Đọt Chuối Non |
- Christmas season – Tantum ergo
- Câu Chuyện Giáng Sinh
- Hoà Thượng Thạch Liêm, chúa Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ
- Đắk Nông: Cả làng không có khai sinh
- Để tôi viết xong tiểu thuyết rồi hãy bắn!
- Việt-Trung đàm phán kín về Biển Đông
| Christmas season – Tantum ergo Posted: 12 Dec 2010 12:13 PM PST
“Tantum Ergo” là hai đoạn cuối trong Bài Hát Lễ Pange Lingua do Thánh Thomas Aquinas (1225-1274) soạn thảo và thường được dùng vào lúc Dâng Mình Thánh Chúa (Benediction of the Blessed Sacrament). Sau đây chúng ta có (1) Tantum Ergo với Gregorian chant, (2) nhạc của Frank Schubert, (3) nhạc của Mozart, và (3) nhạc của Haydn. Tiếng Việt Sấp mình kính mến, Cùng Đức Chúa Cha hằng hữu (TĐH dịch từ tiếng Anh) Tiếng Latin Tantum ergo Sacramentum Tiếng Anh Down in adoration falling, To the everlasting Father, Tantum ergo – Gregorian chant
Franz Schubert, D.750, Tantum Ergo in D Major (1822) (Chor und and Symphonie Orchester des Bayerischen Rundfunks, Wolfgang Sawallisch dir.)
Tantum Ergo KV 197 W. A. Mozart (Dmaj) (Saint Thomas Aquinas Choir with Orquesta San Jeronimo in Real, in concert at the Church of San Jeronimo in Real, Madrid, Spain; November 12, 2008. Choir and Orchestra are under the baton of Matthew S. Sprinkle. Saint Thomas Aquinas Church is located in Avondale, Arizona – Phoenix Metropolitan Area).
Michael Haydn – Tantum ergo in G-major (Chorus: Choralschola der Wiener Hofburgkapelle / Hugo Distler Chor; Orchestra: Wiener Akademie; Conductor: Martin Haselböck) Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa | ||||
| Posted: 12 Dec 2010 12:12 PM PST
Con người bần hàn và giản dị đó, với vài lời giảng giản dị đó, bị xử tử chỉ sau 3 năm truyền đạo, ngày nay đã chinh phục hơn nửa thế giới. Đây là một trong những hiện tượng lớn nhất và kì bí nhất trong lịch sử loài người. Ngày nay chúng ta mừng Giáng Sinh hàng năm và hát ca mừng đón hòa bình: "Vinh danh Thiên chúa trên trời, và dưới thế bình an thiện tâm cho mọi người" (Glory to God in the highest and on earth peace, goodwill to all people). Giáng Sinh là mùa của hòa bình, và Giêsu là hòa bình. Hòa bình của Giêsu đến từ tình yêu tuyệt đối. Không phải là loại hòa bình có "chiến tranh để xây dựng/bảo vệ hòa bình" đi trước, mà người ta vẫn ca ngợi xưa nay. Cũng không phải là hòa bình đến từ bất bạo động. Bất bạo động vẫn là chống lại một cái gì đó, nhưng bằng bất bạo động, không dùng vũ lực. Hòa bình của Giêsu chẳng chống ai cả, mà đến từ thực tâm yêu mến Thượng đế và yêu người, yêu mọi người, yêu tất cả không chừa ai. Không chống cả kẻ thù. Không có kẻ thù. Đó là hòa bình đến từ vô lượng từ bi của Tâm Bồ Tát (Boddhicitta), một tâm vô ngã hoàn toàn và tràn đầy từ bi hỉ xả. Chúng ta hãy dùng vài phút suy niệm lại bài học Giêsu. Làm sao một chàng thợ mộc, dạy một điều giản dị như là "yêu Thượng đế và yêu tất cả mọi người" và phi ly' như là "yêu kẻ thù", giảng láp nháp được 3 năm là bị giết, lại có thể chinh phục hơn nửa thế giới cả hai nghìn năm sau? Thưa, đơn giản là vì tình yêu tuyệt đối, tình yêu vô điều kiện, vô giới hạn, vô lượng từ tâm, có sức mạnh vĩnh cửu, có sức mạnh chuyển hóa trái tim con người qua mọi thời đại, dù tác giả của nó có chết ngay lập tức, hay tác giả của nó đã bị hàng triệu người lợi dụng danh tính để làm mọi điều xằng bậy qua mọi thời kỳ của lịch sử, thì sức mạnh siêu nhiên của tình yêu đó vẫn sống vượt mọi niên đại và mọi thiên hà, đi từ quả tim này đến quả tim kia của mọi con người trong dòng chảy nhân loại, kể cả những người không hể quan tâm một tí gì đến tác giả. Tình yêu vô điều kiện vô giới hạn đó chính là vô lượng từ tâm đến từ một trái tim vô ngã—không còn tôi—một Tâm Bồ Tát (Bodhicitta), không còn chấp "tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh, tướng thọ giả" như Kinh Kim Cang đã nói. Các bạn, Thế giới chúng ta là một thế giới nhiều nhiễu loạn. Nhưng đừng tuyệt vọng. Vì ta đã thấy ánh sáng, ta đã được lịch sử hơn 20 thế kỷ cho thấy rằng: Một trái tim đầy tình yêu, hoàn toàn không thù hận và đố kị, không vũ lực, không chống đối, chỉ có vô lượng từ tâm, sẽ có sức mạnh chuyển hóa nhân loại cho đến cả mấy nghìn năm sau đó. Và mỗi trái tim của chúng ta đều có thể làm được việc đó. Mỗi chúng ta đã có sẵn một Trái Tim Bồ tát trong lồng ngực. Bình an và thiện tâm cho tất cả chúng ta. Mến, © copyright 2010 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | ||||
| Hoà Thượng Thạch Liêm, chúa Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ Posted: 12 Dec 2010 12:12 PM PST Nguyễn Hữu Vinh biên soạn Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Dù trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại "bà tiên mặc áo đỏ". Cho đến bây giờ, chùa Thiên Mụ đã nổi tiếng từ lâu, ít ai không biết đến, dù chưa một lần được đến tận nơi để nhìn tận mắt. Tiếng chuông chùa và bóng tháp bảy tầng cao ngút đã đi vào lịch sử, văn học và cũng đã trở nên hai biểu tượng riêng của đất Huế. Nói đến chùa Thiên Mụ, từ phong cảnh, di tích lịch sử, huyền thoại, giai thoại văn học, ca dao, tục ngữ v.v, có thể mọi người có thể đều biết rõ, nhưng khi nói đến Hoà Thượng Thích Đại Sán (釋大汕), hiệu Thạch Liêm (石濂和尚), vị sư mà hiện giờ được phụng thờ như là vị tổ sư của chùa, thì rất ít ai biết tới, ngoại trừ những người nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vị sư này là ai, gốc gác ở đâu, có công trạng gì đối với chùa mà được tôn thờ vinh dự như là vị sư tổ? Về danh hiệu của sư Thích Đại Sán, sách Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (quyển 6, tờ 24) (2) viết rằng: "Thạch Liêm Hán Ông, người nhà Thanh, quê Chiết Giang. Thông minh đỉnh ngộ, tinh thông các môn chiêm tinh, luật tịch, lý số, thư pháp, hoạ vẻ, nhất là về môn thơ phú. Thời Minh mạt, nhà Thanh xâm chiếm Trung Quốc, Liêm giữ nghĩa không chịu làm tôi, bèn từ giã mẹ già, xuất gia đầu Phật, vân du khắp các nơi danh thắng…“. