Tuesday, December 7, 2010

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Mùa giáng sinh: Bài Thánh Ca Buồn – Đàm Vĩnh Hưng & Mỹ Tâm

Posted: 07 Dec 2010 01:08 PM PST

Họ nghĩ gì về tôi?

Posted: 07 Dec 2010 01:06 PM PST

Chào các bạn,
Nhiều người trong chúng ta dành cả ngày để lo lắng "họ nghĩ gì về mình". Ngồi nói chuyện thì, trước khi nói, lo lắng không biết là nói thế này thì họ nghĩ gì về mình. Trong khi nói thì cố làm cho mọi người cùng bàn biết là mình thông thái. Nói xong rồi, tối nằm ngủ cũng lo lắng không biết là người ta có phục mình không, hay còn người không phục, hay đa số nghĩ là mình nói phét…

Sự thật là, chẳng ai nghĩ nhiều về bạn cả. Mọi người đền bận rộn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về họ, cho nên chẳng ai dư thời giờ nghĩ nhiều về bạn.

Hơn nữa, đừng tốn mỗi giây phút trong đời quan tâm về việc người khác nghĩ gì về mình. Tiếng Anh gọi đó là self absorbed, tức là tư tưởng của mình chìm đắm vào chính mình, hay self centered, coi mình là trung tâm của vũ trụ. Ngoài tôi chẳng còn ai, chẳng còn gì, đáng quan tâm.

Điều thực sự đau lòng là toàn thể nhân loại chúng ta được giáo dục để xem mình là trung tâm của vũ trụ như thế: Học nhiều cho giỏi, diện vào cho đẹp, nổi tiếng để được nhiều người biết, học giỏi để mai mốt làm lớn, làm việc siêng năng để mai mốt giàu có… Có một mô hình giáo dục nào trên thế giới không nhồi sọ toàn thể trẻ em và người lớn vào "tôi, tôi, tôi, tôi, tôi…" như thế không, các bạn?

Cho nên nếu các bạn sống cả ngày chỉ lo làm sao để người khác phục mình, yêu mình, trọng mình… đó cũng không phải là chuyện lạ. Mọi chúng ta đều là nạn nhân của nền giáo dục "trọng tôi" của con người.

Chuyện lạ là, đại đa số loài người chẳng biết, và cũng chẳng muốn biết, cách thoát ra khỏi cái bẫy giáo dục "trọng tôi" đó. Thực sự là có những cách tư duy khác có rất ít "tôi", có thể giải phóng chúng ta ra khỏi ngục tù tư tưởng, tung cánh tự do trên khung trời vô tận của tâm trí. Quả thật là đáng thương cho ngững người không hề biết đến những tư duy giải phóng này!

Điều đầu tiên bạn có thể làm được là chỉ nên quan tâm đến suy nghĩ của thiên hạ khi bạn đang dự tính làm gì đó có thể có ảnh hưởng đến thiên hạ, làm xong rồi thì quên thiên hạ đi. Ví dụ: Khi viết một phản hồi hay một bài để post trên blog, thì để ‎ý đến từ ngữ một chút để thiên hạ không hiểu lầm bạn hay không cảm thấy bạn nhục mạ họ khi đọc bài. Viết cẩn thận xong rồi, post rồi, thì thiên hạ nghĩ gì đó là việc của họ. Khi nào có người hiểu lầm cần giải thích thêm thì hãy tính, từng ngồi đó cả ngày cả đêm thắc mắc không biết thiên hạ có phục tài viết của mình không.

Quy tắc sống là: Đừng quan tâm người khác nghĩ gì về bạn, hãy quan tâm bạn nghĩ gì về người khác. Đây là thần dược để mang tự do đến cho bạn, đưa bạn ra khỏi cái bẫy "trọng tôi" mà bạn đã bị kẹt từ hồi mới sinh ra.

Việc người khác nghĩ về bạn hoàn toàn không quan trọng. Bạn nghĩ gì về người khác mới quan trọng. Suy nghĩ của người khác là chuyện của người khác, bạn chẳng có quyền lực gì. Suy nghĩ của chính bạn về người khác là chuyện của bạn, và bạn có quyền lực 100% trên sự suy nghĩ của bạn.

Bạn nghĩ về người khác với quả tim dịu dàng, yêu ái, khâm phục, đồng cảm? Hay bạn nghĩ về người khác với ganh ghét, giận dữ, nghi ngờ, cạnh tranh, hơn thua?

Điều bạn nghĩ về người khác chẳng liên hệ gì đến tính chất thật của người khác cả, nhưng liên hệ 100% đến chính con người của bạn — người tiểu nhân nghĩ về người khác như là những tiểu nhân, kẻ quân tử nhìn người khác thấy toàn quân tử. Phật nhìn ai cũng thấy Phật, ma nhìn ai cũng thấy ma.

Cho nên, nếu các bạn muốn có được tự do thật sự, vượt thoát được ngục tù tư tưởng mình đã sống từ thời tấm bé, vì hãy bắt đầu quan tâm về tư duy của bạn về những người quanh bạn—đó là một tư duy lấy nhân ái và đồng cảm làm căn bản? hay tư duy đặt trên kiêu căng, cạnh tranh và phán đoán?

Và bạn có thể tự kiểm chứng điều này: Nếu bạn là loại người tối ngày lo lắng người khác nghĩ gì về bạn, thì cái nhìn của bạn về người khác thường rất nhiều phán đoán và nghi ki.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Vietnam Competitive Report 2010 – Báo Cáo Năng Lực Cạnh Tranh Việt Nam 2010

Posted: 07 Dec 2010 01:05 PM PST

 

Asia Competitiveness Institute of the NUS Lee Kuan Yew School of Public Policy Launches the Inaugural Vietnam Competitiveness Report
 
Hanoi, Vietnam, 30 November 2010 : The Asian Competitiveness Institute (ACI), one of the four research centres of the Lee Kuan Yew School of Public Policy, National University of Singapore launched the "Vietnam Competitiveness Report" today. The Report emerged from a meeting between Vietnam Prime Minister Nguyen Tan Dung and Professor Michael E Porter in late 2008. Prof Porter is the co-Chairperson of the ACI International Advisory Panel. 

The Report was officially commissioned by Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai in 2009. This report is a joint product between ACI and the Central Institute for Economic Management (CIEM) under Vietnam's Ministry of Planning and Investment and the Asia. Prof Porter and his team at the Institute for Strategy and Competitiveness of the Harvard Business School provided the conceptual framework and technical guidance.

The Report was launched by DPM Hai and Prof Porter at the National Convention Centre today with more than 400 members of the government, the private sector, and multilateral institutions in attendance.

Click here to download the English version [7.9MB] of  Vietnam Competitiveness Report.

Click here to download the  Vietnamese version.

About the Lee Kuan Yew School of Public Policy

The Lee Kuan Yew School of Public Policy is an autonomous graduate school of the National University of Singapore. Its mission is to help educate and train the next generation of Asian policy makers and leaders, with the objective of raising the standards of governance throughout the region, improving the lives of its people and, in so doing, contribute to the transformation of Asia. For more details on the LKY School, please visit www.lkyspp.nus.edu.sg.

For further information on this release, please contact:
Ms Do Hong Hanh
Country Manager, Vietnam, Asia Competitiveness Institute
Lee Kuan Yew School of Public Policy, National University of Singapore


Prof Kishore Mahbubani, Dean of the Lee Kuan Yew School of Public Policy:

"Vietnam has a great potential to emerge as one of the region's newest economic tigers. The key to success is to have a comprehensive reform programme. We hope that the Vietnam Competitiveness Report will support reform by providing a comprehensive and in-depth analysis of Vietnam's competitiveness in all its dimensions. The Asia Competitiveness Institute of the NUS Lee Kuan Yew School of Public Policy is proud to have worked closely with Prof Michael Porter, Dr Christian Ketels and CIEM in producing this report."


Vietnam Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai:

"Vietnam is facing an important milestone in redefining strategic directions and a growth model for the country over the next decade, with competitiveness and sustainability being put at the heart. The development and release of the Vietnam Competitiveness Report 2010 provides an important and useful input for the Vietnamese Government and business leaders in their decision making. This is the first ever national report which provides comprehensive assessments of Vietnam's competitiveness in different aspects and at different levels, from both microeconomic and macroeconomic optics. My hope is that this report will lay an important stepping stone for Vietnam to conduct regular national competitiveness assessments and to implement rigorous action initiatives and programs at both government and firm levels to upgrade the country's competitiveness and successfully achieve its ambitious development goals over the next decade."


Prof Michael E. Porter, Harvard Business School:

"The VCR provides a comprehensive analysis that can help Vietnamese leaders design a specific strategy that builds on foreign experience and addresses the specific situation Vietnam is in. Vietnam is well advised to carefully study this report and take action. An action agenda informed by the ideas outlined in this report will be an important step towards exploiting the significant potential for future growth that exists in Vietnam. More will need to follow: Vietnam needs to start a discussion about how it wants to position itself in the global economy. What are the specific activities, clusters, and business environment strengths that it wants to be known for? And it needs a more fundamental review of the institutional framework for economic policy making and implementation. I am proud to have been able to contribute to the VCR through conceptual guidance and my role in ACI's International Advisory Board. Our ambition with ACI is to provide government leaders with data and frameworks to make more informed policy decisions, whether or not they agree with every conclusion or recommendation. My hope is that this first Vietnam Competitiveness Report achieves this purpose and becomes a model for many other reports to follow."

Source: http://www.spp.nus.edu.sg/ACI_Launches_Vietnam_Competitiveness_Report.aspx


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

30 năm chinh phục Đồng Tháp Mười

Posted: 07 Dec 2010 01:04 PM PST

(ĐCN: Bài này là một chuỗi 4 bài phóng sự trên Tuổi Trẻ)

TT - Ấy là nơi mà các chuyên gia nước ngoài từng lắc đầu khẳng định: Không thể khai phá. Chỉ sau ba thập kỷ, người Việt đã chứng minh điều ngược lại: biến vùng "đất chết" thành vùng sản xuất lúa gạo, nông sản chủ lực của ĐBSCL.

