Sunday, August 21, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Trường ca “Người Việt Nam” – 12 năm để một lần bật khóc

Posted: 21 Aug 2011 12:27 PM PDT

 
- Vừa biết tin có cuộc thi sáng tác thơ và ca khúc "Đây biển Việt Nam" do báo VietNamNet phối hợp với Hội Nhạc sĩ, Hội Nhà văn Việt Nam đồng tổ chức, nhạc sĩ Trương Quý Hải đã liên lạc ngay tới BTC để gửi gắm những tâm sự tha thiết về trường ca "Người Việt Nam" – mối duyên lớn đã khởi nguồn chính từ những bài phóng sự về Hoàng Sa do phóng viên VietNamNet thực hiện.

Nhạc sĩ của "Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa" đã nhiều đêm thao thức với trường ca “Người Việt Nam” và vô cùng đồng cảm, chia sẻ với BTC với tâm huyết nồng nàn, rực cháy, hướng về biển đảo và tình yêu quê hương, đất nước.
 

 

Trường ca Việt Nam gồm 5 chương:

Chương 1: Lời thề – là chương thể hiện hào khí người Việt Nam với truyền thống ngàn đời của cha ông "vượt lên sóng gió, xây đắp giang sơn, đạp bằng bão tố,  quyết giữ non sông, một vùng trời đông…"

Chương 2: Hải đội Hoàng  Sa – là chương xúc động nhất và cũng dồn nhiều tâm huyết nhất của tác giả với hào khí  Hoàng Sa trong  hình ảnh trời Đông biển rộng, tế sống anh linh, trùng trùng cưỡi sóng, bất khuất hy sinh, sắc phong sử vàng, tiếp bước ông cha.

Chương 3: Đoàn viên – viết cho ngày đoàn tụ non sông.

Chương 4: Đêm trắng – là một đêm nhớ về con đường thẫm đẫm máu xương và nước mắt của bao lớp người, và để ngẫm đến một ngày khải hoàn của đất nước.

Chương 5: Cho con là người Việt Nam – một lời ru, một lời kết cho trường ca cho những người con đất mẹ Việt Nam.

Tôi đã khóc khi viết về Hải đội Hoàng Sa

­- Anh đã mất bao lâu để hoàn thành trường ca Người Việt Nam?

12 năm là quãng thời gian tôi hoàn thành trường ca này. Tôi bắt đầu viết từ năm 1998 với chương 1: Lời thề

 

Ảnh Lê Bá Dương

- Tại sao thời gian viết tác phẩm lại lâu đến vậy, thưa anh?

 

Đó là bởi sau khi viết được một vài dòng ở chương 1 tôi tặc tịt, tắc tịt đúng theo nghĩa đen bởi không biết viết tiếp theo sẽ là viết về chủ đề gì, viết như thế nào. Với riêng chương 1 tôi đã mất 11 năm để viết mà vẫn chưa được hoàn chỉnh.

­­- Cảm hứng nào đã khiến anh tiếp tục cầm bút viết tiếp những chương tiếp theo?

Tôi đặt bút sáng tác tiếp chương 2 – Hải đội Hoàng Sa sau khi đọc loạt bài phóng sự về những "cột mốc sống" ở Hoàng Sa là những ngư dân bám biển và ký sự Lễ khao lề thế lính ở Lý Sơn trên báo VietNamNet.

Nói thật là tôi theo dõi loạt phóng sự này ra từng kỳ, và ngay ở kỳ 2, kỳ 3 khi ra tôi đã khóc. Giọt nước mắt đã khiến tôi phải viết phải làm một cái gì đó thế là Hải đội Hoàng Sa ra đời rồi lần lượt sau các chương tiếp theo được tôi hoàn thành trong khoảng thời gian rất ngắn sau đó.

- Anh viết chương nào nhanh nhất…?

Đó là chương 3 – Đoàn tụ, chỉ trong một đêm. Ấy là đêm 30/4/2010, trong lúc Hà Nội bắn pháo hoa. Trong giờ khắc đó, những vệt sáng đỏ từ những chùm pháo phản chiếu xuống khắp nơi. Bất giác khi đó khi nhìn xuống dưới đất bỗng tôi cảm thấy những linh hồn đang đi tìm nhau ! Đó là những người đã mất trong cuộc chiến, những người đó không kể Nam Bắc, họ đều đi tìm nhau, đi tìm về nguồn cội của đất mẹ. Và đêm đó tôi đã viết trọn vẹn chương 3.

Người lính mong thư còn hơn mong mưa ngoài đảo !

- Anh đã ra Trường Sa chưa? Hình ảnh và kỉ niệm nào khiến anh nhớ nhất?

Tôi ra Trường Sa trong một chuyến đi từ năm 1993, hồi đó tôi thuộc vào một tốp văn nghệ để ra Trường Sa hát cho anh em nghe.

Kỉ niệm nhớ nhất là khi tôi tới thăm anh em lính ở những đào chìm. Ở đó là mênh mông mây nước, khi thủy triều lên là nước ngập hết cả tầng một của lô cốt. Anh em ở đó thực sự là thiếu thốn trăm bề, và trong trải nghiệm ấy khi nhìn lá cờ Tổ Quốc tung bay cùng chiếc cốt mốc bê tông đánh dấu chủ quyền của Việt Nam tôi mới thấy hết sự thiêng liêng của vấn đề chủ quyền. Tôi hát hết những gì tôi có để phục vụ anh em. Hát tới bài nào anh em cũng thuộc và hát theo.