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (quyển 8, trang 17) (2) chép việc trùng tu chùa Thiên Mụ vào năm 1714 có ghi "…Thời ấy Hoà Thượng ở Chiết Tây tên Đại Sán hiệu Thạch Liêm đem thiền đạo đến yết kiến, được chúa yêu mến, khi ông về nước được chúa tặng nhiều gỗ quý đem xây cất chùa (Trường Thọ), nay còn di tích…". Nhiều người lầm tưởng sư Đại Sán là tổ sư và trụ trì chùa Thiên Mụ. Thật ra, sư chỉ ghé đến tại chùa Thiên Mụ trong một khoảng thời gian rất ngắn, để dưỡng bệnh trong lúc chờ đợi mùa gió thuận lợi để trở về Quảng Đông. Sư chưa bao giờ trụ trì chùa Thiên Mụ cả. Việc nhầm lẫn này có thể do người đời sau vì không biết rõ lai lịch của sư nên người ta viết nhầm địa vị và công lao của sư lên bài vị để thờ trong chùa. Bài vị của sư được viết như sau: “Tự Động Thượng, chánh tông nhị thập cửu thế, khai sơn Linh Mụ tự, thượng Thạch hạ Liêm huý Đại Sán lão tổ hoà thượng giác linh” (嗣洞上正宗二十九世開山靈姥寺上石下濂諱大汕老祖和尚覺靈). Chùa Thiên Mụ trải qua nhiều đời, có gần 150 trăm năm trước khi sư Đại Sán đến chùa hoằng pháp chỉ trong 1 thời gian ngắn. Do vậy, sư không thể là lão tổ sư của chùa được. Căn cứ vào tên chùa trong bài vị, chúng ta nghi rằng sự nhầm lẫn này đã xảy ra vào thời hoặc sau đời Tự Đức. Vua Tự Đức không có con, nghĩ rằng mình phạm tội với trời nên xuống chiếu đổi chữ Thiên ra chữ Linh. Bảy năm sau, không thấy hiệu nghiệm gì, do đó vua Tự Đức lại cho đổi lại thành Thiên Mụ (3). Hiện giờ sư Đại Sán được tôn thờ như một vị tăng cang hay là sư tổ của chùa, có thể vì do sự nhầm lẫn đáng tiếc như đã nói ở trên. Theo sách "Eminent Chinese of the Ching Period" (4) thì “sư Đại Sán là người giúp đở đắc lực nhất cho Ngô Ỷ trong việc xuất bán sách. Sư Đại Sán giàu có, một phần là nhờ sự cung dưỡng của bọn Thượng Chi Tín và của bọn quan viên quản lý việc mua bán với nước An Nam. Y dùng của cải đó để giúp đỡ cho các văn nhân đương thời nên rất nổi tiếng”. Giáo sư Trần Kinh Hoà (Chen Ching Ho), một sử gia Việt nam, gốc Taiwan, đã từng giảng dạy tại các đại học như Sài Gòn, Huế, Hongkong và Soka University ở Tokyo trong sách "Thập Thất Thế Kỷ Quảng Nam Chi Tân Sử Liệu" (5) viết rằng: "…khoảng giữa triều đại Khang Hy, ở xã hội vùng Lĩnh Nam và trên thi đàn, sư Thạch Liêm tiếng tăm lừng lẫy. Ngoài những kẻ có liên hệ với chùa Trường Thọ, còn có những bọn thương gia Tàu và Nhật chuyên đi lại buôn bán với Quảng Nam (chỉ Thuận Hoá của Đại Việt). Đọc sách của sư còn lưu truyền lại như Hải Ngoại Kỷ Sự (海外紀事)(6) và Ly Lục Đường Thi Tập (離六唐詩集) (7), chúng ta nhận thấy rõ vị sư này tự phụ, đắc ý tỏ ra ngoài mặt, quyết chẳng phải một nhà tu hành khiêm tốn… Đối với bọn trí thức thời bấy giờ, vì sư sinh sống xa xỉ, tính ương gàn tự thị, dua nịnh quan trường, lời lẻ kiêu căng, nên có nhiều người phiền trách và xem y như là yêu tăng…Các quan lại nghi ngờ y buôn lậu với An Nam. Cứ theo Hải Ngoại Kỷ Sự kể thì lúc khởi hành từ Quảng Đông đi Hội An thì :"…Tăng chúng đi theo hơn 50 người, hành lý cũng nhiều, thuyền chủ nhìn nhau chẳng biết sắp đặt cách nào…" Đoạn văn nầy chứng thực được hàng hoá Đại Sán đưa qua Đại Việt khá nhiều…. Kết quả chuyến du hành An Nam, chở về nhiều thuyền châu báu như tê giác, sừng voi, san hô, châu ngọc v.v. không phải là ít, khó lòng tránh khỏi sự kinh ngạc của giới nhân sĩ Lĩnh Nam. Do những lời đồn đại về buôn lậu vớí Quảng Nam (An Nam) nên đã gây ra mầm mống tai hoạ cho y sau này…. Sau cùng Đại Sán bị quan đương thời bắt giam và chết trên đường áp giải về quê" (5). Ở đây, chúng ta không luận bàn về những nhận định về hành động và phẩm cách của sư ở Quảng Đông, mà chúng ta chỉ xem xét về sự liên hệ của sư đối với quốc chủ Đại Việt thời ấy là chúa Nguyễn Phúc Chu và Phật duyên với chùa Thiên Mụ. Bắt đầu từ giữa thế kỷ 17, không những ở nước Đại Việt mà còn ở Trung Quốc, là thời loạn lạc triền miên. Ở Trung Quốc, nhà Thanh chiếm cứ đánh đuổi nhà Minh. Vua Thanh Thái Tổ diệt được nhà Minh và lên ngôi năm 1644. Từ đó, những phong trào phò Minh diệt Thanh xảy ra khắp nơi. Đấy là vào thời dân Tàu thờ nhà Minh tràn qua lánh nạn nhà Thanh ở Đại Việt ta, sinh ra lượt sóng di dân từ miền nam Trung Quốc sang. Cũng vào thời đó, chính là lúc Trịnh Nguyễn phân tranh. Ở đàng trong các chúa Nguyễn tìm cách củng cố đế nghiệp để chống chọi với Trịnh ở phương bắc. Các chúa Nguyễn ngoài việc lo chống cự với phương bắc, nhưng đồng thời cũng lo bành trướng thế lực vào phương nam. Thế nên các chúa Nguyễn đã rất khôn khéo trong việc sử dụng nguồn nhân lực và tài lực từ ngoài vào. Các chúa đã sử dụng các người gốc nhà Minh này để khai khẩn và sử dụng như những đạo tiền quân, vừa khai khẩn vừa chống chọi với Chân Lạp. Do đó sự thông thương giữa Trung Quốc và Đại Việt vào thời bấy giờ đã trở nên cấp bách và cần thiết, dù rằng đường bộ gặp sự cách trở vì thế lực của Trịnh và Lê ở đàng ngoài. Nhưng vì thế mà cảng Hội An đã trở thành một thương cảng quốc tế tấp nập để thông thương bằng đường biển với Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Dương, Ấn Độ v.v. Thế lực của các chúa Trịnh đã làm lu mờ vai trò của vua Lê đối với các chúa Nguyễn ở đàng trong. Nho giáo không còn đủ sức cứu giúp nhà Lê. Nho giáo suy đồi, nên nhu cầu Phật giáo càng ngày càng quan trọng. Trong bối cảnh luồng sóng thông thương từ Trung Quốc và Nhật Bản vào Đại Việt, Phật giáo Đại thừa (Mahayana) (8) cũng theo vết chân di dân đó bành trướng đến miền trung nước Đại Việt. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (quyển 8, trang 17) chép việc trùng tu chùa Thiên Mụ vào năm 1714 có ghi: "…sai người qua Tàu mua Kinh, Luật và Luận hơn 1000 quyển…". Đây cũng là kết quả rõ ràng nhất về việc Phật giáo Đại thừa bành trướng vào đàng trong, sau khi việc sư Đại Sán được mời đến Thuận Hoá và tạm trú một thời gian ở chùa Thiên Mụ. Sở dĩ sư Đại Sán nổi tiếng trong giới Phật giáo, được tôn sư cho tới bây giờ và được phụng thờ ở chùa Thiên Mụ chẳng phải hoàn toàn do tài đức hoằng pháp của sư đối với Đại Việt ta, nhưng vì sư có một người đệ tử tài ba, lỗi lạc và danh tiếng. Đó là Đại Việt quốc chủ chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Nguyễn Phúc Chu là người có công lớn trong công việc đại trùng tu chùa Thiên Mụ, dựng bia, đúc chuông lớn, còn lưu truyền cho đến ngày nay. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí (9) quyển Kinh Sư, phần Tự Quán chép rằng: "…Chùa Thiên Mụ ở ngoài kinh thành, trên gò núi xã An Ninh (bây giờ thuộc làng Xuân Hoà), nguyên trước có chùa Phật. Gia Long năm thứ 14 xây lại…Nay xét bản triều Thái Tổ Hoàng Đế (tức chúa Tiên Nguyễn Hoàng) Tân Sửu năm thứ 44 (tức năm 1601) xa giá đến viếng Hà Khê, thấy giữa đồng bằng nổi một gò đất cao như hình đầu rồng quay lại, nhìn thẳng ra sông, phía sau có hồ, cảnh trí đẹp đẽ, nhân hỏi chuyện, người địa phương bảo rằng: …gò này linh thiêng, tương truyền ngày xưa ban đêm có người trông thấy một vị tiên bà mặc áo đỏ quần lục ngồi trên gò nói rằng: "Sau này sẽ có vị chân chúa đến sửa lại chùa này, tụ linh khí để giữ long mạch cho được bền vững", nói xong biến mất, nhân đó đặt tên là Thiên Mụ Tự…Thái Tông Hoàng Đế (tức chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần) Ất Tỵ năm thứ 17 (1665) sửa chữa lại, Hiển Tông Hoàng Đế Canh Dần năm thứ 19 (1710) đúc chuông lớn, năm Giáp Ngọ năm thứ 23 (1714) trùng tu chùa…". Hiển Tông hoàng đế tức là Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế, đế hiệu của chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Nguyễn Phúc Chu lên ngôi năm 1691, trẻ tuổi , tài ba xông xáo ra bắc vào nam, mở mang bờ cõi nhưng cũng rất tôn sùng đạo Phật. Do vậy chuyện mời sư học đạo cũng là chuyện tất nhiên. Chúa Nguyễn Phúc Chu nhân lúc sư Đại Sán còn ở Đại Việt đã quy y học đạo, tôn sư làm thầy. Nhân duyên này đã khiến chúa cho trùng tu lại chùa Thiên Mụ trong tinh thần nhớ ơn vị thầy mà mình đã quy y. Chúa đã cho khắc vào bia (10) những dòng chữ trịnh trọng như sau: "…Nhớ lại năm xưa, mời được Đường đầu đại sư, tên chữ là Đại Sán, hiệu Thạch Liêm. Ngài là bậc thầy, nguyện lực thâm sâu, lòng thương rộng lớn, y báo chánh báo vô biên, đạo thấu ba thừa, tu có tông chỉ như cây có gốc, nước có nguồn. Ngài được truyền tâm ấn ở đất Chiết Tây Trung Quốc…”. Và những hàng chữ nhớ thương vô vàn: "…Thầy ta đã đi rồi, ta cứ hoài thương nhớ vị cao tăng, đã từng chống gậy vượt qua núi non, quan ải, dùng thuyền chở đạo, vượt biển, băng suối đi đến trời Nam, đem câu kinh kệ tuyệt diệu để ca tụng đạo mầu…". Mối liên hệ giữa chúa Phúc Chu và sư Đại Sán khá mật thiết. Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (q. 6, trang 24) còn ghi lại thi văn của sư, sau khi sư đã trở về lại Quảng Đông, gửi cho chúa để tỏ lòng thương nhớ. Những bài thi văn này trích trong hai tập sách của sư là Hải Ngoại Kỷ Sự và Ly Lục Đường Thi Tập vẫn còn lưu truyền cho tới ngày nay. Theo Tổng mục đề yếu Tứ Khố Toàn Thư (四庫全書) (tập hợp sách sử của vua Càn Long, hoàn thành năm 1782) (11), loại địa lý, mục 7 chép rằng” Hải Ngoại Kỷ Sự gồm 6 quyển do quốc triều Thích Đại Sán biên soạn. Tuần Phủ Chiết Giang tìm thấy đem dâng: “…Đại Sán là sư chùa Trường Thọ, tỉnh Quảng Đông. Mùa xuân năm Ất Hợi triều đại Khang Hy, Đại Việt Quốc Vương mời qua thuyết pháp, hơn một năm lại trở về. Sách chép những điều tai nghe mắt thấy, phong tục tập quán nước ấy. Tiên vương của nước Đại Việt là rể của nước An Nam (chỉ Nguyễn Hoàng) (12), chia cứ miền nam, xưng hiệu là Đại Việt. Đầu sách có bài tựa của Nguyễn Phúc Chu, dưới cuối đề tháng 5 năm Bính Tý, tức là Khang Hy năm thứ 35 vậy…”. Chính nhờ hai cuốn sách này, nhất là cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự, chúng ta biết được một ít về con người và khúc phim lịch sử về cuộc hành trình của sư Đại Sán qua Thuận Hoá cùng mối liên hệ của sư đối với chúa Nguyễn Phúc Chu. Nhiều người lầm tưởng sư Đại Sán được chúa Nguyễn Phúc Chu mời sang. Nhưng thật ra, bắt đầu từ thời vua cha của chúa Phúc Chu là Anh Tông hoàng đế (tức chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (Thái) 1687-1691) khi đang còn tại thế đã từng hạ lệnh cho Tạ Nguyên Thiều (謝元韶) qua Quảng Đông mời Đại Sán sang Đại Việt hoằng pháp. Bia của chúa Nguyễn Phúc Chu dựng tại chùa Quốc Ân, Huế, đời Lê Dụ Tông thứ 10 có viết: "Hoán Bích Thiền Sư Tạ Nguyên Thiều ở chùa Hà Trung (Thừa Thiên) vâng lệnh chúa Nghĩa sang Quảng Đông mời Đại Sán Hoà Thượng". Sách Đại Nam Nhất Thông Chí quyển Thừa Thiên, phần tăng lữ viết: "…Tạ Nguyên Thiều tên chữ là Hoán Bích, người gốc Triều Châu tỉnh Quảng Đông, nhà Thanh, xuất gia lúc 19 tuổi. Qua Đại Việt thời Thái Tông Hoàng Đế (tức chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần), đến Qui Ninh (Nay Quy Nhơn) xây chùa Di Đà, hoằng dương Phật pháp… Sau đó ra Thuận Hoá, xây chùa Quốc Ân. Tạ Nguyên Thiều vâng lệnh Anh Tông Hoàng Đế sang Quảng Đông mời cao tăng Thạch Liêm Hoà Thượng. Khi về lại Thuận Hoá, ra trụ trì chùa Hà Trung. Khi mất Hiển Tông Hoàng Đế tặng tên thuỵ là Hạnh Đoan Thiền Sư". Trong bối cảnh lịch sử loạn ly của cả Trung Quốc và Đại Việt thời đó, với dòng người di dân gốc Minh sang, văn hoá chính trị của Đại Việt đã bị ảnh hưởng