Sunday, December 26, 2010

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Happy New Year – Pháo hoa tại các thành phố lớn trên thế giới

Posted: 26 Dec 2010 01:08 PM PST


 

Chào các bạn,

Còn vài ngày nữa là đến năm mới. Thế giới chúng ta sẽ tưng bừng chào đón năm mới với ca nhạc, diễn hành, hoa, confetti, và những tràng pháo bông rực rở.

Năm ngoài mình và anh Hoành làm PPS này về biểu diễn pháo hoa tại các thành phố lớn trên thế giới, với nhạc nền Happy New Year của ABBA.

Và 12 ước nguyện cho 12 tháng.

Mình post lại đây để chia sẻ với các bạn.

Chúc mọi người một năm mới an bình, thịnh vượng, hạnh phúc. :-)

Bình an và Sức khỏe,

Túy-Phượng

Chúc Mừng Năm Mới

Không còn sâm banh
Và pháo hoa cũng đã hết
Giờ chỉ còn, tôi và bạn
Cảm thấy lạc lõng và buồn
Tiệc đã tàn
Và buổi sáng hình như rất xám
Rất khác hôm qua
Giờ là lúc ta nói…

 

Chúc mừng năm mới
Chúc mừng năm mới
Chúc cho mọi chúng ta thỉnh thoảng có một tầm nhìn
Của một thế giới trong đó mỗi hàng xóm là một người bạn
Chúc mừng năm mới
Chúc mừng năm mới
Chúc cho mọi chúng ta có hy vọng và ý chí để phấn đấu
Nếu không thì có lẽ ta nên nằm xuống và chết
Bạn và tôi

 

Đôi khi tôi thấy
Thế giới mới anh dũng đến thế nào
Và tôi thấy nó sống mạnh thế nào
Trong tro bụi của cuộc đời của chúng ta
Ô vâng, con người rất điên
Và hắn nghĩ là hắn sẽ vẫn tốt
Kéo lê lết, chân đất sét
Không bao giờ biết mình lạc bước
Vẫn tiếp tục đi…

 

Chúc mừng năm mới
Chúc mừng năm mới
Chúc cho mọi chúng ta thỉnh thoảng có một tầm nhìn
Của một thế giới trong đó mỗi hàng xóm là một người bạn
Chúc mừng năm mới
Chúc mừng năm mới
Chúc cho mọi chúng ta có hy vọng và ý chí để phấn đấu
Nếu không thì có lẽ ta nên nằm xuống và chết
Bạn và tôi

 

Bây giờ hình như đối với tôi
Những giấc mơ ta có trước đây
Tất cả đã chết, chẳng có gì hơn
Là hoa giấy trên sàn
Đây là cuối thập niên
Trong thời gian mười năm nữa
Ai có thể nói chúng ta sẽ thấy được gì
Điều gì đang đợi ta cuối đường
Và cuối 89…

 

Chúc mừng năm mới
Chúc mừng năm mới
Chúc cho mọi chúng ta thỉnh thoảng có một tầm nhìn
Của một thế giới trong đó mỗi hàng xóm là một người bạn
Chúc mừng năm mới
Chúc mừng năm mới
Chúc cho mọi chúng ta có hy vọng và ý chí để phấn đấu
Nếu không thì có lẽ ta nên nằm xuống và chết
Bạn và tôi

(TĐH dịch)

Happy New Year

No more champagne
And the fireworks are through
Here we are, me and you
Feeling lost and feeling blue
It’s the end of the party
And the morning seems so grey
So unlike yesterday
Now’s the time for us to say…

 

Happy new year
Happy new year
May we all have a vision now and then
Of a world where every neighbour is a friend
Happy new year
Happy new year
May we all have our hopes, our will to try
If we don’t we might as well lay down and die
You and I

 

Sometimes I see
How the brave new world arrives
And I see how it thrives
In the ashes of our lives
Oh yes, man is a fool
And he thinks he’ll be okay
Dragging on, feet of clay
Never knowing he’s astray
Keeps on going anyway…

 

Happy new year
Happy new year
May we all have a vision now and then
Of a world where every neighbour is a friend
Happy new year
Happy new year
May we all have our hopes, our will to try
If we don’t we might as well lay down and die
You and I

 

Seems to me now
That the dreams we had before
Are all dead, nothing more
Than confetti on the floor
It’s the end of a decade
In another ten years time
Who can say what we’ll find
What lies waiting down the line
In the end of eighty-nine…

 

Happy new year
Happy new year
May we all have a vision now and then
Of a world where every neighbour is a friend
Happy new year
Happy new year
May we all have our hopes, our will to try
If we don’t we might as well lay down and die
You and I

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây:


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Bước tiến hóa của con người

Posted: 26 Dec 2010 01:06 PM PST

Chào các bạn,

Theo thuyết tiến hóa của Dawin, đời sống bắng đầu bằng các tế bào vi sinh vật trong lòng nước, thành các loài thủy tộc, rồi động vật bò sát trên mặt đất, rồi một nhánh động vật thành các loại khỉ, một nhánh khỉ tiến hóa thành người… Rồi người tiến hóa đi đâu?

(Nhiều người nghĩ rằng thuyết tiến hóa chống lại các tôn giáo thần quyền dạy rằng thế giới và con người là do thượng đế sinh ra, và hai bên—tiến hóa và tôn giáo—đôi khi đánh nhau ầm ĩ. Mình chẳng hiểu sao người ta lại có vấn đề ngớ ngẩn thế. Nếu Thánh kinh nói Thượng đế làm ra thế giới 6 ngày, các ngày đầu làm ánh sáng, trời đất, biển, cây cỏ, loài vật, ngày cuối cùng làm người… Câu chuyện triết lý này không có nghĩa là ngày 24 tiếng ta đang dùng. Sáu ngày này có thể là sáu niên đại hàng triệu triệu năm một niên đại, trong đó mọi vật tiến hóa tuần tự như thuyết tiến hóa của Darwin. Và chính thuyết tiến hóa, hay các định luật khoa học khác như trọng lực, lực ly tâm, các định luật vật lý lượng tử (quantum ph‎ysics) đều có thể hiểu là do Thượng đế tạo ra, và con người khám phá ra từ từ. Đâu có gì là đối chỏi giữa triết lý, tôn giáo và khoa học (trừ khi người ta lấy khoa học làm tôn giáo, như giáo hội Công giáo nhất quyết là mặt trời xoay quanh trái đất khi xưa và trù dập Galileo về tội nói mặt đất xoay quanh mặt trời). Triết lý và tư tưởng tâm linh đi đến cái tuyệt đối của tất cả, khoa học là thuộc phần tương đối của mọi sự. Khoa học không bao giờ làm được việc cuối cùng của tôn giáo và tâm linh–tìm cái tuyệt đối– nhưng có thể giúp tôn giáo và tâm linh hiểu rõ thế giới vật lý hơn, để có thể suy tưởng về các vấn đền triết lý và tâm linh chính xác hơn).

Trở lại câu hỏi về tiến hóa của con người: Vậy thì con người sẽ tiến hóa thành gì?

Nếu chúng ta nhìn vào thuyết tiến hóa thì sẽ thấy loài người đã qua nhiều bậc thăng tiến trong hàng triệu triệu năm—từ lúc rất giản dị và không suy tưởng như cây cỏ trong biển, đến lúc có cảm giác và suy tưởng kiểu phản xạ sinh học của các loài thủy tộc, đến các loài động vật thông minh hơn trên cạn, rồi động vật khỉ có sự thông minh hơn các loài động vật khác, rồi con người tiền sử biết dùng khí cụ và ngôn ngữ nhưng vẫn còn rất dã man, đến con người có đời sống tâm linh đa thần và vẫn rất man dã, đến con người với đời sống độc thần với các quy luật chặt chẻ về xã hội như 10 Điều Răn (mà Quỳnh Linh đã post trong loạt bài Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới (CDVLTĐTG), rồi con người tiến hóa hơn đến mức lấy tình yêu làm chuẩn, chứ không chỉ lấy luật làm chuẩn, như Bài Giảng Trên Núi (cũng trong loạt bài CDVLTĐTG). Đó là mức tiến hóa hiện nay của chúng ta.

Bước kế tiếp, ta có thể thấy rất rõ, đó là bước mà các đại thánh nhân của thế giới đã nói đến rồi—bước thành Phật, bước sống cách sống của Christ trong ta. Không còn sống theo kiểu phản xạ, tâm xung động với đủ mọi thứ hỉ nộ ái ố ai lạc dục tham sân si ngã mạn nữa, mà sống với một tâm tĩnh lặng khiêm tốn thành thật và nhân ái, mọi lúc mọi nơi với mọi người và mọi vật.

Đó là bước tiến hóa đang đến của con người. Tham sân si, kiêu căng (ngã mạn), thất tình (hỉ nộ ái ố ai lạc dục), lục dục (sáu ham muốn từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), tất cả những thứ này là tồn tại đời sống thú vật và con người man dã. Bước kế tiếp là bước thành Phật, thành Christ trong ta.

Rất ngộ nghĩnh là đôi khi người ta hiểu ngược lại: Nói rằng các lời dạy của các thánh nhân đã xưa rồi, mấy nghìn năm rồi, không hợp thời nữa. Thời nay là quyền lực, tiền bạc, địa vị, danh vọng, mạnh được yếu thua, khôn sống dại chết. Các bạn, nói như vậy thì rất là ngớ ngẩn. Vì chạy theo quyền lực, tiền bạc, danh vọng, theo kiểu mạnh được yếu thua khôn sống dại chết, không phải là phát minh mới ngày nay mà đã cũ rích với loài người từ triệu triệu năm trước, và trước đó nữa hàng triệu triệu năm với các loài thú tổ tiên của con người ‎ theo thuyết tiến hóa. Bước tiến hóa mới thành Phật, thành Christ trong ta, chỉ mới bắt đầu khoảng 2500 đây thôi, tức là mới chỉ khoảng vài ngày trong một bước tiến hóa dài hàng triệu triệu năm của nhân loại.

Chúng ta có đủ sáng suốt để hiểu được ta đang ở bước tiến hóa nào không?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Đạo và đời

Posted: 26 Dec 2010 01:05 PM PST

Chào các bạn,

Đây đang là mùa Giáng Sinh. Ở Việt Nam cách đây mấy năm thì Giáng Sinh chỉ là ngày lễ của người theo đạo Thiên Chúa, còn bây giờ chúng ta có thể thấy là không khí của đêm Noel tràn ngập khắp nơi. Giáng Sinh dường như đã trở thành ngày lễ của tất cả mọi người. Sự phấn khởi, ấm áp, và niềm vui trong không khí của đêm Noel chẳng phân biệt và chẳng loại trừ ai là người theo đạo hay không theo đạo.

Mình nhớ là hồi bé qua cách nói chuyện của người lớn, mình có cảm giác như những người theo đạo Thiên chúa,và người không theo đạo (hay người lương) thuộc về hai thế giới khác nhau (đạo Phật thì phổ biến và ít nhiều đều có trong các gia đình nên mình không so sánh ở đây). Trong con mắt trẻ thơ thì mình chỉ mường tượng rằng người theo Thiên Chúa hay đi lễ nhà thờ, họ thờ phụng chúa Giesu khác với người lương thờ ông bà tổ tiên, họ thường chỉ kết hôn với người cùng đạo, và đâu đó mình nghe được qua bạn bè mình rằng những người bạn có đạo thường là rất tốt và đáng tin cậy.

Mình cũng không biết gì hơn thế, cũng không nghe ai thảo luận hay giải thích tại sao lại có người theo đạo và không theo đạo, theo đạo tốt hay không tốt, người có đạo có khác gì với người lương không? Mọi thứ cứ ở đó như nó vốn thế, thậm chí khi nói về tôn giáo thì mình nghe nhiều ý kiến phản đối hơn là các phân tích tích cực. Có lẽ là mọi người có ác cảm trong quá khứ vì một số người đã dùng tôn giáo để phục vụ cho mục đích chính trị hay mưu đồ cá nhân.

Nếu bạn là một độc giả thường xuyên của Đọt Chuối Non thì hẳn là bạn sẽ tìm thấy câu trả lời cho các câu hỏi này. Bản thân mình cũng vậy. Nói một cách ngắn gọn, đạo nào cũng có chung một mục đích là hướng con người trở về đúng với bản chất thật nhất: sống có đạo đức, thiện tâm, khiêm tốn. Theo đạo hay không theo đạo cũng chỉ là một cái nhãn (label), chúng không nói lên điều gì nhiều nếu như bản thân chúng ta không thể hiện được điều đó trong đời sống của mình.

Đứng ở góc độ cá nhân, mình thấy hiểu về đạo quan trọng vì một số lí do. Thứ nhất là niềm tin. Khi mình còn bé thì gia đình là chỗ dựa tinh thần rất vững chắc. Bố mẹ luôn là động lực để mình cố gắng vươn lên. Nhưng khi tốt nghiệp đại học mình cảm thấy muốn thoát khỏi ảnh hưởng của bố mẹ, muốn tự lập để khẳng định mình. Lúc đó thì các quyết định của mình không còn là để làm cho bố mẹ vui nữa. Ngay cả khi bố mẹ không đồng ý mình vẫn theo đuổi công việc mà mình mong muốn, và lúc đó mình đi tìm một chỗ dựa tinh thần lớn hơn bố mẹ mình. Sau này thì mình nhận ra đó chính là God (Chúa, Phật hay đấng tối cao nào đó không phải là con người). Thứ hai là sức mạnh. Nói một cách đơn giản là khi tin vào một điều lớn lao thì bản thân mình cũng trở nên mạnh mẽ hơn. Mình không sợ chết :) (vì nếu theo giải thích của Phật thì đời sống của con người trên thế gian rất ngắn ngủi, con người cũng chỉ là hạt cát trong sa mạc thôi). Mình cũng không lo lắng cho tương lai (vì theo giải thích của Phật thì tương lai là cái không ai biết, sống cho ngày hôm nay, ở đây lúc này thôi). Mình cũng không tức giận hay để bụng ai nữa (vì chúa Giesu bảo phải yêu hàng xóm của mình, yêu cả kẻ thù của mình). Những thay đổi đơn giản như vậy thôi nhưng đã khiến mình cách nhìn của mình về cuộc sống thay đổi hoàn toàn. Mọi thứ trở nên tươi đẹp và ý nghĩa hơn mỗi ngày.

Ở góc độ quốc gia, mình cũng có chút trải nghiệm chia sẻ với các bạn. Khi sang Mỹ mình thấy có một điều rất khác biệt là thực hành tôn giáo ở đây lại rất mạnh, khác hẳn với Việt Nam. Đạo là văn hóa. Ở những vùng còn giữ được nhiều truyền thống văn hóa như Midwest (trung Mỹ), người dân chăm đi lễ nhà thờ và sống rất tốt, hay giúp đỡ người khác. Có một hôm đọc website giới thiệu của giáo sư, mình còn thấy giáo sư viết rõ gia đình ông ấy hay đi nhà thờ nào. Mình khá ngạc nhiên. Sau khi tìm hiểu thì mình mới biết rằng đó là một dấu hiệu chỉ ra: 1) "Tôi và gia đình tôi theo đạo (tức là tin vào chúa Giesu)", 2) "Chúng tôi đáng tin cậy". Dấu hiệu thứ 2 là một cách hiểu ngầm, nhưng lại rất quan trọng trong xã hội Mỹ. Không thể phủ nhận một điều là nhờ có đạo Tin Lành mà xã hội Mỹ là một xã hội có tính tin tưởng giữa các cá nhân cao (high-trust society). Năm 1904, Max Weber, nhà kinh tế chính trị và xã hội người Đức, đã viết một cuốn sách về vai trò quyết định của Thiên Chúa giáo đối với sự phát triển kinh tế thần kì của nước Mỹ. Rõ ràng là sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng nếu chúng ta nhìn đạo ở góc độ văn hóa và tính tích cực của đạo trong việc xây dựng niềm tin của con người và sự tin tưởng giữa các cá nhân, thì giải thích của Weber cũng rất có lý: nước Mỹ mạnh nhờ có đạo Tin Lành. Điều này cũng đúng với các quốc gia phát triển khác như các nước châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc hay cộng đồng người Do Thái. Đặc điểm chung của họ là xã hội có sự tin tưởng cao giữa các cá nhân và niềm tin vào God.

Chúng ta vẫn hay đổ lỗi cho hệ thống, cho lãnh đạo, cho cơ chế đã làm trì trệ sự phát triển của đất nước, nhưng nếu nhìn xa hơn thì tất cả những điều đó lại cũng là một sản phẩm của văn hóa và lịch sử. Chúng ta vẫn nói rằng đạo Phật là tôn giáo phổ biến ở Việt Nam, văn hóa Việt Nam là văn hóa Phật giáo. Người Việt ai cũng ít nhất một lần ghé chùa, thắp hương, khấn Phật nhưng những người thực sự hiểu Phật giáo và có ý niệm về Phật trong đời sống của mình thì ít mà những người ghé chùa lễ phật để cầu danh lợi thì ngày càng nhiều.

Christmas is not a time nor a season, but a state of mind - Calvin Coolidge

Giáng sinh không phải là một thời cũng không phải là một mùa, mà là một cách nhìn.

Mong rằng mỗi khi Noel về, chúng ta cũng hòa cùng thế giới để chào đón ngày chúa Giesu ra đời, cùng vui chơi, ca hát, tặng nhau những món quà của tình yêu thương, và không quên dành một phút lắng đọng để nhìn lại mình.