 

Ảnh: Lê Bá Dương

Dây đàn ở Trường Sa ngày đó cũng là một thứ đồ hiếm. Bởi ngày đó thì dây đàn chưa có dây nilon toàn dây kim loại mà muối biển thì ăn mòn. Bởi vậy mới có bài hát Guitar một dây ra đời là vì vậy.

- Điều gì khiến anh cảm thấy xúc động nhất trong quãng thời gian đi thăm đảo?

Đó là khoảnh khắc khi đến và khi ra về. Khi chúng tôi từ đất liền cầm theo ngoài đồ tiếp tế là những phong bì thư của các em thiếu nhi viết cho những người lính. Những bức thư không hề của riêng ai, của bất cứ cá nhân nào vậy mà anh em cầm lấy trên tay run run đọc từng dòng.

Cái sự thiếu thốn vật chất, tinh thần của những người lính thật khó để hiểu hết cho những ai chưa từng được trải nghiệm. Sau này một chiến sĩ trẻ tâm sự với tôi câu này: "Ở đây chúng em mong mưa nhưng không mong bằng lá thư từ đất liền anh ạ".

Ngày về, cũng là một ngày xúc động với cả đoàn chúng tôi. Anh em lính đảo bứt rứt nhất định không cho chúng tôi về, họ còn dọa là để ngư lôi quanh đảo để cản chúng tôi. Phải tới khi chỉ huy và cán bộ trong đoàn chúng tôi ra động viên anh em thì họ mới chịu chia tay. Tàu chúng tôi chầm chậm đi, anh em ở ngoài đảo nháy đèn pha 3 lần, tàu của chúng tôi cũng kéo 3 hồi còi tạm biệt. Đó là kí ức mãi mãi sau này khi nhớ lại khiến tôi xúc động.

Lời ru khải hoàn cho ngày đoàn kết

­­- Anh có thể nói một chút về âm nhạc của trường ca "Người Việt Nam"?

Tôi cố gắng sử dụng tối đa ngôn ngữ âm nhạc truyền thống Việt Nam trong cả 5 chương. Chương 1 tôi sử dụng chất liệu của vùng Tây Bắc kết hợp một chút của Bắc Bộ. Chương 2 tôi dùng dân ca Nam Bộ và đặc biệt kết hợp với miền Nam Trung Bộ. Chương 3 là dân ca miền Trung. Chương 4 là làn điệu dân ca Bắc Bộ. Còn chương 5 tôi dùng làn điệu ru con của người Ê Đê -Tây Nguyên và xen vào một chút lời ru của Bắc Bộ.

- Anh sử dụng từng chất liệu cho từng chương trong bản trường ca của mình, rõ ràng là có mục đích?

 

Nhạc sĩ Trương Quý Hải trong dàn hợp xướng hát “Người Việt Nam”

Đúng vậy. Ở ví dụ như ở Chương 2, nơi tôi dồn nhiều tâm huyết nhất sở dĩ lại sử dụng chất liệu của Nam Trung Bộ là bởi ở đây có một loại nhịp trống đã tồn tại trong dân gian bao đời nay là nhịp Ngũ Liên và Tứ Liên. Ở nước ta ngàn đời nay, chỉ có 2 việc lớn khiến quy tụ được tinh thần toàn dân là đánh giặc và chống lũ. Trống Ngũ Liên là trống dùng khi ra trận, trống Tứ Liên là trống dùng để báo hộ đê. Vì vậy với Hải Đội Hoàng Sa – là chương tôi viết về biển đảo Việt Nam, tôi đã đưa vào đó cả 2 nhịp trống này.

Chương 3 – Đoàn viên, nơi tôi viết về ngày đoàn kết của dân tộc nên tôi dùng hoàn toàn chất liệu của miền Trung, nơi mảnh đất chịu nhiều đau thương vì nỗi niềm chia cắt bao đời nay.

Chương 4 – Đêm Trắng, chương tôi viết về ngày khải hoản trước mắt của dân tộc. Tôi sử dụng chất liệu của Bắc Bộ bởi ở miền Bắc tôi luôn ấn tượng bởi 3 khí nhạc: Tiếng chuông nhà thờ, Tiếng mõ chùa và tiếng trống. Trong một đêm trắng khi nghĩ về đất nước là những hồi tưởng trong tiếng chuông nhà thờ, rồi sự tĩnh tâm vĩ suy của tiếng mõ để rồi từ đó thúc giục trong tiếng trống mang hồn dân tộc trên còn đường hành quân không nghỉ.

Cuối cùng là Chương 5 – Cho con là người Việt Nam. Tôi viết về một tiếng ru, một tiếng ru mang âm hưởng trầm hùng vang vọng của người Ê đê pha chút da diết thoáng buồn của lời ru Bắc Bộ. Lời ru ấy là lời ru cho những người con đất Việt, lời ru ấy là tiếng ru của mẹ những lại được hát lên bởi người cha, ru không phải để ngủ mà để theo những người con đến hết cuộc đời.

- Tác phẩm của anh đã hoàn thành, anh cũng đã dàn dựng và biểu diễn trong dịp chào mừng đại lễ 1000 năm. Còn điều gì khiến anh cảm thấy chưa hài lòng không?

Để hoàn thành tác phẩm, trước tiên tôi phải cảm ơn rất nhiều đồng nghiệp là những thế hệ đi trước và là những bạn bè đã cho tôi nguồn cảm hứng, nguồn kiến thức trong suốt 12 năm tôi vật lộn với nó.

