that touched the Ax, said, Hurt not the Ax, that may hurt me) For the King:) The Laws of the Land will clearly instruct you for that; therefore, because it concerns My Own particular, I onely give you a touch of it.

    For the people. And truly I desire their Liberty and Freedom as much as any Body whomsoever. But I must tell you, That their Liberty and Freedom, consists in having of Government; those Laws, by which their Life and their Gods may be most their own. It is not for having share in government (Sirs) that is nothing pertaining to them. A subject and a sovereign are clean different things, and therefore until they do that, I mean, that you do put the people in that liberty as I say, certainly they will never enjoy themselves.

    Sirs, It was for this that now I Am come here. If I would have given way to an Arbitrary way, for to have all Laws changed according to the power of the Sword, I needed not to have come here; and therefore, I tell you, (and I pray God it be not laid to your charge) That I Am the Martyr of the People.

    Introth, Sirs, I shall not hold you much longer, for I will only say thus to you. That in truth I could have desired some little time longer, because I would have put then that I have said in a little more order, and a little better digested than I have done. And, therefore, I hope that you will excuse Me.

    I have delivered my Conscience. I pray God, that you do take those courses that are best for the good of the Kingdom and your own Salvations.

    Introth, Sirs, My Conscience in Religion, I think, is very well knowne to all the World; and, therefore, I declare before you all that I die a Christian, according to the profession of the Church of ENGLAND, as I found it left me by my father. And this honest man I think will witness it… I have a good Cause, and a gracious GOD on my side.

    I go from a corruptible, to an incorruptible Crown; where no disturbance can be, no disturbance in the World.

    (http://anglicanhistory.org/charles/charles1.html)

Ngô Quỳnh Linh


Filed under: Trà Đàm, Văn Hóa Tagged: Song ngữ, Văn Hóa

Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Hoàng Sa

Posted: 24 Feb 2011 01:04 PM PST

Tác giả: Thủy Xuân
Vietnamnet

Các bằng chứng lịch sử, đặc biệt là pháp lý cho thấy chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

LTS: Ngày 19/1/2011, mạng Văn phòng Báo chí Quốc vụ viện Trung Quốc (www.scio.gov.cn) đăng tin dưới dạng sự kiện về việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam với nội dung như sau: “Ngày 19/1/1974, quân và dân quần đảo Tây Sa của ta (Trung Quốc) tiến hành tự vệ phản kích nguỵ quân miền Nam Việt Nam – kẻ đã liên tục xâm phạm lãnh hải, không phận, cướp chiếm các đảo và gây thương vong cho ngư dân ta, bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ”.

Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam cung cấp thêm một tư liệu khẳng định các bằng chứng lịch sử và pháp lý không thể tranh cãi chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

Chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ lâu nhân dân Việt Nam đã phát hiện quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó một cách thật sự, liên tục và hoà bình.

Nhiều sách địa lý và bản đồ cổ của Việt Nam ghi chép rõ Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn lý Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ Việt Nam.

Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, ghi rõ trong lời chú giải bản đồ vùng Phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam: “giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”, “Họ Nguyễn[1] mỗi năm vào tháng cuối mùa Đông đưa mười tám chiếc thuyền đến lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”.


Trong Giáp Ngọ bình nam đồ, bản đồ xứ Đàng Trong do Đoán quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, Bãi Cát Vàng cũng được vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.[2]

Phủ biên tạp lục, cuốn sách của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776, viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn (1558-1775) khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam, chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi.

“Xã An Vĩnh,[3] huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài cửa biển có núi[4] gọi là Cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm[5] có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hoá vật của tầu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải”.

“… Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là Trắng bông, giống đồi mồi, nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến bãi, lấy về dùng vôi sát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.

Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tầu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem số của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ năm năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được thiếc khối, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi.

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tầu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được”.

Trong số tư liệu còn tìm thấy ngày nay, có thể kể tờ sai sau đây đề năm 1786 của quan Thượng tướng công:

“Sai cai Hội Đức Hầu đội Hoàng Sa dẫn bốn chiếc thuyền câu vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác, tiểu bác,[6] đồi mồi, hải ba cùng cá quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ”.

Giám mục J.L.Taberd, trong bài “Ghi chép về địa lý nước Cochinchine” xuất bản năm 1837, cũng mô tả “Pracel hay Paracels” là phần lãnh thổ nước Cochinchine và nói rõ người Cochinchine gọi Pracel hay Paracels là “Cát Vàng”.[7] Trong An Nam đại quốc hoạ đồ xuất bản năm 1838, ông đã vẽ một phần của Paracel và ghi “Paracel hay Cát Vàng” (Paracel seu Cát Vàng) ở ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam, vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay[8].

Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ nước Việt Nam đời Nguyễn vẽ vào khoảng năm 1838, ghi “Hoàng Sa” (số 1) – “Vạn lý Trường Sa” (số 2) thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý Việt Nam do Quốc Sử quán nhà Nguyễn (1802-1845) soạn xong năm 1882[9] ghi Hoàng Sa là bộ phận lãnh thổ Việt Nam tại tỉnh Quảng Ngãi.

Đoạn nói về hình thể tỉnh Quảng Ngãi, cuốn sách viết:

“Phía Đông tỉnh Quảng Ngãi, có đảo cát (tức đảo Hoàng Sa liền cát với biển làm hào; phía tây nam miền sơn man, có luỹ dài vững vàng, phía nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá chắn ngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ làm giới hạn…”

“… Đầu đời vua Gia Long phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa, sau lại bỏ; đầu đời Minh Mệnh, thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển, thấy một nơi có cồn cát trắng chu vi 1.070 trượng, cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam còn có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc 4 chữ “Vạn lý Ba Bình” (muôn dặm sóng yên). Cồn cát này xưa gọi là Phật Tự Sơn, phía đông và phía tây đảo đều có đá san hô nổi lên một cồn chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch. Năm Minh Mệnh thứ 16 sai thuyền công chở gạch đá đến đấy xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được đồng lá và gang sắt có đến hơn 2.000 cân”.

Nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây trong những thế kỷ trước đều xác nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Một giáo sĩ Phương Tây đi trên tàu Amphitrite từ Pháp sang Trung Quốc năm 1701 viết trong một lá thư rằng: “Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam.[10]

J.B. Chaigneau, cố vấn của vua Gia Long, năm 1820 đã viết trong phần chú bổ sung vào cuốn Hồi ký về nước Cochinchine[11]:

“Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi Hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh[12]… một vài đảo có dân cư không xa bờ biển và quần đảo Paracel do những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành…”.[13]

Trong bài Địa lý vương quốc Cochinchina[14] của Gutzlaff, xuất bản năm 1849 có đoạn nói rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả tên Việt Nam là “Cát Vàng”.

Với tư cách là người làm chủ, trong nhiều thế kỷ nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhiều lần tiến hành điều tra khảo sát địa hành và tài nguyên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam từ thế kỷ XVII đã ghi lại kết quả các cuộc khảo sát đó.