Chúc các bạn mùa Giáng Sinh an lành.

Hoàng Khánh Hòa


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Những con số giật mình từ khảo sát học sinh chơi game online

Posted: 26 Dec 2010 01:04 PM PST

Hầu hết học sinh được hỏi trả lời rằng ít nhất một lần trong tuần đến đại lý Internet để chơi trò chơi trực tuyến (game online), phần lớn là chơi trong giờ hành chính… Đó là kết quả từ khảo sát thực trạng học sinh (HS) chơi game online do Sở GD-ĐT Hà Nội mới tiến hành.
>> Hơn 70% học sinh tiểu học chơi game online
>> Hàn Quốc sẽ cấm học sinh chơi game online lúc nửa đêm
>> Hà Nội: Cấm học sinh chơi game trong giờ hành chính


Tình trạng học sinh Hà Nội chơi game online chưa có chiều hướng giảm.

Học sinh lờ quy định

Sở GD-ĐT Hà Nội cùng các trường từ cấp tiểu học, THCS và THPT vừa tiến hành khảo sát thực trạng học sinh chơi game online, có 1.121 trường học với tổng số 370.387 HS tham gia trả lời phiếu phỏng vấn theo mẫu.

Kết quả cho thấy, hầu hết các em trả lời từng đến đại lý Internet để chơi game online trong khoảng từ 1 tới hơn 10 lần/tuần.

Gần nửa số HS trả lời chơi vào ngày thường, trong giờ hành chính. Các game được các em chơi nhiều như: Games play, Kiếm thế, Đột kích, Thời trang, Gunny, Audition… lựa chọn các quán ở gần nhà và cách xa trường học. Tiền chơi chủ yếu từ bố mẹ, tiền tiết kiệm ăn sáng, đóng học phí… Mặc dù chơi nhiều, nhưng phần lớn HS lại “mù tịt” các quy định về quản lý game online.

Kết quả khảo sát học sinh chơi game online tại Hà Nội
- Số lần đến đại lý Internet chơi game online trong tuần: 1-3 lần: 215.568 HS; 4-6 lần: 90.326 HS; 7-9 lần: 51.769 HS; Nhiều hơn 10 lần: 12.724 HS. 

- Chơi vào ngày nghỉ: 225.167 HS; Ngày thường: 145.220 HS.

-Ngày thường chơi vào thời gian nào: 8-11 giờ: 15.613 HS; 12-13 giờ: 92.425 HS; 14-17 giờ: 27.877 HS; 18-21 giờ: 55.052 HS; 22-24 giờ: 29.423 HS.

- Thời gian trung bình cho một lần chơi: 1 giờ: 188.726 HS; 2-3 giờ: 157.745 HS; 4-5 giờ: 18.237 HS; 6-7 giờ: 3.875 HS; 8-9 giờ: 1.120 HS; 10 giờ: 625 HS.

- Chơi được bao lâu: 1 năm: 129.985 HS; 2-3 năm: 122.143 HS; 3-4 năm: 94.844 HS; Trên 5 năm: 23.415 HS.
- Sau khi chơi game online: Thoải mái, vui vẻ: 194.604 HS; Mệt mỏi, lo lắng: 37.013 HS; Lo sợ bố mẹ mắng: 40.117 HS; Không có cảm xúc gì: 98.653 HS.

(Theo Báo cáo đánh giá tình hình quản lý Internet và khảo sát thực trạng học sinh chơi game online của Sở GD&ĐT Hà Nội)

Ông Phạm Ngọc Tuấn - Phó trưởng phòng công tác Học sinh – Sinh viên (Sở GD-ĐT Hà Nội): “Hầu hết HS sử dụng Internet, nhiều em đã sử dụng cách đây vài năm. Các em truy cập khá thường xuyên và thời lượng cũng tương đối cao. Mục đích truy cập khác nhau, như truy cập phục vụ cho việc học tập, bổ sung nâng cao hiểu biết… nhưng cũng phát sinh những tiêu cực, mà tiêu biểu đã xảy ra một số vụ đánh nhau, nguyên nhân chính là do sử dụng Internet dẫn đến mâu thuẫn. Game online còn tác động nhiều tới HS do chơi quá nhiều làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và bắt chước những hành vi không tốt, không lành mạnh…”.

Các trường thống kê có tới 3.874 đại lý Internet gần trường học trong khoảng 200 – 1.000m, trong đó 566 quán vẫn “sống sót” sau lệnh đóng cửa trong phạm vi cách cổng trường học dưới 200m. Tuy nhiên, theo ông Phạm Ngọc Tuấn, con số này chưa chuẩn xác bởi có nhiều trường gần nhau và cùng thống kê một quán. Hay năm học 2009-2010, các trường thống kê có tới 5.800 HS nghiện game online (1.364 HS nữ). Con số này không phản ánh thực chất, có thể hơn hay kém, bởi bản thân các trường cũng hiểu sai về tiêu chí đánh giá. Chẳng hạn, nếu nghiện phải chơi nhiều giờ, bỏ ăn, bỏ học…

Theo ông Dương Văn Bá - Phó Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh-sinh viên (Bộ GD-ĐT): “Hà Nội, TP HCM là hai địa phương khảo sát có số lượng HS chơi game online chiếm tỷ lệ rất cao. Nó cũng cho thấy, việc quản lý hiện nay còn nhiều khó khăn, phức tạp. Hiện chưa có quy định danh mục game được chơi hay cấm chơi. Một số tỉnh, thành quy định giờ hoạt động của quán game từ 6h – 23h, cách cổng trường 200m… nhưng rõ ràng vẫn chưa hiệu quả”.

Đâu là giải pháp hữu hiệu?

Không ngạc nhiên trước tình trạng HS chơi game online như hiện nay, GS Văn Như Cương – Hiệu trưởng Trường THPT dân lập Lương Thế Vinh cho rằng: “Chơi game là một vấn nạn của học đường. Tác hại của việc lạm dụng game chúng ta đã biết. Bây giờ phải kiểm soát, cấm các game bạo lực, ngăn chặn phim ảnh đồi trụy, web “đen”… Cấm HS chơi game là rất khó, bởi nhu cầu chơi của các em là rất lớn, trong khi hàng quán ở nhiều nơi, biến hóa, ngụy trang che mắt lực lượng chức năng… Điều này đòi hỏi các nhà quản lý cần nghiên cứu để hạn chế, kết hợp giữa các ngành cùng với gia đình và nhà trường để quản lý các em”.

Theo kết quả khảo sát, ông Phạm Ngọc Tuấn đưa ra kiến nghị: “Cần tuyên truyền, giáo dục, định hướng cho HS trong sử dụng Internet. Tạo sân chơi lành mạnh, hấp dẫn phù hợp với lứa tuổi HS như tổ chức các cuộc thi về tin học để các em giao lưu học tập, tranh tài, cống hiến cho xã hội. Phải có sự quản lý chặt chẽ tại các điểm dịch vụ truy cập Internet, thực hiện thường xuyên kiểm tra, giám sát về giờ giấc và nội dung. Kiểm tra độ an toàn, chất lượng của các điểm và cấp chứng nhận cho những cơ sở đạt yêu cầu”.

Ông Dương Văn Bá cho biết thêm: “Bộ GD-ĐT đang bổ sung, hoàn thiện dự thảo Chương trình hành động phòng, chống tác hại của game online có nội dung bạo lực và không lành mạnh đối với học sinh, sinh viên giai đoạn 2011-2015. Dự thảo lồng ghép nội dung phòng, chống tác hại của game online vào môn giáo dục công dân và pháp luật. Đưa vào các hoạt động ngoại khóa của nhà trường… Tăng cường rà soát, đề nghị các cơ quan chức năng xử lý các đại lý Internet vi phạm gần nhà trường”.

Trước đó, Sở Thông tin – Truyền thông Hà Nội đã đề nghị UBND TP Hà Nội có văn bản chỉ đạo Sở GD-ĐT cấm HS không được chơi game tại các đại lý Internet trong giờ hành chính. Tuy nhiên, tình trạng HS chơi game online vẫn không có chiều hướng giảm và các đại lý Internet vẫn tìm mọi cách “xé rào” để tồn tại…

Theo Gia đình & Xã hội


Filed under: Giáo dục Tagged: Giáo dục

Gặp gỡ Lục Tiểu Linh Đồng: Tôn Ngộ Không đang nhìn các em nhỏ lớn lên

Posted: 26 Dec 2010 01:03 PM PST

TT – Lần thứ hai trở lại VN sau 12 năm, Lục Tiểu Linh Ðồng – người thủ vai Tôn Ngộ Không trong phim Tây du ký phiên bản 1982 – sẽ có bốn ngày làm việc với lịch trình dày đặc tại Hà Nội và TP.HCM (từ ngày 25 đến 29-12).

Diễn viên Lục Tiểu Linh Đồng luôn sẵn sàng tạo dáng Tôn Ngộ Không – Ảnh: Nga Linh

Ở tuổi 51, Lục Tiểu Linh Ðồng vẫn linh hoạt không khác nhiều những gì ông thể hiện trong Tây du ký. Cuộc trò chuyện ông dành cho Tuổi Trẻ vì thế cũng hào hứng hơn.

* Bình thường ông có giao tiếp được với khỉ không?

- Có một bức ảnh nổi tiếng đã đoạt giải thưởng quốc tế là chú khỉ giơ tay chào Tôn Ngộ Không. Bức ảnh hoàn toàn không có sự can thiệp của photoshop. Sau khi tôi hóa trang thành Mỹ hầu vương, khỉ con bất giác nhìn tôi, giơ tay lên đầu. Trạng thái hỉ nộ ái ố của loài vật này có nhiều điểm tương đồng với con người, bạn đối xử tốt với nó thì nó đối xử tốt với bạn. Khỉ thường thích đứng lên vai người, cũng biết giận hờn nếu bạn định đưa thức ăn cho chúng rồi rút lại…

Số lượng khỉ tôi nuôi trong nhà đông hơn cả cháu chắt trong dòng họ. Nhưng chơi thân với khỉ đôi khi không phải là lợi thế. Con gái tôi lớn lên trong suy nghĩ “con là con gái của loài khỉ”. Bà xã tôi lắm lúc phát hoảng khi bước vào căn nhà riêng như “động hầu vương” với rất nhiều tranh ảnh, vật kỷ niệm liên quan đến chú khỉ. Hay mỗi khi tức giận, đôi mắt tôi lại mở quá to.

* Sẵn sàng chung sống với các tiểu “Tề thiên đại thánh” nhưng tuyên bố không nhận đệ tử, lý do nào khiến ông quyết định như vậy?

- Trong rất nhiều cuộc gặp với sinh viên, họ đã tự tay viết “càng cố bắt chước, càng không thể vượt qua được bóng cả”. Ðang có một sự “khủng hoảng nhẹ” với vai diễn Tôn Ngộ Không. Nếu một diễn viên đóng khác tôi, họ khó được khán giả chấp nhận. Nhưng nếu đóng hệt tôi, họ lại mang tiếng bắt chước. Vì vậy tôi không truyền dạy lại cho ai vì hi vọng thế hệ sau tôi chứng kiến tôi diễn xuất, họ có thể tự tiêu hóa và biến kỹ thuật “diễn khỉ” thành thứ của riêng họ.

Mặc dù không có trường lớp riêng, nhưng tôi quyết định theo đuổi công việc viết sách. Tôi đã dùng nửa đời người để diễn xuất, giờ muốn dùng nửa đời còn lại để quảng bá văn hóa Mỹ hầu vương với sự trung thành, bộc trực, không sợ thất bại, lạc quan của chú khỉ vàng. Một công việc nữa là chăm sóc nhà tưởng niệm Ngô Thừa Ân tại quê hương ông ở Hoài An, tỉnh Giang Tô. Tại đây nhà nước cũng đã xây dựng cho tôi một gian phòng triển lãm dành riêng cho phim Tây du ký. Sau này khi già yếu, tôi muốn là người coi sóc nơi này.

* Cả đời cống hiến cho Tây du ký, nhiều thế hệ khán giả đã quên mất ông còn hơn 20 vai diễn lớn, nhỏ khác. Ông có tủi thân không?

- Trong truyện Tây du ký, Ngô Thừa Ân viết rằng Huyền Trang luôn nói với đồ đệ đại ý cả đời làm trọn một việc lớn đã là không tưởng rồi!

Truyền kinh với Ðường Tam Tạng là việc một đời, diễn Tôn Ngộ Không với tôi đã trở thành cái nghiệp, tôi cảm thấy đủ cho tôi rồi!

* Cá nhân ông đánh giá thế nào về những phiên bản Tây du ký mới?

- Xin hãy phát triển nhưng đừng làm méo mó. Có phim họ cho cả Tôn Ngộ Không quan hệ luyến ái với yêu quái hoặc tu thành chính quả, kết hôn, sinh con với… con nuôi Quan Thế Âm Bồ Tát. Tôi lo lắm! Ði đến đâu, Thái Lan, Malaysia, Singapore hay cả Ðài Loan, tôi đều nhắn nhủ mọi người hãy tôn trọng chứ đừng làm biến dạng văn hóa Ngô Thừa Ân.

Khi đóng Vua kungfu (The forbidden kingdom), Lý Liên Kiệt có thốt lên: “Trước đây, một kỹ thuật nhảy mất mười năm luyện để lên hình. Giờ dùng cẩu móc là xong”. Ý ông ấy là công nghệ đang thay thế khả năng diễn xuất, nhưng chính nó không thể giá trị bằng diễn xuất truyền thống. Ở nước tôi, những chiêu thức công phu của túy quyền đang dần mất đi, như việc đánh máy tính đã làm mất hết văn hóa thư pháp. Trong khi cái hồn của Tôn Ngộ Không là sự chính trực, là những cái đảo mắt lửa ngươi vàng, nếu không phải là tài năng của diễn viên thì không một kỹ xảo điện ảnh nào làm được. Kỹ xảo sẽ tốt nếu là công cụ hỗ trợ thay vì công cụ thay thế.

* Ông muốn nói điều gì với khán giả nhí Việt Nam?

- Mới hè vừa rồi, tôi lại nhận được hai tập truyện tranh rất cũ và quý của các em Việt Nam gửi sang. Không phải chỉ có các em đang lớn lên cùng những tập phim Tây du ký chiếu hè. Tôn Ngộ Không cũng đang dõi theo sự trưởng thành của các em!

 

Tôn Ngộ Không của Lục Tiểu Linh Đồng

Lục Tiểu Linh Ðồng (sinh năm 1959, tên thật Chương Kim Lai) là thế hệ thứ tư thuộc dòng tộc Chương chuyên đóng Mỹ hầu vương. Vì thế việc Lục Tiểu Linh Ðồng chỉ thành danh và gắn liền với hình tượng này không bị đánh giá là thất bại. Chương trình Nghệ thuật nhân sinh của Ðài truyền hình trung ương Trung Quốc đã tôn vinh cống hiến của cha con ông vào năm 2003.

Từ nhỏ, Linh Ðồng đã theo cha Lục Linh Ðồng tham gia các vở kịch về Tây du ký. Theo lời kể của ông, cuối những năm 1950 phụ thân của ông đã có dịp biểu diễn cho Bác Hồ xem tại Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Năm 1998, ông và cha đã tới TP.HCM biểu diễn.

Năm 23 tuổi, Lục Tiểu Linh Ðồng vào vai Tôn Ngộ Không, cũng là vai diễn đầu đời. Quá trình đóng phim dự kiến một năm đã kéo dài thành sáu năm.

Vai diễn Tôn Ngộ Không đem lại cho ông giải thưởng “Nhân vật có ảnh hưởng nhất 30 năm quốc kịch Trung Quốc”, “60 minh tinh có ảnh hưởng nhất Trung Quốc”, “60 nghệ sĩ có công lao to lớn nhất với Trung Quốc”. Tờ Sina bình luận: trong suy nghĩ của người dân, Tôn Ngộ Không của Lục Tiểu Linh Ðồng là nhân vật gần gũi nhất bước ra từ Tây du ký.

NGA LINH thực hiện


Filed under: Mỗi ngày 1 tin sáng, Văn Hóa Tagged: Tin sáng, Văn Hóa

Đầu tư công và lạm phát

Posted: 26 Dec 2010 01:02 PM PST

Tác giả: Huỳnh Bửu Sơn

 

Điều quyết định cho một quốc gia có sớm trở nên cường thịnh hay không tùy thuộc ở chỗ cách thức có hiệu quả hay không mà quốc gia đó sử dụng để sung dụng các nguồn lực – đặc biệt là nội lực.

Vào đầu tháng 12/2010, mặc dù Chính phủ đã kêu gọi các địa phương thực hiện những biện pháp can thiệp quyết liệt với mong muốn ngăn chặn đà tăng giá dường như có xu hướng ngày càng mạnh trên thị trường trong nước, khả năng kiềm chế lạm phát năm 2010 dưới hai con số xem ra rất khó khăn, khi vào cuối tháng 11/2010, tốc độ lạm phát đã ngấp nghé ngưỡng 10% và tháng 12 là tháng của lễ tết, của mua sắm và theo “truyền thống thị trường”, đó vẫn là một trong những tháng có chỉ số tăng giá cao nhất. Việc lạm phát vượt ngưỡng hai con số không phải là điều đáng ngạc nhiên, tuy rằng lẽ ra, với một chính sách tiền tệ thắt chặt suốt năm 2010 bằng các biện pháp hạn chế gia tăng tín dụng ngân hàng không quá 25% và duy trì một mức lãi suất cơ bản (base rate) cao, người ta có thể kỳ vọng một mức lạm phát thấp hơn.

