Thursday, December 2, 2010

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Blowin’ In The Wind – Katie Melua – Joan Baez

Posted: 02 Dec 2010 01:54 PM PST

Bay Trong Gió

Bao nhiêu con đường một người phải đi qua
trước khi bạn gọi đó là người lớn?
Bao nhiêu biển một chim câu phải bay qua
trước khi chim có thể ngủ trên bãi cát?
Và bao nhiêu lần quả đạn đại bác phải bay
trước khi chúng bị cấm vĩnh viễn?

Câu trả lời, bạn ơi, đang bay trong gió,
câu trả lời đang bay trong gió.

Bao nhiêu năm ngọn núi có thể sống,
trước khi nó bị tạt ra biển?
Bao nhiêu năm người ta phải sống,
trước khi họ được cho tự do?
Và bao nhiêu lần một người quay đầu
Và giả vờ là anh ta chẳng thấy?

Câu trả lời, bạn ơi, đang bay trong gió,
câu trả lời đang bay trong gió.

Bao nhiêu lần người ta phải nhìn lên,
trước khi có thể thấy bầu trời?
Và bao nhiêu lỗ tai người ta phải có,
trước khi có thể nghe con người khóc?
Và bao nhiêu cái chết sẽ phải có, cho đến khi chúng ta biết
rằng đã có quá nhiều người chết?

Câu trả lời, bạn ơi, bay trong gió,
câu trả lời đang bay trong gió.

Câu trả lời, bạn ơi, đang bay trong gió,
câu trả lời đang bay trong gió.

(TĐH dịch)

Blowing In The Wind

(Author: Bob Dylan)

How many roads must a man walk down,
before you call him a man?
How many seas must a white dove fly,
before she sleeps in the sand?
And how many times must a cannon ball fly,
before they’re forever banned?

The answer my friend is blowing in the wind,
the answer is blowing in the wind.

How many years can a mountain exist,
before it is washed to the sea?
How many years can some people exist,
before they’re allowed to be free?
And how many times can a man turn his head,
and pretend that he just doesn’t see?

The answer my friend is blowing in the wind,
the answer is blowing in the wind.

How many times must a man look up,
before he sees the sky?
And how many ears must one man have,
before he can hear people cry ?
And how many deaths will it take till we know,
that too many people have died?

The answer my friend is blowing in the wind,
the answer is blowing in the wind.

The answer my friend is blowing in the wind,
the answer is blowing in the wind.

(Fading out)

Ketevan “Katie” Melua là ca nhạc sĩ người Georgia. Đến Bắc Ireland khi lên 8, rồi đến Anh năm 14. Năm 2003, 19 tuổi, album đầu tay Call off the search lên đầu bảng ở Anh, bán đến 1 triệu 8 đĩa trong 5 tháng đầu. Album Piece by piece năm 2005 đã lên platinum 4 lần. Năm 2006 Melua là nghệ sĩ nữ bán chạy nhất ở Âu Châu. Năm 2008 cô là nghệ sĩ dưới 30 tuổi giàu thứ 7 ở Anh.

Joan Baez là ca sĩ biểu tượng cho phong trào hòa bình tuổi trẻ thời thập niên 60s, 70s.

Blowin' In The Wind là nhạc phẩm do Bob Dylan viết năm 1963, đã được rất nhiều nghệ sĩ trên thế giới thu băng. Năm 1999, bản nhạc được đưa vào Grammy Hall of Fame . Năm 2004, bản nhạc được tạp chí Rolling Stone đưa vào danh sách “500 Greatest Songs of All Time”.

Katie Melua – Blowin’ In The Wind


.

Joan Baez – Blowin’ In The Wind – 1971


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa

Sợ hãi và bạo lực

Posted: 02 Dec 2010 01:49 PM PST

Chào các bạn,

Mỗi người chúng ta có nhiều nỗi sợ–sợ thi hỏng, sợ mất việc, sợ mất tình, sợ mất tiền, sợ giận, sợ đòn, sợ sỉ nhục, sợ tai nạn… Sợ là một xúc cảm lớn của con người. Và chúng ta dùng sợ hãi để quản lý nhau, như bố mẹ dọa sẽ cho con ăn đòn nếu con làm gì sai, tòa án ra phán quyết nặng trong một vụ án để răn đe mọi người, bộ y tế dùng hậu quả HIV để khuyến khích mọi người dùng bao cao su…

Và đó cũng chính là vấn đề của mỗi cá nhân chúng ta và cả thế giới.

Sợ luôn luôn mang đến căng và stress. Chẳng có cái sợ nào mà có thể làm cho ta thoải mái thân tâm an lạc được cả. Cho nên chẳng ai trên thế giới chúc nhau được nhiều sợ bao giờ. "Nhân dịp Giáng Sinh, em chúc chị và gia đình năm nay được nhiều sợ hãi—sợ hãi tốt chứ không phải loại sợ xấu nhé chị". Nếu có loại "sợ tốt" sao chẳng bao giờ nghe ai chúc nhiều "sợ tốt"?