Tôi chỉ có vài điều thấy còn thấy tiếc đó là ở chương 5, khi tôi viết thực ra là dành riêng cho  giọng ca đại ngàn Y Moan, nhưng đáng tiếc tôi đã không thực hiện được. Ngoài ra, tôi tiếc vì điều kiện hạn chế nhất là vấn đề thu âm nên đã không thể dàn dựng và biểu diễn tác phẩm này được như ý. Nhưng tính tôi là vậy, đã "máu" lên là làm mà không nghĩ đến gì khác!

 

Mơ ngày có thể dàn dựng lại tác phẩm

- Những lời nhận xét về tác phẩm thì sao, thưa anh?

Nhiều lời góp ý thẳng thắn, khen chê đều có. Trong đó tôi xúc động nhất vẫn là một tin nhắn từ đồng nghiệp, có mặt trong clip nhắn tin cho tôi sau khi biểu diễn. Anh nói rằng anh rất xúc động, và tôi cũng muốn nói lại với anh rằng tôi cũng rất xúc động.

Tôi mong được một lần làm lại ở quy mô lớn hơn, với sự đầu tư kĩ hơn cả về kĩ thuật lẫn dàn dựng. Tôi mong muốn từng chương được các nghệ sĩ như NSND Quang Thọ, Thu Hiền… biểu diễn. Tìm được một giọng ca đại ngàn như Y Moan, tìm được càng nhiều giọng ca trên thế giới cùng hát thì thật ý nghĩa.

- Cám ơn anh về cuộc trò chuyện! Chúc anh sẽ có cơ hội dàn dựng và biểu diễn lại tác phẩm trường ca hùng tráng này trong một tương lai gần.

Nguyễn Hoàng (thực hiện)


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Cố thuyết phục ?

Posted: 21 Aug 2011 12:25 PM PDT

Chào các bạn,

Có lẽ mọi chúng ta đều đã có kinh nghiệm đi mua hàng trong tiệm nào đó mà gặp một người bán tìm đủ mọi cách để ép mình mua—quảng cáo đủ điều, năn nỉ, nài nỉ, ép buộc–thường chỉ làm cho mình khó chịu. Ngoại trừ khi những người nghèo năn nỉ ta mua giúp họ, thì đó là một kinh nghiệm từ thiện. Nhưng trong các trường hợp mua sắm khác trong các cửa tiệm, nếu bị ép ta thường bỏ đi, hoặc nếu ta bỏ cuộc và mua cho xong, thì đó thường là một kinh nghiệm mua sắm không vui.

Khi ta cố thuyết phục một người nào đó về một việc gì đó, thái độ và lời nói ta có một aura, một năng lượng, của người đang tìm cách bắt một con mồi, và con mồi tự nhiên là có phản ứng tránh xa. Sự cố gắng thuyết phục thường tự nhiên gợi lên cho người ta bản năng phòng thủ, tránh xa mình.

Cách thuyết phục hay nhất là chẳng cố thuyết phục gì cả. Chỉ là chia sẻ một câu chuyện, một vấn đề, một cách (1) vừa khách quan khoa học, (2) vừa biểu lộ lòng tin cá nhân của mình, và (3) để người nghe tự quyết định về vấn đề.

Ví dụ: Mình muốn giới thiệu 2 bạn A và B của mình với nhau, mong là 2 ban có thể làm kinh doanh với nhau sau này. Khi mình giới thiệu người này cho người kia, mình (1) nói một chút về lý lịch của người mình đang giới thiệu—học ở đâu ra, trước nay đã làm gì, như là một CV ngắn gọn–đây là các yếu tô khách quan khoa học, và (2) nói mình đã biết anh này bao nhiêu năm và mình rất quý và tôn trọng tính thành thật và chuyên nghiệp của anh ấy–đây là các yếu tố chủ quan, cho thấy là mình tin tưởng vào người mình giới thiệu và đặt uy tín của chính mình vào lời giới thiệu của mình. Và (3) không nói thêm gì cả; để hai người tự tìm hiểu và đánh giá lời giới thiệu của mình cũng như đánh giá nhau.

Điểm số 3 "không nói thêm gì cả" rất quan trọng. Nó không có "cố gắng thuyết phục", cố gắng đẩy người nghe vào kết luận mình muốn. Ta để người nghe tự do lựa chọn thoải mái, và do đó người nghe không cần phải dựng hàng rào phòng thủ.

Yếu tố tâm l‎ý sâu thẳm nhất ở đây là ta không có cái tôi—-tôi yêu các bạn, tôi chỉ giới thiệu hai bạn với nhau vì tôi nghĩ đó là việc tốt cho các bạn, nhưng cái tôi của tôi không lớn đủ để đẩy các bạn vào kết luận tôi muốn. Trong ngoại giao và giao tiếp, khi cái tôi của ta nhỏ bé như thế thì ta không làm cho người khác e dè.

Tức là, điểm khởi hành đầu tiên cho tính thuyết phục của ta cũng chính là trái tim khiêm tốn của ta.

Chúc các bạn một ngày thuyết phục.