Chắc chắn người ta không thể cáo buộc chính sách tiền tệ năm 2010 là “thủ phạm” gây ra lạm phát. Trong suốt thời kỳ suy thoái kinh tế của hai năm 2008-2009, hậu quả trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, chính sách tiền tệ vẫn chưa hề được nới lỏng thực sự, điều này được minh chứng qua việc Ngân hàng Nhà nước chưa bao giờ hạ lãi suất cơ bản (base rate) xuống dưới 8%/năm, trong khi những đồng nghiệp của họ trong khu vực và trên thế giới đã đưa mức lãi suất này xuống rất thấp, có trường hợp xấp xỉ 0%.

Có thể nói, trong nhiều năm, chúng ta đã theo đuổi một chính sách tài khóa quá cởi mở và rất dễ dàng, thể hiện qua việc luật hóa một mức khiếm hụt ngân sách quốc gia hằng năm thường xuyên là trên 5% và trên thực tế có khi lên đến mức 8% GDP. So sánh với nhiều nước đang phát triển khác, đây là một mức khiếm hụt khá cao, nếu biết rằng nguồn thu ngân sách của nước ta (chủ yếu là từ thuế) chiếm đến 28 – 29% GDP.

Ngay cả việc hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp nhằm giúp họ vượt khó thông qua chương trình kích cầu 17 ngàn tỉ đồng cũng không phải là một biện pháp tiền tệ mà lại là một biện pháp tài khóa. Nguồn tiền sử dụng được trích từ ngân sách chứ không phải là một khoản tín dụng từ Ngân hàng Nhà nước. Điều đáng quan tâm là rất ít khi chúng ta chứng kiến được một sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, hai cột trụ chính của chính sách kinh tế vĩ mô, trong nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong hầu hết các trường hợp, chính sách tiền tệ của chúng ta là thắt chặt nhằm hạn chế bớt hậu quả gia tăng lạm phát của một chính sách tài khóa mở rộng.

Có thể nói, trong nhiều năm, chúng ta đã theo đuổi một chính sách tài khóa quá cởi mở và rất dễ dàng, thể hiện qua việc luật hóa một mức khiếm hụt ngân sách quốc gia hằng năm thường xuyên là trên 5% và trên thực tế có khi lên đến mức 8% GDP. So sánh với nhiều nước đang phát triển khác, đây là một mức khiếm hụt khá cao, nếu biết rằng nguồn thu ngân sách của nước ta (chủ yếu là từ thuế) chiếm đến 28 – 29% GDP.

Theo nhận định của các chuyên gia phân tích ngân sách, mức khiếm hụt lớn của ngân sách quốc gia hầu hết được sử dụng để tài trợ cho các khoản đầu tư công, nhưng không phải đầu tư công chỉ sử dụng duy nhất nguồn tài trợ từ ngân sách mà còn từ các khoản nợ công trong nước và ngoài nước thông qua việc phát hành trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ và vay ODA.

Đầu tư công bao gồm hai khoản mục chính: (1) Đầu tư trực tiếp của Chính phủ nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống, hệ thống thủy lợi, đê điều, điện nước, trường học, bệnh viện…; (2) Đầu tư gián tiếp của Chính phủ qua việc cấp vốn, vay nợ thay cho những công ty, tập đoàn quốc doanh.

Đầu tư công trực tiếp, trong những thập niên qua, đặc biệt từ thời kỳ Đổi Mới, đã là nguồn đầu tư chính yếu trong việc xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Cơ sở hạ tầng của đất nước được nâng cấp, hiện đại hóa, mở rộng đến tận vùng nông thôn xa xôi, làm thay đổi bộ mặt của đất nước, trở thành nền tảng vững chắc cho việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, góp phần biến Việt Nam thành “điểm đến” thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Trong những năm suy thoái, đầu tư công là nguồn lực chính giúp cải thiện tình trạng thất nghiệp, ngăn chặn sự suy giảm nhanh chóng của khối cầu khả dụng nội địa và là đầu tàu vực dậy, lôi kéo sự tăng trưởng của các khu vực kinh tế khác.

Đầu tư gián tiếp của Chính phủ vào các tập đoàn kinh tế nhà nước cũng giúp tạo nên những công ty công nghiệp lớn hoạt động trong các ngành công nghiệp chủ lực và thiết yếu của nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, tham nhũng và lãng phí, đặc điểm tự nhiên của bất cứ các khoản đầu tư công nào tại bất cứ nước nào, đã luôn luôn hạn chế hiệu quả – và thành quả – của đầu tư công.

Trong suốt mấy mươi năm Đổi Mới, đầu tư công – trực tiếp và gián tiếp – đều phát triển cực kỳ nhanh chóng, đồng thời chúng ta cũng chứng kiến vô vàn các trường hợp lãng phí, tham nhũng và kém hiệu quả. Chỉ số ICOR của Việt Nam, từ 2,5 trong thời kỳ đầu của Đổi Mới đã tăng lên đến trên 8 vào thời điểm hiện nay cho thấy mức độ kém hiệu quả của đầu tư tại Việt Nam (trong đó tác nhân chính là đầu tư công) như thế nào.

Hiện nay, chúng ta phải bỏ ra 8 đồng đầu tư chỉ để làm tăng thêm vỏn vẹn 1 đồng xuất lượng của GDP, đó quả là một việc làm vô cùng lãng phí. Chính từ sự lãng phí và kém hiệu quả đó mà đầu tư công đã trở thành tác nhân chính gây ra lạm phát, một con bệnh dai dẳng, kinh niên của nền kinh tế Việt Nam.

Tuy nhiên, điều nghiêm trọng hơn chính là ở cách thức mà chúng ta đối phó với lạm phát được gây ra từ các khoản đầu tư công trực tiếp và gián tiếp không hiệu quả.

Trong khi chính sách tài khóa không thể thắt chặt do Chính phủ vẫn chưa muốn giảm đầu tư công, chính sách tiền tệ vốn là một nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hướng vào các đối tượng doanh nghiệp chọn lọc, làm ăn có hiệu quả lại phải siết chặt để chống lạm phát. Hệ quả là các khu vực kinh tế đang hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, đang góp phần vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế phải dừng bước. Nói một cách khác, phải chăng chúng ta buộc phải hy sinh mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh chỉ vì chúng ta cần dành các nguồn lực quốc gia cho các khoản đầu tư công?

Tiến trình hội nhập kinh tế với thế giới đòi hỏi chúng ta phải thay đổi phương cách sung dụng các nguồn tài nguyên đất nước sẽ trở nên ngày càng hiếm hoi hơn nhằm giúp nền kinh tế quốc gia ngày càng có năng lực cạnh tranh cao hơn. Đây sẽ là một vấn đề sinh tử cho tương lai dân tộc Việt từ nay về sau.

Năng lực cạnh tranh cao hơn yêu cầu chi phí thấp hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và tiết kiệm hơn. Các doanh nghiệp phải có động lực để làm được việc đó, và động lực đó, trên thực tế, chỉ thường xuất hiện trong khu vực kinh tế dân doanh. Khu vực này phải được tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận đầy đủ các nguồn lực của quốc gia vì chỉ có họ mới sử dụng với hiệu quả cao nhất các nguồn lực này.

Điều quyết định cho một quốc gia có sớm trở nên cường thịnh hay không tùy thuộc ở chỗ cách thức có hiệu quả hay không mà quốc gia đó sử dụng để sung dụng các nguồn lực – đặc biệt là nội lực. Kinh nghiệm nhiều năm nay cho thấy rằng đầu tư công, đặc biệt là đầu tư công gián tiếp, không phải là phương cách sung dụng nguồn lực hiệu quả, mà còn tạo ra một cơ chế bao cấp về tài chính, “đưa tới những tổn thất quá lớn, làm mất khả năng phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững không chỉ với bản thân doanh nghiệp nhà nước, mà còn với toàn bộ nền kinh tế”, như nhận xét của tác giả Việt Phương – nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ.

Điều đáng phấn khởi là trong kỳ họp vừa qua, Quốc hội nước ta đã biểu quyết một hạn mức khiếm hụt ngân sách trên GDP thấp hơn năm trước. Đây có thể là một tín hiệu đáng mừng cho thấy lãnh đạo đất nước đang quyết tâm hơn trong việc xây dựng và thực thi một chính sách tài khóa lành mạnh, tiến đến mục tiêu cân bằng ngân sách, một mục tiêu tuy khó khăn nhưng không phải là không thể.

Để kết luận, chúng tôi xin mạn phép một lần nữa được mượn lời của tác giả Việt Phương trong bài viết Con đường vinh quang và khổ ải, trong quyển Đổi Mới ở Việt Nam, nhớ lại và suy ngẫm: “Kinh nghiệm thực tế của Đổi Mới đã chứng tỏ, để thoát khỏi sự bế tắc nguy hiểm này, Nhà nước cần chủ động rút khỏi chức năng nhà đầu tư và điều hành doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh cạnh tranh, theo hướng chỉ giữ doanh nghiệp nhà nước khi khu vực dân doanh chưa thể làm, đồng thời phải có giải pháp quản lý, giám sát phù hợp”.

Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Chính trị nội bộ, Điều đình quốc tế và Tranh chấp lãnh thổ của Trung quốc – Chien-peng Chung

Posted: 26 Dec 2010 01:01 PM PST

LTS: Trong Domestic politics, International Bargaining and China Territorial Disputes, NB RoutledgeCurzon, tác giả Chien-peng Chung đã đưa ra những ý kiến cho cách giải quyết các tranh chấp Biển Đông. Dù có những hạn chế nhất định thậm chí khó chấp nhận được, tài liệu cung cấp nhiều cái nhìn mới và những nguồn tham khảo quý giá, có thể dùng cho các bạn đọc thích tìm hiểu về Biển Đông- khu vực gắn liền với phát triển kinh tế biển của Việt Nam. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu bài dịch 4 kỳ tư liệu này của Lê Vĩnh Trương.

Kỳ 1:  Vai trò các tác nhân trong tranh cãi Biển Đông là gì?

Tác giả: Chien-peng Chung

Bên ngoài trò chơi hai tầng nấc? Vai trò của các tác nhân quốc gia, xuyên quốc gia và tác nhân dưới tầm quốc gia (subnational) trong các tranh cãi biển đảo ở Biển Đông là gì?

Giới thiệu: Các biểu hiện của trò chơi hai tầng của Trung Quốc trong các tranh cãi lãnh thổ tại Trường Sa, Hoàng Sa và các rặng san hô chìm dưới nước, các đảo san hô, các bãi cạn, các dải đá và đảo trong Biển Đông là gì? Tình cảm dân tộc của dân chúng, các quan tâm của giới chức, định hướng và thăng giảm thương mại, chiến lược của các nhà thương thuyết, các tác động khác nhau của chi phí và ích lợi của nhóm, các chế tài của cơ chế, và khả năng tái cấu trúc thể chế trong nước đã in đậm dấu ấn trong các tranh cãi về Điếu Ngư/Senkaku, Zhenbao/Damansky và Mc Mahon Line/Aksai Chin. Những nhân tố này sẽ khắc họa rõ nét nỗ lực của các nước liên quan trong việc giải quyết các vấn đề về chủ quyền ở các đảo tại Biển Đông. Sự mưu tìm thế chính danh cho chế độ, những nỗ lực của chính phủ trong việc xử lý các áp lực dân chủ hóa trong lòng các nước Đông Nam Á, tất cả đều được thể hiện với một sự nhạy cảm cao độ đối với an ninh quốc gia cùng với mối nguy phải bảo đảm chủ quyền lãnh thổ cho đất nước.

Hơn nữa, cuộc cạnh tranh ảnh hưởng giữa giới ngoại giao và giới quân sự Trung Quốc  trong quyết sách và phân bổ ngân sách cũng được soi rọi để rõ hơn các đường hướng tác động đến vị thế Trung Quốc tại Biển Đông. Biển Đông, đã vậy, lại còn bao gồm những con đường hàng hải chiến lược quan trọng và dưới lòng Biển Đông là những mỏ hydrocarbon tiềm năng. Thế nên chúng ta cần chú trọng đến các tác nhân xuyên quốc gia như các công ty dầu khí quốc tế hay các thể chế tạo dựng lòng tin đa phương cũng như các hoạt động của các tác nhân dưới tầm quốc gia (subnational) khi tác động đến chính giới hay các thương thuyết gia chính phủ trong ngăn ngừa xung đột hay giải quyết bất đồng.

Thật vậy, vai trò vun bồi hòa bình của các nhân tố xuyên quốc gia -những công ty và cá nhân đa quốc tịch hay các tổ chức phi chính phủ- trong các cuộc tranh cãi như thế này cần được nghiên cứu thấu đáo hơn trước (trong mối tương tác trong nước và ngoài nước).

Lược sử tranh chấp lãnh thổ

Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ các đảo trong Biển Đông; Malaysia và Philippines tuyên bố một phần quần đảo Trường Sa còn Brunei thì tuyên bố chủ quyền đối với một bãi đá chìm. Cả Trung Quốc và Đài Loan đều khẳng định có chủ quyền lịch sử và cho rằng các đảo tại Biển Đông là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời thượng cổ theo các khai quật khảo cổ các đồng tiền cổ, mảnh gốm sứ và dụng cụ nấu nuớng được cho là do các ngư dân Trung Quốc để lại các nơi này.[1] Tuy vậy chỉ khi Thực dân Pháp đến Việt Nam khẳng định chủ quyền của họ ở các đảo này vào năm 1933 thì việc quản hạt mới có hiệu lực.[2]

Giữa khoảng thời gian 1939 và 1945 Hoàng Sa và Trường Sa bị Nhật Bản chiếm đóng và đã trở thành những căn cứ tàu ngầm. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, một nhóm hải quân từ Trung Hoa Dân Quốc đã đến khảo sát Hoàng Sa và Truờng Sa và không lâu sau đó đã đóng trú đảo lớn nhất tại Truờng Sơn, đó là Taiping hay Itu Aba, sau đó họ rút ra Đài Loan sau thất bại của Quốc Dân Đảng[3].

Tuy vậy kể từ năm 1947 một đường hình chữ U đã xuất hiện trên các bản đồ vẽ tại Đài Loan và Trung Quốc, bao trùm một phần Biển Đông. Philippines thì tuyên bố chủ quyền đối với Truờng Sa dựa vào việc một công dân Philippines tên là Tomas Cloma phát hiện một đảo tại Trường Sa năm 1947 và dựa vào cơ sở ông đã tuyên bố đó là “Kalayaan” (Đất tự do) còn bản thân là nguyên thủ.[4]

Dù Toma Cloma đã chuyển chủ quyền của ông ta sang cho Philippines vào năm 1971 thì tuyên bố chủ quyền truớc đó của ông ta cũng đã kích thích Đài Loan chiếm đảo Taiping và Việt Nam Cộng Hòa khẳng định tuyên bố chủ quyền của họ trên Hoàng Sa và Trường Sa vào năm 1956.[5]

Vào tháng 9 năm 1973, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã chiếm một số đảo của cả hai quần đảo nhưng sau đó để mất Hoàng Sa về tay Trung Quốc sau một cuộc chạm trán ngắn vào tháng 01 năm 1974. Nước Việt Nam thống nhất sau đó đã tiếp nối tuyên bố chủ quyền của Việt Nam tuy nhiên vị thế của họ đã bị thương tổn do sự ủng hộ của Bắc Việt trước đó đối với tuyên bố của Trung Quốc vào năm 1956 và 1958, dưới hình thức bức thư của thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho Quốc Vụ Viện Trung Quốc.[6]

Tuyên bố chủ quyền gần đây nhất với Biển Đông là của Malaysia vào năm 1979 và của Brunei vào năm 2000 dựa trên việc kéo dài thềm lục địa và trên cơ sở vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí từ đó tính ra. Tuyên bố của Malaysia đã trùng toàn bộ lên phần tuyên bố của Brunei.

Khả năng khai thác dầu khí và sự can dự của các công ty dầu khí đa quốc gia

Khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với Trường Sa lần đầu tiên diễn ra vào tháng 03 năm 1988, khi đó Hải Quân Trung Quốc đánh chìm ba tàu vận tải của Việt Nam và sát hại 72 binh sĩ Việt Nam trong một va chạm ngắn tại bãi Johnson.[7]

Từ đó trở đi quần đảo Trường Sa đã được phát triển thành một ngư trường quan trọng cho Trung Quốc, Việt Nam và Philippines, còn các thăm dò ở vùng biển lân cận cũng cho thấy các ước tính về trữ lượng dầu to lớn. Tất cả các quốc gia hiện đang tranh chấp tại Trường Sa đều là những nước đã ký kết Công Ước Liên Hiệp Quốc về luật biển lần 3 (UNCLOS III) vốn cho phép thiết lập một vùng đặc quyền kinh tế có bề rộng là 200 hải lí kể từ một vùng đất có người cư trú. Theo đó, biểu hiện chủ quyền sẽ cho phép người tuyên bố chủ quyền quyền cai quản hợp pháp và khai thác các tài nguyên năng lượng mà các nước này đang cần để tăng tốc phát triển kinh tế.

