Đọt Chuối Non |
- The Best Of All Possible Worlds
- Từ bụi đời đến phiền não
- Nghĩ về những thành xưa
- China-Japan Dispute Shines Light on Rare Earth Metals – VOA special English
- Vì sao đàn bà Việt hay bị đánh?
- Học sinh dùng mã tấu hỗn chiến trong lớp học
| The Best Of All Possible Worlds Posted: 04 Dec 2010 01:07 PM PST Chào các bạn,
Đây đúng hơn là một nhạc kịch châm biểm, Bernstein viết dựa trên vở kịch vui Candide do Voltaire viết vào năm 1759 để chỉ chích quan điểm duy lý "lạc quan thái quá" của triết gia người Đức Gottfried Leibniz khi ông nói rắng "thế giới này là là thế giới tốt nhất của những thế giới có thể có". Vở kịch bắt đầu với chàng thanh niên trẻ Candide sinh ra ở "thiên đường Eden" và được dạy bởi thuyết "lạc quan quá" bởi thầy Pengloss, đại diện cho Leibniz. Nhưng, chào mừng sự trở lại với thế giới thực tại, Candide gặp liên tiếp những khó khăn, đau đớn trên đời: đánh đập, xét xử không công bằng, một trận động đất khủng khiếp… Nhưng không gì có thể thay đổi cách nhìn của thầy Pangloss "thế giới này là thế giới tốt nhất của những thế giới có thể có" Có vẻ châm chích "sự lạc quan quá" của Leibniz nhỉ? Và cũng như những người tư duy tích cực chúng ta, chắc cũng nhiều khi bị vấp lắm chứ, và người đời có thể cười nhạo, làm sao bạn vẫn lạc quan được đến thế Thật ra Voltaire, Bernstein và nhiều người đều không diễn đạt đúng quan điểm của Leibniz. Leibniz là một nhà duy lý, ông cho rằng lý luận đi trước giác quan để đưa đến tri thức. Ông lý luận là: Có thế giới là do Thượng Đế muốn tạo ra thế giới. Thượng Đế sắp xếp các khả năng để tạo ta thế giới. Vì Thượng Đế đầy quyền năng và hoàn hảo về đạo đức, nên thế giới đang có là thế giới tốt nhất có thể có. Tại sao có cái Xấu? Thế giới bao gồm cả Tốt và Xấu. Thế giới tốt nhất có thể sẽ có nhiều Tốt nhất và ít Xấu nhất. Can đảm thì tốt hơn là không can đảm. Và nếu không có cái Xấu, sẽ không cần có cam đảm để Tốt. Do đó sẽ chẳng có can đảm. Xấu, do do đưa ra những đức tính tốt của con người và sự tồn tại của nó là cần thiết. Leibniz không nói rằng thế giới nói chung là tốt mà là sự lựa chọn cho thế giới này là tốt nhất, theo sự sắp đặt của Thượng Đế. Nếu không phải là thế giới này, sẽ là thế giới còn xấu hơn. Chúng ta cần rất nhiều can cảm để làm thế giới tốt hơn Chúc các bạn một ngày vui, Hiển Thế giới tốt nhất của tất cả các thế giới có thểNhạc:Leonard Bernstein Tam đoạn luận Thứ Nhất Rằng đây là tốt nhất trong tất cả các thế giới có thể. Đúng rồi, Ergo. bởi vì đây là tốt nhất trong tất cả các thể giới có thể, dẫn đến là… Rằng mọi thứ xảy ra trong thế giới này là cho điều tốt nhất. Đúng rồi. Vậy nếu có ai đó nói rằng tất cả là tốt. Anh ta