Khi chúng ta dùng sợ hãi để quản lý nhau, ta tạo căng thẳng và stress chồng chất và cộng hưởng lên nhau, chẳng được gì cả. Trong thời chiến tranh lạnh vừa qua, cả thế giới giữ hào bình bằng "MDW" (mutual destruction weapons), vũ khí hủy diệt nhau, tức là vũ khí nguyên tử cho cả hai cùng chết. Các bạn có thể tưởng tượng được đó là cung cách "hòa bình" của thế kỷ 20 của loài người? Thế thì không căng và stress sao được. Cung cách sống đầy stress như vậy và không tạo ra khủng bố quốc tế và các quốc gia điên của thế giới như ta thấy ngày nay sao được.

Vợ chồng quản lý nhau bằng sợ hãi: Em mà thế này tôi có bồ nhí. Anh mà thế này, tôi bỏ đi, v.v… Bạn bè quản lý nhau bằng sợ hãi: Cậu sống như thế thì đừng xem tớ là bạn. Thầy quản l‎ý trò bằng la mắng và hình phạt. Trong xã hội người ta, cố gắng quản l‎ý nhau (nhất là quản lý quan điểm chính trị và tôn giáo của nhau) bằng cách bôi nhọ nhau trên báo chí hay trên Internet…

Sở dĩ chúng ta dùng sợ hãi để quản lý là vì chính chúng ta cũng đầy sợ hãi. Ta sống với sợ hãi và bị sợ hãi chỉ huy hàng ngày, cho nên ta cũng dùng sợ hãi để chỉ huy người khác. Chúng ta, nhất là những nhà mẹ cha, những nhà giáo dục, và những lãnh đạo không thể đổi mốt quản lý từ hình phạt sang khen thưởng, từ dọa nạt sang khuyến khích, từ bạo lực sang tình yêu được, nếu tự trong tâm chúng ta không thể xóa bỏ hết sợ hãi và sống bằng tĩnh lặng, an lạc và tình yêu. Chỉ khi nào chính chúng ta trực nghiệm được sức mạnh chuyển hóa của tĩnh lặng và tình yêu ngày trong lòng mình, lúc đó chúng ta mới đủ lòng tin và tri kiến để dùng bình an và nhân ái để chuyển hóa người khác và chuyển hóa xã hội.

Vấn đề giản dị đến thế: Chuyển hóa trái tim ta để chuyển hóa thế giới của ta. Chuyển hóa từ một trái tim đầy sợ hãi sang một trái tim tĩnh lặng và an lạc.

Ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới đầy bạo lực, từ trên đường phố, đến trường học và trong gia đình. Chúng ta đương nhiên là nói đến luật pháp và giáo dục để giải quyết những vấn đề bạo lực. Nhưng các vấn đề này sẽ không giải quyết được nếu chúng ta không biết rằng bạo lực xã hội bắt đầu từ sợ hãi trong tâm ta, nhất là trong tâm các nhà giáo dục và lãnh đạo.

Một quả tim tĩnh lặng, không bị xung động thường xuyên bởi tham sân si và sợ hãi, là khởi điểm của việc giải quyết những vấn đề bạo lực của xã hội chúng ta.

Chúc các bạn một ngày tĩnh lặng.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – Kinh Chuyển Pháp Luân

Posted: 02 Dec 2010 01:48 PM PST

Đức Phật xuất thân là một vị hoàng thái tử tại Népal, Ấn Độ, được sinh ra vào khoảng 1030 năm trước Công Nguyên trong nhung lụa và sự mong mỏi có người kế vị của vua cha. Tuy nhiên, Ngài đã sớm cảm nhận nỗi thống khổ của nhân gian. Sau khi đứa con trai của mình ra đời, Ngài đã từ bỏ cuộc đời của một vị thái tử để đi tìm con đường giải thóat nhân loại khỏi các nỗi khổ này.

Ngài đã thử lối tu hành khổ hạnh, ép xác như xu thế của các nhà tu hành ở Ấn Độ lúc bấy giờ trong sáu năm. Và nhận ra rằng, đó không phải là con đường đúng đắn. Ngài tự mình tu tập để tìm chân lý. Rồi một ngày, Ngài hốt nhiên đại ngộ khi Ngài ba mươi tuổi. Sau khi giác ngộ Ngài than rằng: "Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều sẵn đủ trí huệ đức tướng Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước mà chẳng thể chứng đắc". Với ý này, Như Lai (hay Phật) tức là Ngài và cũng tức là người giác ngộ. http://www.tosuthien.com/kinh-sach/cong-an-phat-thich-ca-va-to-dat-ma/tieu-su-phat-thich-ca/

Kinh Chuyển Pháp Luân là bài giảng đầu tiên của Ngài sau khi giác ngộ cho năm vị tỳ kheo về những luận đề cơ bản của con đường giác ngộ và thoát khổ. Đó là con đường Trung Đạo (không cực đoan) dựa trên Tứ Diệu Đế (nhận biết khổ, nguyên nhân của khổ, niết bàn và đường đến với niết bàn) và với Bát Chánh Đạo (quan điểm chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, hành vi chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, nỗ lực chân chánh, ý niệm chân chánh và thiền định chân chánh).