Kỳ 1: Ký ức thời hoang dã

Trong ký ức của một người hiểu Đồng Tháp Mười đến chân tơ kẽ tóc như ông Hai Lương (xã Phương Thịnh, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp – từng làm phó ban sản xuất tỉnh Kiến Phong từ năm 1966), đây là một vùng đất vô cùng khắc nghiệt. Nói là vùng "đất chết" cũng không sai.

Giữa mênh mông đồng hoang người dân nghĩ ra cách lấy lúa trời làm lương thực- Ảnh tư liệu

Ba chìm, bảy nổi… đồng hoang

Ông Hai Lương nhớ lại: "Hồi xưa ở đây hoang sơ lắm, dân chỉ sống rải rác ven rìa rừng. Suốt sáu tháng nước nổi cả vùng ngập chìm trong biển nước mênh mông, nhiều nơi ngập sâu tới 3-4m. Còn mùa khô hết sức khắc nghiệt, nắng nóng nung người, đất dậy phèn đỏ quạch, nước ngọt không có mà uống". Đã vậy đây là vùng tranh chấp ác liệt, giặc oanh kích tự do ngày đêm. Vô số đạn bom, chất hóa học hủy diệt ném xuống khiến Đồng Tháp Mười trở thành vùng đất chết.

Trong những năm tháng khốc liệt đó chỉ có dân nghèo vì kế mưu sinh hay có quan hệ với cách mạng mới dám vô Đồng Tháp Mười đánh bắt cá, rắn, rùa. Để có lương thực phục vụ chiến đấu, ban sản xuất của ông Hai Lương vận động và tổ chức cho bà con khai mở trồng lúa mùa trên những gò đất cao. Hằng năm khi mùa mưa đến thì dùng sức trâu, sức người cày ải phơi đất cho bớt phèn rồi mới gieo sạ.

Xuống giống xong ai nấy đều quay về nhà chứ không ở lại. Loại lúa này có đặc điểm nước dâng cao tới đâu thì đọt luôn ngoi lên khỏi mặt nước nên khi lũ về chẳng cần chăm sóc, đến khoảng tháng 11 lũ rút cạn cũng là lúc lúa chín tiến hành thu hoạch. "Tuy nhiên lúc đó đất còn nhiễm phèn nặng nên lúa thất lắm, năng suất chỉ 700kg/ha trở lại. Có năm lũ lớn bị sóng to, nước chụp mất trắng, có lúc chưa kịp gặt thì bị lửa cháy lan thiêu rụi. Dân đói mà mình cũng đói" – ông Hai Lương nhớ lại.

Những năm đầu sau ngày đất nước thống nhất người dân lần lượt trở về chốn cũ sinh sống. Đồng Tháp Mười lại phải đùm bọc thêm 80.000 kiều bào từ Campuchia trở về nước với hai bàn tay trắng. Trung ương phải chi viện thêm 8.000 tấn lương thực, đồng thời triển khai kế hoạch khai mở đất hoang để canh tác nhưng rồi dân vẫn đói. Trận lũ lịch sử năm 1978 đã nhận chìm 100.000ha lúa, sau đó liên tiếp gặp hạn hán, dịch hại tràn lan. Dân bám trụ ở Đồng Tháp Mười lại tiếp tục đói khổ!

Trước tình trạng dân thiếu ăn, đói khổ kéo dài, tỉnh Đồng Tháp đẩy mạnh công tác khai hoang và điều động hàng chục ngàn người đi xây dựng các vùng kinh tế mới; đồng thời thành lập bốn nông trường Gáo Đôi, Cô Đông, Động Cát, Láng Biển. Quyết tâm của tỉnh là xóa hoang hóa vào năm 1980 với chỉ tiêu đạt 1 triệu tấn lương thực.

Bà Nguyễn Thị Tím, vợ ông Hai Lương, kể rằng mấy vụ đầu khi cây lúa vừa mọc quá gang tay thì gặp mưa già đất dậy phèn chết sạch, phải lấy lúa dự trữ dành cho những tháng giáp hạt gieo sạ lại. Bà Tím bùi ngùi: "Có năm lúa trong nhà không còn một hột mà cây lúa vẫn không mọc nổi. Lắm khi lúa chín chưa kịp mừng thì chuột cắn nát, nhìn đám ruộng tan hoang ai nấy chỉ biết ôm mặt khóc ròng". Đất phèn, thiếu nước ngọt, lũ lụt và dịch hại hằng năm đã khiến rất nhiều hộ đi mở đất đành phải buông tay bỏ đất, bỏ ruộng trở về trong đói khổ dù họ đã rất nỗ lực.

Những cuộc chinh phục thất bại

Đồng Tháp Mười là vùng đất trũng thấp nằm giữa hạ lưu sông Mekong, phía bắc giáp Campuchia, tây nam giáp sông Tiền, phía đông và đông bắc giáp sông Vàm Cỏ Đông. Diện tích tự nhiên 696.000ha, chiếm 17,72% diện tích tự nhiên của ĐBSCL. Đồng Tháp Mười được xác định bao gồm 15 huyện, một thị xã và bảy xã thuộc ba tỉnh Long An (299.000ha), Đồng Tháp (239.000ha), Tiền Giang (92.500ha).

Mãi đến năm 1990 vùng đất Đồng Tháp Mười khu vực giáp biên giới Long An – Campuchia mới có nhiều người vào khai phá. Mặc dù sự việc đã xảy ra 20 năm trước, nhưng bây giờ khi nhắc tới chuyện khai hoang ông Nguyễn Cự (79 tuổi, ở xã Đức Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An) vẫn còn bị ám ảnh.

Ông kể: "Năm 1990 tôi cùng nhiều bà con ở xã Đức Tân xách túi đệm đựng gạo, vác cuốc lên huyện biên giới Tân Hưng (Long An) khai hoang, lập nghiệp. Cố gắng bám trụ suốt năm năm trời đất vẫn trơ ra không trồng cây gì được phải ra về tay trắng".

Ông Cự nói vùng đất Tân Hưng, Vĩnh Hưng ngày ấy rất hoang sơ, cỏ mọc cao khỏi đầu người. Đất đai bị nhiễm phèn nặng chỉ có cỏ năn, cỏ lác và tràm gió sống nổi. Đồng Tháp Mười bạt ngàn nhưng không có đường đi, mùa khô nắng cháy da mà không có nước ngọt uống. Còn rắn hổ, muỗi, đỉa thì nhiều vô kể. Đào kênh dẫn nước ngọt, đốt cỏ, vỡ đất nhưng một năm, hai năm rồi ba năm đất đai vẫn xám xịt. Trồng lúa, lúa chết; bầu, mướp cũng không sống được. Thế rồi nhiều người lặng lẽ rời bỏ mảnh đất khắc nghiệt này trở về quê, trong đó có ông Cự.

Chỉ tay ra cánh đồng bạt ngàn sau nhà, bà Trương Thị Ba Thu ở xã Hưng Điền B, huyện Tân Hưng nói đây cũng là quê hương của bà. Khoảng năm 1976 vùng đất rộng lớn này chỉ có vài ba hộ gia đình sống bằng nghề chài lưới bắt cá chứ không trồng lúa được. Người nào chấp nhận ở đây thì phải sống chung với rắn, muỗi và đỉa. Ai nuôi heo, nuôi gà cũng đều phải giăng mùng ban đêm, nếu không sẽ bị rắn "xơi tái".

Sáng ra mở mùng cho heo, gà bà Thu thường thấy hai ba con rắn hổ đất đen thui cuộn tròn trên nóc mùng. "Ban đêm tuyệt đối không ai dám ra khỏi nhà. Mùa nước nổi phải giăng mùng cho kỹ để rắn không thể bò vô ngủ chung. Vậy mà nhiều lúc vợ chồng tôi ngủ quên lăn ra cạnh giường đè lên mình con rắn hổ, nó giật mình ngóc đầu dậy phùng mang thở khì khì làm hai vợ chồng sợ xanh mặt. Còn đỉa dưới kênh nhiều vô kể. Đặt chân xuống kênh vài phút là có hàng chục con đỉa đeo hút máu" – bà Thu kể.

Rồi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, rất nhiều người dân ở các huyện biên giới Long An phải bỏ xứ đi lánh nạn. Trận lụt khủng khiếp năm 1978 cuốn trôi sạch sành sanh lúa thóc của người dân làm mọi người lâm vào cảnh đói khổ. Có lẽ vì thế mà khi tình hình biên giới yên ổn trở lại thì nhiều người không trở về nữa. Họ lo ngại không thể chinh phục được vùng đất bí ẩn này.

VÂN TRƯỜNG – ĐỨC VỊNH

Kỳ 2:  Hồi sinh vùng "đất chết"

TT – Tiến sĩ Melforw (chuyên gia về đất phèn của Hà Lan) từng cảnh báo: "Muốn xử lý 1 ha đất phèn phải tốn cả triệu USD". Hai giáo sư địa chất Liên Xô vào Nông trường Láng Biển lấy mẫu đất cùng cỏ năn, cỏ lác đem về nước phân tích rồi kết luận: "Đồng Tháp Mười không thể trồng lúa!".

Quang cảnh đào kênh Trung Ương rửa phèn cho Đồng Tháp Mười – Ảnh tư liệu

Chọn lựa sống còn…

Dấu ấn Võ Văn Kiệt 

TS Nguyễn Văn Đúng, chủ tịch Liên hiệp Các hội khoa học & kỹ thuật tỉnh Đồng Tháp, nói: "Người dân Đồng Tháp Mười coi cố thủ tướng Võ Văn Kiệt là một kiến trúc sư, cũng là vị tổng chỉ huy tài ba trong công cuộc khai phá Đồng Tháp Mười những ngày đầu".