nói dối! Tất cả không là tốt. Mọi thứ là cho sự tốt nhất trong sự tốt nhất của tất cả các thế giới có thể. TS. PANGLOSS SINH VIÊN: PANGLOSS: SINH VIÊN: PANGLOSS: MAXIMILLIAN: PAQUETTE: PANGLOSS: CANDIDE: MAXIMILLIAN: PANGLOSS: Đó là con rắn đã dụ dỗ mẹ Eva Nếu con rắn đã không dụ dỗ số phận của chúng ta TẤT CẢ: PANGLOSS: SINH VIÊN: PANGLOSS: MAXIMILLIAN CANDIDE: PANGLOSS: Các triết gia đã cho thấy rõ ràng TẤT CẢ: PANGLOSS: PANGLOSS: SINH VIÊN: PANGLOSS: MAXIMILLIAN: (overlapping) PAQUETTE: (overlapping) CANDIDE: (overlapping) CUNEGONDE: (overlapping) ALL: Syllogism Number One. That this is the best of all possible worlds. Correct. Ergo. Since this is the best of all possible worlds, it follows . . . That everything that happens in this world is for the best. Correct. So if any man says that all is well. He lies! Everything is not well. Everything is for the best in this best of all possible worlds. DR. PANGLOSS STUDENTS: PANGLOSS: STUDENTS: PANGLOSS: MAXIMILLIAN: PAQUETTE: PANGLOSS: CANDIDE: MAXIMILLIAN: PANGLOSS: If snake had not seduced our lot ALL PANGLOSS STUDENTS: PANGLOSS MAXIMILLIAN CANDIDE: PANGLOSS: Philosophers make evident ALL: PANGLOSS: STUDENTS: PANGLOSS: STUDENTS: PANGLOSS MAXIMILLIAN: (overlapping) PAQUETTE: (overlapping) CANDIDE: (overlapping) CUNEGONDE: (overlapping) ALL: Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa | ||||
| Posted: 04 Dec 2010 01:06 PM PST Thích Thái Hòa
Họ hỏi tôi rằng, "pháp an tâm" có phải là tập trung tâm ý để theo dõi hơi thở phải không thầy? Tôi nói phải mà cũng không phải. Phải là vì tâm ta vọng động, nên cần phải có phương pháp thực tập cụ thể để đưa tâm trở về lại với trạng thái an tịnh của chính nó. Nên, thực tập theo dõi hơi thở chỉ là một trong nhiều phương pháp thực tiễn giúp tâm an tịnh, chứ không phải nó là duy nhất và tất cả. Không phải, là vì tâm ta vọng động theo duyên, nên nó cực kỳ linh hoạt và bén nhạy; và trong cuộc sống, ta bị áp lực nhiều phía, chứ không phải chỉ có một phía. Nên, khiến cho tâm ta bị chao đảo bởi nhiều tác duyên, chứ không phải chỉ là một tác duyên. Vì vậy, ta phải tùy thuận các duyên, để đình chỉ sự vọng động của tâm, chứ không phải chỉ có một phương pháp hay một điều kiện cho tất cả. Một bác sĩ bị bận rộn bởi những công việc hành chánh, thì ngay nơi công việc hành chánh ấy mà an tâm và nhận diện ý nghĩa đích thực của cuộc sống; một bác sĩ bận rộn bởi công việc trị liệu bệnh tâm thần cho bệnh nhân, thì ngay nơi việc ấy mà an tâm và nhận diện ý nghĩa đích thực của cuộc sống; một bác sĩ đang điều trị bệnh tim mạch cho bệnh nhân, thì ngay nơi công việc ấy mà an tâm và nhận diện ý nghĩa đích thực của cuộc sống; một