Đọt Chuối Non |
- Livin’ On A Prayer – Bon Jovi
- Các diễn văn làm thay đổi thế giới – Kinh Hòa Bình và Bài Giảng Cho Loài Chim – Thánh Phanxicô Nghèo Khó
- 2010 Global Corruption Barometers (download)
- Tha thứ và hòa giải – tù nhân và chúa ngục
- Bến Tre gồng mình chống thay đổi khí hậu
- Ngồi trên núi vàng, sao Việt Nam vẫn nghèo?
| Posted: 09 Dec 2010 02:35 PM PST Sống bằng cầu nguyệnNgày đó, không lâu lắm trước đây: Chàng gặp vận khó – Khó Nàng mang tiền công về cho tình yêu Nàng nói: Ta phải bám víu vào cái ta có Ta đã đi được nửa đường – sống bằng cầu nguyện Tommy đã đưa cây đàn guitar cho tiệm cầm đồ Ta phải bám víu vào cái ta có Ta phải kiên trì, dù sẵn sàng hay không Ta sống để chiến đấu khi ta chỉ có được vậy Ta đã đi được nửa đường – sống bằng cầu nguyện Living on a Prayer(Bon Jovi) Once upon a time not so long ago: He’s down on his luck – It’s tough She brings home her pay for love She says: We’ve got to hold on to what we’ve got We’re half way there – Livin’ on a prayer Take my hand and we’ll make it Tommy got his six string in hock. We’ve got to hold on to what we’ve got . . . We’ve got to hold on ready or not You live for the fight when it’s all that you’ve got. We’re half way there – Livin’ on a prayer Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Song ngữ, Video & PPS, Văn Hóa | ||||||||||||
| Posted: 09 Dec 2010 02:35 PM PST
Từ bỏ cuộc sống giàu sang, hưởng thụ, ông bước vào cuộc sống khó nghèo và phục vụ. Ông cũng từ bỏ gia đình và để cha đẻ từ mình – có lẽ đó là bước cuối cùng trong việc từ bỏ mọi lối mòn, ràng buộc của cuộc sống thế gian để chỉ còn sống trọn vẹn với tinh thần của Thiên Chúa. Với sự hiến thân trọn vẹn ấy, ông đã đóng góp đáng kể trong việc xây dựng lại Giáo Hội Công Giáo, thời bấy giờ, đang bị chia rẽ và khủng hoảng trầm trọng. Trong tinh thần Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ, ông thu hút và lập nên dòng tu Anh Em Hèn Mọn – là những người anh em và những người đầy tớ yêu thương phục vụ mọi người (Dòng Nhất). Các chị em yêu mến và phụng sự Thiên Chúa. tin và sống những điều Francis dạy bảo: "Niềm vui hoàn hảo là ở chỗ sống nghèo trong mọi sự." đã lập nên Chị Em Nghèo Khó thành Assisi (Dòng Nhì). Năm 1216, ông lập ra Dòng Phan Sinh Tại Thế, còn gọi là Dòng Ba, gồm những anh chị em sống giữa thế gian, nhưng xa lánh cuộc đời xa hoa, dành thì giờ và đem tiền của giúp đỡ người nghèo, góp phần vào hoạt động tông đồ của Dòng Anh Em Hèn Mọn. (http://khuccamta.net/diendan/archive/index.php/t-3490.html) Kinh Hòa BìnhKinh Hòa Bình là một bài kinh cầu nguyện rất phổ thông trong Thiên Chúa Giáo và được tin là của Thánh Francis, tuy rằng ngày nay người ta chỉ tìm được đến những bản in phổ biến lần đầu tiên vào năm 1912 tại Pháp như một tác phẩm khuyết danh. Những lời cầu nguyện cho hòa bình này đã lan khắp châu Âu cũng như nước Mỹ từ sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ I cho đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ II. Mẹ Teresa dùng bài kinh này trong các bài cầu nguyện buổi sáng của Dòng Truyền Giáo Từ Thiện (Missionairies of Charity) mà Mẹ sáng lập. Bà cũng nhắc đến lời cầu nguyện này khi bà nhận Giải Nobel Hòa Bình tại Olso năm 1979. Margaret Thatcher sau khi thắng cử cuộc tổng bầu cử Vương Quốc Anh năm 1979 trích lời kinh này trước ngưỡng cửa Nhà Số 10 Phố Downing giữa các phóng viên báo chí đang vây xung quanh, khi làm lễ "hôn tay" Nữ Hoàng Elizabeth II và trở thành Thủ Tưởng. Tổng Giám Mục Desmond Tutu, người đoạt giải Nobel Hòa Bình năm 1984, đã tuyên bố rằng lời nguyện này là "phần không thể tách rời" trong lời cầu nguyện của ông. Tháng 10 năm 1995, Tổng thống Bill Clinton đã trích lời nguyện này trong diễn văn chào mừng Pope John Paul II khi ngài đến Hoa Kỳ. Nancy Pelosi cũng đã dùng lời nguyện này khi bà trở thành phát ngôn viên của Quốc Hội Mỹ năm 2007. (http://en.wikipedia.org/wiki/Prayer_of_Saint_Francis) Và bài cầu nguyện này đã được nhắc đến lần này là lần thứ ba trên Đọt Chuối Non!
Thưa Chúa, xin làm cho con thành công cụ cho hòa bình của Người. Khiến cho con gieo tình yêu vào nơi thù hận, Sự tha thứ vào nơi tổn thương Sự tin tưởng vào nơi nghi ngờ Sự hi vọng vào nơi tuyệt vọng Ánh sáng vào nơi tối tăm Niềm vui vào nơi phiền muộn. Ôi thưa Đấng Toàn Năng, Xin cho con có thể không kiếm tìm được người an ủi nhiều như mình an ủi người; Được người thông hiểu nhiều như mình thông hiểu người; Được người thương yêu nhiều như mình thương yêu người. Vì chính bằng cho đi mà ta nhận được về. Chính bằng tha thứ mà ta được ta thứ, và chính bằng chết đi mà ta được sinh vào Cõi Vĩnh Hằng. Amen
Lord, make me an instrument of your peace. Where there is hatred, let me sow love. Where there is injury, pardon. Where there is doubt, faith. Where there is despair, hope. Where there is darkness, light. Where there is sadness, joy. O Divine Master, grant that I may not so much seek to be consoled, as to console; to be understood, as to understand; to be loved, as to love. For it is in giving that we receive. It is in pardoning that we are pardoned, and it is in dying that we are born to Eternal Life. Amen. (http://en.wikipedia.org/wiki/Prayer_of_Saint_Francis)
Bài Giảng Cho Loài ChimTừ trong xã hội bắt đầu mải mê chạy theo những giá trị thế gian và tự tin ở "thành tựu" của con người, Thánh Francis đã thoát ra để đề cao Thiên Chúa và những kiến tạo của Người. Vì thế, bên cạnh việc theo gương Chúa Jesu bằng tính cách "khó nghèo" và khiêm cung đến cùng cực, Thánh Francis còn thể hiện tình yêu, sự trân quý và chan hòa với môi trường thiên nhiên và muôn loài. Ông được tôn là thánh quan thầy của loài vật. Bài Giảng cho Loài Chim là một bài giảng nhỏ của ông với đàn chim về tình yêu bao la của Thiên Chúa đối với các tạo vật của Ngài. Đó là bí tích về một lần khi Francis đang giảng cho dân chúng thì đàn chim đậu trên các cây gần đó kêu inh ỏi, lấn át cả lời ông giảng, ông liền hướng về đàn chim xin các ”chị” chim đừng làm ồn để dân chúng có thể nghe Lời Chúa. Lập tức đàm chim im lặng. Chờ đến khi ông giảng xong và dân chúng ra về, đàn chim sà xuống bên ông, đậu trên vai, trên cánh tay và chung quanh ông và nghe ông giảng: "Này chim, các chị em nhỏ của ta, các bạn được gắn bó với Chúa, Đấng Sáng Tạo ra các bạn, biết bao nhiêu, và ở mọi nơi các bạn nên luôn ca ngợi Ngài, vì Ngài đã ban cho các bạn tự do được bay đi hầu khắp mọi nơi, và cũng ban cho các bạn hai ba lớp áo; hơn thế nữa, Ngài đã giữ lại nòi giống của các bạn trên chiếc thuyền của Noah, để chủng loài của các bạn không bị hủy hoại khỏi thế gian này; còn hơn thế nữa, các bạn chịu ơn Ngài về từng yếu tố của không khí mà Ngài đã ban cho các bạn; hơn cả những điều này, các bạn không phải gieo và cũng không phải gặt; và Chúa đã nuôi các bạn, cho các bạn các con suối và nguồn nước để uống, các ngọn núi và thung lũng để trú ẩn và các cây cao để các bạn làm tổ trên đó; và vì các bạn không quay tơ hay may vá, Chúa mặc quần áo cho các bạn, các bạn và con cháu các bạn, vì thế Đấng Sáng Tạo ra bạn yêu các bạn biết bao nhiêu, có thể thấy Ngài đã ban tặng cho các bạn biết bao lợi ích; và do vậy, các chị em nhỏ của ta, hãy để ý đến tội vô ơn và hãy luôn luôn học ca ngợi Chúa." "My little sisters, the birds, much bounden are you [ye] unto God, your Creator, and always in every place ought you [ye] to praise Him, for that He had [hath] given you liberty to fly about everywhere, and had [hath] also given you double and triple rainment; moreover He preserved your seed in the ark of Noah, that your race might not perish out of the world; still more are you [ye] beholden to Him for the element of the air which He had [hath] appointed for you; beyond all this, you [ye] sow not, neither do you reap; and God feed [feedeth] you, and gave [giveth] you the streams and fountains for your drink; the mountains and valleys for your refuge and the high trees whereon to make your nests; and because you [ye] know not how to spin or sew, God clothed [clotheth] you, you and your children; wherefore your Creator loved [loveth] you much, seeing that He had [hath] bestowed on you so many benefits; and therefore, my little sisters, beware of the sin of ingratitude, and study always to give praises unto God." Đọt Chuối Non đã post các bài nhạc Kinh Hòa Bình ở đây. (http://www.historyplace.com/speeches/saintfran.htm) Bài tiếp theo: "Tôi có trái tim và tấm lòng một vì vua" , Bài diễn văn trước quân đội Anh tại Tilbury, 1588, Nữ Hoàng Elizabeth I Filed under: Các diễn văn làm thay đổi thế giới, Trà Đàm, Văn Hóa Tagged: các diễn văn làm thay đổi thế giới, trà đàm, Văn Hóa | ||||||||||||