Mến,
Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Chùa Việt ở Seattle

Posted: 21 Aug 2011 12:24 PM PDT

 

(Nhật ký 20/8/2011)

Con trai tôi thường đến đây những lúc thương cha nhớ mẹ những lúc tâm hồn tròng trành những lúc không biết nên khóc hay nên hát
Chùa thấp von như chủa làng quê Việt. Thấp von không phải bởi rét mướt mà bởi chùa làng khiêm cung tu thân từ thanh nghèo bạch khổ. Chư Phật, chư Bồ tát, chư tăng tọa sát mái chùa, thắp nhang, tay người chạm tay Phật, Phật như bằng hữu, như người thân, như xóm láng giềng làng
Vườn chùa sau trước thanh tịch, cây chay trĩu những quả chay, phật thủ ngâu hoa nhắc nhở lời tịch diệt
Con đang cầu gì mà tay chắp ngực, mắt lời không chớp
Lạy Mẹ Quán Thế Âm, xin cho chúng con tam đại đồng đường. Lạy Chúa cứu thế, xin cho chúng con tam đại đồng đường. Lạy Thánh Ala, xin cho chúng con tam đại đồng đường
Con lạy thế bởi con không nhập đạo, con chỉ có đức tin, trong con linh thiêng Phật, linh thiêng Chúa hay linh thiêng Ala cũng chỉ một linh thiêng toàn năng cứu thế
Xin hãy cứu vớt cha con một đời bền gan ngộ huệ, không sân si, không thù oán, lòng chỉ nguyện sống đời tử tế
Xin hãy cứu vớt mẹ con, từ bể khổ được lên thuyền Bát Nhã, đức hy sinh dài sông cao núi, trọn đời vú sữa nuôi con
Xin hãy cứu vớt em con tay em chỉ vừa mới hái cầm hạnh phúc
Xin cứu giúp các con con, chúng đang là những bông thu, đứng trước mùa đông tuyết băng và mưa đá
Riêng lẻ chúng con thật yếu đuối. Xin cho chúng con tam đại đồng đường. Ăn mày Phật, ăn mày Bồ tát, ăn mày chúng Tăng tam đại đồng đường trong ngôi chùa Việt nhỏ mà nội lực sinh tồn vạn đại, toàn năng cứu độ chúng sinh

+

Trước một văn hóa lạ hoắc, một miệt rừng mênh mông, sông đã rộng còn thêm ao hồ khủng, những ngưởi Việt nhập cư đã không hơ hoảng hoang mang, không ngã lòng khiếp sợ, đã nhanh tay dựng ngôi chủa Việt xóm, Việt làng, Việt quê để gieo trồng hạt giống đức tin
Đức tin tam đại đồng đường, cây mọc ở đất nào cũng có gốc có thân có ngọn, cũng ra hoa kết trái, dẫu cóc ổi trần bì dâu da…dẫu nho thì cũng Phan Rang, táo nhỏ như bi cũng don don dầm đường Hà Nội
Chỉ riêng điều cầu xin tam đại đồng đường xum họp, cha và con đã khác biệt nguyện cầu, khác biệt nào trái tim cũng ngộp
Một hớp thơ cha: Ly hương ư? Tóc bà heo may. Lưng còng ngồi se sợi gió. Nhà cha giột ai lên rừng tìm tre nứa. Canh bờ rao mẹ nấu để ai ăn. Hoa dại dại tay ai cầm. Anh đi rôi ai tặng hoa em nhỉ? Kẻ chạy trốn bọc trăm trứng mẹ. Nở thành người được chăng?
Một hớp lời con: Nguyện cầu của cha ngược về quá khứ, mộng mơ trồng lại những cây cành đã chết. Nguyện cầu của con nhìn về tương lai. Con muốn các con của con được sống làm người
Bất đồng cha con hóa giải 16 năm chưa xong
Hèn chi đã gần bốn chục năm vết thương chiến tranh Bắc Nam vẫn còn rỉ máu
Hèn chi cầu xin của các con tôi mãi mãi chỉ là ước mơ xum họp một nhà, một nhà như tam đại đức tin trong ngôi chùa Việt
Chùa thấp von như chùa làng quê ta. Thấp von không phải bởi rét mướt mà bởi chùa làng khiêm cung tu thân từ thanh nghèo bạch khổ. Chư Phật, chư Bồ tát, chư tăng tọa sát mái chùa, thắp nhang, tay người chạm tay Phật, Phật như bằng hữu, như người thân, như xóm láng giềng làng

+

Đấng toàn năng trong ngôi chùa Việt ở Seattle đã tiếp nhận nguyện cầu chân thành con sắp bầy cổ tích
Em gái con du học Bắc Kinh, thích yêu quê mẹ, thích yêu tranh thủy mặc, lá rụng về cội lòng chẳng chút mơ hồ phương tây
Vậy mà một chàng trai Mỹ, lon ton Bắc Kinh, gặp sét em gái con mà nhất quyết đòi thành chồng vợ.
Câu chuyện kết thúc có hậu theo sắp đặt của Đấng toàn năng em gái tôi về Seattle theo nguyện vọng của tứ thân phụ mẫu, của anh trai chị dâu, của đích tôn Kít-Cát hội nhị đại đồng đường
Anh em đã xum vầy nhị đại, mà sao con vẫn chắp tay nguyện cầu.
Này con, Đấng toàn năng nghe chuông từ mọi phía, nghe nguyện cầu từ nhiều lòng, vô tư công bằng thuận lý, không ai có thể cưỡng bức nguyện cầu
Chúng ta đang có cây gia phả ba đời. Gốc cha mẹ nơi quê làng người Việt. Thân cành các con và hoa trái các con con xum xuê trên đất Mỹ. Một cây gia phả đang có. Một cây gia phả hiện thực.
Ngôi nhà của mẹ cha rộng cửa. Con cháu của ta phải biết rộng lòng. Năm nay, ngày này, bây giờ chẳng phải tam đại chúng ta đang đồng đường trong căn nhà của con? Trên sân ngôi chùa Việt tín ngưỡng của con?
Ước mơ có giới hạn là ước mơ hiện thực. Ước mơ không giới hạn là mơ ước viển vông. Nhìn cây tam đại đồng đường nhà ta xum họp cha mẹ dụi mắt ngỡ tưởng nằm mơ
Đấng toàn năng đang hỷ xả tươi cười
Tại sao con khóc? Đầy một sân chùa Việt trai gái trẻ già sao ai cũng khóc? Nước mắt chảy xuống Lake Washington hồng xanh trong veo. Đem theo hình bóng ngôi chùa Việt ở Seattle hồng xanh trong veo.
Nước mắt con tôi, tín ngưỡng con tôi, tam đại đồng đường tôi, những tam đại đồng đường người Việt tha hương như tôi…đang trôi về với cội nguồn.
Tháng bảy quê nhà đang mùa báo hiếu…