bác sĩ đang điều trị bệnh da liễu cho bệnh nhân, thì ngay nơi công việc ấy mà an tâm và nhận diện ý nghĩa đích thực của cuộc sống; một bác sĩ đang điều trị tai mắt cho bệnh nhân, thì ngay nơi công việc ấy mà an tâm và nhận diện ý nghĩa đích thực của cuộc sống,… Tuy là cùng bác sĩ, nhưng nghiệp vụ, chuyên môn không có vị nào giống vị nào. Tuy là bệnh nhân tim mạch, nhưng nhân duyên sinh khởi bệnh tim mạch, cũng không có bệnh nhân nào giống bệnh nhân nào, vì vậy bác sĩ điều trị bệnh nhân tim mạch không phải chỉ có một số kiến thức về tim mạch qua sách vỡ hay qua những trường lớp là đủ, mà phải trực tiếp với lâm sàng, và phải biết theo dõi diễn biến tăng giảm của bệnh nhân từng phút, từng giờ để điều trị cho thích ứng. Cũng vậy, "pháp an tâm", không phải chỉ có một phương pháp mà có đến tám vạn bốn ngàn phương pháp hoặc có đến vô lượng phương pháp để thực tập. Duyên nào đã tác động, khiến cho tâm ta không an, thì ngay ở nơi duyên ấy mà thực tập pháp an tâm. Khi ta thực tập "pháp an tâm", cần có đủ cả ba chất liệu gồm: Niệm, Giác, và Nguyện. Niệm là ghi nhận rõ ràng những gì đang diễn ra nơi thân và tâm của ta, qua các cảm thọ do ý nghĩ và hành động đối với việc ta đang làm đem lại. Giác là ta phải biết rất rõ và chính xác những gì ta đang nghĩ và đang làm, cũng như biết một cách chính xác các cảm thọ đang diễn ra do ý nghĩ và hành động đối với công việc của ta đang làm đem lại. Nguyện nghĩa là ta làm bất cứ công việc gì là ta nguyện trong tâm ta, khiến tâm ta có đầy đủ hai chất liệu của Niệm và Giác để cùng hiện hữu với công việc ấy, ngay trong từng giây phút hiện tiền. Và ngay nơi công việc ấy, mà ta giác ngộ được tự thân thực tại, và cũng chính ngay nơi công việc ấy, mà ta thành tuệ giác vô thượng và thành tựu vô lượng công đức cho mình và cho người. Như vậy, tâm ta mắc kẹt ở chỗ nào, thì ngay ở nơi chỗ đó mà tháo gỡ; tâm ta bất an ở chỗ nào, thì ngay ở nơi đó mà thiết lập sự an lạc; tâm ta thất niệm với cái gì, thì ngay nơi đó mà niệm, để tạo thành năng lượng của chánh niệm; tâm ta bất giác với cái gì, thì ngay nơi đó mà giác để tạo thành chất liệu của toàn giác, và khi ta làm bất cứ công việc gì, thì ta nguyện mà làm, và ta phải biết nuôi dưỡng nguyện ấy, bằng chất liệu của Niệm và Giác trong từng giây phút hiện tiền, ngay nơi công việc hàng ngày của ta. Vì vậy, không có một pháp an tâm nào nhất định cho bác sĩ, kỹ sư, thương gia, chính khách, giáo sư, nông dân, người lớn hay trẻ em, nữ giới hay nam giới, tu sĩ hay cư sĩ mà vạn pháp đều tùy duyên, và ngay nơi vạn pháp tùy duyên ấy mà thiết lập Niệm, Giác và Nguyện, để chuyển hóa đời sống của nghiệp lực thành đời sống của nguyện lực, khiến cho ta