Tại hội nghị sơ kết 10 năm tiến công khai phá vùng Đồng Tháp Mười năm 1990, phát biểu trước hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài nước, ông Võ Văn Kiệt nói: "Công cuộc tiến công khai hoang, khai thác Đồng Tháp Mười thật sự là một cuộc cách mạng vô cùng quan trọng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở VN".

Cuối những năm 1980, ông Võ Văn Kiệt, lúc ấy là phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tổ chức cuộc họp với lãnh đạo ba tỉnh để bàn về biện pháp khai thác có hiệu quả vùng đất này. Trước nhiều ý kiến khác nhau ông kết luận: "Chúng ta phải làm, nếu có mất thì chỉ mất một phần của ba tỉnh, nếu thành công thì có lợi cho cả nước".

Năm 1976 ông Nguyễn Công Bình (Sáu Bình), phó bí thư tỉnh ủy – chủ tịch UBND tỉnh, ký ban hành chỉ thị đào kênh 500 tại huyện Tân Phước bây giờ để mở màn chiến dịch khai phá Đồng Tháp Mười. Ông Sáu Bình nhớ lại: Sau giải phóng, cuộc sống người dân rất khó khăn. Đồng Tháp Mười mênh mông mà không có ai đến ở. Đất bị nhiễm phèn, phải rửa phèn thì mới trồng cây, trồng lúa được. Vì vậy phải đào nhiều kênh dẫn nước vào để rửa phèn.

Năm 1977 tỉnh vận động hàng ngàn thanh niên xung phong, thanh niên, phụ nữ, bộ đội, công an vào Đồng Tháp Mười đào kênh 500. Kênh này bắt đầu từ xã Mỹ Phước Tây (huyện Cai Lậy) kéo dài đến xã Phú Mỹ (huyện Tân Phước) dài gần 20km. Đích thân ông Sáu Bình và phó chủ tịch Nguyễn Công Bằng trực tiếp chỉ huy việc đào kênh 500. Ông kể: "Hồi đó toàn đào bằng tay rất vất vả. Anh chị em tham gia đào kênh toàn ăn cơm với muối hoặc nước mắm, rất ít khi được ăn thịt cá. Ba tháng sau con kênh này đào xong. Tôi đứng trên cao nhìn thấy dòng nước son cuồn cuộn đổ về Đồng Tháp Mười lòng lâng lâng như ngày giải phóng. Những anh chị em đào kênh thì ôm nhau khóc nức nở vì quá đỗi hạnh phúc".

Đào kênh xong, tỉnh thành lập Nông trường Tân Lập, Nguyễn Văn Phùng rồi đưa dân các huyện về khai hoang. Biết bao nhiêu công sức bỏ ra phát cỏ, đào gốc tràm, vỡ đất nhưng trồng chuối, chuối chết; trồng lúa, lúa chẳng sống nổi. Ông Sáu Bình bàn với tỉnh ủy quyết định đào tiếp kênh Trương Văn Sanh nằm song song và cách kênh 500 khoảng 5km. Hàng ngàn người tiếp tục được huy động đào đất xẻ kênh. Phải mất một năm ròng. Thấy anh chị em cực khổ, ông Sáu Bình chỉ đạo thường xuyên tổ chức biểu diễn văn nghệ ngay trên bờ kênh để "tiếp sức" cho mọi người quên đi mệt nhọc.

Từ hai con kênh chính, tỉnh tiếp tục cho đào nhiều kênh ngang dọc để đưa nước ngọt vào rửa phèn. Đến năm 2010 khu vực Đồng Tháp Mười của Tiền Giang đã có hơn 600km kênh được đào phục vụ công cuộc khai hoang. Bây giờ nơi này đã trở thành vùng sản xuất lúa ba vụ với 5.300ha, vùng trồng khóm phục vụ chế biến xuất khẩu với hơn 12.000ha.

Con kênh quyết định

Đó là tuyến kênh Hồng Ngự – Vĩnh Hưng dài 45km xuyên qua Đồng Tháp Mười, nằm ở khu vực gần biên giới Campuchia của hai tỉnh Đồng Tháp và Long An. Trong đó đoạn qua địa bàn tỉnh Đồng Tháp dài 24km, còn lại là ở tỉnh Long An. Đây được xem là con kênh dài nhất, lớn nhất được con người đào thủ công từ năm 1977. Nhiều lão nông kể lại con kênh này do trung ương chỉ đạo đào để cải tạo Đồng Tháp Mười nên sau này người dân gọi đó là "kênh Trung Ương".

Ông Nguyễn Văn Bé ở ấp 2, xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh (Đồng Tháp) là một trong những người tham gia đào kênh Trung Ương những năm 1977-1978. Ông kể: công trình được phân thành từng đoạn giao cho từng nhóm, từng tốp đào và khiêng đất đổ lên bờ. Hàng ngàn người che lều bạt tạm trú mưa, tránh nắng. Do thiếu nước ngọt nên anh chị em thay phiên nhau tốp thì đào kênh, tốp kia lấy nước xa cả chục cây số về uống và nấu cơm. Mùa mưa đường sá lầy lội không đi được, họ nảy ra sáng kiến lấy tấm nilông căng ra hứng nước mưa để dành. Có khi thiếu nước nghiêm trọng, cả tuần không ai được tắm nước ngọt. Cơ cực trăm bề nhưng anh em làm việc khí thế lắm.

Tuy nhiên, đến đầu năm 1980 phần lớn các tuyến kênh đào chưa hoàn thành nên chưa thể đưa nước ngọt về. Ông Nguyễn Văn Lương (Hai Lương), phó Ban nghiên cứu khai thác Đồng Tháp Mười lúc đó, nhớ lại: "Khi đào kênh nước phèn vàng sẫm trải dài trên mặt đất, còn dưới kênh đọng lại đặc quánh. Cứ mỗi đầu mùa mưa phèn đổ dồn về một số tuyến kênh trung tâm, có nơi kéo dài hàng chục cây số khiến cá chết hàng loạt, ngay cả người dân cũng phải đi nơi khác tìm nước ngọt để sinh sống. Nhiều ý kiến đặt ra là chúng ta làm thủy lợi hay… thủy hại? Có nên tiếp tục đào kênh nữa hay không?

Năm 1983, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có quyết định về việc điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL. Đây là chương trình trọng điểm cấp Nhà nước do GS-TS Nguyễn Ngọc Trân, phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học trung ương, làm chủ nhiệm đề tài. Phần điều tra nghiên cứu về Đồng Tháp Mười do TS Hồ Chín chủ trì. Có thể nói bắt đầu từ thời điểm này Chính phủ chính thức tập trung nghiên cứu, đầu tư khai hoang Đồng Tháp Mười. Ông Võ Văn Kiệt thường xuyên về đây cùng các nhà khoa học khảo sát và có những chỉ đạo sát sao việc khai hoang Đồng Tháp Mười. Năm 1984 kênh Trung Ương được đào xong, dẫn nguồn nước ngọt phù sa từ sông Tiền xuyên qua Đồng Tháp Mười về tận sông Vàm Cỏ Tây để tăng tốc rửa phèn, cải tạo đất. Nước ngọt dẫn tới đâu, người dân tụ họp về hai bên bờ kênh cất nhà, khai hoang, lập nghiệp tới đó.

Một số tuyến kênh khác được đào những năm trước và thời điểm này cũng bắt đầu phát huy tác dụng tháo chua rửa phèn. Biện pháp giải quyết căn cứ tình trạng đất nhiễm phèn bằng cách đào kênh, xẻ mương được mọi người đồng tình, công nhận. Phong trào làm thủy lợi dẫn nước ngọt lan rộng ở khắp nơi trong vùng Đồng Tháp Mười. Để dân đến và bám trụ khai hoang, các địa phương cũng chú ý đầu tư hạ tầng, giao thông, kỹ thuật sản xuất mới. Nhờ vậy, từ một vùng "đất chết" ngập úng bạt ngàn lau sậy năm nào đã trồng được 312.587ha lúa vào năm 1987, gần 700.000 ha vào 1996. Năng suất lúa từ 1-2 tấn/ha tăng lên 3-7 tấn/năm tùy vùng. Theo giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Long An Lê Minh Đức, vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh hằng năm sản xuất tới 1,3 triệu tấn lúa, trong khi toàn tỉnh chỉ có 2,3 triệu tấn. Đồng Tháp Mười đã trở thành vùng sản xuất lúa, khóm, tràm, bạch đàn… chủ lực của ba tỉnh Tiền Giang, Long An và Đồng Tháp.

VÂN TRƯỜNG – ĐỨC VỊNH

Kỳ 3:  Chuyện người khai phá

TT – Vượt hơn 100km đường dằn xóc chúng tôi mới tới nhà ông Nguyễn Văn Thành ở ấp Kinh Cũ, xã Hưng Điền B, huyện Tân Hưng (Long An). Đây là một trong những xã xa nhất của tỉnh Long An, nằm ở khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia.

Ông Nguyễn Văn Thành đang làm đất chuẩn bị xuống giống cho mùa vụ mới  – Ảnh: Vân Trường

>> Kỳ 1: Ký ức thời hoang dã
>> Kỳ 2: Hồi sinh vùng "đất chết"

Giữ đất

Ở tuốt vùng xa này nhưng nhà ông xài tivi màn hình tinh thể lỏng với dịch vụ truyền hình theo yêu cầu My TV của VNPT, chứ không phải sử dụng ăngten trời bình thường như những gia đình khác. Quanh nhà là bốn chiếc máy cày, ba máy gặt đập liên hợp, cả chục máy bơm nước và một lò sấy lúa công suất 10 tấn/ngày.