| 2010 Global Corruption Barometers (download) Posted: 09 Dec 2010 02:33 PM PST
The 2010 Barometer captures the experiences and views of more than 91,500 people in 86 countries and territories, making it the only world-wide public opinion survey on corruption. Views on corruption were most negative in Western Europe and North America, where 73 per cent and 67 per cent of people respectively thought corruption had increased over the last three years. “The fall-out of the financial crises continues to affect people’s opinions of corruption, particular in North America and Western Europe. Institutions everywhere must be resolute in their efforts to restore good governance and trust,” said Huguette Labelle, Chair of Transparency International. In the past 12 months one in four people reported paying a bribe to one of nine institutions and services, from health to education to tax authorities. The police are cited as being the most frequent recipient of bribes, according to those surveyed. About 30 per cent of those who had contact with the police reported having paid a bribe. More than 20 countries have reported significant increases in petty bribery since 2006. The biggest increases were in Chile, Colombia, Kenya, FYR Macedonia, Nigeria, Poland, Russia, Senegal and Thailand. More than one in two people in Sub-Saharan Africa reported paying a bribe – more than anywhere else in the world. Poorer people are twice as likely to pay bribes for basic services, such as education, than wealthier people. A third of all people under the age of 30 reported paying a bribe in the past 12 months, compared to less than one in five people aged 51 years and over. Most worrying is the fact that bribes to the police have almost doubled since 2006, and more people report paying bribes to the judiciary and for registry and permit services than five years ago. Sadly, few people trust their governments or politicians. Eight out of 10 say political parties are corrupt or extremely corrupt, while half the people questioned say their government’s action to stop corruption is ineffective. “The message from the 2010 Barometer is that corruption is insidious. It makes people lose faith. The good news is that people are ready to act,” said Labelle. “Public engagement in the fight against corruption will force those in authority to act – and will give people further courage to speak out and stand up for a cleaner, more transparent world.” Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế | ||||||||||||
| Tha thứ và hòa giải – tù nhân và chúa ngục Posted: 09 Dec 2010 02:32 PM PST
Bài này là môt chuỗi 5 bài của Lao Động và Dân Trí) Người về từ "địa phủ" và 9 chiếc răng lưu lạc (*) Ông – cựu tù Vũ Minh Tằng nuốt 9 cái răng của mình rồi bới phân tìm lại "chùm răng" suốt hơn 30 năm, trước khi hiến chúng cho bảo tàng. Gặp tôi, ông Tằng khóc: "Tôi về từ địa phủ, không bao giờ dám nghĩ mình còn sống trở về cùng 9 chiếc răng lưu lạc đó"… Vừa rồi, ra khu vực di tích nhà tù Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang), tôi đã tìm bằng được viên cai ngục thuộc loại tàn ác nhất trong lịch sử Việt Nam Trần Văn Nhu (năm nay 83 tuổi). Trong gần ba chục trò tra tấn dã man đối với cộng sản hồi trước năm 1973, hãi nhất là trò dùng gậy đục gãy từng chiếc răng của người tù, rồi bắt họ tự uống máu, tự nuốt răng mình.
Cựu tù Vũ Minh Tằng đang sống cách đảo Phú Quốc khoảng 2.000km (xã Vĩnh Hào, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) là nạn nhân thảm khốc nhất bởi "những trò chơi của quỷ". Ông đã nuốt 9 cái răng của mình rồi bới phân tìm giữ lại "chùm răng" suốt hơn 30 năm, trước khi hiến chúng cho bảo tàng. Gặp tôi, ông Tằng khóc: "Tôi về từ địa phủ, không bao giờ dám nghĩ mình còn sống trở về cùng 9 chiếc răng lưu lạc đó". Sống sót từ "gậy biệt ly" và "vồ sầu đời" Căn nhà đơn sơ ở thôn Tiên Hào có 3 người già nua, đầy tật bệnh. Ông Tằng 70 tuổi. Bà Nguyệt (vợ ông) cũng đã ở tuổi 72, bệnh thấp khớp làm hai đầu gối bà to như cái đấu, đi lại rù rờ. Em trai ông Tằng tên là Vũ Văn Mỹ, năm nay 63 tuổi, trèo tổ chim cu ngã gãy cột sống liệt toàn thân, mất trí từ năm 13 tuổi, đã được bà Nguyệt chăm bẵm từ miếng ăn, giấc ngủ cho đến tắm táp, vệ sinh suốt 50 năm qua. "Rõ khổ, lúc ông Tằng đi bộ đội rồi bị địch đưa ra nhà tù Phú Quốc, bao nhiêu năm không có tin tức sống chết thế nào. Tôi ngày nào cũng tắm cho chú em trần truồng kia, nhiều người đến cứ buồn bã hỏi: "Chồng cô bị tàn tật thế từ bao giờ vậy?"- bà Nguyệt ngậm ngùi. Hai ông bà lấy nhau, đẻ được một đứa con, bà đang mang thai đứa thứ hai, thì năm 1962, ông Tằng cùng 8 thanh niên nữa ở Tiên Hào xung phong vào chiến trường đánh Mỹ. Vào đến hang Đá Chẹt trong Quảng Ngãi, trong một trận huyết chiến, ông Tằng bị thương ở hộp sọ bên phải vẫn cố thủ trong hang tiêu diệt địch. Bọn chúng tức tối, thả lựu đạn cay, hơi ngạt xuống; rồi cứ thế khênh tất cả vào bệnh viện trong Quy Nhơn. Lúc tỉnh dậy, chúng lấy lời khai rồi đưa ông và nhiều đồng đội khác lên máy bay ra nhà tù Phú Quốc. Bắt đầu từ năm 1968, cuộc đời ông Tằng thật sự rơi vào chốn "địa phủ" của các trò tra tấn dã man. Năm 1973, sau 8 năm ở tù, được trao trả theo Hiệp định Paris, người tù cộng sản Vũ Minh Tằng chỉ còn có 23kg. Trong cạp quần ông có giắt 8 cái răng của mình.
"Tôi không tin là tôi còn có thể sống được, nhưng chẳng may tôi sống mà trở về, thì tôi sẽ dùng những chiếc răng này để làm kỷ niệm về một thời không thể nào quên. Và, khi tôi chết, nhất định con cháu phải thả chùm răng của tôi vào quan tài cho "đủ bộ"…" – ông Tằng tiếp: "Năm 1971 ấy, tôi là Bí thư Chi bộ của Phân khu A2 gồm 1.800 tù nhân ở nhà ngục Phú Quốc, tôi tổ chức cho anh em vượt ngục. Phải đào hầm, khoét ngạch mất đúng 1 năm, đất đá nghiền vụn dúi vào các thùng phuy đựng xỉ than của trại, tống ra bãi thải. Gần 100 chiến sĩ "độn thổ" từ phòng giam ra ngoài, biến mất trong rừng caosu cổ thụ của đảo, họ phối hợp với dân chài vượt biển vào đất liền. Tổ chức cho anh em chạy xong, thì trời cũng sáng, lại bị mấy đứa "gián điệp" được địch cài vào đóng giả tù nhân nó tố cáo, thế là tôi bị chúng đem đi tra tấn. Thằng cai ngục ác ôn Trần Văn Nhu cùng đám quân cảnh đem tôi và một số người lên. Nó bảo: Mày giỏi lắm. Tao sẽ cho mày chết từ từ, vừa chết vừa nhớ vợ con và đồng đội, quê hương, chứ bắn mày bòm một cái vứt xuống biển thì quá dễ. Thỉnh thoảng, bọn chúng cáu tiết đứng trên chòi cao, nã cối 82 ly hoặc xả súng liên thanh bắn chết vài chục người tù, rồi mất 5 xu mua giấy viết một tờ trình là "tù cộng sản nổi loạn buộc phải nổ súng", thế là xong! Nhu dùng một cái ống tuýp sắt dài, gọi là "gậy biệt ly" và một cái vồ gỗ lớn, gọi là "vồ sầu đời" (ý rằng, đã bị dùng "dụng cụ đặc biệt" đó thì chỉ có sầu đời mà ly biệt với dương gian!) để tra tấn tôi. Nó bắt tôi há miệng, "tao xin cái răng", "à, thế mày cho tao cái nào", tôi tức quá, bảo "gậy của mày, mạng tao trong tay mày, mày lấy cái nào thì cứ lấy". Nhu dùng tuýp sắt ghè thẳng vào miệng tôi, một cái răng gãy, máu tuôn xối xả, nó bắt tôi uống hết máu của tôi, giọt nào chảy ra ngoài miệng là nó giết. Tôi không nuốt được cái răng dài gồm cả chân răng nhọn hoắt của mình, nó cho quân cảnh xả nước vào miệng tôi ào ào. Lần lượt, 9 cái răng chui vào miệng tôi trong một buổi tối tra tấn. Hôm đó là cuối tháng, trời tối lắm. Bụng tôi chướng, tức anh ách như có ai cầm dao mà rạch dọc, rạch ngang. Trong bụng toàn máu của tôi cộng thêm rất nhiều nước lã do chúng nó cạy miệng xả vào.