thấy cái gì cũng xuyên suốt cả ngọn ngành nhân duyên, nghiệp quả, làm cái gì cũng dẫn sinh an lạc và thảnh thơi, xúc tiếp với cái gì, thì liền thấy rõ sự thật ngay ở nơi cái đó. Nên, ta có bao nhiêu phiền não là ta có bấy nhiêu điều kiện để tu tập, để thực hành pháp an tâm và Đức Phật của chúng ta sẽ hiện ra từ giữa vô biên phiền não ấy. Vậy, Đức Phật của chúng ta đang ở đâu, Ngài đang ở ngay trong bụi đời phiền não và kho tàng chánh pháp của Ngài cũng đang ở trong kho tàng vô biên phiền não của thế gian vậy. T.T.H Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm | ||||
| Posted: 04 Dec 2010 01:05 PM PST
Từ 1471 đến 1597, đâu có gì là lâu lắc, thế nhưng lịch sử vùng đất quê tôi đầy những dấu tồn nghi. Nội cái tên tiểu vùng đã làm nhiều nhà khảo sử phân vân. Theo TS Nguyễn văn Huy, một nhà dân tộc học có nhiều công trình nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thì Phú Yên là đất Aryaru cũ. Vậy thì thành ấy là cái thành gì chứ. Sao lại Thành Hồ. Chúng ta gọi theo Đại Nam nhất thống chí. Rõ ràng là các vị sử quan nhà Nguyễn đã áp đặt tên Việt cho thành Chăm, bảo rằng: "Tương truyền thành này do người Chiêm xây đắp, tục danh là Thành Hồ. Thuở đầu khai quốc, triều chúa Nguyễn, Lương văn Chánh bạt phá thành này, nay nền cũ vẫn còn". Cái "tục danh" này do người Việt đặt ra, nhiều sách viết là Hồ vương thành. Gọi như vậy có hai điều chưa ổn. Thứ nhất, đây nào phải vương thành. Thứ hai, dẫu là vương thì sử ta cũng chỉ coi đây là Hồ vương mà thôi. Ta bắt chước lối Tàu xưa, kỳ thị, cho mình là văn minh hơn, các dân tộc lân bang chẳng qua là những: Hồ, Phiên, Nhung, Địch, thậm chí là Man, Di… Hơn nữa, cái năm Lương văn Chánh bạt phá thành này là năm nào cũng không được chép rõ ràng. Lớp hậu thế đành kết hợp tư liệu suy đoán là năm 1578 để sau đó năm 1597 Lương văn Chánh nhận lệnh của chúa Nguyễn Hoàng đưa lưu dân vào khai khẩn vùng đất sau này mang tên Phú Yên. Nhưng đã thành nếp quen rồi, xin cứ gọi là Thành Hồ. Những trang sử đã lật qua, nay thành chỉ còn dấu vết thì có bận tâm phân biệt làm chi, Thành Hồ, Thành Phiên, Thành Chiêm, Thành Chàm, Thành Chăm…suy cho cùng chỉ là hư văn. Sau cái lần Lương văn Chánh "bạt phá", biết bao thế hệ con cháu ngài tiếp tục cũng là bạt phá để đáp ứng việc phát triển kinh tế như làm ruộng, làm kênh, làm mương, vừa phá vừa khen. Báo cáo của Sở Thủy nông thuộc Nha Tổng Thanh tra Công chánh Đông Dương về việc xây dựng đập Đồng Cam năm 1932 có viết: "Dưới thời Chàm vùng này đã được phồn vinh. Hiện tượng phồn vinh này đã được xác nhận bằng các công trình còn di tích ngay tại Tuy Hòa và bằng Thành Cổ mà nền móng được tìm thấy trong quá trình đào đất…". Đứng trong