Sau đây mình giới thiệu Kinh Chuyển Pháp Luân bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Tuy nhiên các bản này không phải là bản dịch của nhau nên sẽ có những khác biệt nhất định.

Quỳnh Linh

Kinh Chuyển Pháp Luân

Tỳ kheo Thích Nhật Từ biên soạn

Tôi nghe như vầy, sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp đầu tiên tại Vườn Nai. Tại đây, Ngài dạy năm vị Tỳ-kheo đầu tiên rằng:

"Này các Tỳ-kheo, có hai cực đoan mà người xuất gia phải tránh xa. Một là đắm nhiễm các dục thấp hèn, thô bỉ, phàm tục, không dẫn đến đức hạnh thánh nhân, không liên hệ đến mục đích tu tập. Hai là tự làm khổ mình bằng các lối tu khổ hạnh ép xác, không thích hợp với các phẩm hạnh bậc thánh, không dẫn đến mục đích giải thoát. Này các Tỳ-kheo, vị hành giả có chánh trí phải loại bỏ hai cực đoan vô ích này. Hãy đi theo con đường Trung Đạo do Như Lai chứng ngộ, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật, dẫn đến sự an tịnh, thánh trí, giác ngộ và niết-bàn.

Này các Tỳ-kheo, con đường Trung Đạo, chính là tám đường chánh: quan điểm chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, hành vi chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, nỗ lực chân chánh, ý niệm chân chánh và thiền định chân chánh.

Này các Tỳ-kheo, sau đây là bốn chân lý vi diệu của cuộc đời:

-          Chân lý thứ nhất là thực tại đau khổ. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà phải xa nhau là khổ, thù ghét mà phải gặp nhau là khổ, mong cầu mà không toại nguyện là khổ và chấp vào năm nhóm nhân tính là khổ.

-          Chân lý thứ hai là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Đó là phiền não nhiễm ô, là tâm ái dục, là sự tham đắm và chấp thủ về cái ta, cái của ta, là dục ái, hữu ái và phi hữu ái.

-          Chân lý thứ ba là Niết-bàn, tức là sự trừ diệt hoàn toàn gốc rễ của đau khổ và những nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Đó là sự ly tham, sự từ bỏ, sự giải thoát và không còn chấp trước.

-          Chân lý thứ tư là con đường dẫn đến niết-bàn, đó là tám đường chánh, là con đường Trung đạo.

Này các Tỳ-kheo, cần phải liễu tri về thực tại khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật. Này các Tỳ-kheo, cần phải trừ diệt hoàn toàn gốc rễ dẫn đến khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật.  Này các Tỳ-kheo, cần phải tu tập trọn vẹn con đường dẫn đến Niết-bàn. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật.

Như vậy, này các Tỳ-kheo chỉ khi nào tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn chân lý vi diệu của cuộc đời dưới ba sắc thái, gồm mười hai khía cạnh đã trở nên hoàn toàn sáng tỏ, thì khi ấy Như Lai mới xác nhận với thế gian, gồm chư thiên, ma vương, Phạm Thiên, giữa các đoàn thể Sa-môn, Bà-la-môn, giữa loài trời và loài người rằng Như Lai đã chứng Vô Thượng  Chánh Đẳng Chánh Giác. Tâm Như Lai đã giải thoát và an tịnh tuyệt đối, đời sống này là cuối cùng, Như Lai không còn bị luân hồi sanh tử nữa."

Khi bánh xe chánh pháp đầu tiên này được Như Lai vận chuyển, tuyên bố, các hàng chư thiên trên địa cầu đều cung kính khen ngợi: "Pháp môn này thật là vi diệu ! Không có Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, ma vương hay Phạm thiên nào có thể thuyết giảng được. Đây là chân lý vi diệu vừa được Đấng Giác Ngộ khám phá và truyền bá, đem lại an lạc, hạnh phúc cho loài trời và loài người."

