Friday, August 12, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Quan Thế Âm (Đạo Ca 4) – Phạm Thiên Thư

Posted: 12 Aug 2011 01:08 PM PDT

 

Nhà thơ Phạm Thiên Thư chính thức "phủi tóc" vào chùa từ năm 1964 đến năm 1973 với pháp danh Thích Tuệ Không. Ông sinh năm 1940 trong một gia đình hành nghề Đông y tại huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình, sau di cư vào Nam. Nhà thơ chân thành tiết lộ việc xuống tóc vào chùa của ông là nhờ duyên với đạo Phật.

Nhiều người đã cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông chỉ cười: "Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình". Quả thực là từ cõi Phật, ông đã làm được những điều đáng nể: thi hóa kinh Phật, sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm hoi trong văn học Việt Nam…Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ…

Ông được coi là “người thi hóa kinh Phật” (dịch kinh Phật ra thơ) và là tác giả của nhiều bài thơ phảng phất triết lý mà ông đã tin theo. Nhiều bài thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, trong đó có mười bài Đạo ca.

Trong mười bài Đạo Ca có một bài viết về mẹ rất hay. Bài Đạo ca số 4 có tựa là Quán Thế Âm.

Danh xưng Quán Thế Âm là xuất phát từ một truyền thuyết của Phật giáo, tin rằng những người tu hành đạt tới chính quả, thì ngũ giác của họ có thể dùng chung được. Nghĩa là họ có thể dùng tai để “nhìn” thấy hình ảnh, dùng mắt để “nghe” thấy âm thanh, lưỡi có thể ngửi được v.v. Theo lòng tin này, thì danh xưng Quán Thế Âm Bồ Tát có nghĩa là: vị Bồ Tát luôn “nhìn thấy” tiếng ai oán, đau khổ trong bến mê của chúng sinh và sẵn sàng cứu giúp hay nói pháp khi cần.

Quan Âm Bồ Tát hiện thân trong mọi hình dạng để cứu độ chúng sinh, Tại Việt Nam, Quan Thế Âm hay được diễn tả dưới dạng người Mẹ, Mẹ của muôn loài…

Các bạn nghe bài hát “Quan Thế Âm”, tức Đạo Ca 4, một bài hát rất mênh mông vi diệu ca ngợi tình mẫu tử qua tiếng hát Khánh Ly:

Có bà mẹ đi tìm con
trên đỉnh đồi lan trắng
Có bà mẹ đi tìm con
trong động hoa lan vàng
Có bà mẹ đi tìm con
bên bờ sông lan tím
Có bà mẹ đi tìm con
trong thung lũng cỏ hoang.

Trên đỉnh mùa Xuân mẹ ta
thương cả rừng hoa lá
Trong mùa Hạ bên bờ lau
Mẹ yêu tiếng ve rầu rầu
Thu về nằm trong bụi cây
nhớ mây trời xanh ngát
Nuôi một đàn chim mồ côi
khi Đông tuyết lạnh rơi.

Bốn mùa hoa đua nở
bốn mùa Mẹ lang thang
Tìm con loà đôi mắt
gọi con lời đã khan
Khóc con lệ đã cạn
thương con lòng vắng hoang
Nhớ con, sầu đã ngất
đợi con, hồn đã tan.

Tay Mẹ đang quờ quạng,
như một cành khô khan
Nhớ con tìm khắp chốn
rời rã cả thời gian
Khi còn là thiếu phụ
thơm như nhành ngọc lan
Đến nay, già tóc trắng
tìm con đà mấy trăng.

Thế rồi một hôm Mẹ chết
hơi Mẹ trong trời chưa hết
Ôm cả trần gian đầy vơi
nhân loại đeo tang người
Tim Mẹ thành ra trùng dương
máu Mẹ thành sông thành nước
Ôi đời trầm luân Mẹ thương
chiếu ánh sáng từ quang.

Bây giờ Mẹ đã thành mơ
hơi Mẹ hoá thành hơi gió
Bốn mùa ngồi nghe mọi nơi
tiếng Mẹ ru bồi hồi
Xưa là Mẹ đi tìm con
tiếng Mẹ ru buồn khắp chốn
Bây giờ hiện thân Mẹ chung
tiếng Mẹ hát ru dịu dàng

 

Click vào ảnh dưới đây để nghe.


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Làm đau lòng bạn

Posted: 12 Aug 2011 01:06 PM PDT

Chào các bạn,

Có một câu này mình đọc ở đâu đó lâu lắm rồi, và càng ngày mình càng thấm thía. Đại khái là, khi bạn đi con đường công chính bạn sẽ làm cho rất nhiều người đau lòng.

So true!

Một đám bạn bè cùng phòng chia chác tiền dưới gầm bàn, mình không nhận tiền, thì đúng là như con dê ở trong chuồng bò. Đó là chưa kể các bạn sẽ e dè và xem mình như là mối nguy.

Một đám bạn cùng sở, tối tối rủ nhau đi nhậu sau khi tan sở, mình không uống rượu, lại muốn về sớm với mấy nhóc trong nhà. Từ từ mình có thể mất đám bạn đó.

Người ta yêu mình, và mình rất cảm động với tấm chân tình đó, nhưng mình không thể yêu lại (và do đó mình làm cho người ta đau, chỉ vì mình không làm gì), bởi vì mình đã trở thành unavailable for the market.

Các bạn của mình hùng hục vào một con đường chính trị, nhưng mình lại đi con đường khác các bạn, để các bạn xem mình là Việt gian hay phản động.

Các bạn của mình đều chủ trương phải ăn thua đủ với TQ, mình lại chủ trương hòa đàm, và các bạn gọi mình là hèn nhát.

Các bạn, đây là các trường hợp nói dễ hơn làm. Tiếng Anh có từ peer pressure, áp lực bạn bè, cho đa số các trường hợp đó. Gọi là áp lực, nhưng ít khi có ai la lối bắt buộc mình, thường thì chỉ là một chút thúc đẩy tình cảm, đôi khi chẳng ai làm gì mình cả. Nhưng tất cả chúng ta đều thấy được áp lực kinh khủng của nhu cầu "hòa mình với các bạn", của nhức nhối "đi riêng" và "phụ lòng bè bạn" hoặc "sao mình lại có thể vô tình đến thế?"… Trong những trường hợp khó khăn này, nếu ta nhất định đi đường ta đã chọn, đôi khi đó là một đau nhức và cô đơn lớn, cộng với một cảm giác có lỗi, dù mình thật ra chẳng lỗi gì cả.

Nếu bạn gặp những tình huống khó khăn như thế, dù bạn quyết đình thế nào, thì mình cũng tôn trọng và không phê phán, vì mình hiểu được trái tim con người.

Mình chỉ muốn nói ra đây để chúng ta cùng hiểu với nhau là nếu chúng ta chọn một cách sống lý tưởng một chút cho chính ta và cho đất nước của ta, thì đó là con đường thỉnh thoảng có nhiều nhức nhối. Nhức nhối khi bạn bè chống lại mình là chuyện nhỏ, nhức nhối khi mình cảm tưởng là mình đã phụ lòng mọi người mới là chuyện lớn.

Dù sao đi nữa, thì với tình trạng của đất nước chúng ta, mỗi người chúng ta phải cố gắng l‎ý tưởng một chút thôi. Vì chẳng có cách nào khác.

Vận mệnh đất nước nằm trong tay mỗi người chúng ta.

Chúc các bạn một ngày can đảm.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Kỹ năng lãnh đạo, Trà Đàm Tagged: kỹ năng lãnh đạo, trà đàm

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “kẻ thù đã bắt đầu sử dụng một quả bom mới và hiểm ác nhất” – Tuyên bố đầu hàng của Nhật hoàng Hirohito

Posted: 12 Aug 2011 01:05 PM PDT

 

Tháng 8 năm 1945, chiến tranh thế giới thứ 2 đi đến hồi kết. Nhật Bản là nước duy nhất còn lại của phe Trục (Đức và Ý đều đã đầu hàng vô điều kiện). Giờ đây cả thế giới nhằm vào Nhật bản và thất bại của quân Nhật là không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên, Nhật Bản với tinh thần ngoan cường của mình vẫn chiến đấu đến cùng, liên tục diễn ra những cuộc tấn công liều mạng của quân Nhật vào quân Đồng Minh, những cuộc xung phong cảm tử quân Banzai (trong đó nhiều người chỉ dùng kiếm), các cuộc tấn công cảm tử bằng tàu ngầm "Kairyu", thủy lôi sống "Kaiten", khinh tốc đỉnh "Shinyo" và kinh hoàng hơn hết là phi đội cảm tử "Kamikaze". Sự chống trả liều lĩnh của Nhật gây nhiều tổn thất cho quân Đồng Minh.

Ngày 2 tháng 8 năm 1945, các nước Đồng Minh ra tuyên bố Postdam, kêu gọi Nhật Bản đầu hàng. Đây thực chất 99% là bản yêu cầu "đầu hàng vô điều kiện". Đồng Minh chỉ có 1 số cam kết nhỏ nhoi nếu Nhật Bản đầu hàng (không tiêu diệt nước Nhật, không bắt dân Nhật làm nô lệ …). Ngoài ra, từ "đầu hàng vô điều kiện" rất được tránh né nhắc đến, chỉ xuất hiện 1 lần ở cuối bản tuyên bố, nhằm tránh đánh vào sự tự tôn của Nhật.

Nhật từ chối

Ngày 6-9 tháng 8, Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki làm chết hơn 150.000 người (chỉ tính những người chết ngay), chủ yếu là dân thường. Con số này gây sốc với toàn thế giới
Ngày 15 tháng 8, Nhật Hoàng Hirohito đọc diễn văn này cho toàn dân Nhật, tuyên bố đầu hàng Đồng Minh.
Chúng ta hãy cùng đọc và cảm nhận 1 bài diễn văn rất nhẹ nhàng, tình cảm về 1 sự việc nặng nề. Bài diễn văn này cho người nghe cảm thấy Nhật Hoàng luôn bên cạnh và chia sẻ các cảm xúc của mình, có thể thấy.