lòng thành đã có thể tưởng tượng ra quy mô ngày xưa, những hào, những lũy, những tháp canh, vọng gác… Nhưng muốn hình dung rõ hơn hãy trèo lên dãy núi phía tây, là phần thành vững chãi nhờ vào địa thế thiên nhiên, có nơi gọi là "Sân Cờ". Ngọn cờ treo nơi đây đúng là ngọn soái kỳ, lừng lẫy trên đỉnh non cao, in lên trời xanh mây trắng. Bao nhiêu, những người lính đã ngã xuống khi bảo vệ thành? Còn chi để lại đất Hồ? Nắng chiều tê tái nấm mồ xanh xanh? Không có. Đã trên 400 năm. Không có một nấm mồ nào và nắng chiều không tê tái. Ruộng đồng lúa bắp tốt tươi, lòng kênh đầy ắp nước bạc và nay thì chỗ này san bằng chỗ kia ủi phẳng, rộn ràng tấp nập cho cuộc sống mới… Như lâu nay nhiều người vẫn nghĩ Thành Hồ của người Chăm là một cứ điểm quân sự, một đồn lũy phòng thủ. Nhưng nếu Phú Yên là tiểu vùng Aryaru (cũng như các tiểu vùng Vijaya, Kauthara…) thì phải chăng Thành Hồ là thủ phủ, là nơt đặt bộ máy hành chánh cai trị, mới có bề thế như vậy. Các cứ điểm quân sự của người Việt ở đây phần nhiều dưới hình thức các đồn, các bảo (bảo Hội An, bảo La Thai, bảo Phước Sơn…), còn thành là nơi làm việc của các quan đứng đầu dinh, trấn, đạo, tỉnh. Tại Phú Yên, qua dòng lịch sử có ba nơi từng được gọi là thành: thành Hội Phú, thành An Thổ và thành Long Bình. Thành Hội Phú dưới thời các chúa Nguyễn và vua Gia Long. Năm 1832 vua Minh Mạng chia lại các đơn vị hành chánh trong nước, Phú Yên được thăng thành tỉnh. Sau đó, tỉnh đường dời từ Hội Phú về Long Uyên, cũng trong tổng Xuân Sơn huyện Đồng Xuân. Rồi Long Uyên chia làm hai thôn Long Uyên và An Thổ, thành nằm trong phạm vi An Thổ, do đó tùy thời điểm, giai đoạn trước gọi là thành Long Uyên, giai đoạn sau gọi là thành An Thổ. Thành Hội Phú bây giờ là Thành Cũ, và thành An Thổ là Thành Mới, xây theo kiến trúc Vauban, tên một kỹ sư người Pháp, tác giả các kiểu thành xây ở Việt Nam thời Gia Long, Minh Mạng. Nhiều tư liệu cho biết thành có 4 cửa Tiền, Hậu, Tả, Hữu. Cửa Tiền ở hướng đông, cửa Hậu ở hướng tây, cửa Hữu hướng nam và cửa Tả hướng bắc. Phía ngoài mỗi cửa có miếu thờ Thổ Thần. Gần cửa Tả có một cái bàu, gọi là bàu Cửa Tả. Thành bao giờ cũng giữ địa vị quan trọng tại địa phương nên từ nó có thêm những địa danh khác như Chợ An Thổ mang tên chợ Thành, vì không họp hàng ngày mà họp phiên nên tên được cụ thể là "chợ Phiên Thành". Mặt cửa Hữu còn có một chợ nhỏ (chợ chồm hổm) họp mỗi buổi sáng, một số ít người mua bán, đó là chợ Cửa. Theo hướng từ Phú Mỹ, Bình Hòa đi xuống, qua khỏi chợ Phiên Thành, chưa tới chợ Cửa có một lối đi rộng rẽ bên trái sẽ gặp hai đoạn tường thành còn lại, cách nhau bởi một cửa thành, có hai trụ cửa cao xây hình vuông. Đi vào trong, nhìn