Tôi ngất đi, khi tỉnh lại thì Nhu dùng "vồ sầu đời" tiếp tục đập. Nó dùng cái tấm sắt có lỗ tròn sắc lẻm, đặt vừa khít gót chân người tù, rồi cứ thế nện vào đầu gối họ. Đầu gối vỡ, xương bánh chè vỡ, gót chân cũng… bị lỗ sắt tròn tiện mất từng khoanh. Hai đầu gối tôi lạo xạo vỡ như vỏ trứng gà luộc. Nó cứ đập từng chày một, xương ở chân tôi cứ vỡ dần, nó không cho tôi ngất, cứ phải "hà hơi tiếp sức" bao giờ tôi tỉnh thì nó mới đánh tiếp. Rồi nó dùng những cái đinh mười phân đóng vào các ống chân, đầu gối của tôi. Tôi bị ném vào chuồng cọp biệt giam. Có khi tôi và các người tù phải đi "tiểu" ra tay mình, rồi chia nhau mỗi người uống một hớp để sống. Có khi, chúng nấu cơm, nặn thành từng viên như viên bi, bắt chúng tôi lăn với máu và… phân người để ăn". Ông Tằng đã kỳ công "phục kích" trong những lần đi đại tiện sau ngày nuốt 9 cái răng của mình. Ăn, ngủ, phóng uế tại phòng biệt giam, thế là lần nào ông cũng loay hoay bới các đống phân của mình, vê nhỏ nó ra, tìm kiếm bằng được những chiếc răng bị nuốt. Ông giữ "chùm" răng đó suốt hơn 600 ngày tù tội, bằng cách bí mật giắt nó trong cạp quần rồi tìm cách khâu lại. Ông giữ chùm răng đó trong suốt 30 năm, trước khi trao chúng cho bảo tàng mượn. Sau gần 40 năm nheo nhóc, quặt quẹo chiến đấu với bệnh tật, tháng 6 năm 2010, ông Tằng mới có điều kiện chụp chiếu lại toàn bộ cơ thể mình. Kết quả đã làm các bác sĩ kinh ngạc. Mảnh đạn R15 vẫn găm ở hốc mắt bên phải ông Tằng, sờ tay cũng thấy lổn nhổn, đụng dao kéo vào là… mù. Hiện ông phải đeo kính 13 "phẩy" mới nhìn mọi vật mờ mờ được. Hộp sọ bên phải bị thương (vỡ xương chũm), màng nhĩ thủng, tai bên phải điếc hoàn toàn, nhìn bằng mắt thường cũng thấy khuyết cả một khung xương, đút vừa cái chén uống nước. Hai đầu gối ông Tằng sờ vào thấy lạo xạo xương vỡ do "vồ sầu đời" tấn công. Hai rẻ xương sườn bên trái bị gãy, 4 đốt xương sống bị nứt và chẻ vỡ… do bị quân cảnh đấm đá và dùng vồ tra tấn. Lại thêm thủng dạ dày, viêm hang vị, bệnh thấp khớp hoành hành.
Khi chết, tôi sẽ bảo các con lên bảo tàng xin lại 8 cái răng Cuộc khám bệnh tổng thể vừa qua khiến ông Tằng nghĩ nhiều hơn về cái răng lưu lạc thứ chín. "Chẳng là, rõ ràng tôi nuốt 9 cái răng bị thằng Nhu đập gãy. Nhưng mấy tháng sau khi tôi nuốt, lần nào cũng vo viên phân của mình, mà tuyệt nhiên tôi mới chỉ "đón nhận" được 8 cái răng từ trong bụng mình trôi ra. Vừa rồi đi siêu âm, các bác sĩ đã tìm thấy vật màu đen cứng ngắc đó. Tôi mừng lắm. Chắc vì nó (chiếc răng) là một phần cốt nhục của tôi, nên nằm trong bụng tôi, dù gai góc thế, nhưng nó chưa bao giờ làm tôi đau đớn cả" – Ông Tằng nói rồi cười, hai tay khuỳnh lên miệng, "tóp" một cái, ông móc ra hai hàm răng giả mà rằng: "Bà ấy còn phải nhá cơm cho tôi ăn gần ba mươi năm giời. Tôi bị bẻ răng đã gần 40 năm, hơn 30 năm không có tiền làm răng giả, anh ạ. Tôi tàn phế thế, mà từ năm 1976 đến giờ, chưa bao giờ tôi đi khám bệnh, cũng chưa bao giờ được đi giám định sức khoẻ lần thứ hai. Tôi nhớ năm 1976, khi tôi về an dưỡng ở 127 Tả Ngạn, đóng ở vùng Tiên Yên (Quảng Ninh), các bác sĩ có giám định sức khoẻ cho tôi một lần, từ bấy, "chế độ" cứ theo thế 35 năm ròng. Tôi về với chế độ của một bệnh binh 2, vừa rồi tăng "trợ cấp", hiện nay được hưởng 1,3 triệu đồng/tháng. Tôi cũng chưa bao giờ đề nghị hay đơn từ xin với cấp trên một cái gì. Vừa rồi, đi họp các cựu tù Phú Quốc ở trên HN, anh em phải thu xếp cho "người tù đặc biệt" (họ gọi tôi thế) một chế độ ăn, ngủ riêng biệt, bởi họ chứng kiến tôi bị tra tấn và tàn phế ra sao. Rồi họ bảo, người như tôi mà thiệt thòi chế độ như vậy thì có khi tôi phải viết đơn đề nghị cấp trên cho tôi được giám định sức khoẻ, thương tật, chứ như thế này, ba cái mạng già làm sao sống nổi. Chúng tôi đều sống nhờ thuốc, chứ không phải nhờ cơm canh. "Tôi nói vậy thôi, nhà báo đừng viết lên, kẻo người ta lại nghĩ là tôi đi đòi chế độ, với lại tiền nong. Vì cách mạng, sự sống của tôi, tôi còn không tiếc, tham gì chút tiền đó, khi mà vợ chồng tôi, người em tàn tật của tôi, cũng như trái chín trên cây cả rồi. Vừa rồi, có ông người Việt ở nước ngoài đến bảo tàng thăm… 8 cái răng của tôi, xót quá, họ gọi điện bảo tôi có đủ cơm ăn không, ước mơ điều gì nào? Tôi bảo, tôi ao ước có một cái xe lăn, anh ạ. Tôi chỉ lo, tôi sắp không đi thăm bà con, đồng đội được nữa rồi".
Tôi mở chùm ảnh liên quan đến viên cai ngục Trần Văn Nhu do tôi vừa chụp, ông Tằng xem xong, tần ngần ngồi thở dài. "Nhà báo à, tôi không thể tin được là hắn ta còn sống. Nhưng mà Nhà nước mình có chính sách nhân đạo như vậy là rất hay. Phải có "tay" Nhu đang sống, thì người đời mới dám tin là chúng tôi từng bị "quỷ sứ" hành hình như thế nào.
Bài và ảnh: Đỗ Doãn Hoàng PV Báo Lao Động (*) Đầu đề bài do Tòa soạn đặt Xúc động những tấm lòng đến với "Người trở về từ địa phủ…" (Dân trí) – Chưa bao giờ ông Tằng lại gặp được nhiều bạn bè đến thế, đó là chưa kể những người ông không hề quen. Họ đến, hoặc là gọi điện chỉ để được nghe, được nhìn thấy ông bằng xương bằng thịt… "Mấy hôm nay điện thoại nhà tôi cứ "rình rang" cả lên, tôi chẳng dám đi đâu ra khỏi nhà vì sợ người ta không gặp mình họ lại buồn", ông Vũ Minh Tằng, nhân vật trong bài viết "Người trở về từ địa phủ và 9 cái răng lưu lạc" nhoẻn miệng cười, bắt tay thật chặt khi tôi trở lại thăm ông.
Như để minh chứng cho lời ông nói, tiếng chuông điện thoại ở góc nhà lại kêu reng reng inh ỏi. Ông Tằng lại ôm máy để trả lời những người không quen biết nhưng mến mộ ông. Bà Nguyệt, vợ ông Tằng năm nay đã 73 tuổi, dù hai đầu gối sưng to nhưng vẫn cố đi lại lo chuyện chăm em trai ông Tằng nằm liệt giường từ 50 năm nay. Cơm nước giặt giũ bà cáng đáng hết. Rót cốc nước mời khách, ông Tằng bảo mấy hôm nay ông được tiếp chuyện bạn bè khắp nơi trên thế giới. Có người ở Nhật, người ở Hàn Quốc, lại có người ở tận Tây Ban Nha xa xôi, tất cả đều cảm phục ông sau khi đọc loạt bài viết đăng trên Dân trí ngày 27/7. "Vui nhất là có một người đồng đội với tôi ở đảo Phú Quốc điện và mời tôi có dịp lại thăm "địa phủ" ngày xưa. Ông ấy còn bảo để dắt tôi tới thăm tay cai ngục Trần Văn Nhu vẫn đang sống trên đảo Phú Quốc. Tay Nhu đã 83 tuổi rồi, nghe bảo vẫn còn khỏe lắm", ông Tằng vừa nói vừa châm điếu hút thuốc, thói quen mỗi khi ông nhớ lại những năm tháng tù đày.