nguyennguyenbay.com giới thiệu

Link video Chùa Việt Ở Seattle


Filed under: Văn Tagged: Văn

Peace Revolution June Fellowship 2011

Posted: 21 Aug 2011 12:23 PM PDT

Tùy bút Đỗ Hồng Thuận

I. Tôi đến với Peace Revolution

Tôi đến với Peace Revolution không phải là sự tình cờ, tôi nghĩ vậy vì everything happens for a reason.  Đó là khoảng thời gian tôi bị khủng hoảng rất nhiều về tâm lí, khi tôi bị những cú va vấp trong cuộc sống. Cũng giống như rất nhiều người, tôi cứ đặt câu hỏi tại sao mãi và rồi không bao giờ trả lời được, tôi chẳng biết nên chia sẻ với ai, ai sẽ hiểu tôi, tôi nên  tin ai, làm những  gì tiếp theo, sống như thế nào trong tương lai….Tôi đọc đi đọc lại các bài trên Đọt Chuối Non  anh Hoành viết, đọc rất kĩ cả những phần hỏi của mọi người và phần trả lời của anh,  tôi đọc rất nhiều sách Phật,  tôi đọc về Thiền Định. Như một nhân duyên, chị bạn của tôi biết tôi đang học Thiền liền giới thiệu cho tôi một chương trình có tên Peace Revolution thông qua meditation online để giúp mọi người có Inner Peace and Happiness, chị đã tham gia năm ngoái  và nói tôi thử xem thế nào. Tôi thấy mình rất có duyên với Peace nên quyết định tham gia.

Lí do ban đầu tham gia rất đơn giản: Thiền, tĩnh tâm, lấy lại năng lượng và biết mình cần phải làm gì tiếp theo, nhưng đến khi nhìn sang cột có chữ  Youth Fellowship, Fellowship for Educators, Fellowship for Media Professionals thì có điều gì đó lại thúc đẩy tôi apply, vì lâu lắm rồi sau đợt đi Úc tôi gần như rất ít ra nước ngoài, mà thế giới bên ngoài có nhiều điều hấp dẫn tôi quá. Tôi quyết định apply  chương trình dành cho Educators vì tôi là một giáo viên và hi vọng sẽ gặp các bạn đồng nghiệp có cùng quan điểm, suy nghĩ và biết đâu tôi lại học hỏi được nhiều điều trong tương lai.

Nhưng meditation online không phải là một điều dễ dàng. Tôi phải luôn cố gắng sắp xếp công việc để có thời gian meditate một tiếng mỗi ngày và viết các journal sau mỗi lần meditate. Đã có những lúc tôi give up và nghĩ nó thực sự không hữu ích với tôi và cũng sẽ chẳng giúp được gì nhiều cho tôi trong cuộc sống thực, nhưng rồi đến một ngày khi tôi nhận được thư interview với Peace Revolution Team thì tôi thấy mình lại có động lực hoàn thành 42 ngày meditation online. Rồi mọi thứ cứ  thế đến lần lượt: Tôi  nhận thư confirm thời gian phỏng vấn trên skype, thư  chúc mừng vì giành fellowship for educators, rồi tuyệt vời hơn nữa là Peace Revolution Team còn offer tôi thêm Youth Fellowship vì thấy độ tuổi của tôi rất phù hợp với chương trình. Vậy là không chỉ được một, tôi còn được hai.  Tôi thấy thực sự hạnh phúc từ bên trong, như thể có một ai đó đang dẫn lối tôi đi trong cuộc sống, như thể đây là cơ hội tuyệt vời để tôi tìm lại chính mình.

II. Chúng tôi đã làm gì?

Tôi đến Mooktawan Sanctuary vào một ngày trời nắng, con thuyền đưa  tất cả chúng tôi từ hơn 13 quốc gia trên thế giới, với màu da khác nhau, tiếng nói khác nhau, tôn giáo khác nhau đều tập hợp lại ở đây, cùng nhau sống, và cùng nhau meditate.

Không biết nói thế nào để diễn tả hết những cảm xúc mà tôi đã sống và chia sẻ với bạn bè của tôi ở trên đất Thái Lan này. Đó là cảm giác tuyệt vời mỗi sáng sớm sau morning session là giờ tập yoga trên scenic view point đón nắng mới, là trong từng hơi thở của chúng tôi đều chứa đựng một bầu không khí trong lành và thoáng đạt. Chúng tôi nắm tay nhau, ôm hôn nhau và cùng đọc một câu mantra để ai cũng có Peace và Stillness trong mình.