Lúc ấy các chư thiên ở các cõi trời Tứ Đại Thiên vương, trời Đao-lợi, trời Dạ-ma, trời Đâu-suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm Chúng, trời Đại Phạm, trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Biến Tịnh, trời Quảng Quả, trời Vô Tưởng, trời Vô Phiền và các chư thiên Phạm thiên cũng đều đồng thanh khen ngợi nhiều lần như vậy. Trong khoảng thời gian ấy, mười ngàn thế giới đều chấn động và vang rền tiếng pháp. Rồi một luồng hào quang rộng lớn, rực rỡ phát chiếu, làm sáng cả vũ trụ. Ngay thời pháp này, tôn giả Kiều-trần-như đã giác ngộ và được Đức Phật xác chứng là A-nhã Kiều-trần-như.

http://www.quangduc.com/Nghile/07nhattung02.html

DHAMMACAKKAPPAVATTANA SUTTA:
SETTING THE WHEEL OF DHAMMA IN MOTION

Translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu

I have heard that on one occasion the Blessed One was staying at Varanasi in the Game Refuge at Isipatana. There he addressed the group of five monks:

“There are these two extremes that are not to be indulged in by one who has gone forth. Which two? That which is devoted to sensual pleasure with reference to sensual objects: base, vulgar, common, ignoble, unprofitable; and that which is devoted to self-affliction: painful, ignoble, unprofitable. Avoiding both of these extremes, the middle way realized by the Tathagata — producing vision, producing knowledge — leads to calm, to direct knowledge, to self-awakening, to Unbinding.

“And what is the middle way realized by the Tathagata that — producing vision, producing knowledge — leads to calm, to direct knowledge, to self-awakening, to Unbinding? Precisely this Noble Eightfold Path: right view, right resolve, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right concentration. This is the middle way realized by the Tathagata that — producing vision, producing knowledge — leads to calm, to direct knowledge, to self-awakening, to Unbinding.

“Now this, monks, is the noble truth of stress:[1] Birth is stressful, aging is stressful, death is stressful; sorrow, lamentation, pain, distress, & despair are stressful; association with the unbeloved is stressful, separation from the loved is stressful, not getting what is wanted is stressful. In short, the five clinging-aggregates are stressful.

“And this, monks, is the noble truth of the origination of stress: the craving that makes for further becoming — accompanied by passion & delight, relishing now here & now there — i.e., craving for sensual pleasure, craving for becoming, craving for non-becoming.

“And this, monks, is the noble truth of the cessation of stress: the remainderless fading & cessation, renunciation, relinquishment, release, & letting go of that very craving.

“And this, monks, is the noble truth of the way of practice leading to the cessation of stress: precisely this Noble Eightfold Path — right view, right resolve, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right concentration.

“Vision arose, insight arose, discernment arose, knowledge arose, illumination arose within me with regard to things never heard before: ‘This is the noble truth of stress.’ Vision arose, insight arose, discernment arose, knowledge arose, illumination arose within me with regard to things never heard before: ‘This noble truth of stress is to be comprehended.’ Vision arose, insight arose, discernment arose, knowledge arose, illumination arose within me with regard to things never heard before:’ This noble truth of stress has been comprehended.’

“Vision arose, insight arose, discernment arose, knowledge arose, illumination arose within me with regard to things never heard before: ‘This is the noble truth of the origination of stress’… ‘This noble truth of the origination of stress is to be abandoned’ [2] … ‘This noble truth of the origination of stress has been abandoned.’

“Vision arose, insight arose, discernment arose, knowledge arose, illumination arose within me with regard to things never heard before: ‘This is the noble truth of the cessation of stress’… ‘This noble truth of the cessation of stress is to be directly experienced’… ‘This noble truth of the cessation of stress has been directly experienced.’

“Vision arose, insight arose, discernment arose, knowledge arose, illumination arose within me with regard to things never heard before: ‘This is the noble truth of the way of practice leading to the cessation of stress’… ‘This noble truth of the way of practice leading to the cessation of stress is to be developed’… ‘This noble truth of the way of practice leading to the cessation of stress has been developed.’ [3]

“And, monks, as long as this — my three-round, twelve-permutation knowledge & vision concerning these four noble truths as they have come to be — was not pure, I did not claim to have directly awakened to the right self-awakening unexcelled in the cosmos with its deities, Maras, & Brahmas, with its contemplatives & priests, its royalty & commonfolk. But as soon as this — my three-round, twelve-permutation knowledge & vision concerning these four noble truths as they have come to be — was truly pure, then I did claim to have directly awakened to the right self-awakening unexcelled in the cosmos with its deities, Maras & Brahmas, with its contemplatives & priests, its royalty & commonfolk. Knowledge & vision arose in me: ‘Unprovoked is my release. This is the last birth. There is now no further becoming.’”

That is what the Blessed One said. Gratified, the group of five monks delighted at his words. And while this explanation was being given, there arose to Ven. Kondañña the dustless, stainless Dhamma eye: Whatever is subject to origination is all subject to cessation.