Hàm răng giả được ông Tằng cẩn thận tháo ra để trên mặt bàn, ông nói: "Hàm răng giả này cũng được 6 năm rồi đấy, nhờ nó mà vợ tôi không phải bón cho tôi ăn như trước nữa. Bà ý cũng móm mém hết rồi chứ đâu, đến là khổ", ông Tằng than thở. Nhưng niềm vui lại nhanh chóng trở lại trên khuôn mặt "hom hem" của ông, ông bảo mới đây một cô gái trẻ quê ở hang Đá Chẹt (Phổ Thịnh, Quảng Ngãi) sau khi đọc bài viết về ông đã tìm đến tận nhà để thăm ông. "Cô ấy làm ở một công ty chuyên về thiết bị y tế, thấy hàm răng giả của tôi có vẻ "lỏng lẻo" nên ngỏ ý tặng một hàm răng giả mới, trị giá những đến 24 triệu đồng cơ đấy", ông Tằng vui vẻ kể. Và không chỉ mỗi cô gái cùng quê, ông Tằng được bạn đọc khắp cả nước sẻ chia tấm lòng. "Một cựu chiến binh ở huyện Ý Yên cách nhà tôi 15km, năm nay đã 77 tuổi, đọc bài viết về tôi đã một mình đạp xe đến thăm, lại còn tặng tôi 300 nghìn đồng. Ông ấy bảo ông cũng nghèo, nhưng gọi là có chút quà động viên nhau lúc tuổi cao sức yếu", ông Tằng xúc động kể.
Đặc biệt, sáng 30/7, trung tướng Lê Khoa, Giám đốc Quỹ khuyến học Việt Nam, năm nay đã 86 tuổi nhưng vẫn lặn lội từ Hà Nội về Nam Định thăm ông Tằng và trao tặng 5 triệu đồng từ Quỹ Vòng tay đồng đội. "Tôi là Trung tướng nhưng cũng đã trải qua nhiều gian khó, cũng đã biết nhiều hoàn cảnh khó khăn của các cựu chiến binh thời bình, nhưng không ai khiến tôi xúc động như ông Tằng. Những cống hiến, hi sinh của ông không chỉ thế hệ trẻ phải ghi nhớ mà bản thân chúng tôi cũng cần cảm ơn, đáp tạ", Trung tướng Lê Khoa khẳng định. Sông Lam Chuyện tiếp về "Người trở về từ địa phủ"… (Dân trí) – "Nhà tôi đang ở là của bố mẹ cho chứ tôi lấy đâu ra sức, ra tiền mà làm", người cựu tù đảo Phú Quốc phân trần. "Ăn xái ngôi nhà" – như lời ông nói, nhưng đã 27 năm rồi ông vẫn không đủ tiền đổ mái cho căn nhà bớt dột nát… Tôi từng là đồng đội với chị Trâm… Chúng tôi đến thôn Tiên Hào (xã Vĩnh Hào, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) thì trời bắt đầu cơn mưa nặng hạt, một ông cụ khi nghe tôi hỏi thăm nhà người cựu tù đảo Phú Quốc Vũ Minh Tằng – nhân vật trong bài viết "Người trở về từ "địa phủ" và 9 cái răng lưu lạc" đã không chút nề hà dẫn chúng tôi đến tận cổng. Căn nhà ông Tằng nằm khuất sâu trong xóm, cũng cũ kỹ và giản dị như chính bản thân của ông. Có thể dễ dàng đoán được tuổi đời của căn nhà đã tròm trèm 27 năm bởi con số 1984 được khắc "chễm chệ" trên mái. Trong nhà chẳng có gì đáng giá, một bàn uống nước, 2 giường gỗ xập xệ và một cái tủ. Ấn tượng nhất chính là hình khung gỗ lồng ảnh vợ chồng ông Tằng: một ảnh thời trai trẻ sung sức và một ảnh thời "thất thập cổ lai hy". "Anh thấy không, hồi trai trẻ vợ chồng tui là đôi đẹp nhất làng này đấy. Bà ấy "chết tui" cũng vì cái vẻ đẹp trai, phong độ. Hồi đó tui mới có 24 tuổi chứ mấy", chỉ tay vào bức ảnh đen trắng, ông Tằng rít một hơi thuốc từ bộ ống điếu tự chế vừa cười vừa nhìn sang bà Nguyệt đang ngồi nhai trầu đầu giường. Bà vợ ông mấy hôm nay do trở trời, 2 đầu gối do bệnh thấp khớp cứ sưng vù nên chẳng đi đâu được, thế mà miệng vẫn cười tủm tỉm khi nghe ông Tằng kể về những năm tháng quen nhau nên vợ nên chồng.
Ông kể, lúc trai trẻ sung sức thì vợ chồng lại xa nhau. Năm 1962, ông nhập ngũ lên đường đánh Mỹ còn bà Nguyệt ở nhà nuôi 2 con: một cô con gái 2 tuổi và một cậu con trai đang còn nằm trong bụng mẹ. "Tôi với liệt sỹ Đặng Thùy Trâm ở cùng một đội chứ đâu xa, lúc đó (năm 1967 ông Tằng đóng quân Quảng Ngãi – PV) tôi 29 tuổi, chức vụ y sỹ, còn chị ấy 22 tuổi nhưng đã là bác sỹ rồi đấy", ông Tằng bồi hồi nhớ lại. Ông Tằng cùng liệt sỹ Đặng Thùy Trâm quen và làm việc cùng nhau đúng một tháng rồi không bao giờ còn gặp lại được nhau nữa. Cái ngày định mệnh 3/9/1967 ông bị địch bắt trong hang Đá Chẹt, liệt sỹ Đặng Thùy Trâm do đang đi công tác ở đồng bằng nên thoát. 3 năm sau thì chị Trâm hi sinh trong một trận tập kích của địch, còn ông vẫn đang ngồi thi gan ở "địa phủ" với bao màn tra tấn của "con quỷ Trần Văn Nhu". "Năm 1967 lúc bị bắt, số hiệu của tôi là tù nhân thứ 504. Năm 1973, lúc tôi được ra tù con số đã lên hơn 41 nghìn, trong đó tù nhân nữ ngót nghét 15 nghìn người. Ở đảo Phú Quốc chia ra 4 trại giam, mỗi trại chứa khoảng 1.800 người xếp thứ tự A, B, C, riêng "thằng Nhu" nó cũng sát hại phải 5.000 người rồi", ông Tằng lại rít hơi thuốc dài. Ông Tằng cũng không hiểu sao mình vẫn sống qua hàng trăm màn tra tấn dã man hơn thời trung cổ của viên cai ngục Trần Văn Nhu. Thậm chí, để ngồi nói chuyện với tôi ngày hôm nay, ông bảo cũng đã kỳ lạ lắm rồi. Ông lần giở cho tôi xem những tấm phim chụp đợt kiểm tra tổng thể hồi tháng 6/2010: 4 đốt sống bị chẻ làm đôi, hai rẻ sương sườn bị gãy, hốc mắt còn găm mảnh đản R15 và thêm chẩn đoán viêm hang vị, nghi ung thư dạ dày… "Tấm nào cũng bệnh cũng tật, đen tối y như tờ chụp phim, may sao tâm trí tôi vẫn còn sáng lắm", người cựu tù nở nụ cười làm giãn hẳn khuôn mặt vốn nhăn nheo, gầy xọm của mình. Giá mà đổ mái bằng được một gian thì hay… Bệnh tật đầy người, nhưng ông Tằng cũng không nghĩ ngợi nhiều, bởi với ông còn sống được đến ngày hôm nay đã là quá đỗi hạnh phúc rồi. "Đồng đội mình hi sinh hết, mình vẫn có con, có cháu, dù chỉ là thân già với nhau nhưng…", ông Tằng theo thói quen lại bỏ dở câu nói để cúi xuống rít ống điếu thuốc làm bằng tre – thói quen vốn có từ thời trẻ, mãi đến giờ ông vẫn không bỏ được dù vợ ông lúc nào cũng lo lắng có hại cho sức khỏe của ông.
Ông Tằng có 5 người con: 3 trai, 2 gái. Hai đứa con có trước khi ông nhập ngũ chiến đấu và 3 đứa con có sau ngày đoàn tụ. Các con ông đều làm ăn xa, chỉ có người con trai ở gần nhà để chăm bố mẹ lúc trái gió trở trời. Con của ông cũng như chính bản thân ông: tất cả đều nghèo, bệnh tật. Lúc ra đi chiến đấu với 2 bàn tay không, khi trở về ông cũng bàn tay không. Lúc ra đi ông nặng 54kg thì khi trở về ông chỉ có 23kg cùng "một lô một lốc" vết thương hằn in trên cơ thể. Riêng việc tự ăn uống ông cũng không làm được mà phải nhờ vợ là bà Nguyệt bón. Bà Nguyệt bón cho ông ăn suốt 30 năm. Công việc này chỉ chấm dứt khi ông sắm được "hàm răng giả" mới đây. Căn nhà ông Tằng đang ở, mới nhìn tôi cũng ngạc nhiên vì sự gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ. Nền nhà lát gạch hoa trông vẫn còn mới. "Cái nhà này không phải của tôi đâu mà là "ăn xái" lại của các cụ đấy. Bố mẹ tôi mất cũng đã 20 năm nay rồi mà tôi vẫn chưa xây thêm được gì, nhiều khi muốn đổ mái bằng dù chỉ một gian cho bớt cảnh thấm dột mà khó quá", ông Tằng phân trần.