rất nhiều. Nhưng tại sao vua Anh Tông cho Tạ Nguyên Thiều sang Trung Quốc tìm kiếm cao tăng, vì lý do chính trị hay là tôn giáo, chúng ta hiện tại khó tìm ra được nguyên do. Các chúa Nguyễn kế vị vua Anh Tông tiếp tục muốn tìm cách dùng ảnh hưởng của nhà Thanh để kềm chế vua Lê chúa Trịnh chăng? Điều này cũng có thể là một nguyên do, hay là do tôn giáo tính của người thời bấy giờ thúc đẩy. Nhưng Đại Sán, tức Thạch Liêm Hoà Thượng qua Thuận Hoá không phải là kết quả trực tiếp của chuyến đi của họ Tạ, mà là do nhân duyên của chúa Phúc Chu với sư. Trong bài Tự (tựa), do chúa đề tặng trên sách Hải Ngoại Kỷ Sự thì: "…Ta khi còn làm Thái Tử vẫn thường hay ngưỡng mộ thầy ta ở chùa Trường Thọ. Vua cha ta lúc trước đã gửi thư hai lần mời mà không được. Mùa thu năm Giáp Tuất ta muốn thọ Bồ Tát Giới nên nối chí vua cha, ta đưa người qua rước, may được Hoà Thượng nhận lời mời…" (長壽本師老和上余自居儲來積慕有年先王書聘至再弗顧甲戌秋欲受菩薩戒法繼志敦請果適我願). Trong Hải Ngoại Kỷ Sự quyển một, cũng có ghi hàng chữ như sau: "…Ngày mùng 4 tháng 8 năm Giáp Tuất, người nhà gõ cửa tin cho biết có khách là sứ giả nước Đại Việt đến. Sứ giả người tỉnh Phúc Kiến, tay nâng phong thư giấy vàng cung kính, sụp lạy dâng lên cùng với các lễ vật… thưa rằng "Đại Việt Quốc Vương từ lâu ngưỡng mộ Hoà Thượng. …Kể từ tiên vương (tức Nghĩa vương) đã có thư mời, đến nay nữa là ba lần cả thảy. Mời đến ba lần cũng đã thành tâm lắm vậy…". Đối với sự ân cần mời rước, sư Đại Sán dĩ nhiên vui lòng tiếp nhận lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu. Câu văn trên giúp ta suy nghĩ rằng chuyện vị sư Tàu này qua Đại Việt, có thể do vấn đề tôn giáo hơn là chính trị. Cuộc hành trình đầy sóng gió và thú vị từ Quảng Đông đến Thuận Hoá đã được ghi lại trong tập Hải Ngoại Kỷ Sự tất cả những điều tai nghe mắt thấy trong lúc Đại Sán du hành vào đất Thuận Hoá. Sư từ Hoàng Phố tỉnh Quảng Đông, đáp thuyền buôn đi Hội An vào đêm treo đèn rằm tháng giêng năm Ất Hợi (Khang Hy thứ 34, tức ngày 27 tháng 2 năm 1695), khoảng hơn hai tuần lễ lênh đênh trên biển, thuyền đến Cù Lao Chàm ngoài cửa biển Hội An, rồi chuyển sang chiến thuyền của chúa Nguyễn Phúc Chu, đi thẳng vào đất Thuận Hoá vào ngày 29 tháng 1 năm Ất Hợi (ngày 13 tháng 3 năm 1695), ngụ tại chùa Thiền Lâm, Huế và làm quốc khách của chúa Phúc Chu. Đến ngày 28 tháng 6 năm đó (ngày 7 tháng 8 năm 1695) sư vào Hội An chuẩn bị đáp thuyền buôn trở về Quảng Đông, song bị đau nên phải lưu lại. Chúa Nguyễn Phúc Chu nghe tin bèn khẩn hoảng mời sư từ Hội An ra lại Thuận Hoá, tạm trú tại chùa Thiên Mụ từ ngày 16 tháng 10 (ngày 22 tháng 11 năm 1695) để dưỡng bệnh và hoằng pháp cho tới hạ tuần tháng 6 năm sau (1696) mới trở về lại Quảng Đông. Chúa Nguyễn Phúc Chu là vị vua tuổi trẻ, tài ba nhưng lại có lòng tu Phật, mong đem tâm Phật mà trị nước, quy y đầu Phật với sư. Trong bài Tự sách Hải Ngoại Kỷ Sự, chúa Phúc Chu viết: "…Đại Việt Quốc Vương Nguyễn Phúc Chu thọ Bồ Tát Giới pháp danh Hưng Long đãnh lễ, viết vào ngày tháng năm năm Bính Tý…" (丙子蒲月大越國王阮福週受菩薩戒弟子法名興龍頂禮). Trong Ly Lục Đường, bài tựa của Đường Hóa Bằng viết rằng: "…Hoà thượng là đời thứ 29 dòng Tào Động, con của Trượng Nhân…". Cho đến khi chúa Phúc Chu đại trùng tu chùa Thiên Mụ, chúa xưng là dòng Tào Động thứ 30 và khắc danh vào bia đá như sau (10): “…Chúa dựng chùa Thiên Mụ, Chúa Nguyễn Phúc Chu kế truyền chính tông phái Động Thượng đời thứ 30, pháp danh Hưng Long, hiệu Thiên Túng Đạo Nhân ghi văn bia và dựng bia bền vững ở chùa Thiên Mụ xứ Thuận Hoá…". Trong suốt hơn một năm ở lại Thuận Hoá, hoạt động chính của sư Đại Sán là việc triệu tập tăng chúng toàn quốc, mở ba pháp đàn truyền giáo là trọng yếu. Việc ấy nhằm mục đích nhắm vào việc chấn hưng Phật giáo, thanh trừng những phần tử truỵ lạc và cũng để đáp lại lời than phiền của chúa Nguyễn Phúc Chu nêu lên về những tệ đoan trong giới Phật giáo thời ấy. Nhân dịp đó chúa cùng mẹ và con gái quy y, thọ Bồ Tát Giới và nhận pháp danh do sư đặt ra. Ngoài những hoạt động Phật pháp, có lẻ những điều giúp ích nhất cho chúa Nguyễn Phúc Chu là những điều chỉ vẽ, đề nghị liên quan đến việc trị nước trong những lần đôi bên đàm đạo với nhau. Cuối quyển hai của Hải Ngoại Kỷ Sự viết rằng “…Ta bèn đem những việc chính trị bàn luận mấy ngày nay, chép ra từng điều một, làm thành bản điều trần “Lập Quốc Chính Ước” (立國政約) gồm 18 điều, đều là những chuyện thương lính, yêu dân, thông thương lợi quốc, kỷ cương pháp độ, chép từng chi tiết rõ ràng. Vương đọc xong mừng rỡ, bảo Nội quan Chưởng Sự rằng “Pháp độ, dân tình nước ta đều chưa được đúng đắn, nay nhờ lão Hoà Thượng đem phép lễ Trung Quốc chỉ dạy, liệt kể 18 điều, nên khắc yết lên cửa phủ, hiểu dụ quan dân đều biết, và khắc 24 thẻ bài, chia loại rõ ràng. Hễ ai làm trái điều lệ, phạm phép, cho kẻ bị thiệt hại cầm thẻ bài đến kêu. Bất kể là quân dân, hoàng thân quốc thích đều theo pháp luật mà trị tội. Vĩnh viễn lấy đó làm quốc chánh vậy…”. Thật đáng tiếc trong Hải Ngoại Kỷ Sự không thấy ghi lại nội dung bản “Lập Quốc Chính Ước” này! Ngoài ra, khi mớí đặt chân đến Thuận Hoá, sư dâng lên cho chúa bản điều trần “Điều trần về việc của nước Đại Việt (大越事宜)”có nội dung rõ ràng như sau: 1. Nên tiến cống nhà Thanh để chính danh 2. Đặt đồn thú để củng cố biên thuỳ 3. Thương yêu quân sĩ để cổ võ lòng trung dũng 4. Mở mang trường học để giáo dục nhân tài Chúa Nguyễn Phúc Chu, đối với sư Đại Sán rất đổi kính trọng, tôn kính và dốc lòng học hỏi. Ngược lại, trên cương vị quốc khách Đại Sán dù có phần tự kiêu, tự đại, tự phụ, nhưng đối với chúa và các đại quan trong triều, sư Đại Sán vẫn có lòng thành và kính nể. Trong bản điều trần trên, sư viết “…Người xưa bảo rằng “Kẻ ngu nghĩ ngàn điều cũng có