Nhưng không chỉ có thế, hàng ngày sau mỗi meditation session, chúng tôi còn có rất nhiều hoạt động khác nhau: bubble blowing, token of gratitude, cleaning, meditation clinic…Đây là cơ hội rất tốt để chúng tôi được thử thách khả năng làm việc nhóm, sáng tạo, chia sẻ và  đoàn kết. Nhưng có lẽ hoạt động mang nhiều ý nghĩa nhất không chỉ đối với riêng tôi mà còn với rất nhiều bạn trẻ khác đó là Meditation clinic. Ở đó chúng tôi được đặt bất kì câu hỏi nào chúng tôi thấy băn khoăn về cuộc sống, về công việc, về những người xung quanh , về những điều chúng tôi đã, đang và sẽ làm trong tương lai. Đó còn là nơi mà ngay cả những điều private nhất chúng tôi cũng đều chia sẻ.  Lắng nghe câu hỏi của các bạn trẻ khác, tôi lại được dịp học lại những điều mà anh Hoành  đã viết và tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần trên ĐCN. Tôi thấy hạnh phúc  nhất là khi nghe các bạn đặt câu hỏi, tôi thầm tự trả lời, và những câu trả lời ấy cũng trùng khớp với câu trả lời của teaching monks. Hai tuần với Youth Fellowship quả là không nhiều, nhưng như thế cũng đủ cho chúng tôi có rất nhiều trải nghiệm ở một nơi thật đáng nhớ, một nơi không ồn ào, một nơi mà mỗi chúng tôi đều được là chính mình, tìm về chính mình, hiểu mình là ai và phải tiếp tục sống thế nào trong tương lai.

Đêm cuối cùng ở Mooktawan là một đêm linh thiêng, chúng tôi ngồi trên đỉnh đồi, lần lượt thắp cho nhau từng ngọn nến với hi vọng mỗi người trong chúng tôi sẽ là những ngọn đèn chiếu sáng  đi trong đêm tối. Rồi tất cả trở  về nơi vẫn thường meditate hàng ngày, cầu nguyện và chia sẻ cảm xúc với nhau. Ôi, sao mà tôi thấy xúc động quá, vì sao thì tôi không rõ, nhưng đó là một lòng biết ơn đến chương trình, đến Peace Revolution Team rất chuyên nghiệp, tận tình chu đáo, đến những teaching monks có PhD hay Master Degree ở nước ngoài mà vẫn trở về nước, cống hiến cả cuộc đời mình để giúp mọi người có Inner Peace, đến những bạn trẻ tôi gặp và tôi học hỏi được rất nhiều ở họ. Một cảm xúc lẫn lỗn giữa việc chuẩn bị phải về với cuộc sống tất bật, nhiều lo toan, nhiều cám dỗ hàng ngày và cảm xúc yên bình khó tả nơi đây.   Sao tôi thấy yêu nơi này quá, yêu những con người mà tôi đã gặp, yêu tất cả những thứ mà tôi đã được học. Lòng tôi tràn ngập  một tình yêu khó diễn tả.

III. Tôi học được gì?

Peace Revolution đã làm được điều kì diệu như chính cái tên của nó, và tôi thích nhất câu này: There is a life before and after Peace Revolution. But Peace Revolution is a turning point in our life, a moment in times that has changed us forever.

Để trả lời câu hỏi  tôi đã học được gì từ chuyến đi này thật khó? Vì tôi được học nhiều thứ quá! Được trải nghiệm những nền văn hóa khác nhau, được chia sẻ quan điểm sống với bạn bè cùng lứa tuổi, được học thêm wisdom trong cuộc đời, được nắm lại những giá trị cơ bản để đứng vững trong cuộc đời này. Nhưng còn phần thực hành ra sao thì đúng là một thử thách thực sự, nhưng tôi biết, mỗi khi tôi gặp khó khăn, vẫn có rất nhiều người sẽ đứng cạnh tôi chia sẻ, dù họ ở nơi đâu.

 

Tôi muốn dành lời cảm ơn bài viết này đến anh Hoành- Đọt Chuối Non, bởi vì trong gần một năm qua, nhờ đọc những bài viết của anh, nhờ những câu trả lời của anh mà tôi thấy mình được dẫn lối đi tiếp trong cuộc sống này.

Cám ơn anh, anh thực sự là một người thầy của em.

Em làm giáo viên một phần vì trong suốt cả quãng đời đi học, em gặp rất ít người thầy nói được hết những điều tâm can em nghĩ như anh và cho em những câu trả lời xác đáng như anh.

Chúc anh và mọi người trong vườn chuối có một ngày an lạc.

Mời các bạn xem video về Peace Revolution June Fellowship 2011,
download eBook Global Peace on the Move tại đây.

Đỗ Hồng Thuận
Giáo viên Tiếng Anh – Trường Dream House
98 Tô Ngọc Vân – Tây Hồ- Hà Nội


Filed under: Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Video & PPS, Văn Hóa

Thủ khoa cải lương:‘Có con, em tốt với nhiều người’

Posted: 21 Aug 2011 12:22 PM PDT

– Khuôn mặt sắc cạnh, 24 tuổi, Hương Lan đã là mẹ của bé gái 4 tuổi. Biết tin cô cháu gái vừa là thủ khoa cả đầu vào, đầu ra ĐH Sân khấu điện ảnh Hà Nội, ông nội gần như không cầm nổi nước mắt. Sau bao biến cố, tưởng như gục ngã, Hương Lan vẫn luôn là niềm tự hào của gia đình.
Hương Lan trong buổi nhận giải thưởng Sinh viên tiêu biểu xuất sắc toàn quốc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2010. (Ảnh: nhân vật cung cấp).
Vài phen lựa chọn…Hồi phổ thông, Hương Lan từng đi thi học sinh giỏi tỉnh môn Hóa học, đạt giải Nhì năm học lớp 9 và xác định thi vào khối A, ngành Kinh tế đối ngoại, Trường ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội. Đạt học bổng của tổ chức S.O.S rồi ra Hà Nội học Trường THPT Hermann Gmeiner (Lan quê ở Thái Bình), khoảng thời gian ở cùng nhà dì ruột, cảm thấy mình hợp hơn khi theo khối D hợp hơn, cô bạn rẽ hướng.
Năm 2005, Hương Lan thi vào Trường Ngoại ngữ Hà Nội (nay là ĐH Hà Nội) nhưng không đủ điểm đỗ, nộp NV2 vào Viện ĐH Mở Hà Nội. Học một thời gian chán, lại bỏ. Lúc này, mọi người cũng khuyên thi vào ĐH Sân khấu điện ảnh và theo ngành Diễn viên cải lương, theo nghề bố mẹ.