Hiển nhiên, lúc nào cũng không thiếu kỹ thuật để  khoan thăm dò độ sâu, dù trữ lượng và giá dầu thô sẽ là nhân tố quyết định mức nào đó thì có lãi được. Có một vùng đáy biển trong khoảng 1000 mét cận Truờng Sa, tại một vài nơi có đến 4000 dặm vuông nước chỉ nông dưới 200 mét mà thôi.[8]

Trong khoảng giữa thập kỉ 1990, OPEC đã ước tính rằng nhu cầu dầu lửa trên thế giới sẽ gia tăng lên 6.2 triệu thùng mỗi ngày giữa 1995 và 2000 trong đó Trung Quốc và các nước ASEAN sẽ sản xuất gia tăng 2.3 triệu thùng dầu mỗi ngày.[9] Do vậy, đối với các chính phủ địa phương và các công ty dầu khí lớn trên thế giới, Biển Đông có sức hấp dẫn và thách thức như một kho tàng đáy biển.

The China Geological Newspaper cho biết vào tháng 5/1989 rằng các khảo sát do Bộ Địa Chất và Khai Khoáng Trung Quốc đã cho thấy trữ lượng khoản 130 tỷ thùng (bb) dầu thô ở vùng lân cận Trường Sa.[10] Các số liệu ước tính của các công ty dầu khí nước ngoài thì thay đổi theo hướng ít lạc quan hơn.[11]Tuy nhiên ngay cả nếu con số thực tế đạt 1/10 số liệu của Trung Quốc dự báo, thì trữ lượng tiềm năng trong khu vực quần đảo tranh chấp cũng sẽ lớn hơn trữ lượng thực ở Biển Hoa Đông 12 bb, hay 9 bb của Hoàng Hải và Bột Hải cộng lại.[12] Trung Quốc đã trở thành một nước nhập khẩu dầu từ 1993. Nếu không tìm thấy nguồn dầu mới, số lượng thiếu hụt của nước này sẽ tăng đến 938 triệu thùng mỗi năm vào năm 2010.[13]

Do những hạn chế về tài chánh và những khó khăn kỹ thuật đối với khai thác dầu ở Trường Sa, đầu tư từ các nước phương Tây và các liên doanh giữa phương Tây với Trung Quốc hay các nước Đông Nam Á sẽ rất cần thiết trong tương lai gần. Tuy nhiên, việc tham gia của các công ty và quốc gia từ Mỹ , Nhật, Châu Âu nhằm khai thác dầu ngoài khơi Biển Đông, dưới dạng các tập đoàn thường gây ra tranh cãi nhiều bên. Nhiều công ty dầu không chỉ có các cuộc làm ăn với một vài bên tuyên bố chủ quyền, họ còn có liên hệ mật thiết với chính quyền chính nước họ nữa.

Những công ty này không hề muốn liên can vào một cuộc tương tàn khu vực y như chính quyền nước họ, là bên rồi sẽ phải miễn cưỡng nhúng tay vào để bảo vệ lợi ích công dân mình. Do vậy các công ty đa quốc gia này có khuynh hướng thiết lập quan hệ và kênh thông tin để ảnh hưởng ở cả chính giới nước mình và nước đầu tư nhằm tránh trường hợp xung đột gây hại đến lợi ích riêng của họ và lợi ích của ngành công nghiệp dầu khí nói chung. Xét về mặt này, các công ty dầu khí có thể có tác động tích cực lên Trung Quốc và các quốc gia có tuyên bố chủ quyền trong vùng để xác lập một vị thế hợp tác hơn nhằm bảo đảm một môi trường hòa bình thân thiện với đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên cũng có thể suy luận rằng họ có thể sẽ riêng rẽ kêu gọi các nước nhận đầu tư hỗ trợ họ tìm kiếm dầu khí bằng võ lực nếu có can thiệp từ bên ngoài, vì các thực thể đa quốc gia có ảnh hưởng và nguồn lực giải quyết hay châm dầu cho các tranh cãi nên thái độ và ứng xử của họ đối với các bên tuyên bố chủ quyền sẽ có sức nặng to lớn. Vào tháng 02 năm 1992, chính quyền Trung Quốc đã thông qua đạo luật lãnh hải chỉ đích danh Pratas, Hoàng Sa, Trường Sa, Macclesfield Bank là Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa, và vài đảo nữa là lãnh thổ Trung Quốc. Ba tháng sau đó họ ký một liên doanh với một công ty Mỹ, Crestone, để khai thác dầu tại một lô ngoài khơi phía Tây của Trường Sa. Trước phản đối của Việt Nam rằng việc khoan thăm dò là trên thềm lục địa của Việt Nam, các quan chức Trung Quốc đã trấn an Crestone nếu cần họ sẽ huy động toàn lực hải quân để hỗ trợ cho hợp đồng này.[14]

Việc lựa chọn một công ty Mỹ nằm trong kế hoạch tinh ranh của Trung Quốc để giảm thiểu khả năng Washington chống Trung Quốc chiếm thêm các đảo này. Họ mong rằng các công ty dầu khí của họ sẽ là bên hưởng lợi chính yếu đối với các dự án phát triển dầu khí do Trung Quốc khởi xướng trong vùng.

Cũng vậy nếu Mỹ can thiệp chống Trung Quốc, Mỹ sẽ phải phá hỏng vị thế và gia tăng bất trắc các nguy cơ cho các công ty dầu khí Mỹ  muốn làm ăn với Trung Quốc. Việc để cho các công ty nước ngoài can dự có thể là chiến lược ưu tiên của Bắc Kinh nhằm giữ lấy các tuyên bố vì lợi ích dầu hỏa và chủ quyền của họ ở Biển Đông. Giữa những năm 1979 hơn 3 tỷ USD ngoại viện đã được đầu tư vào các liên doanh tìm kiếm dầu khí giữa các công ty dưới sự bảo trợ của Tập Đoàn Dầu Khí Quốc Gia Trung Quốc (CNOOC) ở Biển Đông.[15] Giữa những năm 1995 và 1996, CNOOC đã ký kết hợp đồng với Chevron để thăm dò 3 lô nằm gần đảo Hải Nam và Hoàng Sa.[16] Tuy nhiên Trung Quốc không phải là quốc gia duy nhất có chiến lược kết hợp với công ty nước ngoài nhằm xác nhận tuyên bố chủ quyền ngoài khơi Biển Đông.

Những hoạt động của Trung Quốc đã khuyến khích Việt Nam, cũng là một nhà nhập khẩu dầu, mời thầu để phát triển các mỏ Thanh Long và Đại Hùng sát bên khu vực Crestone năm 1994[17]. Cho đến lúc đó, toàn bộ sản lượng dầu của Việt Nam đến từ một mỏ dầu ngoài khơi triển khai dưới sự giúp đỡ của Liên Xô vào những năm 1980. Phía Trung Quốc phản ứng rằng các mỏ dầu ấy đã khai thác trong vòng chủ quyền mà Trung Quốc tuyên bố tại Biển Đông. Đáp lại, Việt Nam phản bác rằng khu vực được nhượng cho Crestone là nằm trên thềm lục địa của mình. Vào tháng 7/1994, Trung Quốc đã phong tỏa một giàn khoan của Việt Nam tại khu vực Wan An Bei-21 mà Trung Quốc đã cho Crestone thuê ba tháng trước đó[18].

Năm 1995, sau khi Việt Nam đuổi một tàu khảo sát địa chấn của Trung Quốc ở khu Crestone, tàu chiến Trung Quốc đã phong tỏa một giàn khoan của Việt Nam tại khu vực Thanh Long mà Việt Nam đã giao cho một tập đoàn hai nước Mỹ và Nhật do Mobil chủ trì.[19] Vào tháng 4 năm 1996 khi công ty dầu khí Mỹ CONOCO  thương thảo với Việt Nam về các lô 133, 134, 135, trùng lắp lên lô Wanan Bei 21, Trung Quốc đã dọa sẽ trả đũa chống lại công ty chủ quản của CONOCO là Dupont hiện đang đóng tại Trung Quốc.[20] Sự hiện diện và can dự của các công ty dầu khí nước ngoài cho tới nay có vẻ như chỉ đổ thêm dầu vào lửa. Thật sự các công ty dầu khí nước ngoài cũng phải lo lắng vì họ sẽ trở thành con tin cho Trung Quốc và các nước trong vùng dùng họ để khuyếch trương thanh thế trên sóng Biển Đông.

Mặc dù Malaysia và Brunei đều đã có thể cơ bản tự túc về nhu cầu dầu hỏa, tiêu thụ nhiên liệu ở nội địa của họ đã tăng cao hơn mức sản xuất trong hai thập kỷ 1980 và 1990.[21] Tháng 7 năm 2002 công ty dầu khí quan trọng của Malaysia, Petronas đã phát hiện dầu hỏa ở đáy biển ngoài khơi Borneo trong khu vực tranh chấp với vùng đặc quyền kinh tế của Brunei. Petronas sau đó đã dành hai lô của khu vực cho một công ty con và Murphy Oil của Mỹ, trong khi đó thì Brunei thương lượng về quyền thăm dò với công ty Total của Pháp và Shell của Hà Lan cũng tại hai lô này.[22] Kết quả là tháng 3 năm 2003 Brunei đã phái một chiến thuyền đến đuổi tàu thăm dò của Murphy Oil ra khỏi khu tranh chấp và Malaysia trả đũa bằng cách gửi một tàu hải quân ra phong tỏa không cho tàu của Total vào.[23]

Những phát hiện như thế này có thể dẫn tới nhiều cuộc khảo sát mới ở vùng nước sâu của Đông Nam Á và cả Trung Quốc, do vậy sẽ liên quan đến các công ty dầu khí Phương Tây và mang các lợi ích và ảnh hưởng hệ quả dấn sâu vào tranh cãi. Liên quan đến tình hình dầu khí, Philippines là nước ở trong thế nghiệt ngã nhất, vì có 95% nhu cầu lệ thuộc vào nhập khẩu và vào những túi dầu không đáng kể theo ước tính của những đợt thăm dò ngoài khơi giữa Palawan và Trường Sa.[24] Thực tế Philippines lại là bên lên tiếng tích cực cho một giải pháp phát triển chung đối với Trường Sa.

Thật vậy, tổng thống và ngoại trưởng Philippines chính là những tác nhân tích cực đứng sau tuyên bố ASEAN về Biển Đông được thông qua tại cuộc họp thường niên của các ngoại trưởng ASEAN vào tháng 7 năm 1992, trong đó các quốc gia đồng ý các nguyên tắc cùng phát triển, giải quyết các bất đồng không bằng võ lực, và kiềm chế không đòi yêu sách thêm về lãnh thổ.[25]

Dù đã cùng ký kết với ASEAN tuyên bố trên nhưng Trung Quốc vốn ý thức về sự lớn mạnh trên thị trường và sức mặc cả của họ đối với các láng giềng Đông Nam Á và các công ty dầu khí nước ngoài nên họ đã thu mình lại không tham gia bất cứ thỏa thuận hợp tác nào mà họ biết các điều kiện kèm theo sẽ làm họ cảm thấy tiếng nói sẽ giảm thiểu.

Thủ tướng Lý Bằng đã phát biểu trong  một cuộc họp báo tháng 8 năm 1990 tại Singapore rằng Trung Quốc sẵn sàng gạt sang bên những vấn đề về chủ quyền để cùng các nước ASEAN khai thác nguồn lợi trên biển và dưới đáy biển xung quanh Trường Sa. Dù vậy, Trung Quốc vẫn tiến hành ký kết hợp đồng với các nước ngoài nhằm tìm kiếm dầu khí mà không có sự tham gia của các nước có yêu sách.


[1] Document of the Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China, China’s Indisputable Sovereignty over the Xisha and Nansha Islands (Beijing: Foreign Languages Press, 30 January 1980), 2-4.

[2] Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea (New York: Methuen, 1982), 61-63.

[3] Samuels, Contest for the South China Sea, 76-77.

[4] Ibid., 81-82.

[5] Ibid., 84-86.

[6] Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China, China’s Indisputable Sovereignty over the Xisha and Nansha Islands, 17-19.

[7] Lee G. Cordner, “The Spratly Islands Dispute and the Law of the Sea,” Ocean

Development and International Law, 1994, vol. 25, 64.

[8] “First Deep-Water Oil Field in South China Sea Put into Production,” FBIS Daily Report, China, 12 June 1996, from Beijing Keji Ribao [Science and Technology Daily] in Chinese.

[9] OPEC Bulletin, May 1996, 16.

[10] Michael Leifer, “Chinese Economic Reform and Security Policy: The South China Sea Connection,” Survival, summer 1995, vol. 37, no. 2, 44.

[11] In 1988, United States geologists estimated reserves of 2.1 to 15.8bb of oil, while Russian estimates put the figure at 7.5bb of oil equivalents, 70 percent of which is probably gas resources. See Bruce Blanche and Jean Blanche, “Oil and Regional

Stability in the South China Sea,” Jane’s Intelligence Review, 1 November 1995, no. 7,513.

[12] In 1988, United States geologists estimated reserves of 2.1 to 15.8bb of oil, while Russian estimates put the figure at 7.5bb of oil equivalents, 70 percent of which is probably gas resources. See Bruce Blanche and Jean Blanche, “Oil and Regional Stability in the South China Sea,” Jane’s Intelligence Review, 1 November 1995, no. 7, 513.

[13] Liu Haiying, China OGP (Xinhua News Agency). http://www.chinaogp.online.com/ hottopic/ (accessed 4 July 2003). Conversion from the scale of metric tonnes to barrels is mine.

[14] Sanqiang Jian, “Multinational Oil Companies and the Spratly Dispute,” Journal of Contemporary China, 1997, vol. 6, no. 16, 598.

[15] China Daily, 19 December 1994, 6.

[16] “PRC: Oil Firm, Chevron Sign Oil Exploration Contract 16 May,” FBIS China, 16 May 1996, from Beijing XINHUA.

[17] Lee Ngok, “Fishing in Troubled Waters?: Chinese Strategic Considerations in South

China Sea,” American Asian Review, winter 1994, vol. XII, no. 4, 112.

[18] Craig Snyder, “The Implications of Hydrocarbon Development in the South China

Sea,” International Journal, winter 1996/1997, vol. LII, 142-158.

[19] Henry J. Kenny, “The South China Sea: A Dangerous Ground,” Naval War College

Review, summer 1996, vol. XLIX, no. 3, 97-98.

[20] Mark J. Valencia, “Asia, the Law of the Sea, and IR,” International Affairs, 1997, vol.73, no. 2, 270.

[21] Alice D. Ba, “China, Oil, and the South China Sea: Prospect for Joint Development,”American Asian Review, winter 1994, vol. XII, no. 4, 135.

[22] S. Jayasankaran and John Beth, “Oil and Water,” Far Eastern Economic Review, 3 July 2003, 17.

[23] Ibid.

[24] Ba, “China, Oil, and the South China Sea,” 132-133.

[25] Lee Lai To, “ASEAN and the South China Sea Conflicts,” Pacific Review, 1995, vol. 8, no. 3, 538-539.

Kỳ 2: Vì sao Trung Quốc không muốn quốc tế hóa Biển Đông

Tác giả: Chien-peng Chung

Trung Quốc không muốn quốc tế hóa vấn đề Trường Sa vì e ngại làm loãng ảnh hưởng khu vực của họ và thêm phức tạp các bước tiến giải quyết vấn đề tận gốc.

>> Kỳ 1: Vai trò của các tác nhân trong tranh chấp Biển Đông

Cấp độ 2:

Cùng lúc đó các nỗ lực xây dựng lòng tin và hợp tác an ninh cũng đã được tiến hành thông qua các tổ chức phi chính phủ nhờ các kênh “cấp độ 2″ trong khu vực Đông Nam Á. Song song với các đối thoại về an ninh mà các bộ trưởng của các nước ASEAN đang tiến hành với giới chức của các nước Châu Á- Thái Bình Dương tại các cuộc hội đàm sau bộ trưởng (PMCs), các buổi gặp gỡ tư vấn đa phương không chính thức “cấp độ 2″ tập trung vào các vấn đề an ninh và chính trị vốn được xem như quá nhạy cảm và các tranh cãi không thể đưa ra tại các bàn họp cấp độ 1.

Hai trong số các dàn xếp cấp 2 quan trọng và cũng đã củng cố lâu đời ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương là hội đồng hợp tác an ninh Châu Á- Thái Bình Duơng ( CSCAP) và bàn tròn Châu Á- Thái Bình Dương tổ chức thường niên do viện nghiên cứu Quốc tế và chiến lược ASEAN (ASEAN ISIS) tổ chức. Các quy trình cấp 2 này đựơc đồng tài trợ bởi cả nhà nước và các viện hàn lâm tư nhân, các quỹ, các nhóm tư vấn và thường là liên quan đến các trao đổi giữa các viện sĩ, nhà báo, doanh nhân, quan chức từ các Bộ Quốc Phòng và Ngọai Giao đến tham dự với tư cách cá nhân.

Liên quan đến tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc đã bày tỏ ý muốn thương thuyết song phương, vì tại bàn đàm phán tay đôi họ sẽ thấy mình có thế mạnh hơn các đối phương. Một nhiệm vụ quan trọng của các cuộc đàm luận phi chính thức này là thuyết phục Trung Quốc chấp nhận các cuộc dàn xếp đa phương.