một điều được”, tôi đã nhận lời mời của nhà vua đến đây, nếu biết mà không nói, ấy là phụ lòng vua, mà cũng tự phụ mình. Sau đây trích ra vài điều bày tỏ, tạm gọi là tỏ chút lòng thành…”. Điều đặc biệt nên nhắc tới là trong Hải Ngoại Kỷ Sự, sư gọi chúa Nguyễn Phúc Chu là Quốc Vương, Đại Vương, Vương v.v, còn xưng nước ta là Đại Việt. Trong bài Khải (啟), sư dâng lên cho chúa lúc mới đến Thuận Hoá có những câu: “…Quý Vương quốc từ xưa khai sáng Thuận Hoá, Thanh Hoá, tám trấn Tam Giang, hùng cứ bốn mươi bảy châu. Quý Đại Vương nối nghiệp đã có, Kiến Bình, Tân Bình bao la, thiên sơn vạn thuỷ…Nay kính, Đại Việt đức chúa điện hạ ngân an…”. Việc xưng hô này cũng là một điều rất hiếm xảy ra đối với nhân sĩ Trung Quốc lúc xưa, khi mà họ đang còn gọi các nước vùng ven biên Trung Quốc là Rợ, Di, Man v.v. Đây cũng chính là một trong những “tội trạng” mà nhân sĩ Quảng Đông thời bấy giờ buột tội sư!. Trong bài khảo cứu về “Tiểu Sử của Thích Đại Sán”, GS Trần Kinh Hoà dẫn chứng: “…Trong bài của Mậu Thuyên Tôn (về sự lược Thạch Liêm Hoà Thượng) có dẫn bài kể tội Đại Sán của Phan Thứ Canh gửi cho Đại Đương Sự tỉnh Việt (Quảng Đông) có câu như sau “…Xét lúc An nam Mạc thị (chỉ Mạc Đăng Dung) mới quy thuận, chỉ phong Đô Thống Sứ, nay Nguyễn Phúc Chu chưa xin phong, chưa chịu sắc mạng triều đình, sao được xưng là “Vương phủ”, nghiễm nhiên ngang hàng với các thân vương Trung Quốc,…hay sao?…”. Ảnh hưởng của sư đối với chúa Nguyễn Phúc Chu như thế nào, xem bài Tự trong Hải Ngoại Kỷ Sự, chúa viết "…Từ lúc đến vào mùa xuân năm Ất Hợi cho tới mùa hạ năm Bính Tý, được gần gũi cung dưỡng. Ngoài chuyện ngày đêm giảng dạy đạo lý, còn chỉ bảo cương kỷ luân thường. Từ chuyện to đến chuyện nhỏ đều vạch lối chỉ đường, phân tích rõ ràng mạch lạc, khác nào dẫn dắt người từ nơi tối tăm ra nơi ánh sáng, giúp ích cho ta trong công việc chính cương trị nước biết chừng nào…” (從乙亥春抵國迄丙子夏供養親近靡間晨夕禪論之餘大而綱常倫紀小而事物精粗莫不條分縷析理明詞暢若人從幽暗中挈諸青天皎日之上其為裨益政治實多). Xem tổng quát những sự việc ghi chép trong sách Hải Ngoại Kỷ Sự, chẳng những sư Đại Sán được vua tôi quan dân Thuận Hoá nhiệt liệt hoan nghênh, những lời nói trong những cuộc đàm đạo với chúa, với các quan đại thần, cho đến phong tục, tập quán, tình hình sinh hoạt của dân chúng, kiến trúc của vương phủ, những hoạt động luyện tập quân lính, sự phong phú của tài nguyên thiên nhiên, khí hậu cay nghiệt, ngay đến cả tình trạng hoạt động của ngoại kiều (Hoa, Nhật), cũng như sự tấp nập của cảng Hội An thời đó, đều được đôi nét chấm phá ghi lại. Sách còn thu góp tất cả những bài thơ tức cảnh, thơ đối đáp, đề vịnh, rất phong phú gần cả 120 bài. Đặc biệt trong thời gian lưu lại chùa Thiên Mụ, sư có làm hai bài thơ tả cảnh chùa Thiên Mụ rất hay như sau: Bài số 1 梵王宮闕阮王開 玉殿朱門生緣苔 一代榮光餘草木 千秋花雨結香臺 庭前雲影山連水 檻外帆飛去復回 未識謫仙天姥賦 夢遊可是此中來 Bài số 2 當年王氣出中流 霸業還歸梵貝修 石闕不畱秦歲月 敕書尚載漢春秋 海潮沙界三千里 風雨鐘鳴百八州 佛火一龕燒栢子 坐消寒月不知愁 Bài số 1 Phạn vương cung khuyết Nguyễn vương khai Ngọc điện chu môn sinh duyên đài Nhất đại vinh quang dư thảo mộc Thiên thu hoa vũ (1) kết hương đài Đình tiền vân ảnh sơn liên thuỷ Hạm ngoại phàm phi khứ phục hồi Vị thức trích tiên Thiên Mụ phú Mộng du khả thị thử trung lai Bài số 2 Đương niên vương khí xuất trung lưu Bá nghiệp hoàn qui phạn bối tu Thạch khuyết bất lưu Tần tuế nguyệt Sắc thư thượng tải Hán xuân thu Hải triều (2) sa giới (3) tam thiên lý Phong vũ (4) chung minh (5) bách bát châu Phật hoả nhất kham thiêu bá tử Toạ tiêu hàn nguyệt bất tri sầu Bài số 1 dịch thơ: Phật Tổ chùa đây chúa Nguyễn xây Cửa son điện ngọc mọc rêu đầy Cỏ cây vương dấu dòng vinh hiển Hương án thờ ghi nghiệp đế dày Sông núi ngoài sân mây lộn bóng Đi về ngoài cổng cánh buồm bay Chưa nghe huyền thoại bà Thiên Mụ Mộng tưởng thì đây lại chốn này Bài số 2 dịch thơ Ở đây vương đế dấy từ lâu Việc lớn làm nên bởi nghiệp tu Năm tháng Tần xưa bia mất dấu Xuân thu Hán cũ sách còn lưu Câu kinh bay rộng ba ngàn dặm Tiếng kệ vang xa trăm tám châu Đốt củi bách tùng khêu lửa Phật Nhìn trăng thanh thản suốt đêm thâu (Bản dịch của Hữu Vinh) Chú thích: 1. Hoa vũ: Mưa hoa, nhiều hoa. Lấy ý danh từ Phật giáo: Hoa, chỉ một trong 6 loại dùng để cúng dường. Kinh Đại Nhật (大日經) viết: Hoa, gợi ý từ bi, là hạt nhân của lòng thanh tịnh. Chỉ việc cúng thờ. 2. Hải triều: do chữ Hải Triều Âm (海潮音), chỉ tiếng tụng kinh lớn như sóng biển ỳ ầm 3. Sa giới: chỉ số nhiều, nhiều như cát sông Hằng. 4. Phong vũ: Lấy từ tên kinh “Chỉ phong vũ kinh” (止風雨經), chỉ việc tụng kinh 5. Chung minh: Lấy từ chữ “Chung phạn (鐘梵)”. Trong Tính Linh tập (性靈) có câu: “Kinh phạn đoạn nhi diệc tục”, chỉ việc kiên trì kinh kệ. Cuộc hội ngộ giữa chúa Nguyễn Phúc Chu và sư Đại Sán, được ghi lại trong Hải Ngoại Kỷ Sự đã để lại trong lịch sử bang giao Trung Việt một đề tài đặc biệt, kỳ thú và hấp dẫn. GS Trần Kinh Hoà trong sách “Thập Thất Thế Kỷ Quảng Nam Chi Tân Sử Liệu” viết rằng: “…Cuộc đời của Đại Sán ly kỳ biến ảo, về già lại bị tù tội. Tuy thái độ, hành vi của y khá khen nhưng chê cũng nhiều. Song chúng ta nhận thấy, y có một nhân cách phóng đãng, không chịu bị gò bó. Thực như bài đề yếu Hải Ngoại Kỷ Sự trong Bút Ký Tiểu Thuyết Đại Quan Bản đã viết: “…Tuy có những tiếng tăm không ngờ, nhưng ông vẫn là một người mượn cớ để lánh đời, muốn mượn văn chương để tỏ chí mình, điều đó thực rõ như ban ngày vậy…”. Chuyện du hành qua Quảng Nam Đại Sán đã làm cho vua tôi chúa Nguyễn cảm mến và long trọng cung dưỡng, cho đến thái độ thành thực của Đại Sán đối với họ, dù rằng những ghi chép trong sách có phần tô vẽ ít nhiều, đôi khi bộc lộ kiêu căng, nhưng cũng có thể được xem như là một trang phụ, thú vị trên lịch sử quan hệ Trung Việt. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên quyển 6 trang 24 chép rằng: “… Vào triều Minh Mạng, vua sai Trương Hiếu Hợp đi sứ sang Trung Quốc, có ghé lại Quảng Đông đến thăm chùa (Trường Thọ). Các tăng trong chùa vẫn còn nhắc lại chuyện sư Thạch Liêm…", đó là một chứng cớ rõ ràng”. Hiển nhiên, sư Đại Sán có ảnh hưởng không nhỏ đối với chúa Nguyễn Phúc Chu trong công việc chấn chỉnh triều cương, chấn hưng và truyền bá Phật giáo. Nhưng xét lại những lời lẽ và những việc làm ghi trong sách Hải Ngoại Kỷ Sự, sư Đại Sán chỉ có thể được xem như là một cố vấn được chúa Nguyễn Phúc Chu trọng dụng và kính nể, chứ không đáng được để tôn thờ như là một vị tổ sư của chùa Thiên Mụ. Đây hẳn là một sự nhầm lẫn đáng tiếc! Xem sách Đại Nam Nhất Thống Chí, sách được tu bổ sau các sách Đại Nam Thực Lục, cũng chỉ ghi lại công lao hoằng pháp của sư Tạ Nguyên Thiều (Hạnh Đoan Thiền Sư) mà thôi. Tham khảo: 1. “Ô Châu Cận Lục”, Dương Văn An, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1997 2. “Material on the Sino-Vietnamese relations in the DAI NAM THUC LUC (Veritable Record of Vietnam”, Wen-Tang Shiu, Academia Sinica, Taipei, Taiwan, 2000 (Tóm lược sự liên hệ giữa Việt nam và Trung Quốc trong Đại Nam Thực Lục) 3. “Huế, vài nét cố đô”, Mai Ưng, nhà xuất bản Hội Nhà Văn Công Ty Quản Lý Di Tích Huế, 1991 4. “Eminent Chinese of the Ching Period", Arthur W. Hummel ,Taipei, 1991, SMC Publishing Inc. 5. “Thập Thất Thế Kỷ Quảng Nam Chi Tân Sử Liệu”, Chen Ching Ho, nhà xuất bản Trung Hoa Tùng Thư, 1960 (十七世紀廣南之新史料,陳荊和著) 6. “Hải Ngoại Kỷ Sự”, Thích Đại Sán, nhà xuất bản Tân Văn Phong, Taipei, 1997 (海外紀事 六卷 / (清)大汕厂翁撰),臺北市新文豐出版公司, 1997[民86] ) 7. “Ly Lục Đường Tập”, Thích Đại Sán, Bắc Kinh Xuất Bản Xã, Bắc Kinh, 2000(離六堂集 十二卷 / (清)釋大汕撰,北京市北京出版社, 2000[民89] ) 8. “Buddhism in Vietnam”, Le Manh That, Budden Gyoshi,. http://www.quangduc.com 9. “Đại Nam Nhất Thống Chí”, Cao Xuân Dục, Đời Duy Tân thứ 3, 1910, Hội Nghiên Cứu Indochina, Tokyo, 1941 10. “Bia chùa Thiên Mụ của chúa Nguyễn Phúc Chu”, Thích Giới Hương dịch, Thích Trí Tựu cung cấp, 1994 11. “Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư Đề Yếu”, Vua Càn Long, 1782, Academia Sinica, Taipei, Taiwan (欽定四庫全書提要 一百十四卷, 解題一卷, 補遺一卷, 附錄三卷 / (清)乾隆47年(1782),中央研究院 ,台北,台灣) 12. “Việt Nam Khai Quốc Chí Truyện”, Nguyễn Bảng Trọng, Chen Ching Hao khảo đính, Ecole Francais d’Extreme Orient, Học Sinh Thư Cục xuất bản xã, Taipei, 1992 (越南開國志傳,法國遠東學院,台灣學生書局出版,1986,台北,台灣) 13. “Phật Học Đại Từ Điển”, Phật Quang Văn Hoá Xuất Bản Xã, Taipei, Taiwan (佛學大辭典,佛光文化出版社,台北,台灣) Phụ Lục: Photocopy bài Tự (Tựa) của chúa Nguyễn Phúc Chu viết ở phần đầu sách Hải Ngoại Kỷ Sự”, có đóng dấu ấn triện của chúa.
Filed under: Lịch sử, Nước Việt Mến Yêu, Trà Đàm, Văn Hóa Tagged: Lịch sử, Nước Việt Mến Yêu, Văn Hóa | ||||
| Đắk Nông: Cả làng không có khai sinh Posted: 12 Dec 2010 12:12 PM PST
SGTT.VN – Không chỉ trẻ em mới sinh, ngay cả những người trung niên, hay "gần đất, xa trời" ở nhiều cụm dân cư xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông hiện vẫn chưa đăng ký khai sinh. "Từ khi Nhà nước cấp đất định cư, gia đình sống ổn định, nên mới nghĩ đến chuyện làm hộ khẩu. Khi đăng ký hộ khẩu, cán bộ giải thích là phải có giấy khai sinh, nên sắp tới sẽ lên xã khai sinh cho vợ chồng và các con", ông Khư nói. Theo UBND xã Đắk Ngo, ở các khu dân cư tập trung số 1 và số 2 tại xã có khoảng 400 hộ dân, hầu hết chưa có đăng ký khai sinh. Năm 2007, khi xã Đắk Ngo được thành lập, ban Tư pháp xã phối hợp với Trung đoàn 720 xuống từng thôn để làm thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn cho con em nơi đây. Sau hơn một tuần tuyên truyền, vận động, khá nhiều trẻ em đã được cán bộ tư pháp trực tiếp hoàn thiện thủ tục đăng ký cấp giấy khai sinh. Tuy nhiên, hàng trăm giấy khai sinh được in, đóng dấu, nhưng không mấy người đến nhận, cán bộ đành phải cất vào trong tủ. Chỉ những trường hợp có nhu cầu để làm các thủ tục hành chính cần thiết, thì người dân mới đến xã "đòi" giấy khai sinh. Ông Nguyễn Văn Sáu, cán bộ tư pháp xã Đắk Ngo nói: "Theo quy định, học sinh đi học, thủ tục đầu tiên cần có là giấy khai sinh. Thế nhưng, không hiểu sao, thời gian qua, nhiều học sinh vẫn nhập học bình thường trong khi chưa đăng ký khai sinh. Vì vậy, lẽ ra mọi thông tin về lý lịch cá nhân như họ tên, năm sinh phải lấy khai sinh làm chuẩn, rất nhiều trường hợp, cán bộ tư pháp lại phải làm ngược là theo các thông tin trong hồ sơ học bạ để đăng ký khai sinh cho con em." Là cán bộ quản lý công tác hộ tịch, nhưng bản thân ông Sáu hiện cũng không thể xác định được xã còn bao nhiêu trẻ em chưa được đăng ký khai sinh. Đó là chưa kể đến tình trạng phần đông đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn khi cưới hỏi cũng không đăng ký kết hôn, có người chết cũng không báo tử. Từ năm 2007 đến nay, xã chỉ có khoảng 150 trường hợp đăng ký kết hôn, trong khi thực tế số lượng các cặp vợ chồng mới cưới lại rất nhiều. Từ thực trạng trên cho thấy, vấn đề quản lý hộ tịch, hộ khẩu ở Đắk Ngo đang rất cần sự quan tâm, phối hợp ở các cấp, ngành trong công tác tuyên truyền, vận động người dân. Làm tốt công tác này, không chỉ nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, mà còn góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Nguyễn Hả Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế | ||||
| Để tôi viết xong tiểu thuyết rồi hãy bắn! Posted: 12 Dec 2010 12:11 PM PST Tác giả: Phùng Nguyên (Tiền Phong) Ngồi trong khám tử tù, chẳng ai ngờ kẻ giang hồ gần quên hết mặt chữ đang chờ ngày ra pháp trường ấy lại viết …tiểu thuyết. Tử tù Phạm Ngọc Định viết tiểu thuyết cũng chẳng phải hư cấu nhiều bởi bản thân cuộc đời của Định cũng đã như tiểu thuyết.