And when the Blessed One had set the Wheel of Dhamma in motion, the earth devas cried out: “At Varanasi, in the Game Refuge at Isipatana, the Blessed One has set in motion the unexcelled Wheel of Dhamma that cannot be stopped by priest or contemplative, deva, Mara or God or anyone in the cosmos.” On hearing the earth devas’ cry, the devas of the Four Kings’ Heaven took up the cry… the devas of the Thirty-three… the Yama devas… the Tusita devas… the Nimmanarati devas… the Paranimmita-vasavatti devas… the devas of Brahma’s retinue took up the cry: “At Varanasi, in the Game Refuge at Isipatana, the Blessed One has set in motion the unexcelled Wheel of Dhamma that cannot be stopped by priest or contemplative, deva, Mara, or God or anyone at all in the cosmos.”

So in that moment, that instant, the cry shot right up to the Brahma worlds. And this ten-thousand fold cosmos shivered & quivered & quaked, while a great, measureless radiance appeared in the cosmos, surpassing the effulgence of the devas.

Then the Blessed One exclaimed: “So you really know, Kondañña? So you really know?” And that is how Ven. Kondañña acquired the name Añña-Kondañña — Kondañña who knows.

Notes

1. The Pali phrases for the four noble truths are grammatical anomalies. From these anomalies, some scholars have argued that the expression “noble truth” is a later addition cto the texts. Others have argued even further that the content of the four truths is also a later addition. Both of these arguments are based on the unproven assumption that the language the Buddha spoke was grammatically regular, and that any irregularities were later corruptions of the language. This assumption forgets that the languages of the Buddha’s time were oral dialects, and that the nature of such dialects is to contain many grammatical irregularities. Languages tend to become regular only when being used to govern a large nation state or to produce a large body of literature: events that happened in India only after the Buddha’s time. (A European example: Italian was a group of irregular oral dialects until Dante fashioned it into a regular language for the sake of his poetry.) Thus the irregularity of the Pali here is no proof either for the earliness or lateness of this particular teaching.

2. Another argument for the lateness of the expression “noble truth” is that a truth — meaning an accurate statement about a body of facts — is not something that should be abandoned. In this case, only the craving is to be abandoned, not the truth about craving. However, in Vedic Sanskrit — as in modern English — a “truth” can mean both a fact and an accurate statement about a fact. Thus in this case, the “truth” is the fact, not the statement about the fact, and the argument for the lateness of the expression does not hold.

3. The discussion in the four paragraphs beginning with the phrase, “Vision arose…,” takes two sets of variables — the four noble truths and the three levels of knowledge appropriate to each — and lists their twelve permutations. In ancient Indian philosophical and legal traditions, this sort of discussion is called a wheel. Thus, this passage is the Wheel of Dhamma from which the discourse takes its name.

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/sn/sn56/sn56.011.than.html

Bài tiếp theo: Bài giảng cho loài chim (Thánh Francis vùng Assisi)


Filed under: Các diễn văn làm thay đổi thế giới, Văn Hóa Tagged: các diễn văn làm thay đổi thế giới, Văn

Đạo Phật và “trường phái kiến tạo” trong khoa học quan hệ quốc tế

Posted: 02 Dec 2010 01:42 PM PST

image

Trước đây, trong một vài bài viết, chúng tôi đã có dịp giới thiệu về sự hiện diện một cách "tự phát" các yếu tố Phật giáo nơi những nhân vật tinh hoa của nhân loại, là các nhà văn, nhà triết học, nghệ sĩ…

Trong bài viết này, chúng tôi xin được ghi nhận yếu tố Phật giáo ở một trường phái khoa học quan hệ quốc tế, được gọi là trường phái kiến tạo (constructivism).

Đúng ra, phải gọi là học thuyết kiến tạo, hay chủ nghĩa kiến tạo (vì từ "trường phái" thường được dùng để dịch từ "school"), nhưng vì trên thực tế, đây chỉ mới là một thuyết có tính cách học thuật, hơn là một "chủ nghĩa" theo cách hiểu thông thường của người Việt, nên chúng tôi xin phép dịch bằng từ "trường phái".

Khoa học về quan hệ quốc tế còn tương đối mới mẻ với bạn đọc Việt Nam. Sách, tài liệu giáo trình tiếng Việt của bộ môn này còn khá hiếm hoi, chủ yếu chỉ lưu hành trong Học viện Quan hệ quốc tế và một số trường đại học. Sách tiếng nước ngoài cũng nhập vào rất hạn chế, vì tính chất chuyên môn hẹp của nó.

Vì vậy, trước khi đi vào trường phái kiến tạo, chúng tôi xin điểm qua một số trường phái, học thuyết khác trong khoa học quan hệ quốc tế.

Có thể kể đến các trường phái chính: trường phái hiện thực, trường phái tự do, trường phái kiến tạo.

Trong mỗi trường phái lại có thể có những trường phái nhánh rẽ.