Những dàn xếp cấp 2 can hệ nhất đối với chúng ta là các hoạt hội thảo thường niên về “Xử lý các xung đột tiềm tàng tại Biển Đông” do Vụ Nghiên cứu Phát triển Bộ Ngoại Giao Indonesia khởi xướng và do cơ quan phát triển quốc tế Canada tài trợ. Indonesia đã đảm bảo năng lực vai trò một nhà trung gian bởi vì họ là nước rộng và đông dân nhất ASEAN và đây là nước không dính dáng trực tiếp vào các tranh cãi lãnh thổ trên Biển Đông.

Cuộc hội thảo đầu tiên nhóm họp tại Bali vào tháng 01 năm 1990, cơ bản là một dịp để các quan chức học giả và các giới khác từ ASEAN và các cá nhân nghiên cứu của Canada gặp gỡ một cách riêng tư và trình bày các quan điểm cá nhân về xúc tiến hợp tác tại Biển Đông.[1] Khi hội thảo lần 2 nhóm họp vào tháng 07 năm 1991 người tham dự đến từ các nước bao gồm cả Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam và Lào bên cạnh các quốc gia ASEAN và Canada.

Do Trung Quốc là một bên tranh chấp quan trọng và Đài Loan vẫn là một thế lực quân sự tại Trường Sa, Indonesia cho rằng mời cả hai nước là phù hợp và thực tế cho hội thảo này. Trung Quốc thường kiên quyết phản đối Đài Loan tham gia trong các diễn đàn chính thức. Đó là lý do chính đáng để tiếp tục chế độ cấp 2 cho các cuộc hội thảo. Indonesia cũng muốn mời thêm các tham dự viên từ Nhật Bản. Bởi 70% lượng dầu của Nhật nhập khẩu đi qua Biển Đông và nguyên do nữa là Nhật Bản quan ngại sẽ có những cuộc tấn công nhằm vào đội thương thuyền và tàu dầu của họ nếu xung đột xảy ra.[2] Tuy nhiên Trung Quốc đã phản đối Nhật Bản tham gia với lý do là Nhật Bản không phải là một nước Đông Nam Á, và do vậy Nhật không có quyền quyết định các vấn đề về khu vực, ý kiến này của Trung Quốc đã chưa  ai phản bác được.

Trung Quốc không muốn quốc tế hóa vấn đề Trường Sa vì e ngại làm loãng ảnh hưởng khu vực của họ và thêm phức tạp các bước tiến giải quyết vấn đề tận gốc. Như tại hội thảo trước đây, vấn đề chủ quyền và xác nhận ranh giới đã lại một lần nữa được né tránh mặc dù các bên tham gia đã khẳng định sẽ tìm đến các phương pháp ôn hòa để giải quyết bất đồng và tại bản kết luận của hội thảo họ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cùng nhau khai thác tài nguyên khu vực.[3] Việc thông qua đạo luật về lãnh thổ trên Biển vào tháng 02 năm 1992 trong đó tuyên bố các đảo ở Biển Đông đều là lãnh thổ của Trung Quốc đã khiến Trung Quốc bị săm soi kỹ lưỡng từ các tham dự viên của các nước tại hội thảo năm 1992.

Hai nhóm công tác được thành lập nhằm thực thi việc đánh giá nguồn nguyên liệu và khảo sát khoa học hải dương Trường Sa tại hội thảo năm 1992, tuy nhiên chưa có một hoạt động nào tiếp theo sau khi họ báo cáo những tìm kiếm tại hội thảo năm 1993.[4] Đến hội thảo lần thứ 8 vào tháng 12 năm 1997, tất cả năm nhóm làm việc trong đó có hai nhóm đã nêu và ba nhóm về bảo vệ môi trường hải dương, an toàn hàng hải và các vấn đề pháp lý đã được thành lập.[5]

Dẫu vậy, cho đến nay, vấn đề chủ quyền vẫn chưa được đưa ra và bàn thảo nghiêm túc tại hội thảo. Bởi mục đích của các hội thảo tại Indonesia là xây dựng lòng tin và phát huy các hoạt động hợp tác giữa các nước Đông Nam Á, những nhà tổ chức đã cố hết sức cẩn trọng tránh thảo luận hay tranh cãi về chủ quyền với ý thức rằng những tranh luận đi cùng sẽ chỉ tạo ra sự kích động chứ không có những thảo luận duy lý. Cách làm này có thể là một chiến thuật khôn ngoan để giảm nhiệt tại các hội thảo, bằng không có thể gây lúng túng cho các bên, song việc né tránh vấn đề chủ quyền có nghĩa là các bên tham dự vẫn chưa thể mang các căn nguyên về xung đột tại Biển Đông ra mổ xẻ. Những tranh cãi về chủ quyền lẽ ra và nên là việc chính của các hội thảo.

Dù các chính phủ của những tham dự viên luôn tuyên bố rằng họ không buộc phải hành động theo những lời gợi ý của các hội thảo, nhưng bất kỳ các giải pháp nào do tham dự viên đề ra đều cần sự ủng hộ từ phía chính phủ của họ để có cơ biến thành hiện thực. Những cá nhân liên quan trong hội thảo thường là những nhà lãnh đạo tinh thần tiềm năng của đất nước họ với những mối quan hệ đạt được vì đang còn hay đã từng phục vụ trong guồng máy nhà nước với những mối liên hệ thân tình với các lãnh đạo nhà nước. Dẫu họ tham gia với tư cách cá nhân, tầm quan trọng của những người tham dự sẽ gia tăng sức nặng cho các báo cáo và đề xuất mà các tham dự viên sẽ đệ trình cho chính phủ của mình. Ý kiến của họ có thể sẽ có tính quyết định khi các khi các lãnh đạo chuyển ưu tiên từ mưu kế đối đầu sang mưu cầu hợp tác, dù hiện nay cả hai khuynh hướng này đều khó có khả năng hiện thực. Chí ít, các vận động cấp 2 này có thể cung cấp một diễn đàn hợp pháp và có uy tín cho phép tất cả mọi tiếng nói phi chính phủ thường yếu và chẳng mấy ai biết, được tham gia những vấn đề an ninh và đối nội đối ngoại khác.

Các hội thảo tại Indonesia đã định hình phương pháp được mệnh danh là “cách ASEAN” trong xử lí các vấn đề có thể tránh né kiểu cách chính thống- kiểu mà châu Âu và Bắc Mỹ thường làm khi chạm đến giải trừ binh bị hay tạo dựng lòng tin. Tập thể ASEAN đã phát triển một phương pháp tư vấn phi chính thức và phi cấu trúc để các lãnh đạo và giới ra quyết sách có thể trì hoãn một đề tài khó khăn hoặc lướt qua một tình thế gay cấn hơn là cố giải quyết, cùng lúc vẫn có thể hy vọng rằng các vấn đề quan trọng đó sẽ coi như không liên quan hay vô thưởng phạt, tùy cơ mà ứng biến.

Kể từ khi họ tập hợp nhau lại vào 1967 các quốc gia ASEAN đã có thể gạt ra ngoài mọi bất đồng và cùng nhau hợp tác mà không cần phải giải quyết các bất đồng ấy vì 2 lý do tương quan. Thứ nhất họ biết là những nước nhỏ, yếu, những mâu thuẩn nội tại sẽ khiến họ phơi thân làm mồi ra cho các mưu đồ kích động bất ổn tiềm tàng từ các siêu cường và các chiến hữu ý thức hệ của họ tại khu vực. Kế đó họ nhận thức được lợi ích của việc gia tăng ảnh hưởng tập thể bằng cách tạo vẻ ngoài và thậm chí tạo nội lực của một mặt trận đoàn kết để mặc cả với nhân tố bên ngoài. ASEAN thực sự đã trở thành một thể chế an ninh, kinh tế bền vững bên ngoài Châu Âu trong 30 năm qua chính xác là nhờ họ gồm những nước yếu cùng đối diện với nguy cơ chung bên ngoài. Tuy nhiên trước thềm thế kỷ 21 những gì ASEAN phải xử lí không phải là mối đe dọa từ siêu cường, từ các phong trào cộng sản địa phương có ngoại viện, hay từ Việt Nam, vốn trước đây là đối thủ chính của ASEAN khi tiếp quản Campuchia vào những năm 1980, nhưng nay đã là một thành viên của hiệp hội.

Thay vì vậy những gì mà ASEAN phải quan tâm xử lí là sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc hùng mạnh, cường quốc Biển Đông. Những cuộc hội thảo tại Indonesia đầu tiên đặt nền trên cách tiếp cận ASEAN, chủ yếu dựa vào các tiếp xúc phi chính thức tránh tranh luận, và tiến tới kết quả “tha lâu đầy tổ”[6]. Tuy vậy Trung Quốc vừa không phải là thành viên ASEAN vừa không phải là một quốc gia đối mặt với mối đe dọa bên ngoài hoặc chí ít là không lộ ra như vậy. Ngoài ra Trung Quốc còn là một cường quốc quân sự với kinh tế đang lên. Do vậy khó mà thuyết phục Trung Quốc về các mối quan tâm của ASEAN và ràng buộc họ vào các quy trình dĩ hòa vi quý và tư vấn lẫn nhau liên tục của ASEAN. Ngoài ra hợp tác an ninh đa phương chưa bao giờ là một chuẩn ngoại giao trước nay của cả Trung Quốc và ASEAN mãi đến thời gian gần đây, mà lòng tin và hợp tác giữa các nhà nước và dân tộc thì cần thời gian để xây dựng.

Các rối rắm tầng trên

Đây là một quan sát lâu dài vào lý thuyết trò chơi 2 cấp và các lý thuyết mặc cả khác, thuyết này cho rằng các lợi ích và ý muốn của giới quan chức thường thay đổi để ứng phó với các mối đe dọa hay cơ hội đến từ bên ngoài. Cuộc tranh đấu về các đảo ở Biển Đông kéo theo sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các thiết chế ngoại giao và quân sự, vốn là 2 thế lực chính yếu trên chính trường Trung Quốc, có liên quan đến việc soạn thảo luật của Trung Quốc về lãnh thổ trên biển đầu năm 1992.

Những tranh luận gay gắt được thuật đã xảy ra giữa các thành viên cao cấp của quân đội và giới ngoại giao Trung Quốc ngay khi đạo luật này được đưa ra bàn thảo tại Quốc Vụ Viện- Cơ quan Lập pháp Trung Quốc.[7] Quân đội Trung Quốc khi đó đã có hai đại diện trong Bộ Chính trị và kể từ giữa thập kỷ 1950 đã có ít nhất một thành viên của quân đội có mặt trong tiểu ban đối ngoại của Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc.[8] Tuy nhiên ý muốn của giới quân sự nhằm gia tăng hơn nữa vai trò trong guồng máy an ninh quốc gia rõ ràng không chỉ giới hạn trong tháp cao quyền lực mà thôi. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã chọn cách không nói đến các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền nhằm tránh đụng chạm về ngoại giao với các nước đang tranh chủ quyền với Trung Quốc, tuy vậy các trung tâm tham mưu lục quân, hải quân, Quân khu Quảng Châu  và tỉnh Hải Nam cho rằng cần phải duy trì nguyên tắc sao cho những tranh cãi sau này sẽ dẫn đến lợi thế cho Trung Quốc.[9]

Một học giả đã từng tuyên bố rằng hành động lập tỉnh Hải Nam là một tuyên ngôn của Bắc Kinh nhằm quyết tâm xác định chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông vì theo như “Nghị quyết thành lập tỉnh Hải Nam” được thông qua kì họp lần thứ 7 của Quốc Vụ Viện Trung Quốc vào tháng 4 năm 1988, quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) Trung Sa(Macclesfield) và Trường Sa (Nam Sa) và khu vực xung quanh là nằm trong địa giới tỉnh Hải Nam.[10] Dù gì thì ý kiến của giới quân sự vẫn đang thịnh thời.

Những áp lực đều đặn của Trung Quốc tại Biển Đông chứng tỏ giới quân sự tương đối thành công  trong các vận động chính trị và xác định ngân sách. Sau khi trở thành lãnh đạo của Hải Lục Quân Trung Quốc (HLQTQ-PLAN) năm 1982, Đề Đốc Lưu Hoa Thanh đã trở thành một phát ngôn nhân mạnh mẽ cho việc tiến ra Trường Sa.

Ông ta đã phát biểu với báo giới rằng một trong những mục tiêu chính của HLQTQ là xác lập chủ quyền trên các vùng biển giàu tài nguyên xa xôi kia.[11] Vào năm 1994 Phó Tư lệnh Hải Quân Trung Quốc (HQTQ) Zhang XuSan đã lập luận tương tự để xin tăng thêm kinh phí quốc phòng khi tranh cãi về ngân sách tại Quốc Vụ Viện. [12] Việc họ Lưu thăng tiến cao hơn vào Thường trực Trung Ương trong kỳ họp lần thứ 14 của đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tháng 10 năm 1992 đã gia tăng hơn nữa ảnh hưởng của HQTQ trong việc tạo dựng chính sách.

Kể từ năm 1983 HLQTQ đã hộ tống các tàu khảo sát của Cục Hải Dương Quốc Gia và Viện Khoa học Trung Quốc để đo đạc thời tiết và mực nước tại các vùng xa của Trường Sa.[13] Trong những năm đầu thập kỷ 1990, nhiều bài báo của Quân Đội Trung Quốc (QĐTQ-PLA) đã sử dụng việc tranh cãi tại Trường Sa để kêu gọi nâng cấp Hải Quân nhanh chóng hơn nữa.[14] Các tác giả này luôn nhấn mạnh khoảng cách xa giữa Trung Quốc Đại lục và Trường Sa để yêu cầu mua nhiều chiến hạm hơn, chiến đấu cơ  Su-72 bay đường dài, nâng cao khả năng tiếp nhiên liệu trên không và xây dựng các căn cứ hải quân ở Biển Đông. Dĩ nhiên một kịch bản xung đột giữa hai bờ Đài Loan cũng đã hiện lên rõ ràng  thông qua các nỗ lực sở hữu Su-72 tàu khu trục lớp  Soremeny và tàu ngầm lớp Kilo từ Nga.

Tuy nhiên vai trò chính yếu của HQTQ trong việc tổ chức và thực hiện các tác vụ tại Biển Đông luôn song hành cùng các quan tâm về công tác tổ chức của HQTQ. Điều này đã khiến HQTQ trở thành một nhóm lợi ích nội bộ mạnh mẽ trong bất kỳ thương thuyết nào về chủ quyền hải đảo. Có khả năng rất cao là đã có yếu tố này cấu thành quyết định của HQTQ tại Biển Đông như tổng thống Philippines từng xác nhận khi ông tin việc đánh chiếm Đảo Vành khăn đã được tiến hành bởi các cấp thấp hơn mà không có sự đồng ý của chính quyền Trung Quốc.[15]

Còn tiếp


[1] Lee Lai To, “Defusing Rising Tension in the Spratlys: An Analysis of the Workshops on Managing Potential Conflicts in the South China Sea,” American Asian Review, winter 1994, vol. XII, no. 4, 189-190.

[2] Lam Peng Er, “Japan and the Spratlys Dispute,” Asian Survey, October 1996, vol.XXXVI, no. 10, 998.

[3] Lee, “Defusing Rising Tension in the Spratlys,” 192.

[4] Ibid., 193.

[5] “Alatas Opens Workshop on Spratlys 3 Dec” FBIS East Asia, 4 December 1997, 4, Jakarta Media, Indonesia.

[6] Jose T. Almonte, “Ensuring Security the ‘ASEAN Way’,” Survival, winter 1997/1998,81.

[7] “New Law Claims Sovereignty over the Spratly Islands,” FBIS China, 27 February1992, 15, Tokyo KYODO.

[8] The CCP’s Central Committee Foreign Affairs Leading Small Group is headed by the premier and functions as a key policy coordination and supervision mechanism between the Politburo Standing Committee and the Foreign Ministry establishment. See Michael D. Swaine, The Role of the Chinese Military in National Security Policymaking(Santa Monica CA: RAND, 1996), chapter 3, “Foreign Policy Subarena,” 19-36.

[9] “Foreign Ministry Opposes Law,” FBIS China, 27 February 1992, 15-16, Tokyo KYODO.

[10] Daojiong Zha, “Localizing the South China Sea Problem: The Case of China’s Hainan,” Pacific Review, 2001, vol. 14, no. 4, 580-581.

[11] John W. Garver, “China’s Push Through the South China Sea: The Interaction of Bureaucratic and National Interests,” China Quarterly, December 1992, no. 132, 1022.

[12] Ibid.

[13] Garver, “China’s Push Through the South China Sea,” 1008-1009.

[14] You Ji and You Xu, “In Search of Blue Water Power: The PLA Navy’s Maritime Survey in the 1990s,” Pacific Review, 1999, vol. 4, no. 2, 137-149.

[15] Frank Ching, “Manila Looks for a Slingshot,” Far Eastern Economic Review, 9 May 1995, 40.

Kỳ 3: Những tương tác chiến lược giữa Trung Quốc với ASEAN

Tác giả: Chien-peng Chung

Liệu Trung Quốc sẽ có thể chia rẽ ASEAN hay khối nà ysẽ đoàn kết vững chắc lại. Cho đến nay có vẻ như ý thứ hai là đúng hơn.