Trong Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ XVII):

“Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm[15] đến cửa Sa Vinh[16] mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy, … có gió Đông Bắc thì thương thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hàng hoá thì đều để lại ở nơi đó”.[17]

“Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”.

Đại Nam thực lục tiền biên, bộ sử về chúa Nguyễn do Quốc sứ quán nhà Nguyễn soạn xong năm 1844, có đoạn viết:

“Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài biển, có hơn 130 bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích v.v…”.

“Hồi đầu dựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm thì đến, thu lượm hoá vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hoá vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.

Theo Đại Nam thực lục chính biên, là bộ sử ký do Quốc sử quán triều đình nhà Nguyễn soạn, viết về các đời vua nhà Nguyễn. Phần viết về các đời vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị được soạn xong năm 1848, ghi sự kiện Gia Long chiếm hữu các đảo Hoàng Sa năm 1816, sự kiện Minh Mệnh cho xây miếu, dựng bia trồng cây, đo đạc, vẽ bản đồ các đảo này [18].

Quyển 52:

“Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816)…

Vua phái Thuỷ quân và đội Hoàng Sa cưỡi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thuỷ”.

Quyển 104:

“Tháng tám mùa thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)…

Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mảnh, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”.

Quyển 154:

“Tháng sáu mùa hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)… dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi, Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn Lý Ba Bình”[19]. Cồn Bạch Sa chu vi 1.070 trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch. Năm ngoái vua toan dụng miếu, lập bia ở chỗ ấy, nhưng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về”.

Quyển 165:

“Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1…

Bộ Công tâu: Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu. Trước kia, đã phái vẽ bản đồ mà hình thể nó xa rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa rõ ràng. Hàng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, xin phái thuỷ quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa, không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào; khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thể hiểm trở, binh dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy, trông vào bờ biển, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình”.

“Vua y lời tâu, phái Suất đội Thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi đó dựng làm dấu ghi (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ “Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”).

Cũng trong Đại Nam thực lục chính biên có ghi, năm 1847 Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị tờ Tâu, trong đó có viết: Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta. Theo lệ hàng năm có phái binh thuyền ra xem xét thông thuộc đường biển. Năm nay bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau. Vua Thiệu Trị đã phê: “Đình”.

Trong Đại Nam nhất thống chí (1882):

“Đảo Hoàng Sa: ở phía Đông cù lao Ré huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn một trăm ba mươi đảo nhỏ, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục gọi là Vạn lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hoá vật của các tầu thuyền bị nạn bão trôi giạt ở đấy”.

Các sách khác thời Nguyễn như Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) cũng mô tả Hoàng Sa một cách tương tự.

Do đặc điểm của Hoàng Sa và Trường Sa là có nhiều hải sản quý lại có nhiều hoá vật của tàu bị đắm như trên đã nói, Nhà nước phong kiến Việt Nam từ lâu đã tổ chức việc khai thác hai quần đảo đó với tư cách một quốc gia làm chủ. Nhiều sách lịch sử và địa lý cổ của Việt Nam đã nói rõ tổ chức, phương thức hoạt động của các đội Hoàng Sa có nhiệm vụ làm việc khai thác đó.

Kế tiếp các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn phải liên tiếp đối phó với sự xâm lược của nhà Thanh và của Xiêm, tuy vậy vẫn luôn luôn quan tâm đến việc duy trì và sử dụng các đội Hoàng Sa.

Nghĩa là thời Tây Sơn, Nhà nước vẫn tiếp tục tổ chức việc thai thác Hoàng Sa với ý thức thực hiện chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa.

Từ khi nắm chính quyền năm 1802 đến khi ký với Pháp Hiệp ước 1884, các vua nhà Nguyễn ra sức củng cố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đội Hoàng Sa, sau được tăng cường thêm đội Bắc Hải, được duy trì và hoạt động liên tục từ thời các chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn (1802-1945).

Như vậy qua các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây nói trên từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó. Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác; điều đó càng chứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ Việt  Nam.

Việc nước Pháp nhân danh Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

Từ khi ký với triều đình nhà Nguyễn Hiệp ước 6-6-1884, Pháp đại diện quyền lợi của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại và việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong khuôn khổ sự cam kết chung đó, Pháp tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau đây là một vài bằng chứng:

Các pháo hạm của Pháp thường xuyên tiến hành tuần tiễu trong vùng Biển Đông kể cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1899 toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị với Pari xây tại đảo Hoàng Sa (Pattle) trong quần đảo Hoàng Sa một cây đèn biển để hướng dẫn các tàu biển qua lại vùng này, nhưng kế hoạch không thực hiện được vì thiếu ngân sách.

Từ năm 1920, các tàu hải quan Đông Dương tăng cường tuần tiễu ở vùng Hoàng Sa để ngăn chặn buôn lậu.

Năm 1925, viện Hải dương học Nha Trang cử tàu De Lanessan ra khảo sát ở quần đảo Hoàng Sa về hải dương học. Ngoài A. Krempf, Giám đốc Viện hải dương học, còn có các nhà khoa học khác như Delacour, Jabouille… nghiên cứu về địa chất, về sinh vật v.v…

Cũng trong năm 1925, ngày 3-3, Thượng thư Bộ Binh của Triều đình Huế Thân Trọng Huề lại khẳng định Hoàng Sa là lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1927 tàu De Lanessan ra khảo sát khoa học quần đảo Trường Sa.

Năm 1929 phái đoàn Perrier – De Rouville đề nghị đặt 4 cây đèn biển ở 4 góc của quần đảo Hoàng Sa (đảo Tri Tôn, đảo Đá Bắc, đảo Linh Côn, bãi Bom Bay).

Năm 1930 tàu thông báo La Malicieuse tới quần đảo Hoàng Sa.

Tháng 3-1931 tàu Inconstant ra quần đảo Hoàng Sa.

Tháng 6-1931, tàu De Lanessan ra quần đảo Hoàng Sa.

Tháng 5-1932, pháo hạm Alerte ra quần đảo Hoàng Sa.

Từ 13-4-1930, đến 12-4-1933, Chính phủ Pháp đã cử các đơn vị hải quân lần lượt ra đóng các đảo chính trong quần đảo Trường Sa: Trường Sa (Spratley), An Bang (Caye d’Amboine), Itu Aba, nhóm Song Tử (groupe des deux iles)[20], Loại Ta và Thị Tứ.

Ngày 21-12-1933, thống đốc Nam Kỳ M. J. Krautheimer ký Nghị định sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ vào địa phận tỉnh Bà Rịa[21].

Năm 1937, nhà đương cục Pháp cử kỹ sư công chính Gauthier ra quần đảo Hoàng Sa nghiên cứu chỗ xây dựng đèn biển, lập bãi thuỷ phi cơ.

Tháng 2-1937 tuần dương hạm Lamotte Piquet do Phó đô đốc Istava chỉ huy thăm quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 29-3-1938, vua Bảo Đại ký Dụ tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt tỉnh Nam Nghĩa đặt vào tỉnh Thừa Thiên[22].