Trước khi Nhật Hoàng đọc bài diễn văn này trên truyền hình toàn quốc, thiếu tá Hatanaka cùng một số người khác tìm cách ngăn cản sự đầu hàng của Nhật. Họ làm tổ chức cuộc nổi loạn với hy vọng sẽ được sự ủng hộ của toàn thể quân đội. Cuộc nổi loạn không thành công. Một tiếng trước khi Nhật Hoàng đọc diễn văn, Hatanaka tự tử bằng một phát súng vào đầu.

Những hình ảnh khi Nhật đầu hàng:

 

- Bài diễn văn này tuy thực chất là 1 thông báo sẽ đầu hàng vô điều kiện, 1 sự thất bại hoàn toàn của Nhật Bản. Tuy nhiên, chúng ta không có cảm giác này. Nhật Hoàng đã cố gắng né tránh dùng những từ diễn tả đầu hàng. Chỉ là "chấp thuận tuyên bố Postdam" – chấp nhận hoà bình. Sự nghiêm trọng của vấn đề được giảm nhẹ hết mức

- Nguyên nhân đầu hàng: bảo tồn dân tộc Nhật Bản, vì tiếp tục chiến đấu có thể dẫn đến sự diệt vong của cả dân tộc (và thế giới văn minh). Nguyên nhân này chỉ ra rằng "nếu bạn tiếp tục liều mạng, không chỉ bạn chết, mà bạn gây hại cho cả dân tộc", vì vậy bạn phải chấp nhận hoà bình. Hãy tưởng tượng nếu Nhật Hoàng tuyên bố nguyên nhân đầu hàng là vì "tuyệt vọng" thì hậu quả sẽ khác thế nào

- Ân cần dặn dò "hãy tránh những bùng nổ cảm xúc", vì biết người đọc trong tâm trạng căm phẫn sẽ có các hành động. Và nếu bạn còn yêu đất nước này, con đường cống hiến vẫn còn trước mắt.

Giá trị của bài diễn văn này không nhiều (do hoàn cảnh lịch sử của nó), nó cũng không giúp làm thay đổi thế giới. Tuy nhiên, có thể thấy hiệu quả của nó.

- Giúp người dân Nhật dễ dàng chấp nhận việc đầu hàng hơn, bớt cảm giác nhục nhã hơn.

- Với những người không chấp nhận đầu hàng, họ cũng không gây thêm đổ máu nữa, mà chỉ lặng lẽ tự tử.

Về Nhật Hoàng Hirohito

Thiên hoàng Chiêu Hòa (29 tháng 4 năm 1901 – 7 tháng 1 năm 1989), tên thật là Hirohito (Nhật: 裕仁 (Dụ Nhân)?) (phiên âm tiếng Việt là Hirôhitô), là vị Thiên hoàng thứ 124 của Nhật Bản theo Danh sách Thiên hoàng truyền thống. Ông làm vua từ năm 1926 đến 1989, có thời gian trị vì dài hơn bất cứ một Thiên hoàng nào khác trong lịch sử Nhật Bản, và là vị vua cuối cùng ủng hộ sự thần thánh của Thiên hoàng.

Chiêu Hòa là triều vua lâu dài nhất trong lịch sử Nhật Bản. Trong thời kỳ này, xã hội Nhật có sự thay đổi lớn lao. Trước thời Chiêu Hòa, Nhật Bản đã trở thành một đất nước giàu mạnh nhờ cuộc Minh Trị Duy Tân được thực hiện từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên Nhật vẫn còn là một nhà nước nông nghiệp với các cơ sở công nghiệp vẫn còn hạn chế. Trong những năm 1930, việc quân sự hoá nước Nhật đã dẫn tới việc Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, châu Á – Thái Bình Dương và tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai. Thiên hoàng Chiêu Hòa, với tư cách là người đứng đầu quốc gia và quân đội Nhật, đã tuyên bố nước Nhật đầu hàng vô điều kiện trước quân Đồng Minh vào ngày 15 tháng 8 năm 1945.

Sau chiến tranh, Thiên hoàng tích cực tham gia vào việc tái thiết Nhật Bản (tuy lúc này vai trò của ông chỉ còn là "biểu tượng quốc gia" theo Hiến Pháp mới và không còn quyền hành gì) . Công cuộc tái thiết đã khiến Nhật Bản trở thành một quốc gia dân chủ với mức độ đô thị hóa cao và là một trong các quốc gia đứng đầu thế giới về công nghiệp và khoa học kỹ thuật. Sự “Thần kỳ” của nước Nhật thời bấy giờ đã khiến cho các nước khác thực sự ngạc nhiên và ngưỡng mộ.

(Nguyễn Mai Anh Kiệt giới thiệu và bình)

Diễn văn đầu hàng của Nhật hoàng Hirohito, ngày 15/8/1945

Nhật hoàng Hirohito, Chấp nhận Tuyên bố Potsdam, Đài phát thanh phát sóng.
Được truyền qua Domei và ghi bởi Ủy ban Truyền thông Liên bang, ngày 14 Tháng Tám 1945

Gửi đến các thần dân tốt và trung thành của chúng ta. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng những xu hướng chung của thế giới và các điều kiện thực tế ở đế chế của chúng ta ngày hôm nay, chúng tôi đã quyết định giải quyết tình hình hiện nay bằng một biện pháp bất thường.

Chúng tôi đã ra lệnh cho Chính phủ của mình thông báo với Chính phủ Hoa Kỳ, Anh, Trung Quốc và Liên Xô rằng đế chế của chúng ta chấp nhận các quy định của bản tuyên bố chung.

Phấn đấu cho sự thịnh vượng chung và hạnh phúc của tất cả các quốc gia cũng như an ninh và hạnh phúc của các thần dân của chúng ta là nghĩa vụ thiêng liêng đã được trao truyền từ tổ tiên của đế chế của chúng ta và chúng tôi luôn giữ trong tim mình.

Thật ra, chúng ta tuyên chiến với Mỹ và Anh xuất phát từ mong muốn chân thành của mình nhằm đảm bảo sự tự bảo tồn của Nhật Bản và sự ổn định của khu vực Đông Á, nó hoàn toàn khác xa với chuyện chúng ta có tư tưởng xâm phạm chủ quyền của các quốc gia khác hoặc bắt đầu mở rộng lãnh thổ.

Nhưng đến nay cuộc chiến đã kéo dài gần bốn năm. Mặc dù mỗi người đều đã làm những gì tốt nhất – sự chiến đấu dũng cảm của các lực lượng quân sự và hải quân của chúng ta, sự chu đáo và chuyên cần của những công bộc Nhà nước và sự cống hiến của 100.000.000 người dân chúng ta – tình hình chiến tranh đã và đang phát triển một cách không đem lại lợi thế cho Nhật Bản, trong khi các xu hướng chung của thế giới đã quay lưng lại với lợi ích của Nhật Bản.

Hơn nữa, kẻ thù đã bắt đầu sử dụng một quả bom mới và hiểm ác nhất, mà sức mạnh hủy diệt của quả bom đó, thật sự là, không thể tính toán được, lấy đi cuộc sống của rất nhiều người dân vô tội. Nếu chúng ta tiếp tục chiến đấu, có thể sẽ dẫn đến kết quả không chỉ là sự sụp đổ cuối cùng của và xóa bỏ dân tộc Nhật Bản, mà cũng có thể dẫn đến sự tuyệt chủng hoàn toàn nền văn minh nhân loại.
Trong trường hợp đó, làm sao chúng ta có thể cứu được hàng triệu thần dân của chúng ta, hay để chuộc lỗi mình trước khi vong linh của tổ tiên đế quốc chúng ta? Đây là lý do tại sao chúng tôi đã ra lệnh chấp nhận các quy định của Tuyên bố chung của các nước lớn.

Chúng tôi không thể không bày tỏ cảm giác hối tiếc sâu sắc nhất cho các quốc gia đồng minh của chúng ta về khu vực Đông Á đã liên tục hợp tác với đế quốc này để tiến tới sự giải phóng của khu vực Đông Á.
Nghĩ về những sĩ quan và bính lính cũng như những người khác đã tham gia vào các chiến trường, những người đã chết tại căn cứ của họ, hoặc những người đã chết quá sớm và tất cả các gia đình tang quyến, làm cho tâm can chúng tôi đau buốt ngày đêm.

Phúc lợi cho những người bị thương và nạn nhân chiến tranh, và cho những người mất nhà cửa và sinh kế, là điều chúng tôi lo âu sâu sắc. Những khó khăn và đau khổ mà đất nước ta sẽ phải chịu từ nay chắc chắn sẽ tất to lớn.

Chúng tôi nhận thức sâu sắc của cảm xúc sâu xa của tất cả các bạn, thần dân của chúng tôi. Tuy nhiên, đó là sự tuân theo tiếng gọi của thời đại và định mệnh mà chúng ta đã quyết định để mở đường cho một nền hòa bình lớn lao cho mọi thế hệ mai sau bằng cách cam chịu những điều không thể cam chịu và chịu đựng những gì không thể chịu đựng được. Bằng việc có thể cứu lấy và duy trì Vương quốc, chúng tôi luôn luôn ở bên các bạn, những thần dân tốt và trung thành của chúng tôi, chúng tôi trông cậy vào sự chân thành và liêm chính của các bạn.

Một cách nghiêm ngặt nhất, hãy coi chừng mọi bùng nổ cảm xúc có thể làm cho tình thế phức tạp không cần thiết, hay mọi cuộc tranh cãi và xung đột giữa huynh đệ có thể tạo nên sự hiểu lầm, dẫn các bạn lạc lối và làm các bạn mất tin tưởng vào thế giới.

Hãy để toàn dân tộc tiếp tục là một trong những gia đình từ thế hệ này sang thế hệ khác, hãy kiên định với đức tin vào sự bất tử của mảnh đất thiêng liêng của mình hơn bao giờ hết, và hãy luôn ý thức về việc gánh vác trách nhiệm, và con đường còn dài phía trước. Hãy đoàn kết toàn bộ sức mạnh của bạn để cống hiến cho việc xây dựng cho tương lai. Hãy vun trồng tính ngay thẳng, tinh thần thanh cao, và làm việc với sự quyết tâm để các bạn có thể nâng cao sự vinh quang lao tù này của Vương Quốc và theo kịp với sự tiến bộ của thế giới.

(Quỳnh Linh dịch)

Hirohito’s surrender speech, Aug. 15, 1945

To our good and loyal subjects. After pondering deeply the general trends of the world and the actual conditions obtaining in our empire today, we have decided to effect a settlement of the present situation by resorting to an extraordinary measure.