>> Kỳ 1; Kỳ 2

Sự kiện Đảo Vành Khăn (Mischief Reef) và hậu kỳ: những tương tác chiến lược giữa Trung Quốc với ASEAN và trong nội bộ ASEAN.

Sự kiện được mệnh danh là Mischief Reef đã bắt đầu khi các lực lượng vũ trang của Philippines khám phá ra các kết cấu bằng bê tông do Trung Quốc xây trên bãi đá ngầm nhỏ bé đó vào tháng 02/1995, phía bên trong khu vực đặc quyền kinh tế 200 hải lí mà  Philippines tuyên bố chủ quyền.

Ba ngày đàm phán ở Bắc Kinh kết thúc trong bế tắc – Trung Quốc vẫn phản kháng rằng Mischief Reef là một phần của Trường Sa thuộc Trung Quốc và các kết cấu bê tông đó chỉ là nơi trú ngụ cho ngư dân Trung Quốc chứ không phải là boong ke quân sự.[1]

Sau đó chính phủ Philippines đã cho hải quân và không quân ra đánh sập các kết cấu này. Bắc Kinh ngạc nhiên về hành động của Philippines, nhưng họ lại càng ngạc nhiên hơn khi ASEAN đồng lòng ra một tuyên bố chung lên án hành động của Trung Quốc là phá vỡ  ”Tuyên bố ASEAN về Biển Đông”.

Trước đó ASEAN vẫn tin rằng Trung Quốc sẽ nhã nhặn hơn và hòa giải trong khuôn khổ ngoại giao kín đáo để giữ thể diện chứ không làm ầm ĩ. Ngay cả như vậy, Trung Quốc cũng không tỏ vẻ xuống thang vì khi chính phủ Philippines tổ chức cho các nhà báo trong và ngoài nước ra thăm các đảo mà Philippines tuyên bố chủ quyền, các con tàu của họ đã bị các tàu Trung Quốc phong tỏa.[2] Philippines đã trả đũa bằng cách bắt 62 ngư dân Trung Quốc tại những vùng nước gần đó do đã vi phạm hải phận.[3]

Sau sự kiện đó, Pan Shiying, người phát ngôn không chính thức của Trung Quốc về Biển Đông đã tuyên bố với giới chức Mỹ rằng nếu lời đề nghị của Trung Quốc cùng khai thác các vùng đảo bị khước từ thì hải quân không còn cách nào khác là phải dùng vũ lực chiếm lấy các đảo này.[4] Có nghĩa là nếu các nước bằng lòng thương thảo với Trung Quốc, họ sẽ thừa nhận sự tuyên bố của các nước về một phần hoặc toàn bộ Trường Sa.

Nếu họ không thương thảo với Trung Quốc thì Trung Quốc sẽ dùng chiến thuật ” xắt salami” bằng cách xâm chiếm từng đảo, từng đảo, từng bãi đá, từng bãi ngầm một và từ đó tạo ra một sự đã rồi cho tất cả các nước Đông Nam Á phải tự giải quyết.

Tổng Thống Ramos đã quyết định cho phép một công ty con phụ thuộc tập đoàn dầu khí Mỹ Vaalco tìm kiếm dầu khí tại Reed Bank thuộc Trường Sa.[5] Nhằm ngăn chặn các bước lấn tới của Trung Quốc, tổng thống Ramos đã đe dọa sẽ nhờ cậy đến Hiệp ước Phòng Thủ chung Phi-Mỹ và Quốc hội Philippines đã thông qua một chương trình 50 tỷ Peso (2 tỷ usd) để nâng cấp quân đội nước này.[6]

Trong một nỗ lực nhằm kéo nhiều nước vào bàn thương lượng, các nước ASEAN đã nhấn mạnh vấn đề Trường Sa tại diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) về an ninh, một sáng kiến của hội nghị hậu-bộ trưởng thường niên tại Brunei vào tháng 07/1995.

Để làm giảm nhiệt tại khu vực, Bắc Kinh đã nói nhỏ với Manila rằng Trung Quốc sẽ không xây dựng các kết cấu mới tại khu vực tranh chấp với Philippines.[7] Và theo đó họ sẽ thảo luận các tranh cãi chủ quyền với ASEAN với tư cách một nhóm vào Hội nghị Thượng đỉnh tại Bangkok.[8]

Đề nghị này cho thấy một nhượng bộ lớn từ phía Trung Quốc trong bối cảnh trước đó họ đã khăng khăng sẽ chỉ thảo luận song phương. Tuy vậy có vẻ đằng sau đó đây chỉ là một mưu kế chiến thuật để xoa dịu các quan ngại của các nước ASEAN bởi vì đến tháng 3/1996, Trung Quốc lại tái xây dựng các kết cấu trên đảo Mischief mà người Phi đã phá bỏ trước đó.[9]

Trùng hợp với một loạt các trận pháo kích qua eo biển Đài Loan, thái độ hung hãn của Bắc Kinh tại Trường Sa được các giới chức và học giả ASEAN hiểu rằng đây là một nỗ lực của PLAN nhằm tận dụng điểm yếu chính trị của Tổng Bí Thư Quang Trạch Dân để nâng cao vị thế và mưu cầu lợi ích của họ.

Dù gì đi nữa vẫn có một cảm giác chung trong nội bộ ASEAN là Trung Quốc đang lần lữa chờ thời để đủ mạnh sẽ thôn tính tất cả các đảo đang tranh cãi tại Biển Đông. Còn có cách giải thích nào khác chăng, khi vừa chấp nhận các nguyên tắc giải quyết bằng thuơng lượng và cùng khai thác tài nguyên, Trung Quốc vừa tiến hành chiếm thêm đảo và dành cho các bên khác những hợp đồng dầu khí?

Việc chiếm đóng Trường Sa sẽ không chỉ là một biểu hiện cho sự tự đại rằng Trung Quốc đang hồi phục thành một cường quốc mà nó còn đưa Trung Quốc đến một vị trí của một tay chơi đáng gờm trên bàn cờ chính trị Đông Nam Á.

Ẩn sâu dưới hai lần can thiệp quân sự của Trung Quốc tại Johnson và Mischief vào năm 1988 và 1995 có lẽ là sự lo lắng của Trung Quốc rằng các tuyên bố chủ quyền của họ sẽ bị mài mòn nếu họ không nhanh chóng xác nhận sự hiện diện của họ tại Trường Sa. Trung Quốc trở nên nghi ngại các nỗ lực của các bên ASEAN tranh thủ sự ủng hộ lẫn nhau và chia Trường Sa cho nhau, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995.

Vào tháng 1/1992, Việt Nam và Malaysia đã có một thỏa thuận cùng khai thác tài nguyên tại các khu vực tranh chấp.[10] Vào tháng 4/1996, Việt Nam và Philippines đã gửi một nhóm các khoa học gia của hai nước trên một con tàu của chính phủ Philippines trong một chuyến đi kéo dài 15 ngày để bảo tồn các sinh vật biển tại Trường Sa.[11] Còn đối với các tranh cãi giữa Trung Quốc và Việt Nam về các nhượng quyền dầu lửa ngoài khơi, ASEAN cẩn thận không đổ dầu vào lửa, vẫn giữ thái độ im lặng.

Thật ra Trung Quốc sẽ cố đặt mình vào vị thế thuận lợi nhất trong bất kỳ cuộc thảo luận nào về chủ quyền Trường Sa khi nào họ thấy cần tỏ ra mềm dẻo về vấn đề thềm lục địa hay việc đòi hỏi quyền tại vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Malaysia và Brunei. Những nước này là những nước tuyên bố chủ quyền với số đảo và đá ít hơn cả so với các bên tranh chấp khác, và do vậy việc này sẽ không chỉ cho phép Trung Quốc xác định đường cơ sở cực nam và hợp pháp hóa sự có mặt của họ tại đó, mà còn có thể khiến các nước ASEAN khác phải quay lại chống nhau.

Khi ấy, cần quan sát các tương tác giữa Trung Quốc với hai nhóm quốc gia trong cùng cách thức của quan hệ cấp 3. Liệu Trung Quốc sẽ có thể chia rẽ họ hay ASEAN sẽ đoàn kết vững chắc lại. Cho đến nay có vẻ như ý thứ hai là đúng hơn. Tuy vậy, bất kỳ một nhượng bộ nào của Trung Quốc về tuyên bố chủ quyền tại Trường Sa sẽ làm Trung Quốc dễ phải nhượng bộ hơn tại các cuộc tranh giành ở nơi khác, do vậy kịch bản này cũng khó mà thành sự thật.

Mặc dù Đài Loan duy trì tuyên bố chủ quyền cho riêng mình tại các đảo Biển Đông, vai trò của đảo quốc này trong mớ bòng bong đang diễn ra ở Biển Đông trở nên khá mâu thuẫn với họ, và đây có lẽ cũng đã phản ánh chính xác hình ảnh họ trong cuộc khủng hoảng vị thế của mình.

Sau cuộc chạm trán giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 14/03/1988, Bộ Trưởng Quốc Phòng Đài Loan đã tuyên bố nếu Trung Quốc khi đó yêu cầu quân Đài Loan ở đảo Thái Bình (đồn trú từ 1956) trợ giúp, thì Đài Loan sẽ xuất quân.[12] Vì những lý do dân tộc tính, những nhân vật trong Tân Đảng vốn ủng hộ thống nhất sẽ muốn toàn bộ Trường Sa về tay Trung Quốc hơn là về bất kì quốc gia ASEAN nào khác.[13] Do Đài Loan đã được nhận vào các hội thảo ở Inđonesia năm 1992, các giới chức và học giả tham dự của họ luôn lên tiếng mạnh khi lập lại lý lẽ Trung Quốc là các đảo tranh chấp đã từ lâu trong lịch sử thuộc về người Trung Quốc và các vấn đề phát sinh sẽ phải giải quyết chỉ khi chủ quyền “Trung Quốc” không bị ảnh hưởng.[14]

Trong tinh thần đó, Phó Tổng Giám Đốc của CNOOC đã có thể tuyên bố rằng kể từ tháng 8/1995, Trung Quốc và Đài Loan sẽ hợp tác để khảo sát và khai thác dầu khí trên Biển Đông vì cả hai bên như “trong một nhà và không có vấn đề tranh chấp chủ quyền lẫn nhau”.[15] Mặc dù Viện Hành pháp của Đài Loan vào tháng 4/1993 đã ra một hướng dẫn chính sách tuyên bố rằng ” Biển Nam Trung Hoa  (Biển Đông) nằm trong giới hạn vùng nước lịch sử là khu vực hàng hải trong vòng kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc”,[16] vấn đề làm cho mình gần giống với vị thế của Trung Quốc về chủ quyền “Trung Quốc” từ phía Đài Loan cho thấy tuyên bố của mình bị không mấy coi trọng bởi cả Trung Quốc và các quốc gia khác.

Bãi Scarborough: các nhân tố dưới tầm quốc gia tương tác lẫn nhau

Nằm trong vùng lân cận với Macclesfield Bank, cách đảo chính của Philippines là Luzon 200km về phía Tây, tọa lạc một bãi đá gọi là Scarborough hay Huangyan theo tiếng Trung Quốc.

Vào ngày 01/05/1997 hai tàu của Cục Hàng Hải Trung Quốc chở một nhóm các thành viên một câu lạc bộ dân sự từ Nhật, Mỹ, và Trung Quốc đã tiến đến gần bãi Scarborough. Ngay lúc ấy tàu chiến và phi cơ quân sự Philippines xuất hiện và cảnh báo các thuyền trưởng rằng họ đã vào bên trong đảo vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines.[17] Công luận Philippines nhận thấy các câu lạc bộ kiểu này là những con cờ trong trò chơi tranh chấp chủ quyền của Trung Quốc trong nỗ lực sử dụng các phương tiện phi quân sự như tàu khảo sát, công ty dầu khí và kể cả các tàu bè dân sự của Trung Quốc và ngoại quốc để tiến công trong các trận chủ quyền lãnh thổ.

Nhà đương cục Trung Quốc đã ứng xử trên Biển Đông đúng y như họ đã tố cáo chính phủ Nhật Bản hành xử trong trường hợp Điếu Ngư /Senkaku. Những nghi vấn này đã có cơ sở vì theo lời của một nhà tổ chức chuyến đi người Hoa, ông này nói rằng chính phủ Trung Quốc đã chi hàng ngàn đô la để thuê  tàu và chuyến hành trình này đã được một cựu binh Trung Quốc dẫn đầu.[18]

Rốt cuộc câu chuyện dài này đến đâu? Thượng Nghị Sĩ Philippines Gregoy Honasan đã đề nghị chính phủ Phi huấn luyện và trang bị vũ khí cho các cư dân các đảo Trường Sa để tự vệ  chống những xâm phạm của nước ngoài trong tương lai.[19] Sau đó vị nghị sĩ ra Scarborough cắm cờ Phi trên đảo.

Măc dù chính quyền Phi ngay lập tức ra thông báo không liên quan đến hành động của các nhà hoạt động này bằng cách gọi đó là những hoạt động cá nhân, song cùng lúc ấy chính phủ Phi cũng tuyên bố họ vẫn sẽ tiếp tục xây dựng các hải đăng trên các đảo đang tranh chấp mà họ đang chiếm giữ.[20] Sự việc có vẻ như đã được giải quyết sau ba ngày thương lượng tại Bắc Kinh giữa Thứ trưởng Ngoại giao Phi và Trung Quốc, theo đó hai bên đồng ý lập một ủy ban khảo sát lại tuyên bố các chủ quyền của mình.[21] Tuy nhiên vào tháng 03/1998, Ngoại trưởng Philippines đã phải cảnh cáo Trung Quốc vì đã xây dựng một trạm vệ tinh trên một đảo Trường Sa và các buồng điện thoại trên các đảo do Trung Quốc chiếm giữ tại quần đảo Trường Sa.[22]

Còn tiếp


[1] Rodney Tasker, “A Line in the Sand,” Far Eastern Economics Review, 6 April 1995, 14.

[2] Ross Marlay, “China, the Philippines, and the Spratly Islands,” Asian Affairs – An American Review, winter 1997, vol. 23, no. 4, 207.

[3] Asiaweek, “A Breakthrough on the Spratlys,” 25 August 1995, 24.

[4] Nayan Chanda, Rigoberto Tiglao and John McBeth, “Territorial Imperative,” FarEastern Economics Review, 23 February 1995, 14.

[5] “Ramos Defends Oil Search in Disputed Waters,” FBIS East Asia, 6 July 1994, Tokyo KYODO.

[6] Rodney Tasker, “Ways and Means,” Far Eastern Economic Review, 11 May 1995, 14.

[7] “The Claim on the Kalayaan Islands in Spratlys Group,” BusinessWorld Weekender (Philippines),   14   February   1997.   http://bworld.net/oe021497/Weekend/Focus/story3.html (accessed 20 January 2003).

[8] Marlay, “China, the Philippines, and the Spratly Islands,” 207.

[9] Ibid.

[10] Cheng-yi Lin, “Taiwan’s South China Sea Policy,” Asian Survey, April 1997, vol. XXXVLL, no. 4, 328.

[11] Marlay, “China, the Philippines, and the Spratly Islands,” 207.

[12] Shim Jae Hoon, “Một giọt máu đào hơn ao nước lã chính trị” (Blood Thicker than Politics,) Far Eastern Economic Review, 5 May 1988, 26.

[13] Lin, “Taiwan’s South China Sea Policy,” 332.

[14] Chen Jie, “China’s Spratly Policy,” Asian Survey, October 1984, vol. XXXIV, no. 10,900.

[15] “Beijing Official on Cooperation to Tap Spratlys,” FBIS China, 30 August 1995, Taipei CNA.

[16] “The South China Sea Policy Guidelines,” reprinted in Kuan-ming Sun, “Policy of the Republic of China towards the South China Sea,” Marine Policy, 1995, vol. 19, no.5, 408.

[17] Long-Distance Radio Century Club (DXCC), “BS7H 1997 Bulletin 13 – 0530Z, 07

May 1997.” http://www.iglou.com/n4gn/sr/bltns/bltn13.html (accessed 20 January

1999).

[18] Andrew Sherry and Rigoberto Tiglao,”Luật Rừng” (Law of the Seize, tác giả chơi chữ Law of the Sea) Far Eastern Economic Review, 12 June 1997, vol. 17, 20-21.

[19] “Philippines: Government Urged to Arm Residents in Spratly Islands,” FBIS East Asia, 9 May 1997.

[20] “Manila To Build Lighthouses in Spratlys,” FBIS East Asia, 19 May 1997.

[21] “Philippines: Manila, PRC Agree on Working Group to Avert War in Spratlys,” FBIS East Asia, 30 May 1997.

[22] “Philippines: China Warned on Spratlys Satellite Plans,” FBIS East Asia, 3 March 1998, Quezon City GMA-7 Radio-Television Arts Network.


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

Sống Cuộc Đời Đáng Sống

Posted: 25 Dec 2010 04:34 PM PST

Chào các bạn,

Sẵn sàng hay không, một ngày nào đó tất cả đều sẽ đến điểm cuối.

Tài sản, danh vọng và quyền lực phù du của bạn sẽ tàn lụi vào hư không.

Ý nghĩ đời bạn không nằm trong cái bạn lấy, nhưng trong cái bạn cho.
 