Hương Lan tâm sự: "Ban đầu, mình đăng ký vào ngành Biên kịch điện ảnh nhưng được khuyên thi sang ngành này vì điểm tuyển đầu vào không "căng". Thêm nữa, phần nhiều cũng vì yêu thích cải lương, mê tiếng hát của bố mẹ, phần vì sợ trượt ĐH lần nữa nên mình quyết định thi". Năm 2006, bạn là thủ khoa đầu vào ngành Diễn cải lương của trường với 24,5 điểm.
Không khỏi trăn trở trước sự mai một của nghệ thuật truyền thống nên dự định khi gặp Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Lan muốn đề cập vấn đề muôn thuở là làm thế nào để nghệ thuật truyền thống thu thút được công chúng và mong muốn cải thiện đời sống khó khăn của người nghệ sĩ, để họ có thể sống bằng chính nghề của mình.

'Nhìn qua thì thấy không mấy người có thể sống bằng chính môn nghệ thuật được học mà đều phải làm nghề tay trái, lấy tiền để nuôi đam mê, nhiều người thì đã bỏ hẳn bởi theo nghề vừa nghèo vừa khổ" – Lan nói.

Hương Lan (ở giữa) trong vai diễn Thị Trinh, vở "Bến nước Ngũ Bồ" với nhiều cung bậc cảm xúc đan xen. Cùng với hai vai diễn khác là Thúy Kiều và Hoạn Thư thành công đã giúp bạn xuất sắc giành 5 điểm 10 của các thầy cô trong buổi thi tốt nghiệp cuối học kỳ. (Ảnh: nhân vật cung cấp).
Gian nan làm mẹ sớmGương mặt sắc cạnh mà như Hương Lan thừa nhận: "Mình hợp với những vai dữ dằn, đa chiều hơn những vai hiền dịu, đặc biệt như vai Hoạn Thư đánh ghen trong Thúy Kiều chẳng hạn. Nhiều người nhận xét mình có đôi mắt dữ lắm (cười). Nhưng mình là thế, có thể lạnh lùng với những ai chưa quen song lại dễ gần, "buôn, tám" đủ thứ với bạn khi quen rồi".

Thẳng tính, không ngại "hất cả cốc nước vào mặt ai" khi bị xúc phạm cô nàng "đanh đá" nói: "Không như vậy thì khó sống ở đời lắm".

21 tuổi, Hương Lan đột ngột xin gia đình cho lấy chồng. Cô lý giải: "Anh ấy hơn con 2 tuổi, bố mẹ đều là người trí thức, bố anh mất sớm, bản thân cũng đang theo nghiệp nghệ thuật như con. Anh hiền, nhìn vào anh con tin anh ấy là người chồng tốt".

Buồn nhưng không gây áp lực, đe nẹt hay chỉ trích "bố mẹ vẫn luôn là những người tuyệt vời nhất" khi đồng ý cho cô con gái cả lên xe hoa. Hương Lan xin bảo lưu kết quả 1 năm để chăm con. Rồi cuộc sống vợ chồng "cơm chẳng lành" khiến cô  đã từng bế con về bên ngoại, ngày đi diễn gửi chú dì chăm giúp, rảnh về lại lao vào với con.

Những lần con ốm, có khi phải đi bệnh viện cấp cứu, mẹ trẻ một tay bế con, tay kia cầm ống truyền nước, nghĩ buồn muốn khóc. Đó lại là dịp thi cuối kỳ, ở với con đến 3h sáng, chợp mắt được một lát, 6h Hương Lan lại phải phóng xe tức tốc đến trường để kịp giờ thi. Mệt rã rời, thi hát xong 2 bài cô gần như gục xuống. Cô lại xin phép thầy cô cho về trước để chăm con ốm. Nhiều hôm mẹ vừa ôm con, vừa cầm sách học một mình, nước mắt Hương Lan dù cứ rơi lặng lẽ vì tủi thân.

Thời gian qua đi, vợ chồng làm lành, Hương Lan quay về sống ở gia đình nhà chồng. Mẹ chồng cũng từng "gợi ý" như  "con có thể ở nhà lo chuyện gia đình". Nhưng, là cô gái mạnh mẽ, nhất là không muốn sống dựa dẫm nên Hương Lan vẫn xin phép được học tiếp.

Vừa đi học, vừa phải chăm chồng con, vừa đi diễn ngoài (hát nhạc nhẹ ở các hội nghị, lễ khai trương,..) để lo thêm cho chuyện học hành, Hương Lan vẫn bền bỉ với công việc. Biết tin cô cháu gái vừa là thủ khoa đầu vào, đầu ra ĐH Sân khấu Điện ảnh Hà Nội, ông nội gần như không cầm nổi nước mắt: "Vậy là ông không còn mong gì hơn nữa rồi".

Hương Lan trong vai diễn Hoạn Thư, vở "Vương Thúy Kiều". (Ảnh: nhân vật cung cấp).
Những vai diễn cuộc đờiTrả lời câu hỏi "đâu là sức mạnh để học tốt như vậy?", Hương Lan  trải lòng: "Khi sống một mình, bạn lo nhiều cho bạn. Khi bạn có gia đình, lại có con, bạn biết rằng mình phải sống tốt cho nhiều người".