“Chiếu chỉ các Cù lao Hoàng Sa (Archipel des iles Paracels) thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các Cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam Nghĩa: đến đời Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các Cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam Nghĩa.

Chiếu chỉ nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao thông ngày nay có thay đổi, vả lại viên Đại diện Chánh phủ Nam triều uỷ phái ra kinh lý các cù lao ấy cùng quan Đại diện Chánh phủ bảo hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn.

Dụ:

Độc khoản: – Trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng Sa (Archipel des iles Paracels) vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên: về phương diện hành chánh, các cù lao ấy thuộc dưới quyền quan Tỉnh hiến tỉnh ấy”.

Ngày 15-6-1938 toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên.[23]

Năm 1938, Pháp dựng bia chủ quyền, xây dựng xong đèn biển, trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Hoàng Sa (Ile Pattle), trong quần đảo Hoàng Sa, xây dựng trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Itu Aba trong quần đảo Trường Sa.

Hàng chữ trên bia: “Cộng hoà Pháp, Vương quốc An-nam, quần đảo Hoàng Sa, 1816 – đảo Pattle – 1938″ (1816 là năm vua Gia Long thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo Hoàng Sa, 1938 là năm dựng bia).

Ngày 5-5-1939 toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định sửa đổi nghị định ngày 15-6-1938 nói trên và thành lập tại quần đảo Hoàng Sa hai cơ quan đại lý “Croissant và các đảo phụ thuộc”, “Amphitrite và các đảo phụ thuộc”[24].

Suốt trong thời gian đại diện Việt Nam về mặt đối ngoại, Pháp luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và phản kháng những hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo đó như:

Ngày 4-12-1931 và ngày 24-4-1932, Pháp phản kháng Chính phủ Trung Quốc về việc chính quyền Quảng Đông lúc đó có ý định cho đấu thầu khai thác phân chim trên quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 24-7-1933, Pháp thông báo cho Nhật việc Pháp đưa quân ra đóng các đảo chính trong quần đảo Trường Sa;

Ngày 4-4-1939, Pháp phản kháng Nhật đặt một số đảo trong quần đảo Trường Sa thuộc quyền tài phán của Nhật.

Việc bảo vệ và thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

Khi trở lại Đông Dương sau chiến tranh thế giới thứ hai, đầu năm 1947 Pháp đã yêu cầu quân Trung hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ đã chiếm đóng trái phép cuối năm 1946 và Pháp đã cho quân đến thay thế quân đội Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng và đài vô tuyến điện.

Ngày 7-9-1951, trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Bảo Đại Trần Văn Hữu tuyên bố tại Hội nghị San Francisco về việc ký hoà ước với Nhật Bản rằng từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam: “… và cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.

Tuyên bố đó không gặp sự chống đối hoặc bảo lưu nào của đại diện 51 quốc gia tham dự Hội nghị.

Năm 1953, tàu Ingénieur en chef Girod của Pháp khảo sát ở quần đảo Hoàng Sa về hải dương, địa chất, địa lý, môi sinh.

Chính phủ Sài Gòn, sau đó là cả Chính phủ Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, cũng đều thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Dưới đây là một vài bằng chứng:

Năm 1956, lực lượng hải quân của Chính quyền Sài Gòn tiếp quản các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi Pháp rút quân về nước.

Năm 1956, Sở Hầm mỏ, kỹ nghệ và tiểu công nghiệp miền Nam tổ chức một cuộc khảo sát với sự giúp đỡ của hải quân của Chính quyền Sài Gòn trên 4 đảo: Hoàng Sa (Pattle), Quang Ảnh (Money), Hữu Nhật (Robert), Duy Mộng (Drumond).

Ngày 22-10-1956, Chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.

Ngày 13-7-1961, Chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Hoàng Sa, trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang và đặt dưới quyền một phái viên hành chính.

Từ 1961 đến 1963, chính quyền Sài Gòn lần lượt cho xây bia chủ quyền ở các đảo chính của quần đảo Trường Sa như: Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây, v v…

Ngày 21-10-1969, Chính quyền Sài Gòn sáp nhập xã Định Hải vào xã Hoà Long cũng thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam.

Tháng 7-1973, Viện Khảo cứu nông nghiệp thuộc Bộ Phát triển nông nghiệp và điền địa Sài Gòn tiến hành khảo sát đảo Nam Ai (Nam Yết) thuộc quần đảo Trường Sa.

Tháng 8-1973, với sự hợp tác của Công ty Nhật Maruben Corporation, Bộ Kế hoạch và phát triển quốc gia Sài Gòn tiến hành khảo sát phốt phát ở quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 6-9-1973, Chính quyền Sài Gòn sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Ai, Sinh Tồn và các đảo phụ cận vào xã Phước Hải, Quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Có ý thức về chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, các chính quyền miền Nam Việt Nam đều bảo vệ chủ quyền đó mỗi khi có nước ngoài biểu thị ý đồ tranh giành hay xâm chiếm đảo nào đó trong hai quần đảo.

Ngày 16-6-1956, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn tuyên bố một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Đồng thời cũng trong năm này, Chính quyền Sài Gòn đã kịch liệt phản đối việc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chiếm nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngày 22-2-1959, Chính quyền Sài Gòn bắt giữ trong một thời gian 82 “ngư dân” Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng và Quang Hoa trong quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 20-4-1971, Chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Ngày 13-7-1971 Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó trong cuộc họp báo ngày 10-7-1971.

Ngày 19/1/1974, lực lượng quân sự của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chiếm đóng nhóm Tây Nam của quần đảo Hoàng Sa và cũng trong ngày này chính quyền Sài Gòn tuyên bố lên án Cộng hoà nhân dân Trung Hoa xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Ngày 26-1-1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ; ngày 14-2-1974 tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.

Ngày 5 và 6-5-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thông báo việc giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa do Chính quyền Sài Gòn đóng giữ. Ngày 28-6-1974, tuyên bố tại khoá họp thứ nhất Hội nghị Luật Biển lần thứ 3 ở Caracas rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam.

Tháng 9-1975, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội nghị khí tượng ở Colombo tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam và yêu cầu Tổ chức khí tượng thế giới tiếp tục ghi tên trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam trong danh mục trạm khí tượng của Tổ chức khí tượng thế giới (trước đây đã được đăng ký trong hệ thống các trạm của OMM dưới biểu số 48.860).

Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng về biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như: Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 1977; Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam năm 1982; Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992; Nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 năm 1994 về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; Luật Biên giới quốc gia năm 2003.

Về quản lý hành chính, năm 1982, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, hiện nay, huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng và huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ Nghĩa Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoặc trong các công hàm gửi các bên có liên quan, hoặc trong các tuyên bố của Bộ Ngoại giao, hoặc trong các Hội nghị của Tổ chức Khí tượng thế giới ở Genève, (tháng 6-1980), của Đại hội Địa chất thế giới ở Paris (tháng 7 năm 1980) v.v…

Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần công bố “Sách trắng” (năm 1979, 1981, 1988) về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Ngày 14-3-1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam ra Tuyên bố lên án Trung Quốc gây xung đột vũ trang và chiếm đoạt một số bãi đá ngầm tại Trường Sa.