Sống Cuộc Đời Đáng Sống là PPS có số người đọc và chuyển quanh thế giới nhiều nhất trong số các PPS của mình. Nhân Mùa Lễ Hội, mình đã làm một phiên bản mới, lời cũ, nhưng hình ảnh và âm nhạc mới. Hy vọng là đẹp hơn và nghe hay hơn phiên bản cũ. Post đây để chia sẻ với các bạn.

Chúc các bạn một ngày ý nghĩa.

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây để xem video và download


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa

Định nghĩa lại vấn đề

Posted: 25 Dec 2010 04:33 PM PST

Chào các bạn,

Ta giải quyết những vấn đề mỗi ngày, từ chương trình phần mềm có lỗi cho đến nhà dột, từ vấn đề giải quyết đền bù giải phóng mặt bằng cho đến vấn đề biển Đông.  Đa phần chúng ta sử dụng thói quen và kinh nghiệm và lao vào giải quyết vấn đề luôn.
Nhưng thực tế cho thấy, vấn đề của việc giải quyết vấn đề thường không phải là do chúng ta kém khả năng hay kinh nghiệm, mà là do chúng ta giải sai vấn đề.

Vậy làm thế nào để định nghĩa vấn đề cho đúng?

Việc này rất quan trọng vì việc định nghĩa vấn đề tương tự như việc xác định hướng đi. Nếu xác định hướng đi sai thì việc phân tích giải quyết vấn đề cũng là vô ích.

I. Vấn đề là gì?

Chúng ta hãy xem xét một trường hợp phức tạp trong  thực tế:

Ô nhiễm ở nhà máy Algona

Viện Môi trường và tài nguyên phát hiện ra chất thải độc hại từ nước thải của nhà máy phân bón Algona. Nước thải này đi ngang qua thành phố Algona ở tiểu bang Iowa, Mỹ và được đổ ra sông Des Moines. Đây là nhánh sông đổ vào hồ Saylor và hồ này là nguồn nước sinh hoạt chính của người dân ở Des Moines, một thành phố lớn của bang Iowa với khoảng 300,000 người. Ủy ban thành phố Des Moines, qua phương tiện thông tin đại chúng và các kênh chính trị, gia tăng sức ép công chúng lên các cơ quan bảo vệ môi trường và đòi đóng cửa nhà máy Algona. Các tổ chức hoạt động môi trường tổ chức biểu tình trước cửa nhà của thống đốc bang Iowa và đòi đóng cửa nhà máy ngay lập tức. Kênh truyền hình địa phương cũng bắt đầu đưa tin về vấn đề ô nhiễm nước thải.

Ban lãnh đạo công ty Algona lập tức triệu tập một nhóm làm việc khẩn cấp để cân nhắc xem công ty nên làm gì?

===

Theo bạn, “vấn đề” ở đây là gì?
.
Rõ ràng, có nhiều hơn một vấn đề ở đây, bởi vấn đề là gì còn phụ thuộc vào quan điểm và lợi ích của bên tham gia trong ví dụ trên. Các cách nhìn về vấn đề rất khác nhau có thể đến từ các bên liên quan sau:

Đội ngũ quản lý công ty
Nhân viên của công ty
Quản lý công đoàn của công ty
Thành viên của công đoàn
Người dân ở Algona
Người dân ở Des Moines
Phương tiện thông tin đại chúng ở Des Moines
Thống đốc của bang Iowa
Luật của bang Iowa
Các công ty kinh doanh du lịch trên dòng sông bị chất thải ô nhiễm
Người nông dân tưới tiêu từ dòng nước bị ô nhiễm
Nhà chức trách liên bang và tiểu bang về môi trường
Nhóm các nhà hoạt động môi trường
Các công ty phân bón khác ở Iowa
Các công ty phân bón khác ở toàn nước  Mỹ

.
Quá nhiều vấn đề! Thực tế  là tất cả mọi vấn đề từ  an ninh quốc gia cho tới bị ăn gian đổ xăng xe máy đều có thể được xem xét với nhiều quan điểm trái ngược nhau.

Đâu là nguyên nhân tạo ra các cách nhìn khác nhau về vấn đề?

*  Sự thiên vị (bias ví dụ như thích bảo vệ môi trường hơn thích gia tăng sản xuất) và định kiến(mindset, ví dụ như  Mỹ là đế quốc sài lang, Trung Cộng là lũ nói dối và mộng bá quyền) ảnh hướng tới cách nhìn vấn đề và điều này dẫn đến bóp méo sự thật và định hướng  phân tích sai.

*  Chính việc “định nghĩa” vấn đề cũng thu hẹp suy nghĩ của ta về vấn đề.

II. Cách định nghĩa vấn đề

Mặc dù ta biết rằng thiên vị và định kiến ảnh hưởng tới cách ta nhìn và định nghĩa vấn đề, nhưng việc xác định thiên vị và định và định kiến của chính ta là rất khó, bởi lẽ đầu óc của ta được thiết kế để hoạt động dựa trên sự thiên vị. Ví dụ: một người yêu động vật thì rất khó cảm thông cho những khách hàng khoái khẩu cầy tơ bảy món. :-)

Do đó ta sẽ  tiếp cận theo cách gián tiếp: Phát biểu lại vấn đề theo càng nhiều cách chúng ta có thể nghĩ tới càng tốt.

Mục đích của việc phát biểu lại vấn đề này là để mở rộng cách nhìn của ta với vấn đề, định nghĩa vấn đề trung tâm tốt hơn, để phân tích của ta giải quyết được đúng vấn đề hơn.

Đôi khi việc phát biểu lại vấn đề cũng khó khăn vì vấn đề ban đầu được phát biểu sơ sài quá. Đó cũng là lý do ta cần phát biểu lại vấn đề.

Sau đây là các sai lầm phổ biến và một số kỹ thuật trong việc định nghĩa  vấn đề:

Sai lầm trong định nghĩa vấn đề

1. Không có trọng tâm – định nghĩa quá mơ hồ hay quá rộng

Ví dụ: Chúng ta nên làm gì về những chiếc máy tính ở công sở?

Định nghĩa này không chỉ ra vấn đề gì cả.

2. Trọng tâm vấn đề bị định hướng sai – định nghĩa quá hẹp

Ví dụ: Điểm của Thắng đang thấp đi. Làm sao để chúng ta khiến Thắng học hành chăm chỉ hơn?

Có thể điểm thấp không phải là do Thắng thiếu nỗ lực. Nếu đúng là như vậy thì việc ép Thắng học chăm chỉ hơn có thể làm vấn đề trầm trọng hơn.

3. Phát biểu được đưa ra dựa trên giả định về vấn đề

Ví dụ:  Làm thế nào chúng ta có thể làm cho những công ty hàng đầu biết đến khả năng marketing của chúng ta?

Bằng cách giả định rằng các công ty hàng đầu không biết đến khả năng marketing của công ty trên, phát biểu đã định nghĩa vấn đề hẹp đi. Nếu giả định đó không đúng, phái biểu đã định hướng sai về trọng tâm cho việc phân tích vấn đề.

4. Phát biểu dựa trên giải pháp cho vấn đề

Ví dụ: Làm thế nào để chúng ta có thể thuyết phục các nhà lập pháp xây dựng thêm nhà tù để giảm sự quá tải của nhà tù?

Định nghĩa hẹp này đã giả định luôn giải pháp (xây thêm nhà tù) cho vấn đề (nhà tù quá tải). Nếu giải pháp đó không phù hợp, phát biểu đó đã định hướng sai cho việc phân tích vấn đề.

Một số kỹ thuật để định nghĩa lại vấn đề

Có rất nhiều cách để định nghĩa lại vấn đề một cách sáng tạo. Sau đây là 5 kỹ thuật khá hiệu quả:

1. Diễn tả lại: Diễn tả lại vấn đề dùng từ khác đi mà không mất ý nghĩa gốc.

Phát biểu ban đầu: Làm thế nào để hạn chế tắc đường?
Diễn tả lại: Làm sao để làm tình trạng tắc đường không gia tăng?

Thay đổi cách diễn đạt với từ ngữ khác đi tạo ra sự khác biệt về ý nghĩa và dẫn đến cách nhìn mới về vấn đề.

2. 180 độ: Lật ngược lại vấn đề

Phát biểu ban đầu: Làm thế nào để khuyến khích nhân viên tới tham gia buổi dã ngoại với công ty?
180 độ: Làm thế nào để làm nản chí (discourage) nhân viên trong việc tham gia dã ngoại?

Cách nhìn vấn đề từ quan điểm đối lập là một kỹ thuật rất hiệu quả, bởi lẽ nó thách thức các giả định của vấn đề và xác định trực tiếp nguyên nhân của vấn đề. Trong ví dụ trên, câu trả lời của cách đặt vấn đề ngược 180 độ có thể là buổi dã ngoại trùng với thời điểm nhân viên đi nhà thờ hay bận việc riêng gì quan trọng.

3. Mở rộng trọng tâm của vấn đề: Phát biểu lại vấn đề trong  khung cảnh rộng hơn.

Phát biểu ban đầu: Tôi có nên đổi việc không?
Mở rộng trọng tâm: Làm thế nào để tôi có được sự an toàn công việc (không bị đuổi việc)

Lưu ý rằng loại câu hỏi Có/Không đóng lại các suy nghĩ khác về việc tìm giải pháp cho vấn đề.

4. Đặt lại trọng tâm cho vấn đề: Táo bạo thay đổi trọng tâm.

Phát biểu ban đầu: Làm sao chúng ta có thể tăng sales?
Đặt lại trọng tâm: Làm sao chúng ta có thể giảm chi phí?

Đây là cách tiếp cận đòi hỏi nhiều suy nghĩ và sáng tạo nhất trong 5 kỹ thuật. Do đó nó là cách khó nhất nhưng hiệu quả nhất

5. Hỏi “Tại sao?”: Hỏi “Tại sao?” cho phát biểu vấn đề đầu tiên. Rồi tạo ra phát biểu cho vấn đề mới dựa trên câu trả lời của bạn. Rồi lại hỏi tiếp tại sao? Cứ tiếp tục như vậy cho tới khi vấn đề thật sự xuất hiện.

Phát biểu ban đầu: Làm thế nào để  chúng ta có thể đưa ra thị trường loại phần mềm (tự phát triển) này?

Tại sao(chúng ta sẽ bán được) ? Bởi vì các khách hàng nội tại (internal customers) của công ty ta  đang phải dùng loại phần mềm của các công ty khác. (đang có nhu cầu về loại phần mềm này từ trong chính công ty của ta)

Phát biểu lại: Làm thế nào để làm cho các khách hàng nội tại  không được dùng phần mềm của các công ty khác?

Tại sao? Bởi vì ta có thể  tạo ra quy định bắt buộc cho toàn tổ chức phải dùng phần mềm này.

Phát biểu lại: Làm thế nào ta (để ta có thể lý giải cho việc) tạo ra quy định bắt buộc cho toàn bộ phần mềm của tổ chức?

Tại sao? Bởi vì chúng ta cần mở rộng lượng khách hàng căn bản của chúng ta (customer base).

Phát biểu lại: Tại sao chúng ta có thể mở rộng lượng khác hàng căn bản (customer base) .

Tại sao? Bởi chúng ta cần lượng căn bản lớn hơn (larger base) để hiệu quả chi phí.

Phát biểu lại: Làm thế nào để chúng ta trở nên hiệu quả  về chi phí?

Tại sao? Bởi vì lợi nhuận của ta đang giảm đi.

Phát biểu lại: Làm sao ta có thể tăng lợi nhuận?

Một vấn đề chính đã xuất hiện: Làm sao để có được quy định bắt buộc toàn tổ chức dùng phần mềm tự làm.Tức là dùng phần mềm tự làm sẽ giúp tổ chức tiết kiệm chi phí do đó sẽ tăng lợi nhuận.

Comment: Đây là ví dụ về tư duy của một công ty dùng phần mềm tự phát triển, ví dụ như Microsoft dùng  WinMedia Player để chơi nhạc chứ không cần dùng phần mềm chơi nhạc của công ty khác ngoài thị trường. Công ty đó dùng luôn nhân viên của công ty làm những khách hàng đầu tiên.

Quan trọng của ngữ pháp: một bí quyết trong việc phát biểu lại vấn đề là diễn tả vấn đề đơn giản, tích cực và ở thể chủ động. Khoa học chứng mình rằng: đầu óc của con người hoạt động dễ dàng và nhanh hơn với những câu đơn giản, tích cực và ở thể chủ động hơn là những câu phức tạp, tiêu cực và ở thể bị động.

III. Kết luận

Qua bài viết này mình đã giới thiệu với các bạn một  số cách định nghĩa vấn đề đúng bằng cách dùng kỹ thuật tư duy.

Cách dùng kỹ thuật tư duy này sẽ bổ sung thêm cho quả tim tĩnh lặng. Với quả tim tĩnh lặng ta sẽ ít có các thiên vị và dễ nhìn nhận ra vấn đề rõ ràng ngay từ đầu. Tuy nhiên kỹ thuật tư duy giúp xử lý vấn đề một cách khoa học, phân tích được các vấn đề phức tạp và có thể mô hình hóa được với sự trợ giúp của máy tính.

Bài viết sưu tầm này dựa trên quyển sách “The Thinker’s Toolkit: 14 powerful techniques for problem solving” của chuyên gia phân tích tình báo CIA Morgan James.

Chúc các bạn một ngày vui,

Hiển.


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Đau đầu tìm giáo viên ngoại ngữ

Posted: 25 Dec 2010 04:32 PM PST

 

TT - Tìm đâu cho đủ nguồn giáo viên (GV) để đáp ứng yêu cầu của đề án ngoại ngữ quốc gia 2008-2020 trong khi các trường ĐH, CĐ vẫn chưa có mã ngành đào tạo GV tiếng Anh tiểu học?

 

Tìm kiếm giáo viên tiếng Anh đang là việc khiến nhiều trường tiểu học đau đầu. Trong ảnh: giờ học tiếng Anh của cô trò lớp 3/2 Trường tiểu học Lê Văn Sỹ, Q.Tân Bình, TP.HCM – Ảnh: NHƯ HÙNG

Rất nhiều ý kiến nghi ngại của đại diện các trường ĐH, CĐ, cán bộ quản lý, giảng viên tiếng Anh nhiều tỉnh thành cả nước đã được đưa ra tại hội thảo "Ngành đào tạo GV tiểu học với đề án ngoại ngữ quốc gia 2008-2020" do Trường ĐH Sư phạm TP.HCM tổ chức sáng 23-12.

Nói về khó khăn khi thực hiện đề án ngoại ngữ quốc gia, ThS Ngô Thị Nga, phó trưởng khoa ngoại ngữ Trường CĐ Sư phạm Bắc Ninh, cho rằng: "Khó khăn đầu tiên chúng ta gặp phải là lực lượng GV tiếng Anh cho tiểu học hiện tại không được đào tạo chuẩn về nghiệp vụ sư phạm tiểu học. Sắp tới tìm đâu ra nguồn GV giảng dạy tiếng Anh bậc này đang là một thách thức lớn với ngành giáo dục trên toàn quốc".

Điệp khúc yếu và thiếu

Cái yếu của lực lượng GV tiếng Anh được ThS Nguyễn Minh Giang, giảng viên khoa giáo dục tiểu học ĐH Sư phạm TP.HCM, nêu ra: tại hội thảo thí điểm giảng dạy tiếng Anh ở tiểu học, Bộ GD-ĐT đã thừa nhận chỉ có 28/148 GV được khảo sát đạt chuẩn để dạy thí điểm tiếng Anh lớp 3.

ThS Ngô Thị Nga dẫn thực tế: Trong những năm qua, GV tiếng Anh tiểu học của chúng ta đều được đào tạo từ các trường CĐ sư phạm, ĐH sư phạm ngoại ngữ hoặc các trường ĐH, CĐ có mã ngành tương đương ngành cử nhân tiếng Anh. Một bộ phận GV tiếng Anh không qua trường sư phạm. Những GV được học sư phạm cũng chỉ có chuyên môn giảng dạy trung học chứ không chuyên về tiểu học.

Trở ngại hàng đầu cho chủ trương dạy tiếng Anh bắt buộc ở bậc tiểu học chính là trình độ sư phạm, phương pháp, kỹ thuật dạy học ở bậc tiểu học. Nếu trở ngại này không được khắc phục, việc dạy tiếng Anh bắt buộc ở tiểu học sẽ chỉ là hình thức, không đem lại hiệu quả thiết thực.

Từ thực tế địa phương Hậu Giang, nơi đã có 20 trường tiểu học có dạy tiếng Anh, ông Bùi Đức Quang – đại diện Sở GD-ĐT Hậu Giang – nêu thực tế sau nhiều năm tuyển GV tiếng Anh từ các trường ĐH, CĐ, tìm nguồn GV từ các tỉnh lân cận, hiện tỉnh này có 120 GV biên chế, đến năm 2020 cần thêm 479 GV, tức gấp bốn lần số GV hiện nay.

Lại có một thực tế khác được nêu lên: hiện nhiều trường CĐ sư phạm địa phương cũng không còn đào tạo GV ngoại ngữ trình độ CĐ do thực tiễn địa phương không có nhu cầu tuyển dụng. Tức là nhiều tỉnh thành không đào tạo đội ngũ GV có thể dạy tiếng Anh.