Hỏi có bao nhiêu đất, ông Thành cười hiền từ: "Có 60 ha thôi chú ơi. Ở đây có mấy người làm cả trăm hecta nữa kìa. Còn số người làm 20-30ha thì đếm không xuể đâu".

Ông Thành leo lên chiếc máy cày nổ máy rồi nhấn ga chạy ra cánh đồng đầy nước sau nhà. Ông bảo đang làm đất gấp để chuẩn bị xuống giống vụ đông xuân cho kịp lịch thời vụ. Giờ ông làm ruộng bằng máy hết, chỉ trừ lúc gieo sạ mà thôi.

Trên chiếc máy cày, ông Thành hồi tưởng chuyện khai hoang vùng đất này hơn 30 năm trước. Quê ở huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp), nhưng năm 1976 ông Thành đã có mặt tại nơi này để lập nghiệp. Khi đó đất đai ở đây bạt ngàn nhưng chỉ toàn cỏ dại, rắn rùa, muỗi mòng. Vợ chồng ông kéo dây đo 100m bề ngang mặt kênh và bề sâu 1.000m ở khu đất gần nhà để đốt cỏ khai hoang.

Sau nhiều tháng miệt mài làm sạch cỏ, ông đem lúa giống rải xuống nhưng… lúa chết sạch, ông phải đào kênh dẫn nước vào để súc rửa phèn! Cực nhọc mấy năm thì lúa sống được nhưng không xanh tốt như bây giờ. Những vụ nào may mắn lắm thì kiếm được chừng 100 giạ/ha (2 tấn), nhưng chuyện mất mùa xảy ra thường xuyên hơn.

Năm 1978-1979 xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam. Pol Pot đưa quân tràn sang huyện Tân Hưng giết chóc, đốt phá nhà cửa buộc người dân phải bỏ xứ lánh nạn. Ông Thành tham gia bộ đội bám trụ chiến đấu và cuối cùng cũng đẩy lùi quân Pol Pot về bên kia biên giới.

Do đất đai nhiễm phèn nặng và tình hình không yên ổn nên rất nhiều người ra đi nhưng ông vẫm bám trụ. Ông tâm sự: "Vợ chồng tôi đã bỏ công sức và cả tính mạng để khai hoang nên bằng mọi giá phải ở lại để chờ ngày hái quả ngọt".

Năm 1980 ông đưa ruộng đất vô hợp tác xã và được chia lại chỉ 2,1 ha. Đó cũng là diện tích đất mà gia đình ông sở hữu khi hợp tác xã giải tán năm 1987. Sau nhiều năm cải tạo, ruộng lúa của ông cho năng suất 4-5 tấn, rồi 6-7 tấn/ha. Ngoài ra ông còn sắm máy bơm nước, cày bừa thuê để tích lũy mua thêm mỗi năm 1-2 ha đất.

Đến nay ông Thành có được 60 ha ở nhiều xã trong huyện Tân Hưng. Hỏi giá trị đất ông nhẩm tính: "Trung bình đất ở đây 250 triệu đồng/ha, nên chỉ riêng đất của tôi có giá 15 tỉ đồng. Ngoài ra máy móc sản xuất nông nghiệp cũng cỡ vài tỉ nữa".

Bắt sỏi đá phải thành cơm

Ở gần đường biên giới Việt Nam – Campuchia thuộc xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng (Long An), ông Nguyễn Văn Phi ở ấp Cả Trốt là người khá nổi tiếng. Câu chuyện chinh phục cánh đồng hoang Đồng Tháp Mười để làm giàu của ông Phi rất đáng nể. Năm 1991 vợ chồng ông Phi dắt theo người con trai vào vùng Khánh Hưng để vỡ đất khai hoang.

Ông kể: "Lúc đó vùng này không có bóng người. Đất đai xám xịt vì nhiễm phèn. Cỏ cao quá đầu người, đụng chỗ nào cũng thấy rắn hổ to bằng cổ tay con nít, thấy mà phát ngán". Vợ chồng ông kiên trì nhổ từng cây tràm, đám cỏ, vỡ từng tấc đất để trồng lúa.

Rắn hổ quá nhiều nên vợ ông cầm cây đập vào cỏ tạo tiếng động để rắn bò đi nơi khác, còn ông Phi phát cỏ, đào đất. "Vậy mà nhiều lúc quơ cái phảng qua một cái nhìn lại thấy rắn đứt hai ba khúc lẫn với cỏ" – ông Phi nhớ lại. Phải mất năm năm ròng rã hai vợ chồng ông mới khai phá xong được khoảng 60% trong số 11 ha đất Nhà nước giao.

Đất đai bằng phẳng rồi ông đem lúa giống rải xuống, chỗ thì lúa sống được, chỗ chết trụi. Năm nào may mắn lắm thì làm được 2 vụ/năm, năng suất 1-2 tấn/ha. Bỏ biết bao nhiêu công sức, vốn liếng nhưng lúa thu hoạch bán không bao nhiêu làm vợ chồng ông nản chí, nhiều lần có ý định trở về quê.

Những lúc như thế ông động viên vợ con bằng câu nói của ông cha ngày trước: "Có công mài sắt có ngày nên kim". Rồi họ lại ra đồng cặm cụi đào kênh dẫn nước ngọt xả phèn cho đất. Rồi những năm sau năng suất lúa tăng lên 4-5 tấn/ha, có khi lên tới 7-10 tấn/ha.

Có tiền, ông mua thêm đất của những người bỏ của chạy lấy người vì không chịu nổi vùng đất khắc nghiệt này. Đến năm 2010 ông Phi đã sở hữu 40ha đất ở xã Khánh Hưng, có máy gặt đập liên hợp, máy cày.

Tổng giá trị tài sản của gia đình ông bây giờ gần chục tỉ đồng. Hiện vợ chồng ông tất bật chăm sóc lúa đông xuân xuống giống được hơn một tháng. "Vụ này hi vọng sẽ lời ít nhất 10-15 triệu đồng/ha" – ông Phi lạc quan.

Không thể chỉ thuần nông 

"Sau hơn 30 năm miệt mài vỡ đất, con người đã chinh phục thành công vùng đất nhiễm phèn Đồng Tháp Mười. Thế mạnh hiện nay của khu vực này là đất đai phì nhiêu, nước ngọt dồi dào, người dân có kinh nghiệm sản xuất.

Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần hoạt động về nông nghiệp thì người dân sẽ rất khó làm giàu. Diện tích canh tác ở Đồng Tháp Mười không thể mở rộng thêm, năng suất lao động cũng có giới hạn.

Trong khi sản xuất nông nghiệp vốn lệ thuộc thiên nhiên, chịu nhiều yếu tố rủi ro và ngày càng khó khăn hơn, nhất là khi phải đối mặt với tình trạng biến đổi khí hậu. Cần phải công nghiệp hóa trên cơ sở nông nghiệp, đầu tư khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp để làm cơ sở cho tiến trình công nghiệp hóa nông thôn.

Trong phát triển công nghiệp, nên ưu tiên những ngành sử dụng nguyên liệu từ nông nghiệp theo hướng làm tăng giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp (như sản xuất giấy từ gỗ tràm, đay…)".

Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang (nguyên giám đốc Ty Nông nghiệp, nguyên giám đốc Sở KH-CN&MT Đồng Tháp)

VÂN TRƯỜNG

Kỳ cuối: Thách thức của tương lai

TT – Dưới con mắt một nhà khoa học cả đời gắn với cây lúa, theo GS.TS Võ Tòng Xuân, "quá trình khai phá Đồng Tháp Mười có một sự phối hợp, biết lắng nghe nhau của nhà quản lý và nông dân, nhà khoa học một cách tuyệt vời".

Đó là nhà quản lý biết lắng nghe và vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn từ nông dân về cách ém phèn ở Đồng Tháp Mười. Còn nông dân thì vừa thực hiện tốt chủ trương của Nhà nước, vừa biết áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất.

Quang cảnh một buổi diễn văn nghệ phục vụ công trường đào kênh khai hoang Đồng Tháp Mười của thanh niên Tiền Giang năm 1978 – Ảnh tư liệu

Ý chí chinh phục đồng hoang

Nói về thành công trong việc chinh phục Đồng Tháp Mười, Chủ tịch UBND tỉnh Long An Dương Quốc Xuân cho rằng nếu không có quyết tâm của lãnh đạo từ tỉnh đến trung ương, không có tinh thần và ý chí vượt khó của con người thì không thể có Đồng Tháp Mười xanh tươi, màu mỡ như hôm nay.

Năm 1978, ông Dương Quốc Xuân là bí thư Đoàn huyện Bến Thủ (nay là hai huyện Bến Lức và Thủ Thừa, tỉnh Long An). Khi tỉnh ủy – UBND tỉnh quyết định khai hoang, chinh phục Đồng Tháp Mười, ông Xuân đã phát động phong trào "Xung kích tiến về Đồng Tháp Mười". Hàng ngàn đoàn viên thanh niên từ biệt gia đình vác cuốc cùng ông Xuân thẳng tiến về các huyện Mộc Hóa, Tân Hưng, Vĩnh Hưng đào kênh, đắp đường.

Ông Xuân nhớ lại: "Phong trào thanh niên lúc đó sôi nổi lắm. Sau chiến thắng 30-4-1975, dân mình tuyệt đối tin Đảng. Chính vì vậy, khi Đảng quyết định khai phá Đồng Tháp Mười, ai ai cũng tình nguyện tham gia dù biết vào đó sẽ rất gian khổ và nguy hiểm". Suốt năm năm ròng, ông Xuân và hơn 5.000 lượt đoàn viên thanh niên huyện Bến Thủ đã đào rất nhiều kênh, mở rất nhiều con đường mới ngang dọc trên vùng đất vốn không có dấu chân người.

Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang Nguyễn Công Bình cũng cho rằng quyết định đúng của Đảng là một phần trong cuộc chinh phục Đồng Tháp Mười. Yếu tố quan trọng nhất chính là ý chí của người Việt. Ông giải thích: "Tinh thần tình nguyện xông pha của thanh niên, phụ nữ ngày ấy đáng nể lắm. Họ không hề tính toán thiệt hơn, không than thở khi phải làm việc nặng nhọc trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thiếu ăn, thiếu nước ngọt để uống. Nhờ vậy mà con kênh 500 ở Tân Phước dài gần 20km họ chỉ đào có ba tháng là xong".

Phát huy tinh thần ấy, năm sau (1978) tỉnh tiếp tục vận động tuổi trẻ tham gia đào kênh Trương Văn Sanh rộng hơn, dài hơn. Hàng chục ngàn người lại lên đường vào "cánh đồng hoang" che lều bạt sống tạm bợ và làm việc ròng rã một năm trời để đào con kênh dẫn nước ngọt rửa phèn cho cả vùng.

Ông Nguyễn Đắc Hiền – nguyên phó bí thư tỉnh ủy, hiện là chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Đồng Tháp – cũng cho rằng công lao đó trước hết là của nông dân. Ông nói thêm: "Vì họ tin Đảng, chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ để biến chốn hoang hóa thành vùng đất trù phú. Không có lực lượng này cùng kinh nghiệm và sự cần cù, sáng tạo thì chủ trương, nghị quyết cũng nằm trên giấy thôi".

Thách thức và cơ hội

Tại lễ tổng kết 30 năm khai phá Đồng Tháp Mười tổ chức ngày 1-12 vừa qua tại Đồng Tháp, GS.TS Võ Tòng Xuân băn khoăn: đời sống một bộ phận nông dân vẫn còn khó khăn. Vấn đề đặt ra tới đây là Đồng Tháp Mười sẽ đi lên bằng mô hình nào hay cứ dựa mãi vào cây lúa? Như vậy liệu người dân có thể giàu lên được không? Rồi ông kiến nghị: "Cơ cấu kinh tế hiện nay ở Đồng Tháp Mười trong nhiều năm tới vẫn là nông nghiệp. Do vậy cần công nghiệp hóa, đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp. Đồng thời cần tổ chức sản xuất theo liên kết bốn nhà cho chặt chẽ".

“Đất phèn Đồng Tháp Mười được xả rửa bằng chính những giọt mồ hôi, nước mắt và có khi bằng máu của biết bao người dân. Vì thế những ai đang sống và làm ăn trên mảnh đất này đều phải xem đó là vinh dự và phải làm tốt hơn thế hệ cha anh trước đây” 

Ông DƯƠNG QUỐC XUÂN
(chủ tịch UBND tỉnh Long An)

Thách thức đối với Đồng Tháp Mười ngay bây giờ và trong tương lai là rất lớn. Ông Dương Quốc Xuân cho rằng đó cũng là cơ hội để con người tiếp tục chứng tỏ tài trí chế ngự thiên nhiên khắc nghiệt như từng làm hơn 30 năm qua.

Là một người từng đổ mồ hôi khai phá Đồng Tháp Mười, ông Xuân hiểu được giá trị to lớn của từng mét vuông đất màu mỡ bây giờ. Ông nói một cách hình tượng: "Đất phèn Đồng Tháp Mười được xả rửa bằng chính những giọt mồ hôi, nước mắt và có khi bằng máu của biết bao người dân. Vì thế những ai đang sống và làm ăn trên mảnh đất này đều phải xem đó là vinh dự và phải làm tốt hơn thế hệ cha anh trước đây".

Theo ông Xuân, tỉnh Long An đã quy hoạch năm huyện Đồng Tháp Mười thành vùng trọng điểm sản xuất lương thực của tỉnh và cả nước. Hiện nay vùng Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa và một phần huyện Thủ Thừa, Bến Lức đã sản xuất hơn 60% sản lượng lúa toàn tỉnh. Tới đây tỉnh Long An tập trung đầu tư đưa vùng này thành vùng chuyên canh nông nghiệp kỹ thuật cao để nâng giá trị, chất lượng nông sản, nâng cao thu nhập của nông dân. Năm năm tới nông thôn nơi này sẽ là "nông thôn mới" gắn với những đô thị ở các cụm dân cư đông đúc.

Tiền Giang, Đồng Tháp cũng đã và đang quy hoạch, kêu gọi đầu tư các ngành công nghiệp vào Đồng Tháp Mười như Long An đã làm. Đi một vòng Đồng Tháp Mười, chúng tôi thấy có nhà máy sản xuất giấy từ cây đay; nhà máy sản xuất ván dăm từ gỗ tràm; viên năng từ tinh dầu tràm, trấu (sản phẩm thải ra từ chế biến lúa gạo) ở Long An.

Tại Tiền Giang có Khu công nghiệp Long Giang và một khu công nghiệp, dịch vụ, đô thị đang hình thành ở huyện Tân Phước. Vùng nguyên liệu khóm bạt ngàn đã có nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu tiêu thụ. Trong tương lai không xa nhiều nơi trong vùng Đồng Tháp Mười sẽ có những khu dân cư, đô thị sinh thái mọc lên; những khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp nằm xen trong những ruộng lúa, rừng trà, ruộng khóm bạt ngàn.

Khi đề nghị ông phác họa bức tranh toàn cảnh về Đồng Tháp Mười 10-20 năm tới, ông Xuân đáp không do dự: "Thu nhập bình quân đầu người của nông dân Đồng Tháp Mười đến năm 2015 sẽ đạt 50 triệu đồng/người/năm, cao hơn mức trung bình toàn tỉnh.

Đồng Tháp Mười sẽ có những đô thị sầm uất giữa những cánh đồng lúa bạt ngàn cò bay thẳng cánh; đường sá sẽ được trải nhựa; nhà máy, xí nghiệp dày đặc trong các vùng nguyên liệu lúa gạo, đay, tràm; du khách khắp thế giới sẽ đến nườm nượp để tham quan vùng đất phèn ngập nước độc đáo của thế giới; tìm hiểu về tinh thần và ý chí tuyệt vời của người Việt trong việc chinh phục Đồng Tháp Mười".

VÂN TRƯỜNG – ĐỨC VỊNH


Filed under: Lịch sử Tagged: Lịch sử

Nói “không” với sinh viên tại chức là không công bằng

Posted: 07 Dec 2010 01:03 PM PST

(Dân trí) – Sự kiện TP Đà Nẵng vừa thông báo từ năm 2011 sẽ không tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp hệ tại chức vào làm việc trong cơ quan nhà nước đã gây xôn xao dư luận, đa số ý kiến không đồng tình vì cho rằng như vậy không công bằng đối với người học.
>>  Đà Nẵng nói "không" với sinh viên tại chức
>> Tuyển bằng hay tuyển người?
Đây là chủ trương của chính quyền Đà Nẵng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đã được thành ủy thông qua. Theo giải thích của lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, hiện nay nguồn nhân lực đang được đào tạo bằng kinh phí của thành phố vẫn chưa bố trí hết. Việc không tuyển bằng tại chức là do chất lượng của hệ chính quy và hệ tại chức có sự chênh lệch mặc dù biết rằng về mặt bằng cấp là bình đẳng.
Bằng đại học chính quy và không chính quy đều có giá trị như nhau.

Trước chủ trương trên của Thành phố Đà Nẵng, nhiều giáo sư, nhà quản lý giáo dục đã có ý kiến :

GS.VS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ GD-ĐT:
Nói "không" với sinh viên tại chức là vi phạm Luật!

Đà Nẵng nói "không" với bằng tại chức là không công bằng về mặt pháp lý. Hiện nay các hệ đào tạo do Nhà nước quy định đã ghi rõ trong Luật Giáo dục, bằng đại học chính quy và không chính quy đều bình đẳng như nhau. Có thể bằng tại chức đánh giá là kém nhưng Nhà nước đã công nhận rồi. Nếu Đà Nẵng nói như vậy là vi phạm Luật nhưng ở ta không ai kiện, không ai xử, họ muốn làm gì thì làm.

Đó là về mặt pháp lý, còn phía nhà tuyển dụng không nên quan niệm quá về bằng cấp, cứ tuyển dụng, cứ thi đi nhưng phải nghiêm túc và công bằng, không gây tệ nạn trong đó, người giỏi thì vào. Chúng ta nên hiểu rằng năng lực con người không phải phát triển theo đường thẳng tùy theo từng độ tuổi.

Tuy nhiên, qua sự việc này ngành giáo dục cũng nên nhìn nhận lại đào tạo hệ tại chức hiện nay vì nhiều trường đại học, sinh viên hệ chính quy chỉ có khoảng 3.000 sinh viên nhưng hệ đào tạo tại chức lên tới hơn 10.000, chất lượng lại không đảm bảo.

GS.TS Phan Công Nghĩa, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Kinh tế Quốc dân:
Không tuyển sinh viên tại chức là cực đoan!

Chủ trương TP.Đà Nẵng vừa thông báo từ năm 2011 sẽ không tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp hệ tại chức vào làm việc trong cơ quan nhà nước, theo tôi phân biệt đối xử như vậy là không đúng, phải căn cứ vào thực chất chứ không nên dựa quá nhiều vào bằng cấp.

Tuyển là quyền của nhà tuyển dụng nhưng không nên nói không với cả một hệ đào tạo. Nếu nói về chất lượng hệ tại chức là do người tuyển dụng chứ không phải do bằng cấp. Trong tuyển dụng nếu bằng tại chức vẫn đảm bảo yêu cầu tuyển dụng thì vẫn nên tuyển. Theo tôi dù là bằng chính quy hay bằng tại chức, không thỏa mãn nhu cầu tuyển dụng thì không nên tuyển nhưng không nên nói không với hệ đào tạo nào đó như vậy là cực đoan.