phía trái còn một nền cao, mặt đất, chung quanh xây đá, nhìn thẳng vào là dãy nhà nay dùng làm trụ sở Hợp tác xã, miếng đất sau trụ sở đã là đất vườn. Phía cửa Tả có mấy ngôi nhà dân, cửa xây ra hướng bắc. Vài ba người lớn tuổi bảo rằng nơi trụ cổng thành hồi trước trên cao có chòi canh, và đây là phần thành bên trong. Thành đất bao bọc bên ngoài và lúc ấy đường đi nằm hẳn bên ngoài. Chỉ có vậy. Lần ấy tôi bắt gặp vài cộ chở gạch…con bò bước đi thong thả ung dung. Một bầu không khí bình lặng, không có gì biểu lộ niềm vui hay nỗi buồn. Nếu không có một chút tâm sự nào đó, thì đi qua thành hay vào thành ta có thể dửng dưng quay gót trở về. Thành An Thổ từ đời Minh Mạng đến đời Thành Thái, là tỉnh thành, nó là niềm hãnh diện của nơi đây. Thơ cụ Đồ Chiểu có câu tả cảnh: Huyện thành ngắm kiểng coi người Kiểng xinh như vẽ, người tươi như dồi Đó mới là cỡ huyện thành, tỉnh thành còn sang hơn nữa. Sau hơn sáu mươi năm, An Thổ (từng đoạt địa vị của Hội Phú) nhường lại địa vị cho Long Bình để làm phủ thành, rồi lại nhường địa vị cho Chí Thạnh và ngày nay là cấp "hợp tác xã thành". Một câu đối xưa có đoạn "Trấp tải hậu tang thương đa biến cuộc". Mới sau hai mươi năm đã nhiều cuộc tang thương biến đổi, Thành An Thổ mất địa vị hơn một thế kỉ rồi, cái thế kỉ XX "một trời biến cuộc", nó trở thành thản nhiên là phải. Đừng tìm ở đây lối xưa xe ngựa, nền cũ lâu đài, không có những bóng tịch dương – hồn thu thảo đâu. Thành xưa đã cùng với con người chịu đựng quá nhiều rồi, không còn dấu tích nhiều cũng đúng, khỏi có những giây phút của đêm tàn: Theo trăng bóng vạc về rừng Sương thu phủ kín mấy từng thành xưa… (Nam Trân) Nay cả Thành Hồ và Thành An Thổ đều được công nhận di tích lịch sử văn hóa. Thật là điều đáng mừng. Hai thành ấy sẽ được đối xử sao đây? Chỉ giữ nguyên hiện trạng với mấy cái hố đào bới tìm hiện vật và hai đoạn thành loang lổ rã rời chăng? Hay trùng tu và trùng tu như thế nào? Chẳng lẽ như mấy ngôi "tháp cổ" bây giờ thành ngôi "tháp tân". Ai nhìn cũng thấy lạ hoắc lạ huơ. Nhưng cũng không sao. Để dành cho những thế hệ chào đời từ thế kỉ XI coi đó là kỉ niệm ấu thơ của họ. Trần Huiền Ân
Filed under: Mây Trắng Dinh Phoan, Nước Việt Mến Yêu, Văn Hóa Tagged: Nước Việt Mến Yêu, Văn Hóa | ||||
| China-Japan Dispute Shines Light on Rare Earth Metals – VOA special English Posted: 04 Dec 2010 01:03 PM PST | ||||
| Vì sao đàn bà Việt hay bị đánh? Posted: 04 Dec 2010 01:02 PM PST Tác giả: PGS. TS. Hoàng Bá Thịnh Mong rằng, những nhà soạn thảo pháp luật trong phòng họp có máy lạnh, hãy đặt mình vào hoàn cảnh của người sống ở nhà tranh. Có như vậy, mới hiểu được thân phận của những người thuộc tầng lớp nghèo khổ.