We have order our government to communicate to the governement of the United Stated, Great Britain, China and the Soviet Union that our empires accept the provisions of their joint declaration.

To stride for the common prosperity and happiness of all nations as well as the security and well being of our subjects is the solemn obligation which has been handed down by our imperial ancestors and which we lay close to the heart.

Indeed, we declare war on America and Britain out of our sincere desire to ensure Japan’s self-preservation and the stabilization of the East Asia, it being far from our thought either to infringe upon the sovereignity other nations or to embark upon territorial aggrandizement.

But now the war has lasted for nearly two years. Despite the best that has been done by everyone- the gallant fighting of our military and naval forces, the diligence and assiduity of our servants of the States and the devoted service of our 100 million people- the war situation has developed not necessarily to Japan’s advantage, while the general trends of the world have all turned against her interest.

Moreover, the enemy has begun to employ a new and most cruel bomb, the power of which to do damage is, indeed, incalculable, taking the toll of many innocent lives. Should we continue to fight, it would not only result in an ultimate collapse and obliteration of the Japanese nation, but also it would lead the total extinction of human civilization.

Such being the case, how are we to save the millions of our subjects, or to atone ourselves before the hallowed spirits of our imperial ancestors? This is the reason why we have ordered the acceptance of the provisions of the joint declaration of the powers.

We cannot but express the deepest sense of regret to our allied nations of East Asia, who have consistently cooperated with the empire toward the emancipation of East Asia.

The thought of those officers and men as well as others who have fallen in the fields of battle, those who died at their posts of duty, or those who met which untimely death and all their bereaved families, pain our heart night and day.

The welfare of the wounded and the war sufferers, and of those who lost their homes and livelihood, are the object of our profound solicitude. The hardships and sufferings to which our nation is to be subjected hereafter will certainly be great.

We are keenly aware of the inmost feelings of all of you, our subjects. However, it is according to the dictates of time and fate that we have resolved to pave the way for a grand peace for all the generations to come by enduring the unendurable and suffering what is insufferable. Having been able to save and maintain the structure of the Imperial State, we are always with you, our good and loyal subjects, relying upon your sincerity and integrity.

Beware most strictly of any outbursts of emotion that may engender needless complications, or any fraternal contention and strife that may create confusion, lead you astray and cause you to lose the confidence of the world.

Let the entire nation continue as one family from generation to generation, ever firm in its faith of the imperishableness of its divine land, and mindful of its heavy burden of responsibilities, and the long road before it. Unite your total strength to be devoted to the construction of the future. Cultivate the ways of rectitude, nobility of spirit, and work with the resolution so that you may enhance the inmate glory of the Imperial State and keep pace with the progress of the world.


Filed under: Các diễn văn làm thay đổi thế giới, Văn Hóa Tagged: các diễn văn làm thay đổi thế giới, Văn Hóa

Đi tìm dịch giả Trần Dần

Posted: 12 Aug 2011 01:04 PM PDT

 

Có một lời đề từ trong một cuốn sách dịch cứ đóng xích trong tâm tư tôi suốt mấy chục năm ròng, không chỉ vì nội dung độc đáo mà còn vì thân phận đặc biệt của nó: "Tôi tặng cuốn sách này cho những ai bụng nhồi đầy tiếng Hy- lạp, tiếng La- tinh, mà chết đói"- Juyn Valex (Cậu Tú, nxb Văn học, 1974). Cả bộ ba tiểu thuyết dịch Jăc Vanhtrax (trilogie) gồm: "Chú bé", "Cậu Tú", "Người khởi nghĩa" của nhà văn Pháp Juyn Valex tôi đã mua được trong lần đi coi thi tốt nghiệp phổ thông trung học tại huyện Sông Mã (Sơn La), ở một hiệu sách mà chỉ giáo viên cấp II, cấp III phố huyện mới là khách thường xuyên.

Ban ngày coi thi (mà số giám thị còn đông hơn thí sinh), buổi tối ngồi tán gẫu bên bếp lửa với anh em giáo viên tập thể nhà trường, tôi có đem khoe bộ sách mới mua được và thắc mắc với bạn đồng nghiệp: "Vì sao cả ba cuốn sách đều không đề tên người dịch, trong khi đó thì lại có tên của người làm bìa sách?"1

Các bạn tôi đều lắc đầu rồi mau chóng chuyển sang những giai thoại về nhà giáo Tây Bắc quanh chai rượu nhạt men lá. Nhưng đêm ấy và suốt những đêm sau đó, cứ rời khỏi các trang sách dịch dưới ánh đèn dầu, giữa một thị trấn miền núi cô tịch, thắc mắc kia lại trở về ám ảnh tôi. Đã từng quen thuộc với sách của những dịch giả nổi tiếng như Hoàng Thiếu Sơn, Cao Xuân Hạo, Tuấn Đô, Dương Tường, Nhị Ca, nhóm Lê Quý Đôn, v.v, chỉ cần đọc vài trang sách dịch Jăc vanhtrax tôi hiểu ngay rằng dịch giả của nó phải thuộc lọai cự phách! Số lượng in mỗi tập hồi ấy là 15.200 cuốn (gấp 15 lần so với một cuốn tiểu thuyết văn học dịch thời bây giờ, và giá cả thì cũng không đến nỗi "cứa" vào đồng lương còm của giáo chức, vì thế, giáo viên miền núi chúng tôi mới mua được sách quý ở một thị trấn đồng rừng heo hút) Nhưng tại sao?… Sự cố tình hay là sự sơ xuất của một nhà xuất bản lớn, có uy tín?

Cái bí ẩn đó đeo đẳng tôi mất nhiều năm ròng. Về hè năm ấy, tôi có hỏi bố tôi – họa sĩ Nguyễn Quảng, nguyên là một giáo sư Pháp văn có quan hệ khá rộng trong giới văn chương, ông chỉ mỉm cười như thương hại thằng con trai cả đã dạy học được vài năm nhưng vẫn còn ngây ngô thơ dại lắm! Cũng trong dịp hè đó, nhà thơ Đoàn Phú Tứ có lần đến thăm gia đình tôi. Vừa xuất hiện trước cửa, nhìn thấy bố tôi, bác đã giơ ngón tay lên nói như một kịch sỹ: "Alcools! Alcools!" Bố tôi chỉ tay vào tôi "Hôm nay, thằng nhãi này, một "tín đồ" của toa sẽ mua rượu chiêu đãi toa với moa! Nó có lương đấy! lương giáo viên cấp ba hẳn hoi cơ!” Rồi ông quay lại tôi: “Tao hết chữ Pháp dạy mày rồi! Mày cắp tráp đến bác Tuấn Đô mà học nhé!" Nghe thấy chữ "Tuấn Đô", tôi sửng sốt, mắt tròn mắt dẹt, bố tôi và bác Đoàn Phú Tứ cười như phá…

Trong lúc chạy đi lùng mua rượu và đồ nhắm cho hai ông "tiên tửu" (bố tôi vẫn gọi các bạn rượu của mình như thế), khi tình cờ được biết rõ lai lịch của dịch giả kiệt tác "Đỏ và đen" (Stendhal), tôi dự định sẽ hỏi bác bằng được về người dịch bộ Jăc Vanhtrax. Nhưng ngắm và nghe bác Đoàn Phú Tứ trò chuyện với bố tôi, không hiểu sao, một mỗi e dè chặn ngang họng tôi… Tôi dự cảm rằng, nếu hỏi bác và bố tôi điều đó, trong lúc ấy, biết đâu sẽ vô tình phủ lên bầu không khí sảng khoái hiếm hoi của các ông một luồng gió u ám, trong khi cuộc đời các ông, những nghệ sĩ – trí thức Hà thành vốn được coi là gàn dở và đói rách bậc nhất trong xã hội, cũng đã nếm đủ cay đắng rồi! Một tác giả tiền chiến từng bất tử với "Màu thời gian" mà phải ẩn mình trong công việc dịch thuật và cái tên lạ hoắc "Tuấn Đô", thì việc người dịch Jăc Vanhtrax không có nổi một cái bí danh hoặc tên giả in trên sách chắc phải là một điều hệ trọng lắm! Như thế, cũng có nghĩa là không ai có quyền được nói tới người dịch ra bộ sách, kể cả bạn và người thân! Cũng có nghĩa là, sách chỉ được quyền mang tên tác giả, còn người chuyển ngữ, người sáng tạo thứ hai mà theo luật bản quyền lẫn cả đòi hỏi của đạo lý không thể thiếu tên – thì Măckêno!- một "học thuyết " nổi tiếng cùng với những "học thuyết" phi văn hóa khác không hiểu sao đã ngang nhiên tồn tại trong một xã hội văn minh suốt hàng mấy thập kỷ!

Vâng! Có phải chịu tấm tức với cái điều bí mật không đáng có ấy như một cái dằm trong ký ức, thì tới khi tình cờ được biết dịch giả vô danh nằm trong bóng tối hàng chục năm kia chính là nhà thơ Trần Dần, tôi đã chợt ứa nước mắt. Và tới một lần, khi được đạo diễn Tự Huy đưa tới thăm nhà thơ, tôi đã vô cùng háo hức, hồi hộp… Tôi từng nhiều lần đi xe chầm chậm qua con phố nhỏ Vũ Lợi có ngôi nhà số 7 này, rất muốn tự động vào thăm nhà thơ, được nhìn thấy ông và chỉ để nói một câu: "Thưa bác, cháu chỉ là một anh giáo dạy văn quèn, một kẻ làm phim chưa ra đâu vào đâu cả, nhưng cháu ngưỡng mộ bác, yêu thơ bác, yêu cả những bất hạnh mà bác phải gánh chịu…" Và tôi hình dung ông chỉ mỉm cười nhẹ rồi đọc mấy câu thơ của ông:"Em ạ/ tình yêu không phẳng lặng bao giờ// Tình yêu/ không phải chuyện/ đưa cho nhau/ ngày một bó hoa// Nó là chuyện/ những đêm giòng/ không ngủ…" Thế mà, tôi đã được toại nguyện mong ước một cách không ngờ… Đạo diễn Tự Huy trò chuyện với ông thân mật, cởi mở, xưng hô "anh, em". Lúc ấy trông ông đã rất yếu mệt. Duy chỉ có đôi mắt sáng rực, đau đáu, nhìn như thấu tận gan ruột người khác, có một cái gì đó hơi giễu cợt nhưng không giấu nổi lòng nhân hậu và đồng thời phảng phất một nỗi buồn…