Xuất xứ các trường phái chính trong khoa học quan hệ quốc tế hiện nay chủ yếu là từ Mỹ và Châu Âu.

Sự khác biệt giữa các trường phái học thuật trong khoa học quan hệ quốc tế, thậm chí trái ngược nhau, mâu thuẫn nhau, thậm chí cạnh tranh nhau trong việc ảnh hưởng, đào tạo các nhà chính trị, ngoại giao, chính khách…

Các học thuyết trường phái đưa ra những cách lý giải khác nhau về quan hệ quốc tế, những mối quan tâm khác nhau, những đối tượng nghiên cứu khác nhau…

Có những trường phái, học thuyết hoàn toàn xa lạ với đạo Phật. Chẳng hạn, trường phái hiện thực, có ảnh hưởng lớn ở phương Tây trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Trường phái này xem quan hệ quốc tế là một cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các nước, trên cơ sở lợi ích quốc gia, sẵn sàng tiến hành xung đột, chiến tranh.

Các học giả theo chủ nghĩa hiện thực thường đưa ra những dự báo về gây hấn, bùng nổ xung đột. Theo họ, đặc tính của thế giới là vô chính phủ, tức là không có một thế lực điều hòa, bảo vệ lợi ích quốc gia. Còn các quốc gia đều có yếu tố nội sinh là chi phối, thống trị các nước khác. Cho nên xu thế chiến tranh, cạnh tranh, xung đột, mâu thuẫn là tất yếu.

Nhiều nhánh nhỏ trong trường phái hiện thực càng cực đoan hơn. Có trường hợp đề cao quan điểm tấn công.

Chủ nghĩa tự do thì đề cao các quan hệ kinh tế, nhấn mạnh rằng sự liên kết kinh tế, các mối quan hệ kinh tế, đưa tới sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế sẽ hạn chế chiến tranh.

Các học giả theo trường phái tự do coi ước muốn thịnh vượng, mong muốn yên ổn làm giàu, xây dựng kinh tế, phát triển có vai trò quan trọng, chứ không phải yếu tố "xâm kích", chế ngự nước khác.

Các nhánh của học thuyết tự do đề ra những phương thức hợp tác, những ưu tiên hợp tác kinh tế, có quan điểm lạc quan.

Đối tượng của 2 trường phái hiện thực tự do đều là nhà nước. Trường phái tự do mang màu sắc hòa bình, nhưng đó là hòa bình từ kinh tế, có yếu tố lòng tham kinh tế.

Quan niệm của đạo Phật về hòa bình, về quan hệ giữa con người với con người, về bản chất các mối quan hệ… có thể tìm thấy ở trường phái kiến tạo, cũng có thể gọi là trường phái xây dựng.

Các học giả của trường phái kiến tạo không hẳn đã tiếp thu tư tưởng của Đức Phật, tuy nhiên, rõ ràng, là họ tư duy như đạo Phật. Đó là sự đồng quy của tiến bộ.

Nếu đối tượng của trường phái hiện thực và tự do, cũng như nhiều trường phái khác trong khoa học quan hệ quốc tế là nhà nước, thì đối tượng của trường phái kiến tạo là cá nhân.

Đạo Phật quan niệm "nhất thiết duy tâm tạo" hòa bình đến từ bên trong, trong mỗi con người, thì trường phái kiến tạo cũng quan niệm như thế.

Trường phái kiến tạo đặt sự lưu tâm vào ý tưởng, sự chuyển biến suy nghĩ ở mỗi con người. Nói theo đạo Phật, là đề cao vai trò của "tâm". Nó đối lập với các trường phái đề cao công cụ sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế, các công cụ chính trị bên ngoài.

Chúng ta nhớ tới Pháp cú: "Trong các pháp, tâm là chủ, tâm dẫn đầu, tâm tạo tác tất cả". Dường như quan niệm này chi phối rất lớn đối với trường phái kiến tạo.

Cái khác, có nhưng không lớn, là trường phái kiến tạo, tuy nhấn mạnh đến ý tưởng ("tâm") từ mỗi cá nhân, tuy vậy, có hướng nhiều hơn đến với giới tinh hoa, nhất là tinh hoa chính trị (quan chức, chính khách, học giả, trí thức…).

Trong khi đạo Phật thì có quan điểm bình đẳng hơn, không có sự phân biệt.