5 lý do ăn… đòn Ở Việt Nam, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bạo lực vợ chồng trong gia đình là do thiếu hiểu biết của người trong cuộc. Đáng lo ngại rằng, do thiếu hiểu biết nên chính người phụ nữ nhiều khi lại tạo cho nam giới “môi trường thuận lợi” để một số ông chồng phát huy tính vũ phu của họ. Nghiên cứu của Tổng cục Thống kê và UNICEF về Đánh giá các mục tiêu Trẻ em và Phụ nữ năm 2006 cho thấy một kết quả thật đáng ngạc nhiên: Có tới 64% phụ nữ trong độ tuổi 15-49 chấp nhận hành vi bạo lực của chồng với một trong 5 lý do sau: Vợ đi chơi mà không nói cho chồng biết. Vợ bỏ bê con cái. Vợ cãi lại chồng. Vợ từ chối quan hệ tình dục với chồng. Và vợ nấu thức ăn bị cháy. Kết quả này cho thấy, cứ 3 phụ nữ thì 2 người đồng ý với việc chồng có quyền đánh vợ nếu người vợ có một trong 5 khuyết điểm nói trên. Vì thế, việc phòng chống bạo lực gia đình cần bắt đầu từ nâng cao nhận thức cho người chồng và cả chính người vợ. Cần lưu ý đến các đặc điểm về khu vực địa lý, về đặc trưng nhân khẩu học xã hội mà có phương thức và nội dung tuyên truyền, giáo dục phù hợp với những nhóm đối tượng khác nhau. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự thiếu hiểu biết bao gồm khu vực cư trú (nông thôn thiếu hiểu biết hơn đô thị, miền núi kém hiểu biết hơn đồng bằng), về trình độ học vấn (học vấn càng thấp càng dễ chấp nhận việc chồng đánh vợ). Người phụ nữ có độ tuổi càng cao thì càng dễ cam chịu mình có lỗi khi bị chồng “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”. Vì nhóm tuổi càng cao thì càng chịu nhiều ảnh hưởng của quan niệm cũ về thân phận làm vợ và họ cũng ít có cơ hội được tiếp cận thông tin, giáo dục so với nhóm trẻ tuổi. Phụ nữ dân tộc thiểu số thường có tỷ lệ chấp nhận bạo lực của chồng cao hơn phụ nữ người Kinh. Người ở nhà ngói tư duy khác kẻ sống ở nhà tranh? Sự thay đổi nhận thức thường có thể dẫn đến thay đổi thái độ và hành vi. Do vậy để ngăn ngừa và phòng, chống bạo lực gia đình, bên cạnh những giải pháp khác cần ưu tiên cho việc nâng cao nhận thức của phụ nữ, nam giới và cộng đồng, trước hết về Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân- gia đình và các quyền con người. Một điều quan trọng nữa, nếu phụ nữ còn cam chịu, thì rất khó giảm được các hành vi bạo lực gia đình. Cho nên, bên cạnh việc nâng cao kiến thức về quyền, luật pháp cho phụ nữ, cũng cần trang bị cho họ kỹ năng phòng ngừa, tự vệ, và khuyến khích phụ nữ tự tin, dũng cảm “phá vỡ sự im lặng” cố hữu, không còn là nô lệ theo kiểu suy nghĩ “xấu chàng, hổ ai”. Để Luật phòng, chống bạo lực gia đình nhanh chóng đi vào cuộc sống một cách có hiệu quả, thiết nghĩ cần có sự đánh giá việc triển khai thực hiện luật này như thế nào. Có ý kiến cho rằng, sau khi ban hành Luật phòng, chống bạo lực gia đình thì các vụ bạo lực gia đình lại tăng. Mới đây, chúng tôi tiến hành khảo sát việc thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình tại 4 tỉnh, trong đó có một xã thuộc ngoại thành Tp. Hồ Chí Minh, thấy rằng việc tuyên truyền, giới thiệu Luật phòng chống bạo lực gia đình trong dân cư còn hạn chế. Đáng chú ý rằng, việc thực hiện Nghị định 110 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình rất khó khả thi. Một trưởng công an xã cho biết rằng, năm vừa qua đã ra quyết định xử phạt hành chính 3 lần với một ông chồng bạo lực, nhưng họ chẳng nộp phạt đồng nào (mỗi quyết định xử phạt với mức 1,5 triệu đồng), và với những ông chồng này hành vi bạo lực gia đình không vì vậy mà giảm.