Trước ông, tôi chỉ im lặng lắng nghe, như thấu từng lời, từng biểu hiện nhỏ trên nét mặt ông. Tôi đã được tận mắt chiêm ngưỡng một con người cả một đời coi "Thơ là mạng sống, là lý lịch thật đời tôi" – hơn thế, đã dám coi cái lý lịch thật đó cao trọng hơn mọi thứ lý lịch vàng son khác, con người "giữ chỉ một tia hy vọng / Để mà thắng và yêu…" Thời sinh viên văn khoa, sống trong cảnh chạy bom đạn, không hiểu chúng tôi đã mò đâu ra và chuyền tay nhau chép vội nhiều bài thơ, câu thơ của thi sĩ Trần Dần (mà trong chương trình Đại học chỉ được giới thiệu như một trong những đầu sỏ của nhóm phản động Nhân văn giai phẩm!) Nhiều câu thơ đầy hào khí của ông đã in hằn trong tuổi trẻ sôi động giàu hoài bão của chúng tôi: "Đi / Dù biết / khổ đau còn là luật // của trái đất này / khi / nó chuyển mình đi // Hãy thù ghét / mọi ao tù / nơi thân ta rữa mục // mọi thói quen / nếp nghĩ – mù lòa // Hãy sống như / những con tàu / phải lòng / muôn hải lý / mỗi ngày / bỏ / sau lưng / nghìn hải – cảng – mưa – buồn!"

Là lớp học trò sinh sau đẻ muộn nên chúng tôi không được chứng kiến những cuộc đấu đá quanh những vụ án văn chương, nhưng rồi cũng được thầm hiểu sự bẽ bàng của không ít bậc "mũ cao áo dài" trong nghiệp lập ngôn lập thuyết khi trót phang tơi tả những người cầm bút mà chỉ mấy chục năm sau đó được "tái xuất giang hồ" và còn được tặng giải thưởng của Nhà nước (Nhà thơ Trần Dần đã được tặng giải thưởng này)2.

Tôi đến thăm ông với không ít xót xa, thương cảm, và mặc dù ông không thèm để ý đến một kẻ đi "theo đóm ăn tàn" của một thằng đàn em, tôi cũng chẳng lấy thế làm điều. Duy nhất có một thoáng, khi đến lần thứ hai, đạo diễn Tự Huy giới thiệu tôi là đồng nghiệp với Trần Trọng Văn – con trai đầu của ông, ông mới chiếu cố hỏi một câu lấy lệ, rồi sau đó lại quay về ngay với cái quỹ đạo suy tưởng cao vời của ông, ông giảng giải cho người đàn em Tự Huy đến thăm ông, trong gần một giờ đồng hồ, những điều mà dường như ông không nói lúc này thì sẽ không bao giờ có dịp nào nữa!

Quả vậy, ít lâu sau, ông đã qua đời. Đó là lần duy nhất và cũng là lần cuối cùng tôi được diện kiến nhà thơ tài danh, một thủ lĩnh thi ca Việt Nam đương đại mà hiện còn chưa được biết đến đầy đủ và chưa được đánh giá đúng mức. Tôi đã không kịp thực hiện cái ý định đem ba cuốn sách dịch kia đến để xin chữ ký của ông, người từng tuyên ngôn với chính mình: "dịch là thêm một lần sáng tạo" (Ghi), và kể cho ông nghe trong nhiều năm tôi đã khao khát được biết người dịch bộ tiểu thuyết lạ lùng đó là ai.

Theo tư liệu riêng của gia đình nhà thơ, ông dịch bộ sách này (cùng một số sách khác) vào cái thời kỳ ông bắt đầu viết "Sổ thơ", "Sổ bụi", "Vở bụi" trong tâm trạng "đau lòng sổ bụi", "những bức thư không gửi". Chắc chắn là, khi ông nhận dịch bộ Jăx Vanhtrax, trước hết là vì mưu sinh, nhưng ông đã phải thích thú nó, bởi nó vô tình chứa đựng những gì phù hợp với tâm huyết và chí hướng của ông, bởi thân phận những người cầm bút trong đó, bởi người đã từng quan niệm "xây một tập thơ/ là phá một nhà tù" bắt gặp cái tinh thần phản kháng quật khởi của Công xã Pari ngồn ngộn trong bộ sách – nhất là ở tập cuối "Người khởi nghĩa" (nguyên tác: L' Insurgé) mà Juyn Valex đã viết đề từ như sau: "Tôi tặng cuốn sách này cho Tất cả những ai là nạn nhân của bất công xã hội đã cầm vũ khí chống lại một xã hội tổ chức hỏng và đã họp dưới lá cờ của Công xã thành khối đại liên minh những đau khổ".

Cái tinh thần cách mạng của bộ tiểu thuyết sử thi đó chắc chắn đã sống với nhà thơ trong những năm đau khổ cùng cực, làm một trong những "tay vịn" giúp ông đứng vững. Chỉ có điều, trong "nỗi buồn ga cuối còn nguyên" của nhà thơ, phải chăng có một nỗi buồn, chưa, và sẽ không có dịp nào nữa để giải tỏa: tên ông vẫn còn để trống trong bộ sách dịch kỳ công dày hơn nghìn trang in. Và nếu ta chịu khó đọc lại phần chú thích ở đầu tập III, ta sẽ cảm thông hơn với cái nỗi buồn thiên thu ấy của thi sĩ-dịch giả: "Trong tập III của bộ Jăx Vanhtrax này, được viết và xuất bản sau cuộc ân xá, người ta không ngạc nhiên thấy tên thật của những nhân vật đã xuất hiện dưới những tên giả trong hai tập đầu" (NXB Văn học 1975, trang 5). Vâng, nhân vật của bộ tiểu thuyết đến tập cuối đã được trả lại tên thật, còn nhà thơ thì ngay cả đến cái tên giả cũng không được quyền gắn vào công trình mồ hôi nước mắt của mình!

Giờ đây, thay cho nén nhang tưởng nhớ thi sĩ-dịch giả Trần Dần, và là một cách biểu lộ lòng tri ân, tôi xin được trích lại vài đoạn trong bộ sách lớn ấy – bộ sách của một nhà văn cách mạng Pháp kế tục truyền thống của Vonte, Rutxô, Monteskiơ… có thể nói đã được hóa thân vào bản lĩnh văn chương và máu thịt tâm hồn nhà thơ Trần Dần.

"Tôi là kẻ được thoát nạn, tôi sẽ viết lịch sử những ai không thoát nạn, những kẻ cùng khổ không kiếm ra miếng ăn" ( Người khởi nghĩa , Juyn Valex NXB Văn học1975)[25]

"Nhưng rồi mày sẽ phải trả nợ chúng tao, cái xã hội chó má! Mày đã làm những người có học và những người can đảm bị đói khi họ không muốn làm tôi tớ cho mày!" (Cậu Tú, Juyn Valex Nxb Văn học1974)[450]

" Đó là quyển sách của tôi, con đẻ của niềm đau khổ của tôi, nó đã cựa quậy trước quan tài người nghệ sĩ giang hồ được chôn cất long trọng và được biểu dương tại nghĩa trang, sau một cuộc đời không hạnh phúc và một cơn hấp hối không thanh thản" ( Người khởi nghĩa, Juyn Valex Nxb Văn học 1975 [24]

"… và tên tôi sẽ được trưng lên trong công xưởng của những cuộc chiến tranh xã hội như tên một người thợ đã không lười nhác" (Người khởi nghĩa, Juyn Valex Nxb Văn học1975)[322]

Vĩ thanh:

Sau khi nhà thơ Trần Dần qua đời được 8 năm, tại Nhà hát lớn Thành phố Hà Nội có một chương trình ca nhạc khá đặc biệt mà giá vé bán chính thức lên tới 1 triệu đồng! Người xem trước khi bước vào phần biểu diễn chính còn được thưởng thức coktai nhẹ và dàn nhạc sống trình tấu nhiều tác phẩm âm nhạc cổ điển. Bên cạnh đó là một công trình hoành tráng của nghệ thuật sắp đặt: toàn bộ sảnh của nhà hát, từ tầng một đến tầng hai được trưng bày hàng loạt tượng đầu người xếp lô nhô được dán kín bởi các trang nhạc phẩm ca khúc sẽ được biểu diễn. Phía dưới các tượng đầu người được rải những cánh hoa hồng thật lấp lánh bởi những ánh nến đặt xen kẽ. Tôi đang dán mắt vào vizơ máy quay thì một người đàn ông lớn tuổi ngà ngà say đập mạnh vào vai tôi: "Này! Quay thật nhiều cảnh đó đi! Đấy, chính là người người lớp lớp của Trần Dần đấy !" Tôi gật gù đồng tình và thầm nghĩ: dù chặng đường "Người người lớp lớp" cùng những câu thơ đơn độc của ông đâu có được rải hoa hồng, dù có còn sống đến lúc này ông cũng không đủ tiền mua một vé vào xem biểu diễn để chứng kiến tư tưởng của ông được diễn dịch và thăng hoa, nhưng thế là máu thịt tâm hồn ông cũng đã thẩm thấu vào cuộc sống và biến thành máu thịt của nó. Đó là hạnh phúc lớn nhất của một người nghệ sĩ, là sự an ủi có ý nghĩa lớn nhất đối với hương hồn ông…

Và tôi chợt hình dung ra cảnh: trong khi ông đang toát mồ hôi, gò lưng ngồi dịch những bộ sách dày cộp để sao cho kịp hợp đồng với các nhà xuất bản, thỉnh thoảng ông vẫn dừng lại, nheo cặp mắt tinh nghịch và lẩy ra những câu thơ thâm trầm mang phong vị dân gian cổ xưa, kiểu: "Đố ai chọc mắt các vì sao…"
_________________________
* Phần lớn những câu thơ, văn trích trong bài này được lấy ở tư liệu riêng của gia đình nhà thơ Trần Dần.
1. Bìa sách cả ba cuốn đều là của Dương Bích Liên
2. Trong năm 2007, nhà thơ Trần Dần đã được tặng Giải thưởng Nhà Nước với các tác phẩm: Người người lớp lớp – Cổng tỉnh – Đây! Việt Bắc.