Chính cách tuyển dụng sẽ tác động đến đào tạo, dù có bằng cao nhưng kiểm tra thực tế không thỏa mãn nhu cầu thì anh không tuyển như thế sẽ tác động trở lại với nhà đào tạo để họ đào tạo làm sao để nâng cao được chất lượng đào tạo.

Ông Phan Mạnh Tiến, Phó vụ trưởng Vụ giáo dục đại học &sau đại học, Bộ GD-ĐT:
Tuyển dụng cán bộ công chức chính là cách tuyển chứ không phải cách loại hồ sơ.

Luật giáo dục đã quy định, mọi văn bằng đều có giá trị trong hệ thống giáo dục quốc dân. Bằng tốt nghiệp của một người học ở trường đại học vùng cũng có giá trị như bằng tốt nghiệp ở một trường ĐH trọng điểm, điều này đã rõ ràng rồi.

Có thể nhà tuyển dụng cho rằng, không nhận cử nhân tốt nghiệp ĐH tại chức là để nâng cao chất lượng đầu vào. Điều này cũng có thể hiểu được vì chất lượng đào tạo không chính quy còn hạn chế, nhưng không phải tất cả những người học không chính quy đều yếu kém. Trong những lớp học buổi tối, tôi tin vẫn có những người học thực sự. Ngược lại, sinh viên hệ chính quy cũng thế. Không phải ai học chính quy cũng đều là học giỏi, học nghiêm túc.

Theo tôi, điều quan trọng để nâng cao chất lượng tuyển dụng cán bộ công chức chính là cách tuyển chứ không phải cách loại hồ sơ. Muốn tuyển những công chức giỏi, hãy tìm cách nâng cao chất lượng đề thi đầu vào để tìm những người thực sự xứng đáng.

GS.TS Phạm Tất Dong, Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam:
Lỗi không phải do cái bằng tại chức!

Quyết định không tuyển dụng người có bằng tại chức của TP. Đà Nẵng là cực đoan vì không phải tất cả những ai học tại chức đều kém còn học chính quy là tốt. Tôi đảm bảo nếu lấy tiêu chí "trình độ thực tế" để chọn, khối người có bằng chính quy vẫn bị rớt như thường. Còn người học tại chức, nếu có ý thức tự học tốt, động cơ học đúng đắn vẫn có thể có trình độ đáng nể.

Thực tế cho thấy rất nhiều người đã và đang có cống hiến trong nhiều lĩnh vực đều đi lên từ việc tự học là chính. Khi chúng ta không thể kiểm soát được chất lượng mà đóng luôn "cửa tại chức" thì không nên. Việc này vô hình trung đi ngược với chủ trương khuyến học, khuyến tài của Nhà nước. Đà Nẵng nên cân nhắc lại quyết định này, lấy "năng lực thực tế" là tiêu chí ưu tiên thay vào việc phân biệt loại văn bằng.

Theo xu hướng chung trên thế giới, cần phải mở ra nhiều con đường khác nhau để tạo điều kiện cho mọi người được học tập và học tập suốt đời. Nhất là với điều kiện Việt Nam, các trường không thể đáp ứng hết nhu cầu đào tạo chính quy nên hình thức đào tạo tại chức vẫn cần thiết, tiết kiệm rất nhiều kinh phí của Nhà nước.

Nhưng trong một thời gian dài khi việc đào tạo tại chức bung ra, chất lượng đào tạo đã không được kiểm soát chặt chẽ. Việc nhiều cán bộ nhà nước đi học để hợp thức hóa yêu cầu bằng cấp cũng phổ biến. Tuy nhiên, lỗi không phải do cái bằng tại chức mà do động cơ của người học, do quan niệm không cấp tiến của người tuyển dụng khi không chú trọng năng lực và chỉ cần bằng cấp.

Hồng Hạnh (ghi)

Sinh viên tốt nghiệp hệ tại chức với cơ quan nhà nước: Vấn đề là khả năng làm việc

TT – Trước quyết định không nhận sinh viên tốt nghiệp hệ tại chức vào làm việc tại cơ quan nhà nước của TP Đà Nẵng, đại diện nhiều trường ĐH, nơi đang đào tạo sinh viên tại chức, đã lên tiếng.

Thí sinh trúng tuyển hệ tại chức Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM làm thủ tục nhập học tại trường. Hiện trường này có hơn 10.000 sinh viên hệ tại chức – Ảnh: M.Đức

Hầu hết đều cho rằng hệ nào cũng có người hay, kẻ dở, không nên căn cứ trên hình thức đào tạo và bằng cấp để đưa ra quyết định tuyển dụng hay không. Thay vào đó, hãy tạo điều kiện cho những người được đào tạo ở những hình thức đào tạo khác nhau được chứng minh năng lực một cách công bằng qua các kỳ thi tuyển công khai hoặc thử việc thực tế.

* TS Nguyễn Văn Thư (phó hiệu trưởng Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM):

Sàng lọc rất gắt gao

Ba năm trở lại đây, kỳ thi tuyển sinh ĐH tại chức cũng sử dụng đề chung hai môn trắc nghiệm do Bộ GD-ĐT ra, đề toán do các trường tự ra. Điểm sàn ba môn cũng đã 12 điểm, không thấp hơn là mấy so với điểm sàn hệ chính quy. Đầu vào, chất lượng hệ tại chức bây giờ không như hồi xưa.

Mấy năm nay trường đều sử dụng chương trình đào tạo chính quy để đào tạo hệ tại chức và thực tế đã sàng lọc rất gắt gao, chỉ 30-40% người học mỗi khóa tốt nghiệp. Chất lượng sinh viên ra trường không còn quá cách biệt so với sinh viên chính quy. Thực tế nhiều khi giảng viên cũng châm chước cho sinh viên tại chức nhưng chúng tôi yêu cầu phải quan tâm gắt gao hơn.

Hệ tại chức tạo điều kiện cho những người không có hoặc không đủ điều kiện học chính quy được học tập. Việc phân biệt chính quy – tại chức xuất phát từ thực tế trước đây nhưng cách tiếp cận từ chối thẳng thừng người học tại chức như thế là không phù hợp. Vấn đề là họ có đáp ứng được yêu cầu hay không chứ không phải họ học hệ gì.

* TS Phạm Tấn Hạ (phó trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn – ĐHQG TP.HCM):

Phải qua thực tế

Mỗi hệ đào tạo có những đặc thù riêng. Điều kiện đi học của người học cũng khác nhau, đầu vào khác nhau. Mục đích đào tạo của hệ tại chức cũng có nhiều như đào tạo nhân lực cho địa phương hay nâng cao dân trí, tạo điều kiện cho người học nâng cao kiến thức chuyên môn… Bậc chính quy trui rèn cật lực trong suốt bốn năm trong khi hệ tại chức không thể làm được như thế.

Trong quá trình dạy, giảng viên có thể cảm nhận được sức học của hệ tại chức và cho đề thi ở mức độ dễ hơn. Tuy nhiên, trường vẫn kiểm soát chất lượng. Phải đảm bảo những điều kiện tối thiểu mới được tốt nghiệp. Trong các lớp tại chức cũng có những học viên học rất tốt.

Còn vấn đề người học đáp ứng được yêu cầu như thế nào của người tuyển dụng phải qua thực tế. Chúng ta tuyển người vào làm việc và cần xem họ có đáp ứng được yêu cầu chuyên môn công việc hay không chứ không phải vấn đề bằng cấp. Nếu ở vị trí đó, công việc đó họ đáp ứng được thì tại sao lại không tuyển?

* ThS Nguyễn Văn Đương (phó trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Kinh tế TP.HCM):

Hãy để họ thi tuyển

Lâu nay xã hội vẫn quan niệm hệ tại chức thấp hơn hệ chính quy một bậc. Và trong thực tế giảng dạy, giảng viên cũng có phần "nương" hơn so với hệ chính quy. Một số trường đào tạo hệ tại chức có vấn đề nên xã hội đã "vơ đũa cả nắm" và đánh đồng tất.

Nhưng thực tế chưa hẳn sinh viên hệ chính quy của ĐH này đã tốt hơn hệ tại chức của ĐH kia. Trong hệ tại chức cũng có những người học rất tốt, chưa chắc sinh viên chính quy giỏi hơn họ.

Theo quan điểm cá nhân tôi, việc phân biệt không tuyển dụng người tốt nghiệp hệ tại chức là sai tinh thần chung của giáo dục ĐH. Nếu chúng ta không tin trình độ của người học tại chức, hãy để họ thi tuyển, phỏng vấn như những người khác để có đánh giá khách quan và công bằng.

* TS Đỗ Văn Xê (phó hiệu trưởng Trường ĐH Cần Thơ):

Hệ nào cũng có tính tương đối

Về nguyên tắc, bằng cấp có giá trị như nhau, tuyển hay không tuyển là do người tuyển dụng quyết định. Thực tế chất lượng đào tạo hệ tại chức không thể bằng hệ chính quy vì nhiều yếu tố như: đầu vào khác nhau, điều kiện học tập, đối tượng học tập…

Hiện nay mỗi năm trường tuyển khoảng 3.500 chỉ tiêu hệ tại chức, trong số này phần lớn là thí sinh không vào được ĐH chính quy và chuyển sang học tại chức. Số người đang đi làm đi học không nhiều. Hệ đào tạo nào cũng có tính tương đối, có người giỏi người dở.

* TS Lê Tấn Duy (phó giám đốc ĐH Đà Nẵng):

"Không thua chính quy"

Việc đào tạo tại chức tại ĐH Đà Nẵng được sàng lọc rất cao, thậm chí là khắt khe. Vì vậy, tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp tại đây chỉ đạt 30-50%. Tuy nhiên, nhiều trường đào tạo tại chức có thể đã quá dễ dãi khiến xã hội có cái nhìn không tốt về chất lượng đào tạo chung của hệ này.