Từ giảng đường đại học tới khám tử tù Tôi không nghĩ người tù có gương mặt trông hiền khô này lại từng là tay chơi khét tiếng ở đất cảng Hải Phòng. Một buổi sáng trong trại giam Nam Hà, Định kể: “Tôi sinh năm 1961, trong một gia đình công nhân ở Hạ Lý. Bố mẹ công nhân, gia đình nề nếp, nhưng tôi lười học, ghét sách vở. Vậy mà cũng thi tốt nghiệp được loại khá, rồi đậu vào Đại học Thể dục thể thao Trung ương 2. Tôi nghĩ đơn giản thi vào trường đó thì chủ yếu vận động tay chân, đỡ phải học nhiều. Nhưng ngay cả khi vào đó, tôi cũng vẫn bỏ học triền miên, gia nhập vào đám bạn giang hồ gây ra những vụ đâm chém. Học được hai năm thì bỏ hẳn. Những trùm giang hồ một thời như Hùng A Lý, Nguyễn Văn Tám đều là chiến hữu cả. Năm 1990, tôi bị bắt vì nhúng tay vào phi vụ của một băng nhóm, nhận án 5 năm tù giam ở trại giam Phi Liệt, Hải Phòng. Sau khi tôi vào tù, người vợ chung sống với nhau 7 năm nhưng chưa có con đã bỏ sang Đức. Tôi cũng chẳng trách cô ấy vì cô ấy chịu đựng cái tính ngang ngược của tôi như vậy là quá đủ rồi. Tôi tuy là kẻ giang hồ nhưng cực ghét cờ bạc và ma túy. Không ngờ tôi vẫn dính vào cờ bạc và ma túy”. Sau 5 năm “bóc lịch”, ra tù, Định trắng tay nhưng quyết làm lại cuộc đời. Bắt đầu từ việc chung vốn với bạn bè mở công ty buôn bán xe và các đồ điện tử. Khi tiền bắt đầu rủng rỉnh thì Định muốn lập gia đình. Nhưng quá khứ tù tội khiến nhiều người con gái không dám đến với Định. Chỉ có một cô gái tên Huyền cảm nhận được khí chất đàn ông của Định đã quyết lấy kẻ giang hồ này, bất chấp bố mẹ phản đối. Hai người làm đám cưới và Huyền sinh cho Định hai đứa con, đủ cả nếp tẻ. Cuộc đời những tưởng đã rất bình yên, nào ngờ dòng máu giang hồ vẫn chảy trong huyết quản của Định. Định lại lao vào những cuộc ăn chơi. Cuộc chơi lần này cuốn Định vào ma túy. Định lắc đầu cay đắng: “Hồi đó mấy người bạn ở Nam Định cứ nhờ tôi bán hộ ma túy. Tôi nhiều lần từ chối, nhưng họ cứ nài nỉ rồi gửi heroin lại. Thế rồi tôi trở thành kẻ mua bán hàng chục bánh heroin. Năm 1999, tôi bị bắt. Tòa tuyên án tử hình. Tôi không ngạc nhiên nhưng lòng đau vô hạn. Tôi bị đưa lên trại tạm giam T16 Bộ Công an ở Thanh Oai, Hà Tây, bị cùm một chân. Tôi hát suốt ngày cho quên nỗi sợ ra pháp trường. Có lúc tôi ngồi gẫm về cái sự vô tích sự của mình. 40 tuổi đầu chưa làm được gì gọi là có ích. Trong thời gian chờ mong lệnh ân xá của Chủ tịch nước, tôi được viết thư về cho vợ con và bỗng phát hoảng vì mình quên gần hết mặt chữ và có những từ chẳng biết viết ra sao. Từ khi bỏ học, tôi gần như không đọc bất cứ cái gì có chữ. Thế là ở trong khám tử tù, tôi liền tìm tất cả những gì có chữ để tự học lại. Cuối cũng tôi cũng hoàn thành được lá thư gửi vợ. Đó là lá thư khuyên vợ đi lấy chồng”. Sau khi tìm đọc những gì có chữ, Định bỗng nghiện sách báo. Càng đọc Định càng cảm thấy đầu óc như được khai hóa. Từ một kẻ ghét chữ, Đinh trở thành con mọt sách. Định đọc những cuốn sách kinh tế, và cả những tiểu thuyết dày cộp của các tác giả kinh điển như Chiến tranh và hòa bình, Cuốn theo chiều gió, Tình yêu và quyền lực… rồi truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng… Mỗi lần gấp cuốn sách lại, cảm giác tiếc đời xâm chiếm tâm hồn Định. Sách cho Định trải nghiệm những mảnh đời éo le, những nỗi đau nhân thế và thổi bùng vào kẻ từ tù khát vọng được sống đẹp, khác xa quá khứ ngập chìm trong bạo lực và ma túy. Những cuốn sách về kinh tế thậm chỉ còn “kích hoạt” trí tưởng tượng, khiến Định tưởng tượng và vẽ ra những mô hình thủy điện, mô hình kinh tế biển và mơ một ngày mình thành doanh nhân. Nhưng kẻ từng quên gần hết mặt chữ này sẽ chưa bao giờ nghĩ mình sẽ cầm bút viết tiểu thuyết. Cho đến một ngày xuân năm 2004. Định nhớ rất rõ trong chương trình Xuân trên Đài tiếng nói Việt Nam có cuộc gặp gỡ giữa Thủ tướng Phan Văn Khải và các văn nghệ sỹ, Thủ tướng kêu gọi các nhà văn hãy viết về công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về khát vọng làm giàu của những người dân nước Việt. Định tâm sự: “Tôi viết thư cho vợ còn ngọng nghịu, không bao giờ dám nghĩ mình là nhà văn, nhưng những lời nói của Thủ tướng đã “kích động” tôi. Tôi càng khao khát làm được một điều gì có ích cho xã hội. Và tôi biết, trong hoàn cảnh này, điều duy nhất tôi có thể làm là cầm bút. Tôi đánh liều bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên với ý nghĩ đó”. Viết như ngày mai bị bắn Đó là những ngày đông rét buốt. Cái lạnh của những kẻ tử tù bị cùm chân như Định còn tê tái hơn rất nhiều. Nhưng ý tưởng về một cuộc tiểu thuyết đã phôi thai trong khám tử tù giá lạnh. Việt Nam chưa có một cuốn tiểu thuyết kinh tế nào lớn, Định nghĩ: “Mình sẽ viết một cuốn sách về kinh tế, viết cho giới trẻ, viết về khát vọng làm giàu”. Ở trong khám tử tù, một chân bị còng, viết tiểu thuyết xem ra có gì đó quá sang trọng, xa xỉ và thậm chí mỉa mai chăng. Lấy đâu ra giấy bút? Lấy đâu ra sự điềm tĩnh để tư duy khi có thể bị đưa ra dựa cột bất cứ lúc nào?
Định vẫn tự tin bắt tay vào công việc của mình. Anh lôi một tập tạp chí Thế giới Phụ nữ và cẩn thận xé đôi tờ báo. Tỉ mẩn làm công việc đó trong một tháng trời, anh tự tạo ra được một tập giấy trắng mỏng tanh. Sau đó anh nghiền ngẫm xây dựng nhân vật cốt truyện. Nhớ về ngày đó, Định trở nên nghiêm trang: “Lúc đó tôi lo lắm vì trước đấy đã phải đắn đo và xấu hổ sợ không làm nổi mặc dù chỉ có một mình trong phòng tử tù. Mấy năm trời không đọc, không viết gì nên tôi cảm thấy trước mắt là một màn sương dày đặc không lối đi”… Trung tuần tháng mười, Định bắt tay vào viết. Trước khi viết văn, kẻ tử tù thực hiện nghi lễ trai giới, đánh răng rửa mặt sạch sẽ, dọn dẹp mấy mét vuông trong xà lim. Tĩnh tâm. Và bắt đầu cầm bút. Lần đầu tiên cầm bút viết văn không hiểu sao Định có cảm giác hồi hộp và cả sợ hãi. Những ngày cầm dao đâm chém ở đất Cảng, Định không sợ, vậy mà cầm bút cầm bút lại thấy sợ. Những khi viết những con chữ đầu tiên, Định không còn cảm giác về thời gian, chỉ khi cánh cửa sắt mở ra mới biết đến giờ ăn cơm. Cứ thế Định viết từ sáng cho đến 10 giờ tối. Có ngày viết được 15 trang, nhưng cũng có ngày chỉ được vài trang. Mỗi tuần được 1-2 tiếng buổi chiều thứ 6 tháo cùm đi tắm. Nhưng có hôm đang tắm, bỗng nghĩ ra ý tưởng mới, hay một từ đắt giá nào đó, Định bỏ về khám tử tù, tra chân vào còng viết luôn một mạch, không thèm tiếc khoảng thời gian được ra nhìn thấy bầu trời cao rộng. Sợ nhất đang viết dở cuốn tiểu thuyết thì bị đưa đi bắn, Định cứ viết như ngày mai không còn trên cõi đời nữa. Vừa viết vừa chỉnh sửa với hy vọng có thể xuất bản. Cứ thế, sau 8 tháng, đến trung tuần tháng 4 năm 2005, Định hoàn thành cuốn tiểu thuyết 800 trang. Chưa bao giờ kẻ từ tù này hạnh phúc đến vậy. Và lần đầu tiên, không còn cảm thấy sợ cái chết.