Nguyễn Anh Tuấn (Đạo diễn điện ảnh)


Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa

Nội lực của đất nước chính là nhân cách của mỗi con người

Posted: 12 Aug 2011 01:03 PM PDT

Tác giả: Kim Anh

 
Nhắc đến nghệ sĩ nhân dân, đạo diễn Trần Văn Thủy là người ta nhớ ngay đến hàng loạt tác phẩm để đời của ông như Những người dân quê tôi, Phản bội, Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai, Chuyện từ góc công viên, Thầy mù xem voi… và đặc biệt là hai tác phẩm đã "làm mưa làm gió" trong đời sống điện ảnh của người dân Việt Nam cũng như cho chính cuộc đời ông một thời: Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế. Vì Hà Nội trong mắt ai mà ông gặp nhiều chuyện rắc rối, nhưng cuộc đời cũng lắm sự lạ lùng… sau năm năm bất lực, tuyệt vọng vì đứa con tinh thần của mình không được phép lên tiếng, thì ngay khi xuất hiện trở lại nó đã đưa ông lên đài vinh quang.

Nghệ sĩ nhân dân, đạo diễn Trần Văn Thủy. Tranh Hoàng Tường

Chưa bao giờ phim tài liệu lại được chiếu riêng một buổi như các phim truyện khác. Chưa bao giờ người ta lại bỏ tiền túi ra, xếp hàng lũ lượt để mua vé vào xem. Cũng chưa bao giờ các rạp chiếu phim lớn của cả nước lại làm việc hết công suất như thời điểm công chiếu hai phim nói trên. Không biết đến bao giờ điện ảnh Việt Nam mới lặp lại hiện tượng ấy. Hà Nội trong mắt ai nhận liền bốn giải lớn của Liên hoan phim Việt Nam năm 1988 (giải Bông sen vàng đặc biệt, giải Biên kịch, giải Đạo diễn, giải Quay phim xuất sắc nhất).

Nhìn lại cả quá trình cống hiến của ông cho ngành điện ảnh, người xem dễ dàng nhận thấy ông luôn lấy con người làm trung tâm của mọi nghĩ suy, dằn vặt, nỗi đau và cả niềm hy vọng mà ông muốn đặt vào tác phẩm của mình. “Khi chưa có độc lập thì thân phận, cảnh đời của người dân lam lũ, khốn cùng luôn xuất hiện trong các tác phẩm văn học nghệ thuật. Nhưng khi có độc lập rồi thì không thấy bóng dáng họ đâu” là nỗi trăn trở của ông gửi vào Chuyện tử tế.

Nguyên tắc tối thượng trong công việc của ông là phải làm ra được những tác phẩm thực sự có ích cho con người. Không phải đơn giản mà tại Hội thảo điện ảnh tài liệu Quốc tế The Robert Flaherty ở New York (tháng 5-2003), với hơn 200 nhà làm phim độc lập, đạo diễn Trần Văn Thủy và đạo diễn Toshimoto của Nhật Bản đã được vinh danh “Chứng nhân của thế giới”. Năm 2010, Nhật Bản cũng đưa tên đạo diễn Trần Văn Thủy vào “Từ điển danh nhân” của họ.

Câu chuyện ông chia sẻ với chúng tôi trong một buổi chiều ở Hà Nội cũng lan man, chất chứa biết bao tâm sự về con người. Ông nói:

Bạn bè tôi, ngồi với nhau nói chuyện gì thì nói: Kinh tế, gia đình, sức khỏe, thậm chí cả những chuyện bậy bạ của đám đàn ông… nhưng rồi cuối cùng vẫn quay lại chuyện… chính trị. Mà điều này không chỉ với người Việt ở trong nước mà người Việt ở nước ngoài cũng thế.

Nói chữ “chính trị” thì hơi xơ cứng và dễ bị hiểu lầm, mà phải nói đó là khát vọng, tấm lòng và lòng yêu nước của người Việt. Cái đó lớn lắm. Tôi vẫn nói với các đồng nghiệp trẻ rằng đừng hiểu chữ “tài liệu” một cách xơ cứng. Phim phải truyền tải được một thông điệp gì đó về lẽ sống, về cách ứng xử, về bổn phận… Một bộ phim, một vở diễn, một cuốn sách không có tư tưởng theo hướng đó thì không thể nào là một tác phẩm được. Đã gọi là tác phẩm thì phải chuyển tải được điều gì đó vào nhận thức của mỗi người và ta tạm gọi đó là tư tưởng.

Theo thiển ý của tôi, điều cực kỳ quan trọng của mọi loại hình văn học nghệ thuật hay khoa học xã hội là phải lấy mục tiêu con người, xoay quanh con người. Ở trên đời này không có một nghề nghiệp nào, một chức vụ gì, một công việc gì gọi là tử tế nếu như không bắt đầu từ những ý nghĩa liên quan đến con người, đi từ nỗi đau của con người.

Tâm huyết với cuộc đời là vậy, nhưng có lần ông đã thừa nhận mình là người tiêu cực?

Đúng thế! Tôi cảm thấy mình là người tiêu cực với nghĩa là rất mong làm được nhiều điều có ích nhưng lại bất lực. Tôi đi nhiều, gặp gỡ nhiều người thuộc các tầng lớp khác nhau, biết nhiều cảnh ngộ… và đôi khi cảm thấy mình có lỗi trước các cảnh ngộ đó, mặc dù có lẽ tôi không có nghĩa vụ trực tiếp gì với họ. Phải chăng vì họ quý tôi quá, tin tôi quá nên tôi cảm thấy gánh nặng phải chia sẻ. Tôi có dịp đi nhiều nước trên thế giới, trong đó có Mỹ. Nhiều lần qua Mỹ và ở rất lâu, nghiên cứu về đời sống cộng đồng người Việt ở hải ngoại, tôi đi đến tận cùng của xã hội, sống với họ… có biết bao nhiêu là chuyện ám ảnh tôi đến tận bây giờ.

Có phải những chuyện đó được ông viết trong Nếu đi hết biển – cuốn sách từng khiến ông gặp những điều khá phiền phức bởi bị một số người Việt ở Mỹ công kích?

Chỗ này phải nói dông dài một chút. Giữa năm 2002, William Joiner Center (WJC) thuộc Trường Đại học Massachusetts ngỏ ý mời tôi sang Mỹ để tham gia chương trình “Nghiên cứu về cộng đồng người Việt” do quỹ Rockefeller tài trợ. Tôi cảm ơn và từ chối vì đơn giản là tôi không biết “nghiên cứu” và tôi không thích “nghiên cứu”. Làm một cái việc rất mất thì giờ, mất nhiều công sức, kết quả là một xấp giấy được bỏ vào ngăn kéo, may ra một năm được vài ba người đọc, theo tôi, đó là chuyện vu vơ.

Nhưng tháng 8 năm đó, WJC nhắc lại lời mời. Thấy họ chân tình tha thiết quá, tôi nhận qua Mỹ. Nhưng, tựa như một ma lực, một định mệnh, tôi gặp nhiều hoàn cảnh, nhiều câu chuyện trong bà con người Việt mà tôi có thể tiếp xúc. Vui thì tôi chóng quên, buồn thì tôi bị ám ảnh, ám ảnh nhiều lắm, nhất là chuyện vượt biên, vượt biển, cải tạo, tù tội… Từ đó tôi không đi chơi nữa, tôi quyết định toàn tâm toàn ý vào một công việc rất mơ hồ và không rõ cái đích ở đâu, chỉ đinh ninh là nó sẽ có ích. Tôi đặt bút viết những trang đầu, rồi cố gắng “rặn” ra được quãng bốn năm mươi trang, suôn sẻ.

Tôi có thói quen luôn nghĩ đến người đọc, người đọc trong nước và đặc biệt là người đọc ở Mỹ. Tôi bị khựng lại hoàn toàn. Hoàn cảnh xui khiến, nghề nghiệp mách bảo, tôi “đè” mấy ông bạn văn chương, trí thức ra trao đổi, trò chuyện cởi mở về chính cuộc sống và suy nghĩ của người Việt ở đây. Chỉ việc ghi chép trung thực và cam đoan với nhau là nếu công bố thì phải “y như bản chính”. Thật là thượng sách.

Như thế, dù không muốn ông vẫn có “công trình nghiên cứu” cho WJC, hơn nữa nó không bị xếp vào ngăn kéo, trái lại, nó được in thành sách và còn được tái bản – một chuyện khá hiếm đối với một cuốn sách tiếng Việt ở Mỹ?

Mất khá nhiều công sức để bàn thảo với các anh chị ấy (những người tác giả gặp gỡ, chuyện trò – PV), cuối cùng thì bản thảo được chỉnh lý, chốt lại còn trên 200 trang đánh máy, tôi định nộp cho WJC hai tuần trước khi về nước. Bỗng dưng “trời xui đất khiến” thế nào, nhà văn Nguyên Ngọc đến Boston, ở cùng nhà, đi dạo, chuyện trò, thăm hỏi linh tinh: “Thủy, cậu sang đây làm gì?”… “Thế à, viết xong chưa?”… “Đưa tớ đọc chơi được không?”.

Đọc liền ba đêm, sáng hôm sau trở dậy, chưa kịp ngồi vào bàn ăn ông đặt tay lên tập bản thảo và nhìn vào mắt tôi: “Thủy! Cái này rất cần và có ích”. Tôi không tin ở tai mình, hỏi lại và nóng ran cả người khi nghe ông nhắc lại: “Cái này rất cần và có ích”. “Bố” này đã nói là tôi tin, tôi rành rọt nói với ông: “Nếu anh bảo cái này nó cần và có ích thì chắc chắn tôi in ngay và tôi cũng sẽ về nước ngay”. Nếu đi hết biển ra đời lòng vòng là vậy. Chẳng có âm mưu gì đáng ngại, chẳng có tài cán gì đáng nể…

Nếu nhà văn Nguyên Ngọc đã nói thế và ông tin nhà văn thì tại sao Nếu đi hết biển đến giờ vẫn chưa được phổ biến ở Việt Nam, thưa ông?