Nhưng có lẽ, quan niệm như những học giả của trường phái kiến tạo cũng không sai, nếu xét trên lý nhân duyên của nhà Phật. Giới tinh hoa chính trị, những nhà hoạt động chính trị, giới trí thức… những người chi phối nhiều hơn đến hoạt động tinh thần, quan hệ đối ngoại của quốc gia, tất nhiên sẽ có "duyên" nhiều hơn đối với việc quyết định quan hệ quốc tế, so với những người lao động chân tay, lao động phổ thông, tầng lớp bình dân…

Yếu tố ý thức, tư tưởng, ý tưởng, tư duy tất nhiên liên hệ nhiều đến giới tinh hoa. Tuy nhiên vẫn có thể thấy rằng "các học giả này theo trường phái kiến tạo" tập trung sự chú ý vào những diễn biến chính trong tư tưởng (discourse) của xã hội bởi vì các diễn biến đó phản ánh và làm sâu sắc thêm niềm tin và lợi ích, đồng thời tạo ra những chuẩn tắc hành vi được chấp nhận" (1). Tức là sự nhấn mạnh giới tinh hoa cũng chỉ là tương đối.

Không đặt nặng sức mạnh của vũ khí, của tiền bạc, của bản năng bạo lực, chế ngự đối tượng khác, của bản năng làm giàu, trường phái kiến tạo quả đã có những tiến bộ, những tiến bộ đó đã, trong một chừng mực nào đó, tương đồng với Phật giáo.

Tiến tới thấy được vai trò của tâm, của cá nhân, trường phái kiến tạo đã đồng quy với đạo Phật, trong xu thế coi trọng vai trò con người, của ý tưởng, của "tâm"!.

MT

1. Nhiều tác giả: Lý luận Quan hệ Quốc tế, Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội, 2007 (Lưu hành nội bộ)


Filed under: Bang giao quốc tế, Văn Hóa Tagged: Bang giao quốc tế, Văn Hóa

Báo Cáo Năng Lực Cạnh Tranh của Việt Nam (2010)

Posted: 02 Dec 2010 01:41 PM PST

Chào các bạn,

Dưới đây là các links download Báo Cáo Năng Lực Cạnh Tranh Của Viêtnam – 2010 (Vietnam Competitive Report 2010), do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương và Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á thực hiện, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Michael Porter.

VCR Powerpoint presentation 11.30.2010

VCR Chương 1

VCR Chương 2 & 3

VCR Chương 4


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

AmCham cáo buộc Việt Nam ‘vi phạm cam kết WTO’

Posted: 02 Dec 2010 01:41 PM PST

BBC

Quan chức thương mại Mỹ nói Việt Nam “vi phạm cam kết WTO” vì ra quy định kiểm soát giá nhắm vào các công ty nước ngoài.

Nghị định có hiệu lực từ 1/10 năm nay cho phép các cơ quan nhà nước áp dụng biện pháp “ổn định giá cả”, nếu như giá bán tăng nhanh hơn giá thành sản xuất.

Bản tin của AFP từ Hà Nội hôm 2/12/2010 trích lời ông Hank Tomlinson, Chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ (AmCham), chi nhánh Hà Nội, phát biểu tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam.

‘Phản tác dụng’

Ông Tomlinson không chỉ tin rằng các biện pháp kiểm soát giá cả của Việt Nam là “phản tác dụng” trong việc thúc đẩy tăng trưởng, mà còn cho rằng luật này “tập trung chủ yếu vào các công ty nước ngoài”.

Đây là một sự vi phạm cả về văn bản và tinh thần của các cam kết mà Việt Nam nêu ra với Tổ chức Thương mại Thế giới

Ông Hank Tomlinson, Chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ

“Đây là một sự vi phạm cả về văn bản và tinh thần của các cam kết mà Việt Nam nêu ra với Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO”, ông Tomlinson nói.

Phòng Thương mại Hoa Kỳ cũng ra một văn bản ngắn gọi quy định kiểm soát giá của Việt Nam là “một bước tụt lùi về hướng kinh tế kế hoạch hóa và tăng thêm chi phí đáng kể và cả sự bất an đối với khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam”.

Còn Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam cũng nói theo nghị định của chính phủ Việt Nam khiến các nhà sản xuất than, sữa bột, xăng dầu, sắt thép và một số mặt hàng khác, phải công bố giá bán lẻ và các giá thành khác, như thế có thể tăng gánh nặng hành chính cho công ty của họ.

‘Thủ tướng chỉ đạo’

Phòng Thương mại Úc cũng bày tỏ “quan ngại” về biện pháp kiểm soát giá của chính phủ Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo thực hiện các biện pháp kiểm soát giá.

Hôm 1/10 vừa qua, trang Bấm Thông tin Đối ngoại của chính phủ Việt Nam mô tả lại cuộc họp của nội các trích lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “tập trung chỉ đạo đồng bộ các giải pháp kiểm soát giá và tháo gỡ khó khăn về thiếu điện.

Thủ tướng Dũng nhấn mạnh thời gian tới, Chính phủ tập trung chỉ đạo đồng bộ các giải pháp kiểm soát giá và tháo gỡ khó khăn về thiếu điện.