Số tiền 1,3 triệu đồng trợ cấp chế độ "bệnh binh 2" hàng tháng, phải tằn tiện lắm mới đủ để 3 thân già là vợ chồng ông cùng cậu em trai tàn tật ăn uống qua ngày. Nhà ông cũng có 3 sào ruộng nhưng không có ai còn sức để tự cày cấy, đành nhờ người cày hộ và người ta trả cho ông khoảng 5 tạ thóc/năm, tương đương khoảng 2 triệu đồng. Thế nên, khi chúng tôi nhã ý tặng thêm ông "5 tạ thóc" quy ra tiền mặt cùng một chiếc xe lăn (được trích từ Quỹ Nhân Ái của Báo điện tử Dân trí), ông Tằng rơm rớm nước mắt vì mừng. "Sáng nay tôi đi dự ngày Thương binh liệt sỹ ở xã cũng được động viên "cân đường, hộp sữa" rồi, giờ lại có số tiền này để giúp thêm đứa cháu đang học đại học trên tỉnh thấy mừng chi lạ. Tụi nó học giỏi lắm mà tui chẳng có chi để thưởng cả", ông Tằng tâm sự.
"Mình già rồi, giờ sống vui với con cháu được ngày nào hay ngày ấy, đòi hỏi chế độ, công lao làm gì hả chú. Chú cho tôi gửi lời thăm những người đã quan tâm giúp đỡ tôi trên báo nhé. Thế mà cũng nhiều người tốt lắm đấy chú à…", tự dưng trong tôi lại dấy lên niềm cảm phục ông, người cựu tù oai hùng dũng cảm đảo Phú Quốc năm xưa vẫn đang giản dị, vui vẻ cuộc sống đời thường…
Sông Lam Chín cái răng tìm gặp "ác quỷ " nhà tù Phú Quốc Đầu tháng 12/2010, lần đầu tiên sau hơn 40 năm thoát khỏi cái nhà tù đã tra tấn đến chết 4.000 người tù cộng sản, yêu nước, ông Vũ Minh Tằng đã trở lại đảo Phú Quốc, thực hiện "cuộc gặp lịch sử" với "ác quỷ" Bảy Nhu. Trong phóng sự Người về từ “địa phủ” và 9 chiếc răng lưu lạc Dân trí đăng ngày 27/7/2010, chúng tôi đã kể về số phận thảm thương của một chiến sĩ cộng sản kiên trung trở về từ "địa ngục trần gian" nhà tù Phú Quốc. Được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi tiếp tục đăng thông tin tiếp theo về cuộc gặp gỡ giữa “người về từ địa phủ” Vũ Minh Tằng và kẻ từng được mệnh danh là “ác quỷ” ở nhà tù Phú Quốc. "Tôi chỉ đi tàu bay hai lần, hai lần đều bị còng tay và bịt mắt" Ngay từ khi đọc những dòng miêu tả hiếm hoi của chúng tôi về cảnh sống hiện tại của viên "thượng sĩ bẻ răng" khét tiếng Bảy Nhu, nhiều độc giả đã bày tỏ mong muốn tổ chức một cuộc gặp "nảy lửa" giữa ông Tằng và "quỷ sống". Hình ảnh Nhu và thuộc cấp sáng tạo ra "trò chơi" ghè răng hàng chục, hàng trăm người tù, rồi thu gom răng "tươi" lại, để trong những cái ống bơ sắt, đeo trước cổ, mỗi bước đi lại phát ra tiếng kêu lóc xa lóc xóc đó, có lẽ nó còn khiến nhân loại tiến bộ mãi mãi "không tin được dù đó là sự thật". Ông Vũ Minh Tằng được độc giả về tận xã Vĩnh Hào (huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) tặng xe lăn, tặng tiền, quà, trị giá khoảng 80 triệu đồng.
Đặc biệt, hai độc giả ở Quảng Ngãi và TP.Hồ Chí Minh còn "liên kết" với nhau, hùn tiền sắm cho người tù bị bẻ 9 cái răng phải ăn cháo suốt hơn 40 năm kia một bộ răng giả làm bằng chất liệu và công nghệ Nhật Bản, tổng chi phí hơn 30 triệu đồng. Ngôi nhà dột nát của vợ chồng ông Tằng cũng đã được sửa sang, nâng cấp, đổ mái, lát nền. "Bốn mươi năm nay, cái đêm "thằng" Nhu tra tấn tôi đó, lúc nào nó cũng hiện về. Nhu đánh tôi đến mức, không còn cái răng để mà ăn nữa” – ông Tằng nuốt cục uất hận qua yết hầu còm nhom của người bệnh nặng 38kg, tiếp: "Tôi bảo với cái cô tặng răng cho tôi là: Tôi già rồi, sống nay chết mai, cô đừng bỏ tới 30 triệu mà làm răng cho tôi nữa, tôi có được nhai mấy bữa nữa đâu mà các cô phung phí thế". Khách dò theo địa chỉ bài báo viết đến thăm ông Tằng rất đông, có vị "hàm cấp" như Trung tướng Lê Khoa, có vị chỉ là người bán rau cỏ ở Hà Nội; có lẽ, đặc biệt nhất trong số đó là ông Nguyễn Chí Sỹ – Giám đốc công ty đầu tư xây dựng số 2 Hà Nội. Ông Sỹ và đoàn về tặng 20 triệu đồng, cùng ý tưởng: Đưa người tù có "chín cái răng lưu lạc" vào lại đảo Phú Quốc gặp viên cai ngục đã tra tấn ông. Ông Sỹ xúc động lắm. Vì tổ chức cho 100 anh em tù cộng sản đào hầm vượt ngục, băng qua sóng biển vào đất liền tiếp tục hoạt động, mà ông Tằng bị Bảy Nhu và đám quân cảnh bắt lại, tra tấn bằng những hình thức dã man nhất. Thậm chí bắt ăn cơm, uống nước có trộn máu và… phân người.
Dự kiến, mỗi người chúng tôi phải đi mất ít nhất 4 chặng bay trong toàn bộ hành trình đi và về (từ Hà Nội quá cảnh qua TP.Hồ Chí Minh, trước khi bay ra đảo Phú Quốc), ông Tằng nghe lộ trình, cứ thế ngồi bần thần vò đầu bứt tai rồi… dăn deo gương mặt lại, lau nước mắt. "Chú Hoàng ơi. Tính đến giờ, 73 tuổi đầu, đời tôi được đi máy bay đã hai lần, cả hai lần đều tinh có đi máy bay của bọn đế quốc. Nó đều bịt mắt, xiên tay tôi vào tay đồng đội bằng dây thép. Lần đầu đi từ Bệnh viện Quy Nhơn (tỉnh Bình Định) bay thẳng ra nhà tù Phú Quốc. Lúc ấy tôi vừa bị nó bắn, thả hơi cay ở hang Đá Chẹt ngoài Quảng Ngãi, còn chưa tỉnh hẳn. Lần thứ hai nó cũng bịt mắt, ấy là khi nó đem tôi từ nhà tù về Quảng Trị "trao trả tù binh", theo Hiệp định Paris, nó cũng bịt mắt và còng tay. Bây giờ, đi máy bay có vất vả lắm không hả chú?". Nghe xong, ai cũng rùng mình, có người bật cười chua xót. "Đợi tôi rủ 8 cái răng đi cùng" Hôm xe về Nam Định đón ông Tằng ra sân bay Nội Bài, cả vùng quê huyên náo với cuộc tiễn đưa, bà vợ già còng gập, chân tay phù nề vì bệnh thấp khớp của ông Tằng thì cứ thảng thốt ra ra vào vào, đã lâu lắm rồi, cặp vợ chồng già hầu như không xa nhau đến 1 ngày. Ông Tằng rủ rỉ: "Bà ở nhà, tôi lên chỗ bảo tàng xin lại 8 cái răng, đem nó vào cho thằng Nhu xem, kẻo vào gặp nó lại cãi bay cãi biến. Cái bọn suốt đời hỏi cung, tra tấn, ép cung người khác như thế, là nó gian manh lắm bà ạ". Trời tối mịt, cặp mắt bị mờ vì các trò tra tấn của cai ngục, giờ đeo kính 13 đi ốp vẫn chẳng nhìn thấy gì, mà ông vẫn một mực dẫn đường bắt chúng tôi phải ghé qua "Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày" ở huyện Phú Xuyên, Hà Nội để… xin lại "8 cái răng lưu lạc" (một cái có chân đế nhọn hoắt vẫn "nhởn nhơ" mắc lại trong… bụng ông Tằng không chịu "ra", nay đã siêu âm thấy).
Không biết trên thế giới này có ai được người làm bảo tàng vận động hiến răng để trưng bày như ông Tằng không nhỉ? Chùm răng bị Bảy Nhu vặn, bắt nuốt rồi "dị hóa" ra, bí mật giữ 40 năm qua của ông Tằng đang được bày lên mặt một lá thư tay do ông Tằng "thủ bút", tất cả nằm trong tủ kính bọc vải điều, rất trang trọng. Ông Lâm Văn Bảng – "ông chủ" xây dựng và quản lý bảo tàng nghe trình bày việc ông Tằng xăng xái đi… mượn chùm răng, đem ra đảo Phú Quốc "ném vào mặt Bảy Nhu", bỗng dưng đau đớn ngồi thụp xuống góc vườn, thở dốc. Ông ngồi như một pho tượng đồng trước ban thờ các tử sĩ của nhà tù Phú Quốc. Ông Bảng cũng là một cựu tù khốn khổ từ cái địa ngục trần gian nhà tù Phú Quốc đó sống sót trở về. Ông Tằng thì vào trò chuyện thủ thỉ với đám răng của mình. "Răng à, tao muốn mang chúng mày ra ngoài đảo, đặt tất cả trước mặt thằng Nhu, rằng, mày đã dùng ống tuýp sắt ghè gẫy từng cái răng của tao, bắt tao uống máu tao, nuốt răng tao, rơi cái gì ra ngoài là mày giết tao. Đống răng của tao đây, mày còn cãi được không, hả thằng Nhu!".