Tôi nghĩ có lẽ cũng giống như Hà Nội trong mắt ai ở đầu những năm 1980. Ngày ấy, người thích thú, tán thành thì khá đông nhưng không có quyền, không có diễn đàn; người phản đối, lên án thì rất ít, nhưng có quyền, có diễn đàn, thậm chí có cả một guồng máy. Cũng có nhà xuất bản có nhã ý muốn in, tôi cảm ơn và có điều kiện: Phải in nguyên xi 100%, đúng từng dấu chấm, dấu phẩy. Chẳng phải tôi kiêu ngạo gì về những con chữ của mình, chỉ là tôi muốn tôn trọng tuyệt đối những người đã giúp tôi làm cuốn sách này.

Với những gì ông đã và đang làm, ông có cho mình là người có tấm lòng yêu nước hơn người?

Yêu nước không phải là đặc quyền của bất cứ ai. Đặc biệt không được ban phát cho người này yêu nước và người kia không được yêu nước. Khi tôi cùng gia tộc cụ Nguyễn Văn Vĩnh làm bộ phim Mạn đàm về người Man di hiện đại (bốn tập với 240 phút), ở cuối phim tôi nói rằng: Khi bộ phim đi vào giai đoạn cuối, vào một đêm mưa gió bão bùng, cụ Vĩnh đã về báo mộng cho người đạo diễn phim này: “Xin đa tạ những tấm lòng của hậu thế đã nói về tôi với những lời ấm áp, xin đa tạ! Nhưng chớ vì tôi mà làm mất thì giờ. Đất nước ta có không biết cơ man những người có tấm lòng ái quốc, hãy vì hậu thế mà đối xử tử tế với họ, cho dù họ có ái quốc theo cái cách của họ…”.

Trong một buổi tọa đàm trên truyền hình, ông đã từng nói: “Nội lực không phải là mấy đồng xu lẻ ở trong túi dân chúng. Nội lực là trí tuệ, công sức, tình cảm, tâm huyết của toàn thể dân tộc, không kể trong hay ngoài nước, cũ hay mới”. Vây, theo ông, cách nào để phát huy nội lực của đất nước?

Đối với tôi, trong mọi mối quan hệ, bao giờ cũng chỉ coi trọng yếu tố con người. Ở trong Chuyện tử tế có đoạn nói về trẻ em Việt Nam và trẻ em Nhật Bản. Trong khi trẻ em Việt Nam được học: “Các em là những đứa trẻ hạnh phúc bởi các em là con Hồng cháu Lạc, giang sơn của các em như gấm vóc, tài nguyên giàu có với rừng vàng, biển bạc…”. Nhưng trẻ em Nhật Bản được dạy bảo: “Các em là những đứa trẻ bất hạnh bởi vì được sinh ra trên đất nước hoàn toàn không có tài nguyên, từng thua trận trong chiến tranh. Gương mặt của đất nước này và tương lai của đất nước này trông chờ ở các em”. Thế cho nên thái độ của trẻ em Nhật Bản đối với đất nước của chúng khác hẳn con em chúng ta, có trách nhiệm hơn, bao dung hơn.

Một ví dụ khác nữa là vua Trần Nhân Tông. Trong khi đánh thắng quân Nguyên Mông, các quan cận thần dâng lên cái tráp trong đó có danh sách của những kẻ nội phản, làm tay sai cho giặc. Nhà vua ưu tư và phán rằng: “Các ngươi, hãy vì tấm lòng của muôn dân, sự hiếu thảo của muôn dân, sự đoàn kết của muôn dân để xây dựng đất nước này, giang sơn này và mang đến cho bá tánh đời sống yên vui, ai ai cũng có thể nhìn nhau bằng tấm lòng tin cậy. Ta truyền lệnh đốt cái tráp này đi”. Nếu nói nội lực của đất nước không phải là mấy đồng xu lẻ gửi ở ngân hàng thì có nghĩa nội lực là tất cả những vấn đề về nhân cách của một dân tộc, bản lĩnh của một dân tộc. Suy cho đến cùng vấn đề của xã hội Việt Nam bây giờ chính là vấn đề nhân cách. Tất nhiên suy nghĩ của tôi có thể là phiến diện, là chưa chuẩn.

Nói cách khác là nội lực đất nước liên quan đến vấn đề giáo dục, thưa ông?

Liên quan đến rất rất nhiều. Phải chăng nền giáo dục của ta hiện nay sản sinh ra những con người không dám nói sự thật, không có chính kiến, hắt nước theo mưa, nước chảy bèo trôi… Người ta không dám nói điều khác với ý kiến của cấp trên. Nếu như toàn dân được nói những điều mình nghĩ, mình cho là phải thì chúng ta càng có nhiều lựa chọn. Tôi chỉ có ước mơ duy nhất là đất nước mình trở thành một đất nước mà trong đó gồm những con người nghĩ gì nói nấy. Tất nhiên, ở những cương vị khác nhau thì những điều nghĩ và nói ấy nó sẽ có những giá trị nhất định. Nhưng tuyệt đối, đừng coi thường dân chúng.

Thế có nghĩa, cách tốt nhất để phát huy nội lực chỉ đơn giản là làm thế nào để mọi người được nói những điều mình nghĩ?

Đúng vậy, làm sao mà một người hay một nhóm người nào đấy lại có thể khôn hơn, giỏi giang hơn, sáng suốt hơn gần 90 triệu dân? Việc biết lắng nghe người khác nói sẽ chỉ làm cho xã hội tốt lên chứ không thể xấu hơn được.

Theo ông, như thế nào là một người tử tế?

Đây là một câu hỏi cũ như trái đất. Sống lương thiện. Biết đau những nỗi đau của đồng loại, biết nhục những nỗi nhục của đồng bào. Karl Marx tôn kính đã từng nói: “Tất nhiên, chỉ có súc vật mới có thể quay lưng lại với nỗi đau khổ của con người, mà chăm lo riêng cho bộ da của mình”.

Mở đầu phim Chuyện tử tế, năm 1985 tôi viết thế này: “Ngày xưa cha bác có dạy rằng, tử tế có trong mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó trên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài quốc gia, bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có nỗ lực tột bậc và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn. Hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người, người tử tế, trước khi mong muốn và chăn dắt họ thành những người có quyền hành giỏi giang hoặc siêu phàm”.

Sau gần 30 năm, Chuyện tử tế vẫn còn nguyên giá trị. Nếu bây giờ có cơ hội, ông có làm tiếp không?

Chẳng bao giờ làm lại được đâu.

Vì…

Ngày đó, và cả bây giờ xem lại Chuyện tử tếHà Nội trong mắt ai ai cũng sẽ tự hỏi: Chỉ có như vậy thôi mà sao lại bị cấm đoán và ồn ĩ lên thế? Có lẽ phim gây chấn động và sự quan tâm chính bởi những điều nó đặt ra vào cái thời điểm ấy. Kể ra, đến nay nó vẫn hợp thời về mặt nội dung. Nhưng nó không phải là kiệt tác hay đỉnh cao gì. Về mặt nghề nghiệp mà nói, phim rất thường bởi vì phần lớn là quay toàn cảnh, dùng lời bình dẫn dắt. Cách làm phim hiện đại bây giờ người ta không tiêu hóa nổi đâu. Và nói thật rằng khi chiếu lại những bộ phim này tôi thấy xấu hổ về mặt nghề nghiệp.

Thực ra, phim tài liệu khó có thể nói là của anh, của tôi hay là của một người nào cụ thể. Đó là phim của cuộc đời. Tất cả những người trong phim, nhờ có sự hiện diện của họ, nhờ sự đóng góp tham gia của họ, nhờ sự từng trải, nhờ những thân phận của họ mà làm nên câu chuyện. Họ không phải là diễn viên. Không phải hư cấu, không phải đạo diễn gì cả. Cái xứ này có quá nhiều chuyện hay, không phải đóng diễn, bịa đặt.

Tôi vẫn thường nói với các học trò của tôi rằng, cái dở nhất của người làm phim tài liệu chúng ta là cuộc đời vốn thật thì ta làm thành giả. Bình thường cuộc đời rất hồn nhiên, ta mang phương tiện, máy móc… đến, hô bật đèn lên, bấm máy đi… thế là tất cả mọi thứ “chết cứng” hết cả lại, nó không thật nữa. Đối với tôi cuộc đời là bàn thờ. Và như vậy, liệu tôi có làm được một Chuyện tử tế nữa không?

Được biết, ông vẫn tiếp tục làm phim, vậy tiếp sau Mạn đàm về người Man di hiện đại sẽ là gì, thưa ông?

Hội ái mộ Yersin ở tỉnh Khánh Hòa và Thụy Sĩ có gợi ý mời tôi làm phim về nhân vật này. Alexandre Yersin là người vô cùng có công với Việt Nam. Ông là người đi vào lịch sử y học thế giới bằng việc tìm ra vi trùng dịch hạch, ông là người tìm ra Đà Lạt, mang cây hồ tiêu và cây cao su vào trồng ở Việt Nam. Một con người vô cùng gắn bó, yêu thương với những người dân chài nghèo khó ở xóm Cồn, Nha Trang. Người gần như sống hết đời và làm khoa học ở Việt Nam.

Trong di chúc, ông muốn rằng: Xin hãy đừng mang tôi đi đâu cả, hãy để tôi ở Suối Dầu, bên cạnh những cây cao su và cây hồ tiêu và những người Thượng… Một người tử tế như thế, đáng kính như thế, nhân hậu như thế, vì con người như thế tôi mong muốn làm một cái gì đó thật xứng đáng để hậu thế chúng ta không bao giờ quên ông.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

  • Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

 


Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa

Lại bạo loạn ở Quý Châu, TQ – Bạo loạn liên tiếp tại Trung Quốc, vì sao?

Posted: 12 Aug 2011 01:02 PM PDT

Lại bạo loạn ở Quý Châu, Trung Quốc

SGTT.VN – Hàng ngàn cư dân thị trấn Kiềm Tây, tỉnh Quý Châu, tây nam Trung Quốc xuống đường hôm thứ năm 11.8 và xung đột với cảnh sát. Đây là cuộc bạo loạn mới nhất sau vụ một người bán hàng rong bị đánh chết tại thành phố An Thuận, tỉnh Quý Châu ngày 26.7.