Cuối tiểu thuyết được đặt tên là “Đen và Trắng”, Định cẩn thận gửi về cho vợ cất như báu vật. Cuốn tiểu thuyết nói về những câu chuyện làm giàu của giới trẻ mà Định hy vọng “Đen và Trắng” trở thành cuốn sách cho tất cả mọi người. “Tôi biết đó là ảo tưởng, nhưng tôi không thể thiếu ảo tưởng đó”, Định cười bảo. Tôi nói: “Ảo tưởng là dấu hiệu cho thấy anh sắp trở thành nhà văn cũng nên. Hình như ai viết văn mà chẳng nuôi ảo tưởng về tác phẩm của mình”. Định bảo: “Tôi từng là giang hồ, tôi ít ảo tưởng, nhưng từ khi viết văn thì tôi ảo tưởng. Tôi quan hệ với mọi thành phần trong xã hội, nên tôi xây dựng những tuyến nhân vật đa dạng như cuộc sống, kể cả là người anh hùng thì cũng có gì đó xộc xệch, cũng có lúc yếu đuối, nản lòng, cũng có tật xấu… Song chỉ khác vai phản diện là biết vượt qua những ranh giới mong manh. Tôi đã từng là kẻ phản diện vì không vượt qua được ranh giới đó”. Tôi lật từng trang bản thảo cuốn tiểu thuyết “Tuổi thơ anh hùng” và “Truyện dài Phạm Ngọc Định”. Nét chữ nhỏ, hơi nghiêng ngả, kể về những năm tháng tuổi thơ của Định ở thành phố Hải Phòng. Cậu bé 12 tuổi trở thành nhân vật anh hùng khi dùng trò chơi đánh pháo của mình đánh lừa được một tốp máy bay Mỹ đánh bom trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không. Những trang viết gây xúc động bởi sự giản dị, chân thành. Từ khi cầm bút, người tù này hay trăn trở với một câu hỏi mà chẳng biết Hội Nhà văn Việt Nam sẽ vui hay buồn: “Vì sao văn chương nước mình không có tác phẩm lớn. Đặc biệt là tác phẩm viết về chiến tranh như cuốn “Chiến tranh và Hòa bình” của Lep Tonxtoi?”. Định lại ấp ủ về một cuốn tiểu thuyết về chiến tranh đồ sộ nhất, chưa từng có ở Việt Nam. Có thể đó lại là ảo tưởng nhưng ý thức về trách nhiệm của người tù này khiến tôi cảm động. Ở ngoài nhà tù, có những người được gọi là nhà văn nhưng chắc gì đã tự đặt ra cho mình câu hỏi đau đáu như thế? Hình ảnh xuyên suốt trong cuốn tiểu thuyết ấy sẽ là cô gái với cây vĩ cầm đỏ sáng bừng lên trong mưa bom, giúp người lính đi qua trận chiến…. Định bắt tay viết cuốn tiểu thuyết dự kiến 2.000 trang, nhưng cái thiếu nhất bây giờ là tư liệu và vốn sống về chiến tranh. Định đã đọc, nghiên cứu về chiến tranh nhiều vẫn chưa thấy đủ… Chỉ còn ít năm nữa, Định sẽ được ra tù (anh đã được Chủ tịch nước ân giảm án). Chẳng hiểu sao, tôi cứ tin, người tù viết văn này chắc chắn sẽ sống lương thiện khi được tự do. Ở trong khám tử tù, văn chương đã đánh thức cái thiên lương trong sâu thẳm của kẻ chờ ngày ra pháp trường này. Và một khi đã cầm bút viết văn dưới ánh sáng thiên lương chắc không thể làm điều ác được nữa chăng? Tôi cứ nghĩ nếu được đặc xá để sớm về với vợ con và cuộc sống đời thường, chắc Định sẽ trở thành một nhân vật chính diện biết vượt qua những ranh giới mong manh mà anh đã dựng nên trong tiểu thuyết của mình. Filed under: Mỗi ngày 1 tin sáng Tagged: Tin sáng | ||||
| Việt-Trung đàm phán kín về Biển Đông Posted: 12 Dec 2010 12:10 PM PST Trong suốt năm qua, Việt Nam và Trung Quốc đã có nhiều vòng đàm phán kín về tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông. Báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (South China Morning Post – SCMP) bằng tiếng Anh xuất bản tại Hong Kong trích nguồn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho hay đã có bốn vòng đàm phán giữa quan chức hai bên và vòng thứ năm sẽ diễn ra trong tháng 12 này. Tuy nhiên, SCMP nói phía Bắc Kinh kiên quyết không bàn về quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn từ năm 1974. Một quan chức Việt Nam giấu tên cho rằng đây chính là một trong những điểm khó giải quyết nhất trong tranh chấp lãnh thổ vì “Trung Quốc luôn nói rõ là quần đảo này thuộc về Trung Quốc và không có gì để thương lượng cả”. Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam khi trả lời SCMP đã nhấn mạnh tầm quan trọng của đàm phán song phương và khu vực khi giải quyết các vấn đề nhạy cảm này. Trung Quốc và Việt nam cùng nhận toàn bộ các quần đảo này trong khi Malaysia, Philippines và Brunei nhận một phần trong quần đảo Trường Sa. Đài Loan nhận những phần mà Trung Quốc cũng nhận. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga, nói các vòng đàm phán song phương được tổ chức nhằm tìm kiếm thỏa thuận về các “nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các vấn đề trên biển”. Bà Nga nói hai bên đã đạt được hiểu biết nhất quán rằng giải pháp cơ bản và lâu dài về Biển Đông phải đạt được qua “đàm phán hòa bình trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau”. Phát ngôn nhân ngoại giao Việt Nam cũng nhắc lại chủ quyền “không thể chối cãi” của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Quan điểm của Trung QuốcBộ Ngoại giao Trung Quốc, khi được tiếp cận, đã không bác bỏ thông tin về các vòng đàm phán nhưng cũng không cho biết thêm chi tiết nào khác. Tuy nhiên, ông Vương Hàn Lĩnh, chuyên gia về an ninh hàng hải và luật quốc tế tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, nói tranh chấp về Hoàng Sa, mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, đã “hoàn toàn được giải quyết” vì Trung Quốc quản lý quần đảo này. "Trung Quốc sẽ chỉ thương lượng về tranh chấp liên quan Nam Sa (Trường Sa) mà thôi.” Ông Vương nói thêm: "Chúng tôi khuyến khích việc cùng phát triển tại các vùng đặc quyền kinh tế tuy không bao giờ nhượng bộ về chủ quyền”. “Chúng tôi cũng có nguyên tắc chỉ thương lượng trực tiếp giữa hai bên, không chấp nhận bên thứ ba hay thương lượng tập thể.” Quần đảo Hoàng Sa đã về tay Trung Quốc sau trận hải chiến năm 1974 với quân đội Việt Nam Cộng hòa. Khi chính quyền Sài Gòn lên tiếng phản đối việc này tại Liên Hiệp Quốc, Hà Nội đã không góp giọng, một phần vì quan hệ đồng minh tối quan trọng với Bắc Kinh. Tuy nhiên những năm gần đây, người Việt Nam bắt đầu nói nhiều tới việc mất quần đảo này. Việt Nam tuyên bố ngư dân của mình phải được quyền hoạt động mà không bị sách nhiễu tại “ngư trường truyền thống” quanh Hoàng Sa. Mới đây, Hoa Kỳ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do hàng hải trong khu vực, khiến nhiều người cho rằng cuộc tranh chấp chủ quyền Biển Đông nay có thêm sự tham gia của cường quốc này. Giới ngoại giao tin rằng nếu Việt Nam và Trung Quốc thống nhất được vấn đề Hoàng Sa thì về cơ bản, cuộc đàm phán Biển Đông sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Vào cuối tháng 12, Trung Quốc sẽ chủ trì một cuộc họp với quan chức 10 nước Asean, trong đó có Việt Nam, để bàn về bản Quy tắc Ứng xử có tính pháp lý chặt chẽ hơn về tranh chấp Biển Đông. Hoạt động này được các quan sát viên cho là rất đáng chú ý, vì nó báo hiệu một bước tiến mới cho việc giải quyết tranh chấp. Thế nhưng, nếu ai nghĩ rằng sẽ có sự nhượng bộ từ phía Trung Quốc thì là điều sai lầm. Tướng Bành Quang Khiêm, chuyên gia về chiến lược quân sự tại Học viện Quốc phòng Trung Quốc, nói không bao giờ có việc Trung Quốc nhượng bộ về chủ quyền tại Hoàng Sa hay Trường Sa. “Trung Quốc chưa bao giờ thay đổi quan điểm về bảo vệ chủ quyền biển. Chính Việt Nam và các nước khác đang chiếm dụng hải đảo của Trung Quốc.”
Filed under: Bang giao quốc tế, Biển Đông Tagged: Bang giao quốc tế, Biển Đông |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |


No comments:
Post a Comment