Tôi (người viết bài này) phải góp ý nhiều lần, rằng là chúng tôi tổ chức cuộc gặp gỡ giữa hai người ở đỉnh trời và đáy vực, hai người là thiên thần và quỷ dữ, một bên là sắt son yêu nước, một bên là tận cùng tàn độc với đồng bào máu đỏ da vàng của mình…, chúng tôi tổ chức không phải để khoét sâu hận thù hay để khêu máu hiếu kỳ cho ai đó. Mà để hai bên hiểu nhau, mà để tha thứ, bao dung và để trung thực ghi lại một "bối cảnh" không thể nào tưởng tượng được giữa hai "nhân vật lịch sử" đã gây quá nhiều xúc cảm không giống nhau trong lòng rất rất nhiều người. Tôi nói với ông Tằng: "Bác không thể mày tao với ông Bảy Nhu, dẫu sao thì hai người cũng đã ở cái tuổi lên lão, như chuối chín cây, tuổi mà "các cụ gọi về bất cứ lúc nào" rồi. Dù gì thì tội ác, đau thương đã qua đi, dù gì thì cũng không thể lấy oán mà trả oán để ân oán chập chồng". Nhà nước ta đã khoan hồng cho Bảy Nhu được cải tạo rồi trở về với gia đình như những người khác, chúng ta phải tự hào vì sự khoan dung đó. Cuối cùng thì ông Tằng cũng đồng ý, sẽ xưng "tôi" và "ông" khi gặp Bảy Nhu, đồng thời không mang theo chùm răng đang gửi ở bảo tàng kia đi ra đảo Phú Quốc.
Bảy Nhu là một người cô độc, lẩn tránh mọi người đến mức, các gã xe ôm gần nhà ông ta, các hướng dẫn viên 15 năm đưa khách du lịch từ Hà Nội vào nhà tù Phú Quốc cũng chưa bao giờ "được" gặp ông ta. Hầu hết mọi người không biết ông ta còn sống. Khi nín thở "trinh sát", bố trí cho cuộc gặp của ông Tằng với Bảy Nhu, tôi thật sự không một phút nào dám tin mình sẽ thực hiện được lời hứa với một số độc giả, cho đến khi… ông Tằng đi qua đàn chó hung dữ sủa ầm ầm bước vào nhà ông Nhu và Bảy Nhu ngơ ngác, lẩy bẩy, đứng dậy hỏi "Ông là ai?". Họ đã nhận ra nhau, nặng lời với nhau, khoác vai nhau, bắt tay nhau, khóc thật to rồi cười khe khẽ. Ông Tằng không kiềm chế được, ông đứng dậy, thọc tay vào miệng, móc hai hàm răng giả ra, chỉ tay vào khoang miệng tối om móm mém của mình, nói lớn: "Các ông đã vặn hết răng của tôi đây!". Ông Nhu vời vợi nhìn ra các cánh rừng ngoài triền đất đỏ: "Tôi nhớ rồi, ông là Bí thư chi bộ. Ông có tài châm cứu, thường châm cứu cho tôi. Ông tổ chức cho anh em ở buồng 13 vượt ngục. Và… Tôi là con chó săn của lũ đế quốc, tôi biết lỗi rồi. Tôi xin lỗi ông. Nếu ông không tha, đầu tôi, ngực tôi đây, ông đấm mấy quả thì cứ đấm". Cả hai im lặng lâu đến mức, tôi và anh lính biên phòng Lưu Quang Mười phải ý nhị bỏ ra ngoài vườn nghe tiếng chó sủa râm ran khắp vườn điều xanh rợp… Theo Đỗ Doãn Hoàng Lao Động "Tôi biết ơn ông Tằng đã tha thứ cho tôi…" Đầu tháng 12/2010, lần đầu tiên sau hơn 40 năm thoát khỏi cái nhà tù đã tra tấn đến chết 4.000 người tù cộng sản, yêu nước, ông Vũ Minh Tằng đã trở lại đảo Phú Quốc, thực hiện "cuộc gặp lịch sử" với "ác quỷ" Bảy Nhu. Việc đầu tiên của tôi, khi vừa đáp xuống sân bay Phú Quốc, là phải vượt 30km đường bụi mù, xóc nảy để le ve lượn quanh khu vực nhà Bảy Nhu thám thính. Điện thoại cho nhiều người quen biết Bảy Nhu mà tôi từng gặp ở An Thới, bao giờ tôi cũng chỉ dám dò hỏi sức khỏe mọi người, hỏi "bác Nhu" độ này bệnh thấp khớp còn hành hạ nhiều không, hoặc cái ban thờ Phật của người đàn ông ăn chay sám hối sau nhiều năm lấy mắt cá chân, đập bánh chè, nhổ răng hàng nghìn người tù yêu nước đó có còn không… Lần trước, để "giáp mặt" viên cai ngục được, tôi phải nhờ một đại tá đương chức của tỉnh đội Kiên Giang viết thư tay, giới thiệu tôi với một người thân tín của Bảy Nhu. Giờ, tìm trên mạng Google tìm kiếm một lần nữa, tôi không tìm được một tác giả nào viết bài và trực tiếp ghi âm, chụp ảnh Bảy Nhu ngoài… tôi ra. Đó lại là những bức ảnh chụp lén trong sự phản đối khá cương quyết của một ông lão biết rất rõ mình là "quỷ sống" ở cái thời không tài nào hiểu nổi… Trước chuyến vào Phú Quốc này, tôi đã biết tin, Bảy Nhu có đọc bài tôi viết và rất oán thán "thằng nhà báo", nếu bây giờ ông ta nhận ra tôi thì sao? Cuộc gặp gỡ nảy lửa giữa người tù và viên cai ngục tàn ác nhất trong lịch sử Việt Nam. Tiếng bước chân lao xao trên lá bạch đàn khô, chó sủa như muốn cắn nát không gian chiều muộn, sương biển đã bắt đầu buông phủ. Căn nhà màu hồng cô độc hiện ra giữa bạt ngàn gò đồi. Những hình ảnh nhảy múa trong chiếc tivi giữa nhà Bảy Nhu phụt tắt. Tôi đứng khựng lại, cả đoàn nín thở, kể như cuộc gặp gỡ sau mấy chặng tàu bay và ôtô kia đã đổ bể ư? Theo đúng lập trình có sẵn từ nhiều năm của Bảy Nhu, tắt tivi, tắt điện, cáo ốm, cáo vắng nhà, đi theo cửa sau thoát vào rừng mắc võng ngủ, thế là xong. Tôi buộc phải chuyển phương án, đứng ở cổng nhà Bảy Nhu, gọi thẳng về Chỉ huy Biên phòng tỉnh Kiên Giang. Đồng chí Phó Chủ nhiệm Chính trị biên phòng tỉnh gọi về cho Lưu Quang Mười, cán bộ đồn biên phòng quản lý địa bàn Bảy Nhu sinh sống. Bộ quân phục xanh màu lá núi của Mười đứng án ngữ trước cổng, "Bác Bảy có nhà không ạ, cháu là Mười "biên phòng" đây!". Quê ở miền Bắc, tốt nghiệp ĐH Biên phòng xong, Mười được điều về thẳng An Thới đồn trú. Suốt 10 năm qua, "thượng lá cây, hạ ngọn cỏ" ở đất này, Mười đều thuộc lòng, anh thường phải gặp Bảy Nhu để vận động đừng… chạy trốn người khác như thế, tội lắm. Tư liệu, lời của hướng dẫn viên trong khu di tích lịch sử nhà tù Phú Quốc có nói rõ: Bảy Nhu luôn lẩn tránh mọi cuộc tiếp xúc. Hồi mới đi cải tạo về, ông Nhu sợ người ta trả thù mình vì "biển trời" tội ác trong quá khứ, ông ta toàn gài mìn xung quanh nhà để tự bảo vệ. Ác giả ác báo, sau này, chính người con út của ông Nhu đã vướng vào mìn đó, bị cụt một bên chân.