Thực tiễn này gợi ý rằng, việc xây dựng Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, có lẽ chỉ khả thi với những người có thu nhập trung bình. Còn nhóm người có thu nhập lại thường có học vấn, có hiểu biết nên ít có hành vi bạo lực, nhóm này thường hiếm khi bị phạt hành chính.Trong khi nông dân nghèo, học vấn thấp, cuộc sống khó khăn thường dễ có chuyện “cơm không lành, canh chẳng ngọt” nảy sinh hành vi bạo lực gia đình, và dễ bị xử phạt hành chính. Nhưng với nông dân nghèo, ăn còn chả đủ lấy đâu mà nộp phạt? Dân gian từng nói “nắm anh có tóc, chứ ai nắm kẻ trọc đầu”, cho nên, phạt người nghèo “không có tóc” thì nắm làm sao? Mới hay, nhận thức phòng chống bạo lực gia đình, không chỉ từ những người trong cuộc, mà cả những người soạn thảo văn bản chính sách, luật pháp cũng cần có nhận thức đúng và phù hợp với thực tiễn, dặc điểm cộng đồng. C.Mác có nói một câu đại ý rằng, người ở nhà ngói tư duy khác kẻ sống ở nhà tranh. Mong rằng, những nhà soạn thảo pháp luật trong phòng họp có máy lạnh, hãy đặt mình vào hoàn cảnh của người sống ở nhà tranh. Có như vậy, mới hiểu được thân phận của những người thuộc tầng lớp nghèo khổ. Và chỉ khi đó, các văn bản pháp quy mới có tính khả thi, mới nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Filed under: Các vấn đề xã hội Tagged: Các vấn đề xã hội | ||||
| Học sinh dùng mã tấu hỗn chiến trong lớp học Posted: 04 Dec 2010 01:01 PM PST Sáng 4/12, Trung tâm giáo dục thường xuyên quận 4 (TP HCM) náo loạn bởi nhóm học sinh nam dùng dao chém nhau loạn xạ. Ba em bị thương nặng. Ba học sinh bị thương là Cao Minh Quân (16 tuổi), Lê Kim Nghĩa (15 tuổi, cùng học lớp
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, nhiều học sinh báo Ban Giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên đưa những học sinh bị chém vào đầu, vai vào Bệnh viện Đa khoa quận 4 để cấp cứu. Tại hiện trường, công an cũng thu giữ được 4 con dao (dài khoảng 40 cm) và một cây sắt tròn bằng inox có một đầu nhọn, dài khoảng 40 cm. Công an đã mời 4 học sinh liên quan về lấy lời khai. Theo thông tin ban đầu, sáng 3/12, Nguyễn Mạnh Cường (học sinh lớp 11) có mâu thuẫn với nhóm học sinh lớp 8 (trong đó có Quân và Nghĩa) và bị nhóm này đánh tại con hẻm bên hông trường. Tuy nhiên khi bị công an và dân phòng phường 2 (trụ sở công an cách đó khoảng 50 m) phát hiện thì nhóm đánh nhau giải tán. Sáng 4/12, Cường lại bị nhóm của Quân, Nghĩa kéo lên sân thượng của trung tâm "hỏi chuyện" và đánh tiếp. Cường vùng bỏ chạy xuống khu vực lầu 2 của trung tâm. Thấy đánh nhau, Trần Xuân Thiện (học sinh lớp 10N) chạy ra can ngăn liền bị nhóm lớp 8 đánh luôn và dùng dao chém trúng vào chân. Vụ đánh, chém có sự tham gia của nhiều học sinh tạo ra sự hỗn loạn, trong đó Quân và Nghĩa đã bị thương nặng.
Theo nhiều người dân sống trên đường Nguyễn Khoái, chuyện đánh nhau tại Trung tâm giáo dục thường xuyên này xảy ra thường ngày. Filed under: Các vấn đề xã hội Tagged: Các vấn đề xã hội |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |
No comments:
Post a Comment