Tháng 4-2007, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa.

Kết luận

Từ những tư liệu lịch sử rõ ràng, và căn cứ vào những nguyên tắc của luật pháp và tập quán quốc tế, có thể rút ra kết luận sau đây:

1. Từ lâu, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi mà các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

2. Từ thế kỷ XVII đến nay, suốt trong mấy thế kỷ, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện một cách thật sự, liên tục và hoà bình chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3. Nhà nước Việt Nam luôn luôn bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa của mình trước mọi mưu đồ và hành động xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

——————————————

PHỤ LỤC

Một số tư liệu – điều ước quốc tế liên quan đến chủ quyềnhai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

1. Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943, khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, hội nghị tam cường Anh – Mỹ – Trung (Cộng hòa Trung Hoa, đại diện lúc đó là Tưởng Giới Thạch) đã họp và ra một bản Tuyên bố tại Cai-rô (thủ đô Ai-Cập). Tuyên bố có đoạn viết: ” …Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914 và tất cả những lãnh thổ Nhật đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa”[25]. Như vậy là về phần lãnh thổ của Trung Quốc, Tuyên bố Cai-rô khẳng định ý chí của các cường quốc buộc Nhật Bản phải trao trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc gồm “Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ”, không có gì liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945, những người đứng đầu 3 nước Mỹ, Anh, Trung (Cộng hòa Trung Hoa) đã lại ra Tuyên ngôn khẳng định “Các điều khoản của Tuyên bố Cai-rô sẽ được thi hành”. Sau khi tuyên chiến với Nhật Bản ở Viễn Đông, Liên Xô cũng tham gia Tuyên ngôn này.

Theo quyết định của Hội nghị Postdam là Trung Quốc chịu trách nhiệm giải giáp quân đội Nhật ở khu vực Bắc vĩ tuyến 16. Từ cuối năm 1946, quân đội của Tưởng Giới Thạch đến một số đảo của quần đảo Hoàng Sa và các tỉnh phía bắc Việt Nam để thực hiện việc giải giáp quân đội Nhật Bản ở đây, hoạt động này hoàn toàn không có ý nghĩa xác định hoặc thu hồi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3. Hội nghị San Francisco từ ngày 4 đến 8-9-1951, có đại diện 51 nước tham dự để bàn về việc ký Hòa ước với Nhật Bản. Điều 2, Chương II của Dự thảo Hòa ước được đưa ra để Hội nghị thảo luận có ghi Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và các đòi hỏi của mình đối với các lãnh thổ được nêu rõ trong các khoản của điều này:

a) Triều Tiên;

b) Đài Loan, Bành Hồ;

c) Kurile, phần phía Nam đảo Sakhalin;

d) Các đảo ở Thái Bình Dương;

e) Châu Nam Cực;

f) Các đảo thuộc các quần đảo Spratly (Trường Sa) và Paracel (Hoàng Sa).

- Tại phiên họp toàn thể ngày 5-9-1951, Hội nghị đã tán thành quyết định của chủ tịch không chấp thuận đề nghị bổ sung đòi “Nhật Bản công nhận chủ quyền hoàn toàn của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với Manchuria (Mãn Châu), đảo Đài Loan (Formosa) với tất cả các đảo kế cận nó, quần đảo Penlinletao (Pescadores tức Bành Hồ), quần đảo Tunshatsuntao (quần đảo Pratas), cũng như đối với 2 quần đảo Sishatuntao và Chunshatsuntao (quần đảo Hoàng Sa, nhóm đảo Amphitrites, bãi cát ngầm Maxfield) và quần đảo Nanshatsuntao, kể cả quần đảo Trường Sa, và Nhật từ bỏ tất cả các quyền, danh  nghĩa và đòi hỏi đối với các vùng lãnh thổ nêu trong điểm này”.

Quyết định này của Hội nghị đã được thông qua với 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống, 1 phiếu trắng. Trong các nước bỏ phiếu thuận có: Ác-hen-ti-na, Ô-xtrây-li-a, Bỉ, Bô-li-vi-a, Bra-xin, Cam-pu-chia, Ca-na-đa, Xri-Lan-ca, Chi-lê, Cô-lôm-bi-a, Cô-xta Ri-ca, Cu-Ba, Đô-mi-ni-ca, Ê-cu-a-đo, Ai-cập, En Xan-va-do, E-ti-ô-pi, Pháp, Hy Lạp, Goa-tê-ma-la, Ha-i-ti, Hôn-đu-rát, In-đô-nê-xi-a, I-ran, I-rắc, Lào, Li-Băng, Li-bê-ri-a, Lúc-xăm-bua, Mê-hi-cô, Hà Lan, Tân Tây Lan, Ni-ca-ra-goa, Na-uy, Pa-ki-xtan, Pa-na-ma, Pa-ra-goay, Pe-ru, Phi-lip-pin, A-rập Xê-út, Xi-ri, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Bắc Ai-Len, Mỹ, Việt Nam, Nhật Bản.

Cuối cùng, Điều 2 Chương II của Hòa ước vẫn được giữ nguyên như Dự thảo và gồm 6 khoản sau đây:

“a) Nhật Bản, trong khi công nhận nền độc lập của Triều Tiên, từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Triều Tiên, kể cả các quần đảo Quelpart Port Hamilton và Dagelet.

b) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với vùng Formosa (Đài Loan) và Pescadores (Bành Hồ).

c) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo Kurile, đảo Sakhalin và quần đảo nằm sát nước Nhật Bản mà ở đó Nhật Bản đã giành được chủ quyền theo Hiệp ước Portsmouth ngày 5-9-1905.

d) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi liên quan tới chế độ uỷ trị của Hội quốc liên, và chấp nhận quyết định quyết định ngày 2-4-1947 của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc gia hạn chế độ uỷ trị đối với các đảo Thái Bình Dương trước đây dưới quyền uỷ trị của Nhật Bản.

e) Nhật Bản từ bỏ tất cả các đòi hỏi muốn có bất kỳ quyền, hoặc danh nghĩa, hoặc lợi ích nào liên quan tới bất cứ phần nào của vùng Nam Cực, dù đó là các hoạt động của các công dân Nhật Bản hoặc các hình thức khác.

f) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi  đối với quần đảo Trường Sa (Spratly) và Hoàng Sa (Paracel)”.[26]

- Như vậy, các vùng lãnh thổ mà Tuyên bố Cai-rô xác nhận và Hòa ước SanFrancisco khẳng định lại là của Trung Quốc chỉ bao gồm Đài Loan, Bành Hồ. Việc Hòa ước SanFrancisco tách riêng Đài Loan, Bành Hồ và Hoàng Sa, Trường Sa thành hai khoản riêng biệt (b, f) tự nó đã bao hàm ý nghĩa không công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

Cũng tại Hội nghị San Francisco, ngày 7-9-1951, Trưởng đoàn đại biểu chính quyền Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã tuyên bố rằng từ lâu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam và “cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn luôn thuộc về Việt Nam”.[27]

Không có bất cứ một đại diện nào của 51 quốc gia tham dự Hội nghị có ý kiến phản đối hoặc bảo lưu đối với tuyên bố trên của đại diện Việt Nam tại Hội nghị.