Vẫn trang web này đưa rằng “Về vấn đề kiểm soát giá, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo, sắp tới sẽ có Hội nghị toàn quốc triển khai chỉ thị này của Thủ tướng Chính phủ” nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Chính phủ Việt Nam cho rằng “Điều hành chính sách tiền tệ phải chủ động, linh hoạt, phục vụ tăng trưởng kinh tế. Không để xảy ra tình trạng sốt giá các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân…”

Giá các loại thuốc chữa bệnh và giá sữa sẽ được “kiểm soát chặt chẽ”.

Vẫn theo truyền thông Việt Nam trong tháng 10 vừa qua, Nghị định 87/2010 của Thủ tướng Chính phủ cũng quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu liên quan đến tỷ giá ngoại tệ và tiền Việt Nam.

Từ tháng 1/2011, theo AFP trích nguồn trong nước, chính phủ Việt Nam sẽ áp đặt 10 phần trăm thuế xuất vàng, tăng từ 0 phần trăm.

Nhiều người Việt Nam thời gian qua mua vàng và đô la Mỹ vì lo ngại kinh tế bất ổn, khiến đồng tiền Việt Nam lại tiếp tục mất giá.

Bấm Lạm phát cao, vượt ngưỡng 8 phần trăm cũng khiến dư luận lo ngại.


Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin

Tàu chiến Trung Quốc thăm Việt Nam

Posted: 02 Dec 2010 01:39 PM PST

BBC

Tàu chiến Xiangfan
Tàu Hương Phiên hạng Giang Vệ II, thuộc loại khá hiện đại

Tàu chiến chở hỏa tiễn Tương Phiền của Trung Quốc lần đầu tiên mang trực thăng tham gia tuần tra chung với Việt Nam ở Vịnh Bắc bộ.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho hay tàu Tương Phiền rời hải cảng Tam Á trên đảo Hải Nam vào lúc 5 giờ chiều hôm thứ Ba 30/11, lên đường đi tuần tra chung với hải quân Việt Nam ở Vịnh Bắc bộ.

Đây là cuộc tuần tra chung lần thứ 10 giữa hải quân hai nước kể từ khi Việt Nam và Trung Quốc thống nhất thực hiện công việc này với tần suất hai lần/năm từ tháng 10/2005.

Tuy nhiên, theo Bộ Quốc phòng Trung Quốc, đây là lần đầu tiên cuộc tuần tra có sự tham gia của trực thăng quân đội Trung Quốc.

Sau khi thực hiện tuần tra chung, tàu sẽ thăm chính thức thành phố Đà Nẵng.

Tại đây, thủy thủ đoàn sẽ có các hoạt động giao lưu như thông lệ với hải quân và nhân dân địa phương, như thi đấu giao hữu thể thao, thăm hỏi xã giao vv…

Trên đường về lại cơ sở ở Tam Á, tàu Tương Phiền sẽ tham gia diễn tập cứu hộ cứu nạn với phía Việt Nam.

Tàu số hiệu 567 thuộc Hạm đội Nam Hải (Biển Đông) của hải quân Trung Quốc. Đây là tàu chiến tốc độ cao hạng Giang Vệ II, thuộc loại khá hiện đại.

Việt Nam và Trung Quốc ký hiệp định tuần tra chung tại Vịnh Bắc Bộ hồi tháng 10/2005 như một biện pháp tăng cường hợp tác và thúc đẩy tin tưởng giữa quân đội hai bên.

Cuộc tuần tra chung đầu tiên được thực hiện hôm 27/04/2006.

Tàu cá gặp nạn

Trong khi đó, báo Việt Nam đưa tin hiện có hai tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi đang gặp nạn tại khu vực biển gần quần đảo Hoàng Sa.

Mới nhất là tàu Qng 92095-TS của ông Võ Hổ trú tại xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa, gặp nạn chết máy hôm 28/11. Ông Hổ vừa là chủ tàu, vừa là thuyền trưởng.

Trên tàu có 14 ngư dân.

Trước đó hai hôm, tàu Qng 96020-TS của ông Phùng Thoại từ xã An Hải, huyện Lý Sơn, cũng bị chết máy khi hoạt động đánh bắt trong vùng biển Hoàng Sa. Tàu này cũng có 14 người.

Được biết cơ quan chức năng đã điều tàu mang thực phẩm, thuốc men ra khơi cứu tàu bị nạn và đã liên lạc được với tàu Qng 96020-TS của ông Thoại.

Tàu Qng 92095-TS của ông Hổ trong khi đó đang được một tàu cá khác cùng quê lai dắt vào bờ.

Công việc cứu trợ ngư dân gặp nạn trên biển Hoàng Sa, gần đây thu hút sự chú ý của dư luận trong nước, dường như đã được cải thiện.

Người ta trông đợi hai tàu bị nạn nói trên cùng ngư dân sẽ về bờ trong hai-ba ngày tới.


Filed under: Bang giao quốc tế, Thông Tin Tagged: Bang giao quốc tế, Thông Tin

No comments:

Post a Comment