"Xin ông tha lỗi. Tôi như con chó săn của chúng nó ấy mà" Phải nói thật thà rằng, trong cơn xúc động và đau đớn tột độ, nhiều cựu tù Phú Quốc "thân tàn ma dại" vì các ngón đòn tra tấn của Bảy Nhu và đám quân cảnh đã đòi "đập chết" Bảy Nhu cho hả giận. Nhưng, vì ông Tằng đã được "trấn an tư tưởng" suốt dọc đường, là mình phải giữ "nhân cách của người chiến thắng", nên ông khá bình tĩnh. Giọng ông Tằng như rít lên: "Ông Nhu có nhận ra tôi không? Tôi là người bị các ông tra tấn nhiều nhất. Lúc tôi ra khỏi nhà "điều hành", nhìn thấy tôi, ông còn bảo: "Mày vẫn còn sống đấy hử? Chúng tao đã chuẩn bị cỗ hậu (quan tài) để ném mày ra biển rồi mà!". Giọng ông Nhu run lẩy bẩy: "Tôi không nhận ra đâu. Mắt tôi bây giờ yếu và mờ lắm". Ông Tằng vẫn kiên nhẫn, cố bình tĩnh: "Tôi là Vũ Minh Tằng, vào tù 3.3.1967; ra tù 3.9.1973. Tôi bị quân cảnh các ông tra tấn đến "kịch đường tàu" rồi. Đây, răng của tôi bị các ông bẻ đây (vừa nói ông Tằng vừa móc hai hàm răng giả, chìa phom miệng toàn lợi đỏ về phía ông Nhu). Trước tôi ở B2, tôi vẫn thường châm cứu chữa bệnh đau lưng co rút cho ông mà. Răng này là người ta vừa làm tặng tôi đấy!". Ông Tằng dứ dứ hai hàm răng giả trị giá 30 triệu, trắng bóc về phía ông Nhu. Giọng ông Nhu đanh lại: "Có, tôi nhận ra ông rồi". Có vẻ việc nhận ra ông Tằng làm ông Nhu mất kiểm soát rất nhiều. Ông ta có vẻ không quên ơn người tù đã châm cứu chữa bệnh cho mình: "Ông Tằng ơi, tôi nhớ, bấy giờ ông ở buồng giam số 13, ông là Bí thư chi bộ. Các ông đào hầm khoét ngạch, mỗi ngày đào ra được vài xẻng đất, lại đổ đất đi ra bìa rừng bằng cách nhét đất vào trong xô đựng xỉ than nấu bếp. Buồng giam số 13 ở gần khu bếp ăn. Tôi nhớ rồi. Tôi xin lỗi nhé. Đời nó là như thế, tôi cũng chỉ bị chúng nó (đế quốc và tay sai) xui khiến và ép buộc phải làm. Đời tôi cũng như con chó săn thôi, lúc đánh các ông, tôi như con chó săn, như cái thằng điên ấy chứ có biết gì đâu". Nói rồi Bảy Nhu nhỏm dậy, giơ gương mặt và hai cẳng tay lốm đốm tàn nhang đen xám về phía ông Tằng: "Tôi đây, ông đánh bao nhiêu thì cứ đánh". Nghe đến đấy, ông Tằng trong cơn căm phẫn bỗng dưng… cũng xẹp xuống, giọng ông như rên xiết: "Bác Nhu à, bác hơn tôi chừng10 tuổi, tôi gọi như thế cho tiện. Bác Nhu ơi, thế tại sao bác lại ác đến mức đập vỡ đầu, đục gần hết răng, nghiền nát hai xương bánh chè ở đầu gối tôi như thế. Nắm cơm bé và thuôn như quả chuối của người tù, sao các bác lại bắt chúng tôi phải chấm cơm vào máu và vê lẫn phân người để ăn?". Riêng chuyện này thì ông Nhu phủ nhận: "Tôi khẳng định là tôi không làm chuyện đó. Chắc lúc tôi đi vắng, mấy thằng lính nó giở trò như vậy". Ông Nhu thừa nhận có chuyện ở mỗi phòng tù nhân tuyệt thực đều có cái xô đựng nước, ở đó, có khi nước uống pha lẫn phân, nước tiểu và máu của người tù, bắt họ uống.
Bảy Nhu hồi ức lại: "Ông có tài châm cứu tuyệt lắm, chữa bệnh cho tôi đỡ lắm. Bấy giờ tôi bị đau ốm quá. Mà này, giờ về quê, ông có phát huy được cái tay nghề đó nữa không?". Ông Tằng nhập ngũ khi bà vợ ở nhà đang mang thai đứa con thứ hai, ông đi biệt và không bao giờ dám tin mình còn sống để trở về. Ông được đào tạo y sĩ ở Viện 5 Quân y Ninh Bình từ trước khi nhập ngũ, năm 1962. Sau này vào tù Phú Quốc, ông Tằng đã thu gom dây sắt, xin phép đám quân cảnh để mài chúng thành những cái kim châm cứu dài 12cm, có tới 20 cái kim như vậy, để chăm sóc sức khỏe cho bạn tù. Riêng thượng sĩ bẻ răng Phạm Văn Nhu là trường hợp "bệnh nhân" đặc biệt nhất của "tay kim Vũ Minh Tằng". "Bận sau ông quay lại, chắc tôi không còn sống nữa đâu" Tôi đã cố sức "đạo diễn" để ông Tằng bình tĩnh lại, đừng gây ra ẩu đả, bởi hai người đều đã ở cái tuổi gần đất xa trời. Hai ông bắt tay nhau, ngoài quà của đoàn chúng tôi, ông Tằng thậm chí còn đột ngột rút ví tặng ông Nhu một ít tiền (ông có phụ cấp bệnh binh) nho nhỏ, kèm theo một câu nói mà người nghe ai cũng dễ cảm động: "Tôi có mấy đồng, để bác mua thêm một chén thuốc dưỡng bệnh. Đời tôi với bác bây giờ có sống được cũng chỉ là nhờ… thuốc thang mà thôi". Bảy Nhu bần thần nhìn mãi ra ngoài cửa: "Tôi xin lỗi ông", rồi quay sang giới thiệu bà vợ của mình: "Bà xã nhà tôi, năm nay cũng sang tuổi 80, bắt đầu được lĩnh tiền dành cho người cao tuổi đấy".
Ông Tằng quay ra hỏi về bà vợ hai của ông Nhu, một phụ nữ trắng trẻo, mau mắn, nương theo địa vị của chồng để làm tiếp phẩm, bán buôn phục vụ trong nhà tù. Ông Nhu cho biết: "Bà ấy chết rồi, tôi đi cải tạo về thì bà ấy chết ở Kiên Giang". Khóc lớn, rồi lại cười lớn, hai con người tưởng như là kẻ thù không đội trời chung kia đã nắm tay nhau. Bảy Nhu khoe với ông Tằng bàn thờ Phật nhỏ bé ở góc tủ: "Tôi sống được nhờ ăn chay và niệm Phật. Tôi biết ơn ông Tằng đã tha thứ cho tôi. Hôm trước còn có ông Kế xuống gặp tôi. Ông ấy đã bị chúng tôi tra tấn, "kết án" tử hình thế mà bây giờ vẫn còn sống. Những người dũng cảm như các ông, kể cả lúc tra tấn các ông khi xưa, từ trong đáy lòng, tôi vẫn thấy rất nể phục đấy chớ…". Nói rồi, ông Nhu lại đưa bàn tay đen sẫm toàn vết nám tàn nhang tuổi già của mình lên vò nhàu khuôn mặt mình, lần đầu tiên tôi thấy ông ta nức nở khóc. Cuộc gặp kết thúc, khi mặt trời đã lặn dần xuống… biển Tây. Bảy Nhu khoác vai ông Tằng, bảo, năm sau nếu ông quay lại, chưa chắc tôi đã còn sống nữa đâu. Hai ông đều khóc, tiếng khóc của họ, nó có cái gì bứt rứt lạ kỳ. Theo Đỗ Doãn Hoàng Lao Động Filed under: Lịch sử Tagged: Lịch sử | ||||||||||||
| Bến Tre gồng mình chống thay đổi khí hậu Posted: 09 Dec 2010 02:31 PM PST Thay đổi khí hậu khiến nước biển xâm nhập sâu hơn vào bờ. Bến Tre và Quảng Nam là hai tỉnh được đánh giá là chịu ảnh hưởng nhiều nhất của thay đổi khí hậu tại Việt Nam. Trong nhiều năm qua các tổ chức quốc tế đã giúp nhiều dự án để duy trì sản suất nông nghiệp, ổn định cuộc sống người dân trước nguy cơ thay đổi khí hậu, mực nước biển dâng cao. Chỉ còn một ngày nữa là kết thúc hội nghị thay đổi khí hậu thế giới do LHQ tổ chức tại Cancun, Mexico. Quan chức nông nghiệp tỉnh Bến Tre muốn có thêm trợ giúp, nhất là về cung cấp nước ngọt, để cuộc sống người dân không bị xáo trộn. Ở Bến Tre, tình hình nước mặn xâm nhập điền thổ đang diễn ra khá gay gắt, theo ông Trần Văn Hùng, Phó GĐ Sở Nông nghiệp và Phát Triển Nông thôn tỉnh Bến Tre. "Nước biển dâng gây nhiễn mặn. Tới mùa nắng hạn hán kéo dài. Nước mặn mỗi năm lại tràn vô sâu đất liền, từ bờ biển vô tới 60 km, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp. Trồng cây ăn trái không được. Làm lúa không được. Tới 5 huyện bị ảnh hưởng." Ảnh hưởng lớn
Trần Văn Hùng Phó GĐ Sở NN Toàn bộ sản xuất nông nghiệp của tỉnh, theo ông Trần Văn Hùng, bị ảnh hưởng. "Đầu tiên là trồng cây ăn trái. Bến Tre là xứ trái cây mà. Rồi đến trồng lúa. Chủ yếu là hai khu vực này." Trong những năm qua, ông Hùng cho BBC Việt Ngữ hay, Bến Tre đã theo đuổi một số dự án nhằm giảm nhẹ hậu quả của thay đổi khí hậu, duy trì sản xuất nông nghiệp. "Một số nước tài trợ làm đê biển. Chính phủ cũng cho tiền để làm đê. Đê cục bộ, đê bao để người ta trồng cây ăn quả. Rồi trồng rừng. "Rất nhiều chính phủ, tổ chức quốc tế quan tâm giúp tỉnh thời gian vừa qua. Ví dụ như chính phủ Đan Mạch, Hà Lan. Phía tổ chức có WWF, Oxfam của Anh, JICA của Nhật. "Họ giúp bảo tồn sinh thái vùng ngập mặn, nơi cửa sông. Giúp làm đê bao cục bộ. Họ giúp mang lại nước sạch, nước sinh hoạt cho người dân. Rồi trồng rừng. Họ cũng chú trọng nâng cao nhận thức trong cộng đồng về biến đổi khí hậu. "Các dự án của quốc tế cũng nhắm đến tìm sinh kế mới cho nông dân, ví dụ trồng cây gì thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay, nuôi con gì ở dưới nước, giống loài thủy sản nào thích hợp." Các tổ chức quốc tế coi hoạt động của họ ở Bến Tre là một phần của việc giúp Việt Nam chống thay đổi khí hậu. Và họ muốn thói quen của người dân cũng phải thay đổi để giúp bảo vệ môi trường tốt hơn. Tuy nhiên chuyện bảo vệ thiên nhiên chưa được người dân ở Bến Tre để ý, ông Trần Văn Hùng thừa nhân. "Nhận thức của người dân cũng giới hạn. Thường họ hay đổ cho trời đất, chứ họ không quan niệm thay đổi khí hậu là do con người gây ra. Vẫn có hành động phá đê, phá rừng." Tương lai khó đoán Quan chức Sở Nông Nghiệp tỉnh nhấn mạnh mực nước biển dâng cao trong những năm tới sẽ ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp của Bến Tre. "Tác động sẽ rất nặng nề. Bến Tre có hai kinh tế chính, là làm cây ăn trái giống và nuôi thủy sản. Thời tiết khí hậu biến đổi sẽ ảnh hưởng rất lớn. "Ví dụ đất ruộng ngập mặn không trồng được gì hết. Người dân mất kế sinh nhai. Nước mà thay đổi nồng độ muối thì ảnh hưởng đến nuôi thủy sản. Đây là kinh tế chính của tỉnh Bến Tre." Phó giám đốc Sở Nông nghiệp tỉnh Bến Tre mong muốn vòng đàm phán tại Hội nghị thay đổi khí hậu ở Cancun mang lại trợ giúp cho tỉnh để chống thay đổi khí hậu. "Chúng tôi mong muốn quốc tế hỗ trợ để giảm thiểu tác động ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Ví dụ như xây dựng mô hình sản xuất mới, xây đê đập để ngăn mặn giúp bảo vệ sản xuất nông nghiệp. Rồi xây cống đập điều tiết để nuôi trồng thủy sản. "Và cần nhất là nước ngọt cho người dân." Filed under: Môi trường Tagged: Môi trường | ||||||||||||
| Ngồi trên núi vàng, sao Việt Nam vẫn nghèo? Posted: 09 Dec 2010 02:31 PM PST Tác giả: Phương Loan Nhìn về Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu và người dân quốc đảo Singapore thường đặt câu hỏi, tại sao Việt Nam ngồi trên nhiều núi vàng mà vẫn nghèo?