Những tư liệu và chứng cứ kể trên cho thấy một cách rõ ràng là những văn kiện pháp lý quốc tế, từ Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943 (và Tuyên ngôn của Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945 khẳng định lại nội dung Tuyên bố Cai-rô) đến Hòa ước San Francisco ký ngày 8-9-1951 đã không xác nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đồng thời, việc không một quốc gia nào tại Hội nghị SanFrancisco năm 1951, phản đối hoặc bảo lưu về tuyên bố của Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam lúc đó về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo chứng tỏ cộng đồng quốc tế đã mặc nhiên công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa./.

————

Chú thích:

[1] Tức chúa Nguyễn, cát cứ xứ Đàng trong từ năm 1558 đến năm 1775.

[2] Trong tập Hồng Đức bản đồ.

3] Đính trong cuốn “Từ điển La tinh – Việt Nam” (Dictionarium Latino-Anamiticum), 1838. Xem phụ lục III.

[4] “Ghi chép về địa lý nước Cochinchina” (“Note on Geography of Cochinchina”) của giám mục Jean-Louis Taberd đăng trong “Tạp chí của Hội châu Á Băng-Gan” (The Journal of the Asiatic Society of Bengal) tập VI, 1837, tr.745.

[5] Chỉ loại pháo cỡ nhỏ.

[6] Dặm: Đơn vị đo lường thời xưa của Việt Nam tương đương 1/2km.

[7] Đối với người Việt Nam cũng như người Trung Quốc, chữ Hán “Sơn” có nghĩa là núi, nhưng cũng được dùng để chỉ các hải đảo. Thí dụ: Phần lớn các đảo ở ngoài cửa vịnh Hàng Châu (Nam Thượng Hải) đều được người Trung Quốc gọi là sơn: Bạch Sơn, Đại Ngư Sơn, Đại Dương Sơn, Tiểu Dương Sơn, Trường Bạch Sơn, Trúc Sơn, Tù Sơn v.v… Người Trung Quốc cũng dùng sơn để chỉ một số đảo của Việt Nam như Cửu Đầu Sơn (đảo Cô Tô), Bất Lao Sơn (Cù Lao Chàm), Ngoại La Sơn (cù Lao Ré) v.v…

[8] Ở phía Nam cửa biển Sa Kỳ, phường An Vĩnh ở Cù Lao Ré cũng thuộc xã này.

[9] Phần viết về các tỉnh Trung Bộ được soạn lại và khắc in năm 1909.

 

[10] Vạn lý Ba Bình: muôn dặm sóng yên.

[11] Kỷ thứ 2, quyển 122.

12 Bãi Cát Vàng từ lâu là một khu vực có nhiều đá ngầm nguy hiểm ở Biển Đông.

[13] Cửa Sa Vinh nay là cửa Sa Huỳnh, thuộc tỉnh Nghĩa Bình.

14] Cửa Đại Chiêm nay là cửa Đại, thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

[15] Bài “Địa lý của vương quốc Cochinchina” (Geography of the Cochinchinese Emprire) đăng trong “Tạp chí Hội địa lý Hoàng gia Luân Đôn” (The Jounal of the Royal Geography Society of London) tập XIX, 1849, trang 93.

[16] A. Salles trích dẫn trong bài “Hồi ký về nước Cochinchine của J.B. Chaigneau” (Le mémoire sur la Cochinchine de J.B. Chaigneau) đăng trong “Tạp chí của những người bạn thành Huế cổ” (“Bulletin des amis du vieux Huế”) số 2 năm 1923 trang 257.

[17] Tức Đàng Ngoài (le Tonkin).

[18] Danh từ Cochinchine (tiếng Pháp) hoặc Cochinchina (tiếng Anh) trong tài liệu phương Tây trích dẫn ở đây có 2 nghĩa tuỳ theo văn cảnh: a) nước Việt Nam thời bấy giờ, sách này dịch là nước Cochinchine; b) Xứ Đàng Trong thời bấy giờ, sách này dịch là xứ Cochinchine.

 

[19] J.Y.C trích dẫn trong bài “Bí mật các đảo san hô – Nhật ký về cuộc hành trình đến Hoàng Sa”. (Mystere des atolls – Journal de voyage aux Paracels) đăng trong tuần báo “Đông Dương” (Indochine) trong các số ngày 3, 10, 17 tháng 7 năm 1941. – Danh từ vương quốc An Nam trong tài liệu chỉ nước Việt Nam thời bấy giờ.

[20] Nay thuộc tỉnh Đồng Nai. Xem Phụ lục V.

[21] Tức đảo Song Tử Tây và đảo Song Tử Đông.

[22] Nay thuộc tỉnh Bình Trị Thiên.

[23] Xem phụ lục VI.

[24] Xem phụ lục VII.

25] Sách trên. Trang 263.

[26] Hội nghị ký kết Hòa ước với Nhật Bản trang 314. Văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ, tháng 12-1951.

 

 

 

[27] Hội nghị Cai-rô và Teheran 1943 trang 448. Văn kiện Bộ Ngoại giao Mỹ , 1961-Washington.

 

 


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

Triển khai gấp 7 nhóm giải pháp chống lạm phát

Posted: 24 Feb 2011 01:03 PM PST

Tác giả: Trần Đông

(VEF.VN) – Hài hòa giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, thặt chặt chi tiêu, kiểm soát chặt về giá đồng thời quan tâm hỗ trợ người nghèo… là những biện pháp cấp bách Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương để kiềm chế lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô.

Ảnh: Việt Thanh

Sáng nay (24/2), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì hội nghị trực tuyến toàn quốc nhằm triển khai Nghị quyết của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Thắt chặt tiền tệ và chi tiêu

Tại hội nghị, Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã giới thiệu Nghị quyết, tập trung vào 7 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện các mục tiêu trên.

Giải pháp mà Chính phủ đưa ra gồm: thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước; thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng; điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo; tăng cường bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để các nội dung trên một cách đồng bộ, thông suốt từ trung ương đến địa phương.

Đối với nhóm giải pháp về chính sách tiền tệ và tài khóa, ông Hùng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp hài hòa giữa hai nhóm chính sách này. Theo đó, nhất định phải kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%; tổng phương tiện thanh toán vào khoảng 15-16%. Vốn tín dụng sẽ được ưu tiên phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh; nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; công nghiệp hỗ trợ; doanh nghịêp nhỏ và vừa. Giảm tốc độ và tỷ trọng vay vốn của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản và chứng khoán.

Phó Thủ tướng khẳng định, tỷ giá và thị trường ngoại hối phải được điều hành linh hoạt.