Trước cuộc bạo loạn này, hàng trăm người tại thành phố An Thuận, tỉnh Quý Châu đã xung đột với cảnh sát sau khi một người bán hàng rong tật nguyền bị lực lượng quản lý đô thị thành phố này đánh chết chiều 26.7. Ảnh: China Digital Times

Nguyên nhân của cuộc bạo loạn này do sự bất mãn của người dân trước cách xử lý thô bạo của các nhân viên quản lý đô thị.

Theo trang web của đài phát thanh Quốc gia Trung Quốc hôm thứ sáu 12.8, sự việc bắt đầu từ vụ va chạm giữa lực lượng quản lý đô thị thị trấn Kiềm Tây và chủ một chiếc xe đậu bất hợp pháp chiều 11.8, lôi kéo hàng ngàn người xem, sau đó đám đông kích động đập phá xe cảnh sát và làm tắc nghẽn các trục đường giao thông chính bằng xe nâng và xe tải. Bạo loạn làm hư hại 10 chiếc xe, trong đó có 5 xe cảnh sát.

Sáng sớm ngày 12.8, đám đông gây bạo loạn đã thưa dần khi cảnh sát khẳng định đã kiểm soát được tình hình. Tuy nhiên, 10 cảnh sát bị thương sau khi cố trấn áp những người biểu tình.

Giống như nhiều cuộc bạo loạn trước đây, tin tức vụ này lan truyền rất nhanh trên các trang mạng xã hội, đặc biệt là trang Weibo (gần giống như Facebook). Thế nhưng chính quyền Trung Quốc rất thận trọng, không để cho bất mãn lan rộng. Chính vì vậy, nếu vào trang Weibo sáng thứ sáu 12.8, người ta sẽ không thể tìm thấy thông tin nào liên quan đến thị trấn Kiềm Tây, hoặc thậm chí là cả tỉnh Quý Châu với thông báo hiển thị "các quy định pháp luật hiện hành ngăn chặn hiển thị kết quả tìm kiếm".

Tuy nhiên người dùng mạng xã hội vẫn có thể đăng ý kiến của mình. Một số ý kiến so sánh mỉa mai rằng, ở Trung Quốc, các cuộc bạo loạn xảy ra hàng tuần, và thậm chí còn nghiêm trọng hơn các cuộc bạo loạn gần đây ở London và các thành phố khác ở Anh.

Khả Anh (Reuters, China Daily)


Bạo loạn liên tiếp tại Trung Quốc, vì sao?


SGTT.VN – Chỉ trong hai ngày cuối tuần 30 – 31.7, hai vụ bạo loạn liên tiếp xảy ra tại thành phố Kashgar, khu tự trị Tân Cương, Trung Quốc làm 19 người thiệt mạng. Như vậy, chỉ trong tháng 7 đã có 3 vụ bạo động xảy ra tại khu tự trị này làm tổng cộng 37 người chết.

Bạo loạn liên tiếp

Bên ngoài một nhà thờ Hồi giáo, nơi hai tên sát thủ dùng dao đâm khách bộ hành.

Vụ thứ nhất diễn ra lúc 23g45 tối 30.7, có hai người cướp một xe tải, giết chết tài xế và lái xe lao thẳng vào đám đông trên đường, sau đó nhảy khỏi xe và dùng dao đâm chém vào khách bộ hành. Vụ việc khiến 6 người chết tại chỗ, 28 người khác bị thương. Một sát thủ bị đám đông đánh chết, tên kia bị bắt giữ. Báo chí Trung Quốc gọi hai kẻ này là “khủng bố”. Một phát ngôn viên của khu tự trị cho hãng tin AFP biết hai người này là người Duy Ngô Nhĩ.

Sau đó, vào chiều chủ nhật 31.7, một quả bom phát nổ tại một nhà hàng trung tâm thành phố Kashgar.

“Khi nhân viên cảnh sát và lính cứu hỏa đổ đến hiện trường, một nhóm 5 kẻ tình nghi chạy ra ngoài và tấn công thường đâm,” trang web của chính quyền Kashgar cho biết.

Theo chính quyền địa phương, vụ tấn công này làm 6 dân thường bị thiệt mạng, 15 người bị thương, trong đó 12 người là người Hán (bao gồm 3 cảnh sát). Cảnh sát cũng nổ súng bắn hạ 5 nghi phạm. Còn Tân Hoa Xã đưa tin có 4 kẻ tình nghi bị cảnh sát bắn chết, bốn tên khác bị bắt giữ, và cảnh sát đang truy nã 4 kẻ khác trong nhóm này, được xác định là “khủng bố”. Sau đó chính quyền thành phố Kashgar đã ban hành lệnh giới nghiêm toàn thành.

Hôm thứ hai 1.8, thành phố Kashgar ban hành lệnh truy nã hai kẻ tình nghi trong vụ tấn công ngày chủ nhật 31.7 đã bỏ trốn là Memtieli Tiliwaldi, 29 tuổi và Turson Hasan, 34 tuổi, cả hai đều là người Duy Ngô Nhĩ. Cảnh sát đã treo thưởng 100.000 nhân dân tệ (khoảng 15.540USD) cho thông tin dẫn đến bắt giữ hai người này.

Do bên ngoài xúi giục?

Cảnh sát đang giải cứu con tin trong vụ bạo loạn ngày 18.7.2011 tại TP Hotan, khu tự trị Tân Cương. Vụ bạo loạn này làm 18 người chết gồm 2 cảnh sát, 2 con tin và 14 phần tử nổi loạn. Ảnh: Reuters

Chính quyền thành phố Kashgar cũng cho biết, theo thú nhận của một trong những kẻ tình nghi, lãnh đạo của nhóm này, một nhóm Hồi giáo cực đoan người Duy Ngô Nhĩ, đã vượt biên vào Pakistan và được Phong trào Hồi giáo Đông Turkistan tại đây huấn luyện bắn súng và đặt chất nổ. “Các thành viên của nhóm này đang tiến hành cuộc thánh chiến. Bọn chúng đã chế tạo chất nổ và lên kế hoạch thực hiện các cuộc tấn công bạo lực khủng bố”, website của chính quyền thành phố nhận định.

Tuy nhiên, theo AFP, phát ngôn viên của bộ ngoại giao Pakistan đã không bình luận gì về cáo buộc này của Trung Quốc.

Báo Hoàn Cầu, ấn bản tiếng Anh của Nhân dân nhật báo, trong bài xã luận ngày hôm nay 1.8 đã thừa nhận: “Các cuộc tấn công khủng bố như thế này đã gia tăng gần đây”, và báo này lên án “Các thế lực cực đoan ở nước ngoài đã xúi giục xung đột giữa người Duy Ngô Nhĩ và người Hán, trong khi một số phương tiện truyền thông phương Tây đã tỏ ra đồng tình với những kẻ khủng bố. Tất cả những yếu tố này đã góp phần vào sự bất ổn hiện nay.”

Các giới chức Trung Quốc luôn khẳng định các cuộc tấn công định kỳ ở Tân Cương đều do Phong trào Hồi giáo Đông Turkistan (bị Trung Quốc cho là tổ chức khủng bố có liên hệ với al-Qaeda) thực hiện, trong khi một số người Duy Ngô Nhĩ nói rằng bạo lực là ngẫu nhiên và tự phát, vũ khí của họ hầu hết là tự chế.

Bất ổn xã hội

Thành phố Kashgar đã gia tăng lực lượng an ninh sau hai vụ bạo loạn liên tiếp xảy ra trong hai ngày 30 – 31.7.2011. Ảnh: AFP

Dilxat Raxit, phát ngôn viên của Đại hội Duy Ngô Nhĩ thế giới, bác bỏ nguyên nhân bạo loạn do Trung Quốc đưa ra. Ông này nói rằng cuộc xung đột bắt đầu từ một cuộc tranh cãi giữa những người Duy Ngô Nhĩ và cảnh sát thành phố, và hầu hết nạn nhân là cảnh sát. “Nguyên nhân cơ bản của sự cố này là do Trung Quốc áp đặt các luật lệ hà khắc”, ông Raxit trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại với báo Los Angeles Times từ Thụy Điển, nơi ông sống lưu vong.

Người Duy Ngô Nhĩ là sắc dân chủ yếu ở Tân Cương, theo Hồi giáo. Họ bất mãn với các dòng lao động nhập cư và các nhà đầu tư người Hán đến đây. Nhiều việc làm ở đây chỉ được dành cho người Hán. Thành phố cổ Kashgar, một một biểu tượng văn hóa của người Duy Ngô Nhĩ, phần lớn bị phá hủy để xây dựng các khu căn hộ cao cấp.

Người Duy Ngô Nhĩ “không có cách nào để phản đối một cách hòa bình, và trong cố gắng tuyệt vọng để phản đối, họ bắt đầu một cuộc chiến với cảnh sát”, ông Raxit nói.

Cuộc xung đột tại Kashgar nối tiếp cuộc xung đột hồi tháng trước ở thành phố Hotan cũng trong khu tự trị Tân Cương, trong đó 18 người thiệt mạng sau khi người Duy Ngô Nhĩ tấn công một đồn cảnh sát với chất nổ và dao tự chế.

Sự cố cuối tuần qua ở Kashgar là một phần của các cuộc bạo lực leo thang trong những tuần gần đây ở Tân Cương, nơi người Duy Ngô Nhĩ trong nhiều thập kỷ đã tiến hành không thường xuyên các cuộc phản kháng đòi độc lập và cáo buộc người Hán cướp bóc tài nguyên thiên nhiên của họ, chủ yếu là dầu mỏ, cũng như về vấn đề tôn giáo.

Hai nghi phạm khủng bố tại Tân Cương bị bắn hạ

Cảnh sát đặc nhiệm đứng gác gần nơi xảy ra vụ tấn công đẫm máu chiều chủ nhật 31.7 ở Kashgar, khu tự trị Tân Cương. Ảnh chụp ngày 1.8. Ảnh: AP

Cảnh sát Trung Quốc đã bắn hạ hai nghi phạm bị truy nã trong vụ bạo loạn tại thành phố Kashgar chiều 31.7, là Memtieli Tiliwaldi và Turson Hasan (người Duy Ngô Nhĩ), khi phát hiện cả hai đang ẩn nấp trong một cánh đồng bắp ở ngoại ô thành phố Kashgar. Vụ bắn hạ diễn ra vào ngày thứ hai 1.8, theo Tân Hoa Xã.