Về bản chất, đào tạo tại chức không thua kém gì chính quy. Vấn đề quyết định là sinh viên ra trường làm được việc, chất lượng là đó chứ không phải bằng cấp. Tại ĐH Đà Nẵng sinh viên học tại chức vẫn được thi cao học như chính quy, miễn là đủ điều kiện.

Quyết định của UBND TP Đà Nẵng vừa qua không ảnh hưởng nhiều đến sinh viên của chúng tôi bởi mỗi năm thực tế các cơ quan nhà nước cũng tuyển 1-2 người mà thôi. Còn sinh viên ra trường chủ yếu làm cho tư nhân, mở công ty… Và thực tế đã chứng minh họ làm việc rất tốt.

Đ.CƯỜNG ghi

MINH GIẢNG ghi


Filed under: Giáo dục Tagged: Giáo dục

Kinh tế: IRSEC “Lãnh đạo VN cần lắng nghe đề xuất cải cách” – Nhà tài trợ lo lắng đồng VN mất giá

Posted: 07 Dec 2010 01:02 PM PST

Lãnh đạo VN cần lắng nghe đề xuất cải cách

BBC


Các tổ chức quốc tế và giới đầu tư nước ngoài đang tăng cường kêu gọi Hà Nội cải cách. 

Giới đầu tư thấy ‘Con hổ kinh tế’ Việt Nam đang bước đi khập khiễng, theo lời tựa trong bài của Bottollier Amelie-Depois, AFP nêu ra cuối tuần qua.

Tác giả cho hay giới đầu tư nước ngoài nói Việt Nam đã và đang tụt lại phía sau các nước láng giềng.

Việt Nam từng được coi là “con hổ châu Á” cách đây hai thập niên, tuy nhiên Hà nội cần phải cải cách hơn nữa để bắt kịp với các nước trong vùng.

Cơ sở hạ tầng quá bề bộn, lực lượng lao động trình độ còn non yếu, tệ quan liêu và tham nhũng quá đáng chỉ là một vài trong số những vấn đề mà các nhà đầu tư đề cập.

Các kỳ vọng và những hứa hẹn hồi thập niên 1990, khi quốc gia cộng sản bỏ nền kinh tế tập trung để chuyển sang qui luật kinh tế thị trường, đã không thành hiện thực.

“Hầu hết các nhà đầu tư cho rằng Việt Nam có tiềm năng rất lớn”, ông Adam Sitkoff, Giám đốc Điều hành Phòng Thương mại Mỹ Việt Nam (AmCham) nói.

“Tuy nhiên, Việt Nam đang phải cố gắng để xứng với tiềm năng của mình do chậm trong việc đạt tiến bộ đối với một loạt rào cản lâu năm ở khu vực đầu tư.”

‘Quốc gia thiếu điện’

Trong hai thập niên qua Việt Nam nằm trong số các nước châu Á phát triển nhanh nhất, với mức tăng trưởng trung bình hàng năm 7,1% từ năm 1990 đến năm 2009, theo Ngân hàng Phát triển châu Á.

Thực trạng quan liêu và tham nhũng quá đáng chỉ là một vài trong số những vấn đề giới đầu tư nước ngoài quan ngại.

Với thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.200 USD, quốc gia 86 triệu dân hiện là một nước có “thu nhập trung bình” theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới.

Nhưng Việt Nam vẫn còn cách xa Đài Loan, Singapore hay Nam Hàn, nơi tốc độ tăng trưởng nhanh khiến các nước này được xem là các "nền kinh tế con hổ" và sự thành công của họ là giấc mơ đối với Việt Nam.

Việt Nam có “nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, không có khả năng phát triển từ một nền kinh tế dựa vào lao động rẻ và phương pháp sản xuất công nghệ thấp “, ông Matthias Duhn, Giám đốc Điều hành Eurocham, Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam, nói.

Những cảnh báo được đưa ra ngay trước Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam dự kiến diễn ra vào giữa tháng 1/2011.

Tại Đại hội, các đại biểu sẽ quyết định các ghế lãnh đạo chủ chốt trong năm năm tiếp theo, cũng như “hướng đi kinh tế chính” của Việt Nam, ông Benoit de Treglode, giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (IRASEC) ở Bangkok.

Ông Benoit de Treglode nói cộng đồng quốc tế đã tăng cường kêu gọi cải cách trước Đại hội Đảng với hy vọng các nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam sẽ lắng nghe.

Vào hôm thứ Năm tuần trước, giới lãnh đạo doanh nghiệp nước ngoài đã lại nêu về những quan ngại của họ tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam do Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hai lần trong năm.


Kêu gọi cải tổ gia tăng trước Đại Hội Đảng.

Họ kêu gọi phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao kỹ năng lực lượng lao động, giảm bớt bộ máy quan liêu và thực hiện những cải cách khác nữa.

Chủ tịch AmCham cũng nói tại diễn đàn rằng Việt Nam đã vi phạm cam kết của mình đối với Tổ chức Mậu dịch Thế giới bằng việc đưa ra qui định kiểm soát giá mới nhắm vào các công ty nước ngoài.

Một số quan chức thân cận với giới chóp bu thừa nhận nhu cầu phải cải cách.

“Người ta ‎đã quá để ý tăng về lượng đầu tư hơn là về chất, cũng như hiệu quả, năng suất và sức cạnh tranh,” ông Trần Tiến Cường từ Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), đã được trích dẫn trên Vietnam News gần đây.

Eurocham được trích dẫn ước tính rằng Việt Nam cần khoảng 70-80 tỷ đô la đầu tư cho đường bộ, đường sắt, và cơ sở hạ tầng cảng biển từ 5-10 năm tới.

Con số này sẽ tăng lên mức 120 tỷ đôla nếu bao gồm cả hạ tầng về năng lượng tại quốc gia đang thiếu điện.

‘Hội chứng Vinashin’

Đó là chưa kể những trở ngại khác bao gồm tệ tham nhũng cố hữu và thực trạng bất ổn của đồng tiền Việt Nam, bị phá giá ba lần kể từ cuối năm ngoái.

Giới đầu tư nước ngoài cũng đang quan ngại đặc biệt đối tình hình tài chính của các tập đoàn nhà nước lớn trong những tháng gần đây

Trong khi Vietnam Airlines tỏ ra là hãng hàng không nổi lên trong khu vực, các nhà đầu đang tự hỏi hãng hàng không quốc gia này liệu có cùng cảnh với Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, Vinashin, hay không.

“Đảng Cộng Sản không thể ở cái thế nhắm mắt làm ngơ.”
Benoit de Treglode, Viện IRASEC

Vinashin có nguy cơ bị phá sản với khoản nợ ít nhất là 86 ngàn tỷ đồng (4,4 tỷ USD).

Ông Adam Sitkoff, Giám đốc Điều hành Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam lấy làm tiếc rằng khu vực quốc doanh tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.

“Nhà đầu tư đang đặt câu hỏi tập đoàn nhà nước nào trong số tập đoàn được mở rộng quá đà sẽ sụp đổ tới đây, hoặc phải đưa nợ xấu vào bảng cân đối kế toán của họ,” ông nói.

Việt Nam luôn tiến hành cải cách theo tốc độ riêng của mình – chậm mà chắc.

Nhưng ông Benoit de Treglode cho hay các yêu cầu cải cách của cộng đồng doanh nhân quốc tế đã và đang tăng độ cộng hưởng trước Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông nói rằng với một triệu thanh niên bước vào thị trường việc làm hàng năm, đảng đương quyền lo duy trì quyền lực “không thể ở cái thế nhắm mắt làm ngơ” trước những đề xuất từ các nhà đầu tư nước ngoài.

 

Nhà tài trợ quan ngại tiền đồng mất giá, lạm phát tăng mạnh

- Trong khi IMF, WB nhận định lạm phát đã tăng mạnh, có thể tăng đến hai con số năm nay, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư cho hay Chính phủ đang nỗ lực để “lạm phát trong tầm kiểm soát” với dự báo ở mức 8,5%.

Áp lực lạm phát gia tăng, sự mất giá của tiền đồng đã làm nóng hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) khai mạc sáng nay (7/12). Các nhà tài trợ lo ngại vấn đề này có thể làm ảnh hưởng lòng tin của họ tới ổn định kinh tế vĩ mô.

Lo tiền “mất giá liên tục”

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) cho hay đến cuối tháng 11, tỉ lệ lạm phát đứng ở mức 11,1%, 11 tháng đầu năm  9,6%. Lạm phát giá lương thực hàng năm lên đến 14,8%, mức cao nhất kể từ tháng 4/2009. WB dự báo lạm phát cho cả năm nay sẽ vào khoảng 10,5% – cao hơn mức 8% mà Quốc hội đề ra.

Ảnh: XL

Cùng khẳng định lạm phát đã tăng mạnh, dự kiến có thể tăng hai con số trong năm nay, ông Masato Miyazaki, quan chức khu vực của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) bắt bệnh: “Giá lương thực, thực phẩm cao hơn đã góp phần làm tăng lạm phát, cầu nội địa cao cùng với sự mất giá của VND cũng đóng vai trò quan trọng làm lạm phát tăng”.

IMF khuyến cáo Việt Nam thắt chặt chính sách tiền tệ để khôi phục một cách có trật tự các điều kiện trên thị trường ngoại hối và kiềm chế áp lực lạm phát. Trong khi đó, với tăng trưởng tín dụng dự kiến sẽ vượt quá mục tiêu năm nay là 25%, IMF cho rằng đây là mức “quá cao” đối với nền kinh tế. Thâm hụt thương mại tăng lên mức 1,3 tỷ USD trong tháng 11 và mức thâm hụt tài khoản vãng lai (không kể vàng) được dự báo ở mức dưới 7% của GDP vẫn còn rất lớn.