“Sự thật là cân đối ngoại tệ ra – vào của ta vẫn có số dư, hoàn toàn có thể bảo đảm thanh khoản, bình ổn tỷ giá, đáp ứng yêu cầu ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối. Nhưng tới đây, vấn đề quan trọng là phải củng cố được lòng tin của người dân vào đồng nội tệ”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Liên quan đến chính sách tài khóa, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan địa phương phấn đấu tăng thu ngân sách 7-8% so với dự toán năm 2011 đã được Quốc hội thông qua; sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011 (không bao gồm tiền lương và các khoản có tính chất lương; chi chế độ chính sách cho con người và tiết kiệm chi thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương theo kế hoạch đã đề ra từ đầu năm).

Song song với kiểm soát chính sách tiền tệ là việc tiết kiệm chi tiêu, trong đó giảm chi tiêu của các đơn vị thụ hưởng ngân sách và các doanh nghiệp nhà nước.

Sẽ tạm dừng trang bị mới xe ôtô, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng; giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, không bố trí kinh phí cho những việc chưa thật sự cấp bách… Không bổ sung ngân sách ngoài dự toán trừ các trường hợp hết sức đặc biệt đã được quy định rõ và tiến tới chấm dứt việc tạm ứng vốn ngân sách cho các địa phương”, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cho biết.

Đáng lưu ý, Chính phủ sẽ điều hành để giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP (mục tiêu đã được Quốc hội thông qua là dưới 5,3%); giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, nhất là vay ngắn hạn…

Điện, xăng tăng vừa phải để tránh gây sốc

Tại Hội nghị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã công bố các Quyết định số 268QĐ-TTG và 269/QĐ-TTg ngày 23-2-2011 của Thủ tướng Chính phủ về giá điện.

Giải thích thêm về các quyết định này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh nói: “Theo tính toán đầy đủ tại thời điểm này, nếu muốn cắt lỗ, giá bán điện sẽ phải tăng tới 668 đồng/kWh, tức là tăng thêm 62% so với hiện nay. Tuy nhiên, để không gây “sốc” cho nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, giá điện chỉ tăng chưa tới 1/3 mức đó mà thôi. Để giữ giá như thế, Nhà nước phải chấp nhận lùi chi phí khấu hao, lùi giá bán than cho ngành điện, tạm thời không thu phí bảo vệ môi trường và khoanh lỗ cũ để xử lý dần. Ngành điện cũng phải chấp nhận không có lãi”.

“Nếu không tăng giá, năm 2011 ngành điện sẽ lỗ tiếp 29,5 ngàn tỷ đồng sau khi đã bị lỗ tổng cộng 28 ngàn tỷ đồng trong năm 2010. Nền kinh tế sẽ không thể chịu đựng nổi số lỗ lớn như vậy. Ngoài ra, giá điện thấp khiến khó thu hút đầu tư, dẫn đến tình trạng thiếu điện, các ngành nghề tiếp tục sử dụng công nghệ lạc hậu, sử dụng điện lãng phí, không khuyến khích tiết kiệm điện”, ông Vũ Văn Ninh cho hay.

Ảnh: chinhphu.vn

Các hộ thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định được hỗ trợ giá điện cho 50 kWh/tháng, mức hỗ trợ là 30.000 đồng/hộ/tháng. Kinh phí hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo lấy từ tiền bán điện.

Khung giá cho điện sinh hoạt tại những khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo chưa nối lưới điện quốc gia gồm giá trần và giá sàn, trong đó giá sàn bằng 1,5 lần giá bán điện bình quân năm, giá trần bằng 2,5 lần giá bán điện bình quân năm.

Tương tự, đối với xăng dầu, Bộ Tài chính đã quyết định cho phép các doanh nghiệp đầu mối được tăng giá xăng 2.900 đồng/lít, lên mức 19.300 đồng/lít kể từ 10 giờ sáng nay (24/2).

Theo Bộ trưởng Ninh, mức tăng kể trên cũng chưa thể cắt lỗ cho các doanh nghiệp, khi mà giá xăng dầu trên thị trường thế giới đang đà tăng mạnh. Riêng trong năm 2010, tổng lỗ do không điều chỉnh giá xăng dầu theo thị trường thế giới đã lên đến khoảng 16,4 ngàn tỷ đồng.

Cần kiểm soát thật chặt về giá

Kết luận Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của cả nước là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì được sản xuất, được an sinh xã hội.

Giải pháp được người đứng đầu Chính phủ lưu ý:

Một là, phải thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; phải kiểm soát được tăng trưởng tín dụng ở mức dưới 20%, đồng thời dành tín dụng ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp phụ trợ và đầu tư cho các lĩnh vực thiết yếu khác trên nguyên tắc điều hành minh bạch, cụ thể. Cùng với việc kiềm chế lạm phát, phải giảm dần lãi suất theo hướng hợp lý, coi lãi suất là một trong những công cụ kiềm chế lạm phát.

Hai là, điều hành tỷ giá ngoại hối linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường, Chính phủ thông qua Ngân hàng Nhà nước sẽ huy động và sử dụng các nguồn lực để kiểm soát bằng được tỷ giá theo quy định, không để thả nổi tỷ giá; không để cho thị trường chợ đen chi phối.

“Chúng ta hoàn toàn có thể làm được việc này và trên thực tế năm 2008 là năm cực kỳ khó khăn song chúng ta đã làm được việc này. Dứt khoát các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty nhà nước phải bán tất cả các ngoại tệ có được cho ngân hàng nhà nước, không găm ngoại tệ gây khó khăn cho đất nước; khi có nhu cầu, các ngân hàng phải đảm bảo bán cho doanh nghiệp theo đúng giá quy định”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lưu ý.

Bên cạnh đó, không ứng vốn ngân sách nhà nước cho các dự án kéo dài, không cấp bách để bổ sung cho các dự án ưu tiên hoàn thành trong năm 2011.

Ba là, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, với mức giá nông sản tăng cao, đây là thời điểm tốt để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần cải thiện đời sống nhân dân. Hạn chế tối đa các mặt hàng nhập khẩu trong nước có thể sản xuất được, coi giảm nhập siêu cũng làm một trong những giải pháp giảm căng thẳng tỷ giá.

Khẳng định việc điều chỉnh tăng giá điện, xăng dầu là việc không thể không làm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các Bộ, ngành chức năng thực hiện việc bù hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo theo đúng đối tượng, công khai, minh bạch.

Người đứng đầu Chính phủ cũng đề nghị, các địa phương cần làm tốt công tác kiểm soát giá, không để đầu cơ đẩy giá lên cao nhất là với một số mặt hàng thiết yếu như gạo, lương thực, xăng dầu, sữa… Đi đôi với đó là việc chỉ đạo các cơ quan chức năng của đại phương thực hiện tốt chính công tác quản lý ngoại hối, thị trường vàng.