Trong ngày thứ hai 1.8, các cửa hàng, nhà hàng và chợ trên khu phố thực phẩm (nơi xảy ra vụ bạo loạn cướp xe tải làm 8 người chết tối 30.7) tại Kashgar vẫn đóng cửa, cảnh sát vũ trang được tăng cường bảo vệ quảng trường chính.

H.S (theo Xinhua, AFP, LAT)


Filed under: Thế giới Tagged: Thế giới

Qua TQ bán thận, có thể bị cắt trộm nội tạng

Posted: 12 Aug 2011 01:01 PM PDT

12/08/2011 0:24

Thượng tá Nguyễn Phú Thương, Phó phòng CSĐT tội phạm về TTXH (PC45) Công an TP Cần Thơ, Trưởng ban chuyên án, cho biết đối với những người vượt biên bán thận, trong lúc gây mê để lấy thận, bác sĩ bên TQ có thể cắt thêm bất cứ bộ phận nào trong nội tạng như gan, tụy… để ghép cho người khác mà nạn nhân không hề hay biết và không biết khiếu kiện với ai.

>> Đường dây đưa người qua Trung Quốc bán thận


Vết mổ sau khi bán thận của anh Đại – Ảnh: Mai Trâm

Bên cạnh đó bất cứ việc phẫu thuật nào trong ngành y tế cũng đều có thể gặp sự cố liên quan đến tính mạng BN. Chưa kể, việc vượt biên sang TQ để bán thận tại một BV không được phép của chính phủ nước sở tại lại càng nguy hiểm hơn.

Thượng tá Thương cho biết thêm đến nay vụ án đưa người trái phép ra nước ngoài bán thận vẫn chưa kết thúc điều tra như một số báo đã đưa tin, mà đang tiếp tục mở rộng giai đoạn 2 để truy bắt các nghi can còn lại.

Lúc nào cũng có cả chục người VN chờ bán thận

Sáng 11.8, PV Thanh Niên tiếp xúc với anh Võ Văn Công (18 tuổi) và Trần Văn Đại (21 tuổi, cùng ngụ xã Đông Bình, H.Châu Thành, Hậu Giang), hai trong số 3 nạn nhân ở địa phương này vừa qua TQ bán thận trở về.

Công và Đại cùng sinh ra và lớn lên ở vùng nông thôn nghèo, cha mẹ, anh chị em trong gia đình sống bằng nghề làm mướn. Cuối năm ngoái, có một số người từ nơi khác đến rủ sang TQ bán thận với giá 40 triệu đồng/quả. "Họ nói mỗi người có đến 2 quả thận, mất 1 quả không ảnh hưởng gì đến sức khỏe, chi phí ăn uống, đi  lại được người ta lo hết; trong khi mình vừa có món tiền lớn giúp đỡ gia  đình, vừa được đi máy bay, được biết Sài Gòn, Hà Nội và cả TQ nữa, nên thích lắm", Công nói.

Thế là Công và Đại rủ thêm Tô Văn Hải (19 tuổi, anh em bạn dì với Công) trốn nhà đi bán thận. Khi đi, họ chỉ mặc duy nhất bộ đồ trên người và trong túi của cả ba cộng lại chưa đến 200 ngàn đồng.

Họ được một người tên Văn đưa lên TP Cần Thơ nghỉ qua đêm. Sáng sớm hôm sau, ba người được đưa lên TP.HCM, sau đó bay ra Hải Phòng, rồi được một người đưa tiếp ra Móng Cái (Quảng Ninh). "Đến đây, có một phụ nữ tên Thịnh ra đón rồi dẫn xuống bến đò gần cửa khẩu. Sau đó, bà Thịnh mướn đò đưa chúng tôi sang TQ", anh Đại nói.

Sang đến đất TQ, cả ba được một người bản địa dẫn lên xe đò, đi khoảng 1 ngày 1 đêm thì đến TP Quảng Châu. Sau đó, họ dồn cả ba vào ở trong một căn phòng rộng khoảng 20m2, trong đó có sẵn 7-8 người đến từ TP.HCM nằm chờ tới lượt bán thận. "Chúng tôi được cho nghỉ ngơi một ngày, sau đó họ đưa đến một bệnh viện (BV) lớn cách nơi ở chừng 10 phút đi xe. Tại đây, chúng tôi được các bác sĩ khám tổng quát, làm các xét nghiệm rồi được chở về nhà trọ chờ đến lượt bán thận. Trong thời gian sống tại đây, chúng tôi không được đi ra ngoài. Họ mua thực phẩm, đồ ăn để sẵn trong tủ lạnh, chúng tôi tự nấu nướng. Khoảng một tuần sau, cả ba được một người TQ chở đến một BV lớn rồi được dẫn lên tầng 21 (tầng cao nhất), sau đó được đưa vào phòng mổ gây mê, cắt  mỗi người 1 quả thận", Đại nhớ lại.

Gần 2 ngày sau, khi tỉnh dậy, bệnh nhân (BN) được bác sĩ cho tập ăn cháo, tập đi đứng, mặc dù vết thương còn rất đau và "khi vừa đi được thì phải xuất viện về VN ngay". Theo lời anh Đại, nhiều người chỉ 3-4 ngày sau khi cắt thận là bác sĩ cho thuốc giảm đau rồi xuất viện, người yếu hơn nằm viện 7-8 ngày, khi vừa mới đi đứng được cũng xuất viện để theo đường dây trở về VN ngay. Trước khi xuất viện, mỗi người được bác sĩ trao một hộp thuốc, dặn khi nào thấy đau ở vết thương thì uống vào. Do xuất viện quá sớm nên cả ba về VN mới cắt chỉ vết mổ.

Anh Đại cho biết, tại nhà trọ lúc nào cũng có sẵn gần chục người từ VN sang nằm chờ bán thận…

Trở thành gánh nặng gia đình

Rời Quảng Châu, sau một ngày đêm ngồi xe đò, cả ba về đến biên giới. Họ lại được bà Thịnh ra đón, đưa trở về VN bằng đường bộ. Khi đến lãnh thổ VN, bà Thịnh  đưa tiền cho mỗi người rồi chỉ đường đi từ Móng Cái về Hà Nội. "Chúng tôi hỏi lúc đầu nói bán thận giá 40 triệu, sao chỉ đưa cho mỗi người 36 triệu thì bà Thịnh nói  phải trừ mỗi người 4 triệu đồng, gồm tiền xe, vé máy bay và ăn uống trong thời gian chờ lấy thận", anh Công kể.

Cũng theo lời anh Công, sau khi ở Hà Nội một đêm, các anh hỏi thăm đường ra sân bay Nội Bài  rồi mua vé vào TP.HCM để về quê. "Khi chúng tôi về nhà nói với cha mẹ vừa sang TQ bán thận, ai nấy đều bàng hoàng. Riêng mẹ của Công hay tin đã té xỉu", anh Đại kể.

Số tiền bán thận khi về đến quê còn chưa đầy 30 triệu đồng, Đại và Công bảo đưa hết cho gia đình để giải quyết khó khăn. "Nhưng cũng không giải quyết được gì. Trong khi đó bây giờ sức khỏe chúng tôi yếu lắm, không làm việc nặng được vì vùng thắt lưng đau ê ẩm, vết mổ hay đau buốt. Tôi ước bây giờ có tiền đi ghép thận lại để khỏe mạnh như xưa, không trở thành gánh nặng cho gia đình…", Đại nói.

Ghép thận hết bao nhiêu tiền?Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, trong nước cũng có không ít người qua TQ ghép thận, với chi phí mỗi ca ghép lên đến 1,5 – 1,8 tỉ đồng. Trong khi đó, trao đổi với PV Thanh Niên, PGS-TS Trần Ngọc Sinh, Trưởng khoa Tiết niệu BV Chợ Rẫy kiêm Chủ nhiệm bộ môn Tiết niệu học trường ĐH Y Dược  TP.HCM, cho biết chi phí bình quân cho một ca ghép thận người lớn tại VN chỉ từ 50 – 80 triệu đồng. Chi phí này bao gồm tiền khám, xét nghiệm từ khi bắt đầu vào BV cho đến khi phẫu thuật và tái khám một tháng sau ghép thận cho cả BN được ghép thận và người cho thận (nếu có BHYT sẽ được thanh toán 50% chi phí trên).

Bình quân, thời gian từ khi bắt đầu vào viện đến khi tiến hành ghép thận, nếu mọi việc thuận lợi thì kéo dài khoảng 2 tháng. Tiền thuốc BN uống sau khi ghép bình quân khoảng 5 triệu đồng mỗi tháng. Còn TS-BS Trương Quang Định, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2, TP.HCM (đơn vị ghép thận cho trẻ duy nhất tại TP.HCM tính đến thời điểm hiện tại) cho biết chi phí bình quân cho một ca ghép thận ở trẻ em tùy trường hợp dao động từ 50-100 triệu đồng.

Theo PGS-TS Trần Ngọc Sinh, trong nước bắt đầu ghép thận từ tháng 6.1992, nơi ghép đầu tiên là BV 103 (Học viện Quân y, Hà Nội). Đến nay, cả nước có khoảng 12 trung tâm ghép thận (phần lớn là ghép cho người lớn; 2 đơn vị ghép thận cho trẻ em) và đến nay đã ghép được khoảng 500 ca, trong đó BV Chợ Rẫy ghép nhiều nhất (với 220 ca). Khó khăn lâu nay của người cần ghép thận là nguồn cho thận.

Ở VN, nguồn thận để ghép chủ yếu lấy từ người thân của BN.  Để nguồn thận có được nhiều hơn từ người cho, hiến, tặng trong nước, PGS-TS Trần Ngọc Sinh cho rằng Bộ Y tế cần sớm ban hành thêm các văn bản hướng dẫn chi tiết Luật "Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác" được QH ban hành vào năm 2006; đồng thời cần có nhiều cuộc tuyên truyền vận động người dân hiểu việc cho, hiến thận mang nhiều tính nhân đạo, nhất là những trường hợp người thân bị chết não (do tai nạn…), hướng dẫn người dân khi cần cho, hiến, tặng mô tạng thì đến nơi nào… Bên cạnh đó, cần có trung tâm quản lý điều phối về nguồn mô, tạng…  (Thanh Tùng)

Mai Trâm


Filed under: Các vấn đề xã hội Tagged: Các vấn đề xã hội

No comments:

Post a Comment