Một điều thú vị được cô bạn tiết lộ là về buổi thi tốt nghiệp cuối kỳ của đời sinh viên: "Mình phải vào 3 vai: Thúy Kiều trong cảnh mở đầu mang tính cách e thẹn, duyên dáng; một trọn vẹn vai nhân vật Hoạn Thư; một là nhân Thị Trinh trong vở "Bến nước Ngũ Bồ" với nhiều cung bậc tình cảm phức tạp, giàu cảm xúc: có mất mát, đau thương nhưng cũng thật kiên cường, bât khuất. Thật tuyệt là cả 5 thầy cô giám khảo đều chấm cho mình 10 điểm".

Yêu sớm, lấy chồng sớm nhưng Hương Lan nói không mong muốn các bạn trẻ học theo mình: "Còn nếu bạn có thể ở vào hoàn cảnh của mình thì mình chỉ muốn chia sẻ rằng: Điều sợ nhất là những người không biết sợ. Khi đó, người ta sẽ làm nhiều điều trái với lương tâm. Cái giúp mình đứng vững là vì biết sợ, biết quan tâm, sống vì người khác. Có trải qua nhiều khó khăn mình lại càng cảm thấy cần phải vững vàng, tự tin hơn trong cuộc sống này. Thế thôi".

  • Văn Chung

Một số thành tích của Vũ Thị Hương Lan, thủ khoa đầu ra ĐH Sân khấu điện ảnh, chuyên ngành Diễn viên cải lương, quê gốc ở Thái Bình:
-    Điểm học tập toàn khóa: 8,98
-    Xếp loại rèn luyện toàn khóa: xuất sắc
-    Đạt danh hiệu sinh viên giỏi, xuất sắc nhiều năm liền (từ 2007-2010).
-    Bằng khen của Trung ương Đoàn và Bộ GD-ĐT cho sinh viên tiêu biểu học tập và làm theo lời Bác năm 2010.
-    Giải Nhất cuộc thi tài năng sinh viên Khoa Kịch hát dân tộc (2009-2010).
-    Giải Nhất cuộc thi tài năng SV Khoa Kiến thức cơ bản (2010-2011).
-    Tham gia tích cực các hoạt động do Đoàn trường tổ chức.


Filed under: Chứng Nhân, Văn Hóa Tagged: Chứng Nhân, Văn Hóa

Phật viện Đồng Dương: bụi đất phủ vàng son

Posted: 21 Aug 2011 12:21 PM PDT

SGTT

Việc Pháp công bố hơn 200 bức ảnh từ năm 1902 chụp cuộc khảo cổ của H. Parmentier ở kinh thành Indrapura (còn gọi là Phật viện Đồng Dương) gần như gây sốc với giới chuyên môn và những người yêu mến nền văn minh cổ Chămpa: nó quá đồ sộ và hùng vĩ!

 

Bức tượng nữ Bồ Tát bằng đồng thau tìm thấy ở Phật viện Đồng Dương từ năm 1978.

Tuy đã được đọc các khảo tả về quy mô khu di tích này (thuộc địa phận xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam), như: chiều dài kinh thành 1.330m, trong đó riêng khu Phật viện nhiều đền tháp có thành vây quanh dài 326m, rộng 155m, thế nhưng khi được xem những bức ảnh thì gần như không ai tin vào mắt mình vì quy mô của nó.

Nếu Mỹ Sơn cho ta một cái nhìn "ngổn ngang" với những ngôi tháp độc lập, cả khu không là một khu di tích thống nhất mà giống một khu nghĩa trang của bậc quân vương thì Đồng Dương (875 – thế kỷ 14) cho ta hình ảnh của một khu kinh thành đăng đối với thành ngoài thành trong, cổng chính cổng phụ và bên trong là những toà tháp, ngôi nhà nhiều công năng khác nhau (như Angkor ở Campuchia hay Borobudur (cũng là một Phật viện cùng thời với Đồng Dương) ở Indonesia). Đặc biệt, ở Đồng Dương chưa tìm thấy một bộ linga-yoni nào!

Sau khi được khai quật, khu kinh thành này bị lãng quên cho đến nay. Trong những năm chiến tranh, đây là vùng "tự do oanh kích" nên hứng chịu rất nhiều bom đạn. Sau năm 1975, những cuộc khảo sát do thiếu tư liệu đã đánh giá Đồng Dương là một phế tích, không thu hút được giới nghiên cứu. Nay với những bức ảnh này, niềm hy vọng lại được dấy lên, biết đâu bụi đất, lũ lụt đã kịp vùi lấp những khu đền tháp sau khi được khai quật, kịp bảo vệ nó để chờ chúng ta tái khám phá. Năm 1978, người dân ở đây đã tìm thấy bức tượng nữ Bồ tát bằng đồng thau ở tư thế đứng cao 114cm vô cùng đẹp: nó như báo hiệu vẫn còn rất nhiều điều để chúng ta phát hiện.

 

Kinh thành Indrapura (còn gọi là Phật viện Đồng Dương) Kinh thành Indrapura
Sơ đồ kinh thành Indrapura (Phật viện Đồng Dương)

Hồ Trung Tú

 

Tại hội thảo khoa học về Phật viện Đồng Dương ngày 17.8, UBND tỉnh Quảng Nam cho biết sẽ khôi phục lại Phật viện này, ồng thời xã hội hóa các khu vực phụ cận thành khu văn hóa tâm linh tín ngưỡng.


Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa

No comments:

Post a Comment