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

‘Người phụ nữ Ấn tượng châu Á’ phản bác kết luận điều tra

Posted: 24 Feb 2011 01:02 PM PST

Sau khi nhận được kết luận điều tra về vụ án "Lập quỹ trái phép" xảy ra tại Nông trường Sông Hậu (NTSH), bà Trần Ngọc Sương (62 tuổi) – nguyên Giám đốc NTSH cho biết bà không đồng tình nên sẽ khiếu nại.
> Tiếp tục đề nghị truy tố người phụ nữ Ấn tượng châu Á

Trao đổi với VnExpress.net, bà Trần Ngọc Sương cho rằng toàn bộ nội dung của bản kết luận điều tra vừa được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Cần Thơ tống đạt lần này hoàn toàn sai lệch so với bản chất vụ việc. Theo bà Sương, việc đề nghị truy tố bà về tội "Lập quỹ trái phép" là vi phạm thủ tục tố tụng, không có căn cứ pháp lý nên bà sẽ làm văn bản khiếu nại bản kết luận điều tra để gửi Viện Kiểm sát nhân dân TP Cần Thơ.

Bà Sương cũng cho biết trong quá trình điều tra lại bà chưa được đối chất đầy đủ với những người có liên quan. Không chỉ vậy, bà đã nhiều lần yêu cầu giám định tài chính lại vì nghi ngờ tính khách quan của kết quả giám định trước đây nhưng không được cơ quan điều tra đáp ứng nên bà sẽ khiếu nại để các cơ quan tố tụng cấp trung ương xem xét đình chỉ điều tra bị can đối với bà.

Bà Trần Ngọc Sương xem lại tài liệu để làm văn bản khiếu nại kết luận điều tra. Ảnh: Thiên Phước
Bà Trần Ngọc Sương xem lại tài liệu để làm văn bản khiếu nại kết luận điều tra. Ảnh: Thiên Phước

Là người tham gia bảo vệ quyền lợi cho bà Sương, luật sư Nguyễn Trường Thành – Trưởng Văn phòng luật sư Vạn Lý, TP Cần Thơ cho rằng qua xem xét tất cả hồ sơ trong vụ án ông thấy rằng không có căn cứ xác định tội "Lập quỹ trái phép" đối với thân chủ của ông.

Theo luật sư Thành, tội "Lập quỹ trái phép" chỉ áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn và sử dụng chức vụ quyền hạn ấy để lập ra quỹ trái phép thì mới kết tội người này. Còn trong vụ án NTSH thì quỹ đời sống được gọi là trái phép được lập ra từ thời giám đốc trước bà Sương nên bà Sương là người duy trì quỹ chứ không hề lập ra quỹ trái phép nào cả.

Trước đó, ngày 22/2 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Cần Thơ tống đạt kết luận điều tra đến các bị can trong vụ án đồng thời chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát cùng cấp đề nghị truy tố bà Sương cùng 4 thuộc cấp là Trương Hồng Nhung (57 tuổi, nguyên Phó Giám đốc NTSH), Đặng Thế Quốc Hưng (46 tuổi, nguyên quyền kế toán trưởng NTSH), Hoàng Thị Bình (54 tuổi, nguyên kế toán NTSH) và Nguyễn Văn Sơn (50 tuổi, nguyên thủ quỹ NTSH).

Cơ quan công an xác định, khoảng thời gian từ năm 2001-2007, bà Trần Ngọc Sương đã cùng cấp dưới duy trì nguồn quỹ trái phép tại đơn vị với số tiền tổng cộng lên đến 10,1 tỷ đồng.

Đây là kết luận điều tra lại. Trước đó, tháng 5/2010 Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định hủy 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm tuyên phạt bà Sương 8 năm tù giam để điều tra lại.

Thiên Phước


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

Libya bên bờ nội chiến, cả thế giới ‘phát sốt’

Posted: 24 Feb 2011 01:01 PM PST

Gaddafi không còn kiểm soát được miền đông trong khi vẫn thề chiến đấu “đến giọt máu cuối cùng” để giữ miền tây, đẩy Libya đến bờ vực nội chiến và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế toàn cầu do giá dầu leo thang.

Sau khi làn sóng biểu tình chống chính phủ từ miền đông lan tới thủ đô Tripoli ở phía tây hôm chủ nhật, quân đội Libya đã sử dụng những biện pháp mạnh tay nhất để đối phó như máy bay chiến đấu, đạn pháo cối và cả súng bắn tỉa khiến hàng trăm người chết và bị thương.

Đây là thách thức lớn nhất mà chế độ do đại tá Gaddafi đứng đầu phải đối mặt trong suốt 42 năm qua. Con trai ông là Saif al-Islam thì lên tiếng cảnh báo có thể nổ ra nội chiến, trong khi giới phân tích nhận định việc chế độ Gaddafi đi đến hồi cáo chung chỉ còn là vấn đề thời gian.

Một người biểu tình chống Gaddafi ăn mừng bên căn cứ quân sự bị bỏ không tại phía đông Libya. Ảnh: AP
Một người biểu tình chống Gaddafi ăn mừng bên căn cứ quân sự bị bỏ không tại phía đông Libya. Ảnh: AP


Gaddafi còn gì trong tay?

Các phóng viên BBC đang có mặt tại miền đông Libya xác nhận khu vực này đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của phe biểu tình. Nhiều cảnh sát và binh sĩ chính phủ đào ngũ được họ chào đón. Người địa phương cho rằng chính phủ Gaddafi đã hoàn toàn sụp đổ tại đông Libya và chỉ những lính đánh thuê nước ngoài còn ủng hộ chế độ của ông.

Trong khi đó, khác với tại Tunisia và Ai Cập, quân đội chính quy không phải là lực lượng nắm quyền quyết định tại Libya. Thay vào đó là mạng lưới các lữ đoàn bán quân sự, các uỷ ban cách mạng gồm những người thân tín với Gaddafi, các tộc trưởng và lực lượng lính đánh thuê từ nước ngoài.

Quân đội chính thức của Libya chỉ mang tính biểu tượng với hơn 40.000 người, được trang bị và huấn luyện kém. Đây được coi là “bài” của đại tá Gaddafi để tránh nguy cơ bị bị đảo chính quân sự, con đường đã đưa ông lên nắm quyền từ năm 1969. Do đó sự đào ngũ của nhiều sĩ quan quân đội chưa hẳn đã đẩy Gaddafi đến đường cùng.

Sức mạnh chính của đại tá Gaddafi nằm trong mạng lưới an ninh nội bộ hùng hậu và lực lượng này có một quá khứ không ngần ngại sử dụng vũ lực nếu cảm thấy chính quyền của ông bị đe doạ. Đáng chú ý có Lữ đoàn số 32 khét tiếng, còn được gọi là Binh đoàn răn đe, đóng căn cứ tại Ouezzane giáp biên giới Tunisia do một con trai của Gaddafi là Khemis chỉ huy.