IFM bày tỏ lo ngại việc tỷ giá VND đã phải chịu áp lực “mất giá liên tục” kể từ mùa hè, mặc dù đã được phá giá 2,1% trong tháng 8 và các lãi suất chính sách đã được tăng thêm 100 điểm cơ bản vào tháng 11. Tỷ giá thị trường tự do đã nằm ngoài biên độ của tỷ giá chính thức khoảng 10%.

Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư Võ Hồng Phúc cho hay “kiểm soát lạm phát và mục tiêu là vấn đề lớn”. “Mục tiêu là kiểm soát lạm phát và con số lạm phát không quá 7%. Trong kỳ họp Quốc hội 8 vừa qua đã thấy vấn đề kiềm chế lạm phát là khó thực hiện và dự báo cả năm nay là 8,5%. Sau đó, do tình hình diễn biến của tháng 10 và tháng 11 do một số hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, rồi tỉ giá, thiên tai, nên ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề lạm phát khiến con số đã lên 9,58%. Chính phủ đang cố gắng để lạm phát trong tầm kiểm soát. Và hy vọng 2011 sẽ giữ ở mức 7%”, ông nói.

Lo lắng lạm phát cao cũng như sự mất giá của tiền đồng tạo ra khó khăn trong bối cảnh kinh tế thế giới đang diễn ra đầy bất trắc, Đại sứ Nhật Bản Yasuaki Tanizaki cho rằng “Chính phủ cần thực hiện những biện pháp hiệu quả mạnh mẽ để khôi phục lòng tin của nhà tài trợ vào tiền đồng, sớm ổn định thị trường tiền tệ nội địa”.

Tránh giải pháp “giật cục”

Trước những lo ngại của các nhà tài trợ về lạm phát tăng mạnh, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Trần Văn Giàu cho hay đã tiến hành chính sách điều chỉnh lãi suất chủ chốt, bắt đầu thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ.

Chúng tôi mới điều chỉnh một tháng và vẫn tiếp tục theo dõi”, ông Giàu cho hay. Trong bản thảo dài 5 trang lưu hành tại hội nghị, Thống đốc cũng đã đưa ra chi tiết 3 nhóm giải pháp điều hành chính sách tiền tệ.

Ông khẳng định “các công cụ chính sách tiền tệ được sử dụng linh hoạt, góp phần hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát”. Cho rằng “mặc dù có nhiều tiến bộ”, ông Giàu nhận định thị trường tiền tệ, ngoại hối của Việt Nam còn nhiều thách thức phía trước, nhất là tính ổn định để tạo lòng tin vững chắc, lâu dài đối với tâm lý xã hội và tâm lý thị trường.

Ảnh: XL

Trong khi đó, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho rằng chính sách thắt chặt tiền tệ công bố trong tháng 11 vừa qua “tích cực nhưng chưa đủ”. Việt Nam nên thiết lập một chính sách tiền tệ dài hạn rõ ràng nhằm định hướng đạt được một mức lạm phát gần hơn lạm phát trung bình từ 2 đến 4% của các nước ASEAN trong khu vực.

WB thì cho rằng Việt Nam cần đảm bảo sự nhất quán xuyên suốt các mục tiêu của chính sách tiền tệ như lãi suất, tín dụng, tổng phương tiện thanh toán, tỷ giá… nhằm tránh tình trạng điều chỉnh vội vàng và các giải pháp “giật cục” khi thực thi chính sách tiền tệ.

Tổ chức này nhận định bản thân mục tiêu hoạch định chính sách của Việt Nam dường như đã có sự “thiên vị cố hữu”, coi trọng mục tiêu tăng trưởng cao hơn là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Khi phải đối mặt với tỉ lệ lạm phát cao hơn dự kiến, thì chính phủ dùng đến các cơ chế hành chính – như kiểm soát giá cả và quỹ bình ổn giá – để kiểm soát lạm phát, mặc dù các biện pháp này không được sử dụng thường xuyên và thường trong các trường hợp cần thiết.

“Khi nền kinh tế trở nên phức tạp hơn, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam sẽ cần có các chính sách thân thiện với thị trường hơn để đạt được mục tiêu bình ổn giá, trong đó bao gồm việc sử dụng nhiều hơn chính sách cạnh tranh và chính sách tiền tệ”.

Theo IMF, các lãi suất chính sách vẫn còn rất thấp để có thể ngăn chặn kỳ vọng mạnh mẽ của thị trường về sự giảm giá của VND và lạm phát cao hơn. “Chúng tôi tin là chính phủ nên theo đuổi một gói gắn kết các biện pháp thắt chặt mà nên gồm có sự tăng lãi suất chính sách cao hơn nữa và sự củng cố ngân sách lớn hơn”.

Củng cố ngân sách nhằm giảm tỷ lệ nợ công trên GDP cũng là cần thiết. “Với hầu hết các biện pháp kích thích kinh tế đã hết hiệu lực vào cuối năm 2009, việc giảm thâm hụt ngân sách tổng thể từ dưới 9% GDP trong năm 2009 xuống khoảng 5,5% GDP trong năm nay là trong tầm tay, miễn là Chính phủ thắt chặt chi tiêu”, quan chức IMF nhận định.

Liệu có Vinashin thứ hai?

Đó là câu hỏi tân Đại sứ Anh Antony Stokes nêu khi quan tâm tới vấn đề quản lý doanh nghiệp nhà nước (DNNN). “Làm thế nào để giới đầu tư có lòng tin vào cách Chính phủ phát hiện ra Vinashin và cách hướng dẫn các công ty hoạt động hiệu quả hơn theo cơ chế thị trường? Đó là cách để tăng cường lòng tin và đưa ra thông điệp mạnh mẽ cho giới đầu tư”, Đại sứ phát biểu.

Đại sứ Mỹ Micheal Michalak cũng đặt câu hỏi về kế hoạch của Chính phủ để không có thêm một vụ Vinashin xảy ra cũng như việc cổ phần hóa các DNNN phải mạnh mẽ, hiệu quả hơn.

Giám đốc ADB Konishi cho hay cần đảm bảo tính trách nhiệm, tăng cường giám sát hoạt động của DNNN, quản lý tốt để tránh những rủi ro có thể xảy ra, làm “rào cản” cho sự phát triển kinh tế quốc gia cũng như tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần doanh nghiệp.

Bộ trưởng Võ Hồng Phúc khẳng định: “Vinashin là một bài học đau lòng cho Việt Nam. Chính phủ sẽ không để xảy ra trường hợp tương tự nữa. Chúng tôi sẽ tăng cường các văn bản pháp luật, như Luật kiểm toán, nhằm nâng cao vai trò của kiểm toán và yêu cầu công khai, minh bạch thông tin kiểm toán”.

Ông Phúc cũng nói Việt Nam quyết tâm thực hiện lộ trình cải cách DNNN song do thị trường vốn chững lại nên tiến trình cổ phần hoá chậm. Về đầu tư của DNNN, ông cho hay Luật DNNN trước đây khi chuyển đổi có ý tưởng tạo cho DNNN có quyền chủ động trong đầu tư kinh doanh, song “quên” một điều. Đó là tài sản không phải của những người làm giám đốc DNNN mà là tài sản của dân, nhưng lại trao quyền như tài sản tư nhân nên dẫn đến tình trạng đầu tư tràn lan, kém hiệu quả. Nhưng luật này hết hiệu lực từ 1/7 vừa qua.

Xuân Linh


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Việt Nam và 18 nước không dự lễ trao giải Nobel

Posted: 07 Dec 2010 01:01 PM PST

BBC


Nhiều nước chịu sức ép từ Trung Quốc và không dự lễ trao giải Nobel

Trung Quốc, Việt Nam và 17 nước tuyên bố không dự lễ trao giải Nobel Hòa bình hôm thứ Sáu cho nhà đối kháng Lưu Hiểu Ba.

Ủy ban Nobel Na Uy xác nhận Nga, Ảrập Saudi, Pakistan, Iraq, Iran cũng nằm trong số nước từ chối.

Trung Quốc trước đó nói “đại đa số” trong cộng đồng quốc tế sẽ tránh xa buổi lễ.

Ủy ban Nobel thì mô tả ông Lưu là “biểu tượng lỗi lạc” của cuộc tranh đấu nhân quyền tại Trung Quốc.

Ủy ban nói các đại sứ Nga, Kazakhstan, Colombia, Tunisia, Ảrập Saudi, Pakistan, Serbia, Iraq, Iran, Việt Nam, Afghanistan, Venezuela, Philippines, Ai Cập, Sudan, Ukraine, Cuba and Morocco sẽ không dự lễ “vì nhiều lý do”.

Trong khi đó, người phát ngôn ngoại giao Trung Quốc Khương Du thì tuyên bố hơn 100 nước ủng hộ Bắc Kinh.

Bà nói: “Những vị ở Ủy ban Nobel tự khơi dậy trò chống Trung Quốc.”

“Chúng tôi chống lại bất kỳ ai mượn cớ Lưu Hiểu Ba để làm vấn đề và can thiệp công việc luật pháp của Trung Quốc. Chúng tôi sẽ không thay đổi vì sự can thiệp của vài thằng hề.”

Ông Lưu, 54 tuổi, là một trong những nhân vật chủ chốt trong cuộc biểu tình Thiên An Môn 1989.

Năm ngoái ông bị án 11 năm tù sau khi tham gia thảo Hiến chương 08 kêu gọi dân chủ đa đảng và tôn trọng nhân quyền ở Trung Quốc.


Filed under: Bang giao quốc tế Tagged: Bang giao quốc tế

No comments:

Post a Comment