Trong khi đó, đến thời điểm này, chưa có trường ĐH, CĐ nào đào tạo ngành sư phạm tiếng Anh tiểu học. Việc mở mã ngành đào tạo GV tiếng Anh tiểu học vẫn còn là những đề xuất từ các sở GD-ĐT và dự định của các trường ĐH, CĐ.

Không dễ tìm nguồn

Nêu giải pháp tạo nguồn GV tiếng Anh tiểu học cho đề án ngoại ngữ quốc gia, TS Nguyễn Ngọc Vũ, trưởng khoa tiếng Anh Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, đề xuất bốn mô hình đào tạo GV.

Thứ nhất là mô hình học năm năm có hai bằng "sư phạm tiểu học" và "CĐ sư phạm tiếng Anh" với chuẩn tiếng Anh đầu ra đạt 500 điểm TOEFL PBT. Thứ hai, mô hình đào tạo bổ sung, cấp chứng chỉ giảng dạy tiếng Anh tiểu học cho SV tốt nghiệp khoa giáo dục tiểu học. Thứ ba, cấp chứng chỉ giảng dạy tiếng Anh tiểu học cho SV đã tốt nghiệp ĐH hoặc CĐ chuyên ngành tiếng Anh. Tuy nhiên, sẽ rất ít SV khoa tiếng Anh theo hướng dạy tiểu học. Thứ tư là mô hình dạy GV tiếng Anh tiểu học tại khoa Anh ĐH Sư phạm TP.HCM.

Tuy vậy, theo TS Nguyễn Thị Ly Kha – trưởng khoa giáo dục tiểu học Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, việc tìm và tạo nguồn GV dạy tiếng Anh những năm trước mắt là điều không đơn giản. Cuộc khảo sát bỏ túi của TS Kha về nhu cầu và nguyện vọng của người học đối với ngành sư phạm tiếng Anh tiểu học cho thấy một kết quả hết sức đáng lo âu về nguồn tuyển ngành này.

Khảo sát với đối tượng là 50 SV sư phạm tiếng Anh tại Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, kết quả cho thấy: không có SV nào có hướng sẽ về trường tiểu học dạy tiếng Anh vì ngại vất vả, thu nhập thấp, cơ hội thăng tiến chuyên môn không bằng so với dạy bậc THPT. Trong số SV sư phạm tiếng Anh được hỏi về nguyện vọng liên ngành cũng không có SV nào chọn học thêm ngành giáo dục tiểu học.

Tất cả phụ huynh có con học sư phạm tiếng Anh đều có chung ý kiến "không hướng cho con đi dạy tiếng Anh tiểu học, ít ra cũng dạy bậc THCS".

Vài năm trở lại đây, ngành giáo dục tiểu học Trường ĐH Sư phạm TP.HCM thu hút khá đông người học văn bằng 2. Trong số này có đến 70% người có bằng giáo dục mầm non, nhưng không có ai tốt nghiệp ngành tiếng Anh hoặc sư phạm tiếng Anh có nguyện vọng học thêm giáo dục tiểu học. SV sư phạm tiếng Anh có nguyện vọng học văn bằng 2 cũng không chọn ngành giáo dục tiểu học.

Do vậy, tìm nguồn GV vừa có trình độ tiếng Anh vừa có chuyên môn sư phạm tiểu học, vừa yêu nghề là điều quá khó.

Ở góc nhìn của một đơn vị đào tạo, thạc sĩ Võ Thị Ngọc Trâm, khoa sư phạm tiểu học Trường ĐH Thủ Dầu Một, cho rằng việc xây dựng đội ngũ GV vừa dạy tiểu học vừa dạy tiếng Anh tiểu học rất cần thiết. Tuy nhiên, để làm được điều này, các cơ sở đào tạo phải có đủ giảng viên, cơ sở vật chất, phương tiện…

Đây là vấn đề nan giải với các trường, lại càng không dễ với các trường địa phương vốn có đội ngũ giảng viên còn mỏng.

PHÚC ĐIỀN

 

TS Lê Ngọc Điệp (trưởng phòng giáo dục tiểu học Sở GD-ĐT TP.HCM):

Đào tạo đã khó, giữ người còn khó hơn

Đào tạo GV tiếng Anh đã khó, giữ người còn khó hơn, đặc biệt là giữ người giỏi. Chúng ta cần những GV có trình độ 500, 600 điểm TOEFL. Giỏi như vậy, họ vào làm ở các công ty chứ vào trường dạy làm gì để phải dự giờ, kiểm tra… với thu nhập 50.000 đồng/tiết.

Muốn đề án thành công, chúng ta cần chính sách ưu đãi cho GV. Điều này, tiếc thay, đề án của bộ chưa đề cập. Theo tôi, thu nhập của GV tiếng Anh phải ít nhất gấp đôi hiện tại.


Filed under: Giáo dục Tagged: Giáo dục

Thống đốc Ngân hàng: Lạm phát cao không phải do quản lý tiền tệ

Posted: 25 Dec 2010 04:31 PM PST

Giải trình trước Ủy ban Kinh tế và Thường trực Quốc hội sáng nay, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu thừa nhận những căng thẳng về lãi suất thời gian qua đã ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống kinh tế. Tuy vậy, không ít diễn biến lại nằm ngoài tầm với của chính sách kinh tế.

Phiên điều trần do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức sáng nay (15/12) được dự kiến xoay quanh 2 chủ đề là lãi suất và lạm phát. Tuy nhiên, sự vắng mặt của đại diện Bộ Tài chính và Bộ trưởng Công Thương đã khiến cho nội dung thứ hai có phần lu mờ so với chủ đề lãi suất.

Ngay sau phát biểu khai mạc của Chủ tịch Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền và Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên, phiên điều trần được đi vào phần chính khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước bước lên trình bày báo cáo tóm tắt về điều hành chính sách tiền tệ và các giải pháp ổn định lãi suất.

Buổi điều trần tại Văn phòng Quốc hội sáng 25/12. Ảnh: Nhật Minh
Buổi điều trần tại Văn phòng Quốc hội sáng 25/12. Ảnh: Nhật Minh

Báo cáo dài 7 trang với rất nhiều số liệu được Thống đốc Nguyễn Văn Giàu kết luận bằng khẳng định: “Việc điều hành tiền tệ trong năm qua không trực tiếp gây ra lạm phát, nếu xét về các chỉ số về cung ứng tín dụng, phương tiện thanh toán”…

Tuy nhiên, người đứng đầu ngành ngân hàng cũng thừa nhận tình trạng lãi suất tăng cao đột biến, đặc biệt là trong giai đoạn 2 tháng cuối năm đã gây ra không ít bất ổn cho nền kinh tế: Các ngân hàng lao vào một cuộc đua huy động bằng những biện pháp không lành mạnh, trong khi doanh nghiệp lao đao vì phải vay vốn với lãi suất cao…

Trong số 6 nguyên nhân được Thống đốc nêu ra để lý giải cho tình trạng này, đáng chú ý có câu chuyện lạm phát. Theo ông, để đuổi theo mức lạm phát lên đến 11,75% (tính tới cuối tháng 12), không ít nhà băng đã phải nâng lãi suất huy động lên trên con số này để đạt được mức lãi suất thực dương.

Lý giải này của Thống đốc cũng được thành viên Ủy ban Kinh tế Trần Du Lịch chia sẻ. Theo vị đại biểu này thì tại Việt Nam, “lãi suất mà không thực dương thì vô phương huy động”. Tuy vậy, vấn đề được ông Lịch và nguyên Thống đốc Cao Sĩ Kiêm đặt ra trong phiên điều trần sáng nay là mức thực dương là bao nhiêu cho hợp lý.

“Tôi thấy năm suy thoái ngân hàng cũng có lãi. Năm nay lạm phát cao mà nhiều ngân hàng vẫn lãi tới 2.000 tỷ đồng. Trong khi doanh nghiệp thì khó khăn. Nhìn vậy “ngứa mắt” lắm”, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ khẳng khái.

Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Cao Sĩ Kiêm. Ảnh: Nhật Minh
Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Cao Sĩ Kiêm. Ảnh: Nhật Minh

Tuy vậy, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lợi nhuận của các ngân hàng trong thời gian qua phần lớn là do các hoạt động kinh doanh khác, chứ không đơn thuần từ huy động và cho vay truyền thống. Do vậy, nói các ngân hàng tăng lãi suất để kiếm lời có phần “hơi oan”.

“Trên thực tế, chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay bình quân của các ngân hàng hiện ở mức 2,5%, giảm nhiều so với những năm trước (trên dưới 4%). Chúng tôi tính toán rằng biên lãi suất này khoảng 2,2-2,5% thì mới đảm bảo an toàn cho hệ thống”, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu khẳng định.

Một vấn đề khác cũng được đại diện của Ngân hàng Nhà nước “thanh minh” trong phiên điều trần sáng nay là việc điều hành chính sách tiền tệ mà theo nhiều ý kiến, còn theo kiểu chạy theo thị trường, “giật cục” và “hay ra đòn gió”.

Thống đốc thừa nhận việc chính sách tiền tệ có những biến đổi nhất định theo điều kiện và tình hình thực tế. Tuy nhiên, điều này là hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế thế giới và trong nước có những biến động phức tạp trong thời năm qua. Các chính sách này cũng được nghiên cứu, bản bạc kỹ và thực hiện công bố thấu đáo trước khi thực hiện.

Riêng 2 “vụ tại nạn” về việc Ủy ban Giám sát tài chính công bố việc thực hiện lãi suất theo cơ chế thị trường và cú sốc về lãi suất của Techcombank, Thống đốc khẳng định đều nằm ngoài tầm kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước. Tuy vậy, việc khắc phục hậu quả cũng được ngân hàng trung ương triển khai ngay khi sự cố xảy ra.

Thống đốc Nguyễn Văn Giàu khẳng định đã điều hành tiền tệ đúng với trách nhiệm được giao. Ảnh: Nhật Minh
Thống đốc khẳng định đã điều hành tiền tệ đúng với trách nhiệm được giao. Ảnh: Nhật Minh

“Đơn cử như để xử lý hệ quả của cú sốc lãi suất mà Techcombank gây ra, Ngân hàng Nhà nước đã phải bơm ngay 15.000 tỷ đồng ra trong vòng 4 ngày sau đó. Chúng tôi cũng đã tiến hành cảnh cáo và kỷ luật Chủ tịch và Tổng giám đốc của ngân hàng này”.

Động thái này, cùng với việc cho nhập khẩu vàng, giải quyết thiếu hụt ngoại tệ… được Thống đốc khẳng định là ví dụ dễ thấy nhất của việc Ngân hàng Nhà nước “ra đòn thật chứ không phải đòn gió” để bình ổn thị trường tiền tệ.

Tuy nhiên, người đứng đầu ngành ngân hàng cũng thừa nhận trong quá trình điều hành của mình, chưa hóa giải được những yếu kém, bất cập trong nội bộ hệ thống các tổ chức tín dụng. Theo Thống đốc, việc các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất trong thời gian qua cũng có một phần nguyên nhân đến từ chênh lệch về tiềm lực tài chính giữa các ngân hàng, đặc biệt là các nhà băng nhỏ.

“Thời gian qua, cũng có ý kiến cho rằng cho phép các ngân hàng nhỏ huy động với lãi suất cao hơn. Tuy nhiên, nếu thực hiện như vậy thì các ngân hàng lớn chắc chắn sẽ không chịu. Vả lại, cạnh tranh thì phải công bằng”, Thống đốc chia sẻ.

Tuy vậy, đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng đang nghiên cứu các giải pháp để hỗ trợ các ngân hàng nhỏ. Trong đó, có thể xem xét việc hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng này khoảng 1% để nhà băng có thêm thanh khoản.

Phát biểu kết thúc phiên điều trần, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên đánh giá cao nỗ lực điều hành của Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn kinh tế, tài chính có nhiều diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, Thường vụ Quốc hội cũng yêu cầu Thống đốc chỉ đạo sát sao hơn nữa, phối hợp chặt với các cơ quan liên quan như Bộ Tài chính, Bộ Công Thương để điều hành tiền tệ, tài chính, đảm bảo mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế vĩ mô trong năm 2011.

Nhật Minh


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Việt-Mỹ đang nhắm đến ‘quan hệ chiến luợc’

Posted: 25 Dec 2010 04:31 PM PST

Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Lê Công Phụng
ĐS VN tại Hoa Kỳ muốn hai nước thiết lập "quan hệ đối tác chiến luợc".

Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Lê Công Phụng cho rằng hai nuớc Việt-Mỹ nên đặt mục tiêu thiết lập "quan hệ đối tác chiến luợc" trong những năm tới.

Ông Phụng gọi đây là "đỉnh cao hơn" của mối quan hệ.

"Nếu làm được, nó sẽ tạo ra một môi trường mới, không gian mới đưa quan hệ hai nước đi lên trong tương lai," Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ trả lời TTXVN trong cuộc phỏng vấn ngày 24/12/2010.

Ông Phụng nói thêm, Việt Nam đã chuyển lời mời tổng thống Barak Obama thăm Hà Nội trong năm 2011.

Về chuyện này, phía Mỹ đang "cân nhắc." Và ông nói: "Cũng không loại trừ khả năng lãnh đạo cấp cao hai nước sẽ đi thăm song phương trong năm 2011."

Việt Nam đang tổ chức họp Đại hội Đảng lần thứ XI. Khi đại hội bế mạc vào ngày 19/1, thế giới sẽ biết ban lãnh đạo mới của Việt Nam.

Như thuờng lệ, các nhân vật lãnh đạo mới này sẽ có nhiều chuyến thăm nước ngoài để giới thiệu và làm quen.

Hiếm khi nào Việt Nam đón Ngoại trưởng Mỹ tới hai lần trong một năm

Đại sứ Lê Công Phụng

Hai nuớc mà lãnh đạo Việt Nam quan tâm tiến hành đi thăm một cách sớm nhất là Trung Quốc và Mỹ.

Rồi đến khối Asean, Nhật Bản, Nam Hàn, Nga và EU.

Gặp nhau

Trong năm 2010 tuy lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Hoa Kỳ chưa thăm nhau một cách chính thức, họ đã gặp nhau tại nhiều diễn đàn quan trọng trên thế giới.

Đó là bên lề diễn đàn Liên Hiệp Quốc ở New York. Và tại Hội nghị Apec họp tại Yokohama, Nhật Bản.

Đại diện hai nuớc gặp nhau nhiều hơn ở cấp bộ truởng. Trong lĩnh vực ngoại giao và quốc phòng.

"Hai nước đã trao đổi các chuyến viếng thăm chính thức," ông Phụng nói.

"Hiếm khi nào Việt Nam đón Ngoại trưởng Mỹ tới hai lần trong một năm."

Về ý nghĩa của những lần lãnh đạo Việt-Mỹ gặp nhau, ông Phụng cho rằng chúng giúp "xác định bước đi của quan hệ song phương cho giai đoạn tới", ngoài chuyện "củng cố lòng tin."

Thương mại

Một trong các chủ đề Việt Nam đặt trọng tâm hiện giờ, theo ông Phụng là tìm cách "thúc đẩy các cuộc đàm phán, đối thoại hiện có."

Đó là Hiệp định hợp tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Và Hiệp định mậu dịch tự do song phương (FTA).

"Hai bên đều hiểu đây không phải là những vấn đề dễ dàng, nhưng cả hai bên đang quyết tâm thúc đẩy," ông Phụng nói.

Trong năm 2011, lãnh đạo Việt nam Hoa Kỳ sẽ có nhiều cơ hội gặp nhau tại các diễn đàn đa phuơng.

Đó là Hội nghị Apec họp tại Hawaii tháng 11. Và Hội nghị cấp cao Đông Á tại Indonesia.

"Việt Nam đã đặt vấn đề, và phía Mỹ cũng cân nhắc, về một chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Obama,

"Không loại trừ khả năng lãnh đạo cấp cao hai nước sẽ đi thăm song phương trong năm 2011," đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ nói.

Mỹ trở lại

Việc Việt Nam đảm nhận vai trò chủ tịch luân phiên khối Asean năm 2010 đã giúp nhiều cho quan hệ Việt-Mỹ.

Nó xảy ra đúng lúc Hoa Kỳ có chính sách quay trở lại khu vực.

Hiếm khi tầm nhìn chiến lược của hai nuớc lại song hành như năm 2010.

"…Vì lợi ích chiến lược của mình, Mỹ đánh giá rất cao vai trò chiến lược của Việt Nam ở khu vực,” ông Phụng nói.

Năm 2010 cũng là dịp hai nuớc kỷ niệm 15 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhà ngoại giao Việt Nam tỏ ý lạc quan về mối quan hệ phát triển nhiều mặt giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Từ thù nghịch, đối đầu, hai nuớc bắt tay nhau làm bạn. Đây là câu nói thuờng thấy của giới truyền thông khi miêu tả quan hệ đang đuợc cải thiện giữa hai kẻ cựu thù. Tuy vậy vẫn tồn tại một số "khác biệt", theo lời ông đại sứ.

Khác biệt

Phía Việt Nam đang "đấu tranh" để tránh bị Mỹ "áp đặt" trong một loạt các chủ đề.

Đó là "các tranh chấp thương mại, các áp đặt về thương mại của Mỹ, những khác biệt về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo."

Ông Phụng muốn các khác biệt này phải đuợc "xử lý" không để chúng ảnh huởng đến quan hệ song phuơng.


Filed under: Bang giao quốc tế Tagged: Bang giao quốc tế

No comments:

Post a Comment