Bên cạnh đó là những “lữ đoàn đặc biệt” bán quân sự chỉ tuân theo mệnh lệnh của các Uỷ ban Cách mạng do Gaddafi lập ra mà không theo sự chỉ huy của quân đội. Nếu lực lượng này thay đổi và đứng về phía người biểu tình thì Gaddafi gần như sẽ mất tất cả. Ngoài ra còn có thông tin ông Gaddafi nắm trong tay đội quân lính đánh thuê đến từ các nước như Chad và Niger

Với những gì đang xảy ra tại Libya, giới phân tích cho rằng còn rất ít hồ nghi về việc thời của đại tá Gaddafi đã gần như chấm dứt. Nhưng họ chỉ chưa rõ chính quyền này còn có thể tồn tại thêm bao lâu nữa và cuộc đổ máu tại Libya sẽ còn diễn tiến ra sao. Nói cách khác, ngày càng có dấu hiệu dẫn đến nhận định Gaddafi của Libya có thể là nhà lãnh đạo thứ ba tại Trung Đông ra đi do làn sóng biểu tình.

Libya chia rẽ sâu sắc

Nơi mở màn làn sóng biểu tình ở Libya là thành phố Benghazi thuộc vùng Cyrenaica ở phía đông, nơi phát tích của hoàng gia cầm quyền ở Libya trước thời cách mạng. Tại đây từ lâu âm ỉ bầu không khí chống lại Gaddafi và từng chứng kiến nhiều sự kiện đối đầu với chính phủ những năm gần đây.

Trong bối cảnh đó, đại tá Gaddafi bị cho là không quan tâm một cách có chú ý tới khu vực phía đông Cyrenaica và ngược đãi người địa phương, khiến nổ ra nhiều cuộc biểu tình. Đó cũng là lý do tại sao đợt biểu tình lần này nổ ra đầu tiên ở phía đông Libya chứ không phải ở thủ đô Tripoli.

Bên cạnh chủ nghĩa vùng miền, chủ nghĩa bộ tộc cũng góp phần khiến Libya chia rẽ. Chủ nghĩa này tồn tại đậm nét thời Libya còn trong chế độ quân chủ, nhưng trong 10 năm đầu tiên kể từ khi đại tá Gaddafi đảo chính năm 1969, sự phân biệt về bộ tộc đã bị cấm và ông nhận được sự ủng hộ của hầu hết dân số.

Tuy nhiên, khi sự ủng hộ như ban đầu không còn nữa, Gaddafi bắt đầu ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào chủ nghĩa bộ tộc. Chủ nghĩa này thể hiện rõ nhất trong lực lượng vũ trang, nơi ông thực hiện chính sách khuyến khích sự cạnh tranh giữa các bộ tộc nhằm củng cố quyền kiểm soát. Ví dụ những người thuộc bộ tộc Qadhadfa của Gaddafi là kỳ phùng địch thủ với bộ tộc Magariha của Abdelbaset Ali al-Megrahi, thủ phạm đánh bom Lockerbie.

Đại tá Gaddafi tuyên bố không lùi bước trước biểu tình. Ảnh: AFP
Đại tá Gaddafi tuyên bố không lùi bước trước biểu tình. Ảnh: AFP

Nội công ngoại kích

Nhưng trong bối cảnh hiện nay, chủ nghĩa bộ tộc không phải là nguy cơ chính đẩy Libya tới nội chiến mà là cách giải quyết của chính quyền Gaddafi với người biểu tình. Tuyên bố hôm 22/2 của ông về việc sẽ chiến đấu “tới giọt máu cuối cùng” và ủng hộ những người thân chính phủ tấn công người biểu tình đang khiến viễn cảnh nổ ra nội chiến rõ hơn bao giờ hết.

Thực tế tại Libya hiện cũng đã bị chia thành hai nửa với phần phía đông đã nằm trong tay người biểu tình sau một tuần xuống đường. Trong khi chính quyền đại tá Gaddafi đang cố chiến đấu để giữ phần phía tây đất nước. Ông đang kêu gọi những người ủng hộ giành lại vùng đất đang do phe biểu tình điều hành.

Quyết định mạnh tay với người biểu tình cũng khiến Gaddafi bị cộng đồng quốc tế chỉ trích. Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc tổ chức họp khẩn và ra tuyên bố kêu gọi chấm dứt bạo lực tại Libya ngay lập tức. Trong nhiều tuần nổ ra biểu tình khắp Trung Đông, đây là lần đầu tiên Hội đồng Bảo an nhóm họp về vấn đề này. Tổng thống Mỹ Barack Obama lên án việc Libya trấn áp người biểu tình là “không thể chấp nhận được”.

Trong khi đó, nhiều quan chức cao cấp trong nước cũng bắt đầu quay lưng với chính quyền Gaddafi. Bộ trưởng Tư pháp Mustapha Abdul Jalil từ chức để phản đối việc “sử dụng vũ lực quá lớn” của chính phủ. Đặc sứ của Libya tại Liên đoàn Ảrập Abdel Moneim al-Honi cũng tuyên bố “tham gia cuộc cách mạng”.

Các nhà ngoại giao Libya tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York thì kêu gọi quốc tế can thiệp để chấm dứt hành động bạo lực của chính phủ quê nhà. Đặc biệt những người thân cận nhất trong lực lượng an ninh như Bộ trưởng Nội vụ Abdel Fattah Younis đang có mặt tại thành phố Benghazi cũng tuyên bố ông từ bỏ chính phủ. Nhiều đơn vị quân đội ở phía đông Libya cũng cho biết sẽ tham gia nổi dậy.

Cả thế giới chịu ảnh hưởng

Các nước bày tỏ lo ngại tình hình Libya vì làn sóng biểu tình tại nước này đang đẩy giá dầu mỏ tăng cao vì nguy cơ nguồn cung cấp nhiên liệu cho thế giới bị gián đoạn. Libya là quốc gia xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ 12 của thế giới và là nước đầu tiên nhóm xuất khẩu dầu mỏ Opec hứng chịu biểu tình quy mô lớn, nên tác động của sự kiện này lên giá dầu toàn cầu là điều dễ hiểu.

Sau bài phát biểu không chịu lùi bước của ông Gaddafi, giá dầu tiếp tục leo thang đẩy giá dầu tại châu Á lên mức cao nhất kể từ tháng 10/2008. Đại diện Cơ quan năng lượng quốc tế Fatih Birol nhận định giá dầu quốc tế hiện đã rơi vào khu vực nguy hiểm và còn có thể tăng cao hơn nữa. Điều này sẽ làm chậm lại quá trình phục hồi sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

“Nền kinh tế toàn cầu hiện dễ tổn thương hơn so với năm 2008. Sự tăng trưởng đang được quyết định bởi các gói kích cầu và chính sách thắt lưng buộc bụng. Tôi không tin nền kinh tế thế giới có thể chịu nổi giá dầu tăng lên 140 USD một thùng như đã từng xảy ra hai năm trước”, chuyên gia Birol phân tích thêm với BBC.

Bên cạnh đó, các nước châu Âu thì báo động về nguy cơ dòng người tị nạn Libya sẽ từ bên kia bờ Địa Trung Hải sẽ ồ ạt tràn sang khi quốc gia Bắc Phi này thực sự lâm vào nội chiến hỗn loạn. Trong khi kịch bản này chưa xảy ra, dòng người tị nạn Libya đã bắt đầu gây sức ép lên biên giới với Ai Cập ở phía đông.

Đình Nguyễn


Filed under: Thế giới Tagged: Thế giới

No comments:

Post a Comment