Đó là câu hỏi mà Ts Vũ Minh Khương, giảng viên trường Đại học Quốc gia Singapore thường xuyên nhận được từ đồng nghiệp hay những người dân Singapore mà ông có dịp tiếp xúc. Họ so sánh: Singapore chỉ cần một cảng biển, một đảo Sentosa cũng có thể làm nên sự thịnh vượng giàu có, vậy mà trên khắp Việt Nam này, có bao nhiêu những Phú Quốc, Hạ Long, bao nhiêu Vân Phong…. mà vẫn không cách gì khai thác được. Việt Nam vẫn bị xếp vào hàng các quốc gia phát triển trung bình thấp và năng lực cạnh tranh thấp ngay cả so với các quốc gia láng giềng ít tiềm năng hơn. Thực tế như một sự thách đố sự hiểu biết của người Singapore lại không quá khó hiểu với những người có chút kinh nghiệm làm việc ở xứ này. Người ta có thể tìm thấy lời giải đáp từ bất kì một quan sát nhỏ nào trong nền kinh tế đất nước. Triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình Nhìn vào thực tế phát triển ở Việt Nam, TS Vũ Minh Khương cho rằng, vấn đề của Việt Nam không phải ở chỗ chúng ta không có tiềm năng mà có lẽ vì chúng ta có nhiều tiềm năng quá, những nguồn lực xung đột, mà lại không biết lựa chọn chính xác hướng đi nào cho mình. Giống như người ta được trời phú cho nhan sắc, lại có thông minh cộng tài năng âm nhạc, lại thêm vẽ tranh… nhưng lại không biết mình thực sự muốn gì, muốn phát triển theo hướng nào. Thôi thì, lúc này đi làm nghiên cứu khoa học, lúc khác chơi một chút nhạc, lúc khác nữa làm hội họa…., tận dụng mỗi thứ một chút, để rồi không thành ông, cũng chẳng thành thằng. Đơn cử, tỉnh Quảng Ninh đã được trời phú một vịnh Hạ Long lại được trao thêm trữ lượng than dồi dào. Bỏ cái gì cũng tiếc, rút cuộc, chúng ta khai thác hết, nhưng đầu tư vào lĩnh vực nào cũng nửa vời. Khai thác than tàn phá môi trường Quảng Ninh, gây hại cho việc làm giàu từ Vịnh Hạ Long. Cách làm du lịch, trong khi đó, lại mới dừng ở mức “thu bạc lẻ”, lo thu hút cho đông khách, mà quên mất, vấn đề không phải ở việc thu hút thêm được bao nhiêu khách, mà là mỗi ngày, du khách sẽ tiêu bao nhiêu tiền. “Người ta chỉ tiêu dùng nhiều khi Việt Nam có sẵn nhiều hoạt động chất lượng cao, dịch vụ tốt, nhiều sản phẩm hay để họ mua“, chuyên gia về năng lực cạnh tranh, GS Michael Porter phân tích. Thế nhưng, đó lại là điều Việt Nam hoàn toàn thiếu sự đầu tư. Câu chuyện Quảng Ninh không phải là ngoại lệ ở Việt Nam. Đến ngay cả các tỉnh đồng bằng sông Hồng bây giờ cũng ngồi lo suy tính làm thế nào để khai thác được bể than sông Hồng nằm ngay dưới vựa lúa, điều nhiều nơi khác thèm được sở hữu trong bối cảnh an ninh lương thực đang là mối nguy, mà không cân nhắc hết thiệt hơn, mạnh yếu. Định hướng bởi cách nghĩ làm thế nào để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, tỉ trọng công nghiệp lớn cho cái gọi là “nền kinh tế GDP tỉnh”, các địa phương mải mê vận động để xin được nhiều tiền ngân sách, thêm được nhiều vốn đầu tư vào tỉnh, có được các dự án… nhưng lại chưa suy tính xem thực sự mình mạnh gì và nên phát triển theo hướng nào. Các quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của các tỉnh thành là một sự sao chép lẫn nhau, không dựa trên đặc thù riêng của địa phương mình, cả về lợi thế và vị trí riêng. Thế mạnh địa phương không được phát huy, trong khi đó, “bạn không thể ra sức để trở thành mọi thứ“, GS Michael Porter đã đúc kết quy luật chung trong phát triển như vậy. Và triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau Không chỉ triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình, các địa phương còn khai thác tiềm năng theo kiểu triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau, khi chính sách phát triển của các địa phương không được đặt trong mối liên kết với các địa phương khác trong vùng và trong tổng thể phát triển chung của đất nước. Hãy nhìn câu chuyện phát triển cảng biển Việt Nam. Dọc bờ biển Việt Nam chi chít những dự án cảng biển, tỉnh nào cũng muốn sở hữu cảng biển của riêng mình. 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch phát triển 39 cảng biển với 108 bến được xây dựng mới và nâng cấp, trong đó 32 cảng biển có kế hoạch xây dựng mới. Chúng ta quên mất một điều: năng lực cạnh tranh chỉ tốt khi doanh nghiệp được sử dụng cảng biển với chi phí thấp nhất, bất kể cảng đó thuộc tỉnh nào. Càng nhiều cảng phân tán, lượng hàng càng bị chia sẻ manh mún, hiệu quả khai thác cảng càng giảm, và chi phí tất yếu tăng lên. Chúng ta cũng quên mất rằng, ở Mỹ, dọc bờ biển phía Tây dài 1900km cũng chỉ có 3 cảng chính. Và ta cũng quên hẳn bài học của Malaysia trong phát triển cảng biển. Trước năm 1970 chỉ có 2 cảng chính, sau đó Chính phủ quyết định mở rộng thêm 4 cảng quốc gia và 3 cảng nội địa, điều đó dẫn tới tình trạng dư thừa năng lực và cạnh tranh gay gắt giữa các cảng. Sự cạnh tranh lẫn nhau của các cảng biển làm triệt tiêu năng lực cạnh tranh chung của đất nước, khiến Malaysia rơi vào thế bất lợi. Không thể phủ nhận, là quốc gia có đường bờ biển dài, ở vị trí địa chiến lược, Việt Nam có lợi thế để làm trung tâm trung chuyển quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt những sáng kiến về kết nối giao thông khu vực đều tính đến Việt Nam như cửa ngõ ra biển. Thế nhưng, tận dụng thế nào điều kiện ấy là câu chuyện Việt Nam cần bàn. Có một thời, tỉnh nào cũng đua nhau có nhà máy mía đường, xi măng lò đứng, thì nay, cùng với cuộc đua có cho được nhà máy thép…, tỉnh nào cũng lo có cho được cảng biển riêng…, mà cảng nào cũng nhỏ, lại thiếu các điều kiện đi kèm. Hiện Việt Nam không có cảng container trung chuyển quốc tế. Ta có một số hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận được các tàu lớn, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí dịch vụ cao, thời gian thông quan lâu (từ 3 đến 7 ngày, có khi lên tới 1 tháng trong khi ở Singapore là 10 phút.) Hệ thống đường sắt, đường bộ kết nối liên tuyến với hệ thống cảng không được đầu tư. Các điều kiện hậu cần cho cảng hoàn toàn bỏ ngỏ. Cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Có một ví dụ thường được các chuyên gia dẫn chứng như một minh họa sinh động cho những ràng buộc về lợi ích cục bộ, địa phương gây cản ngại cho một chiến lược đầu tư sáng suốt trong câu chuyện cảng biển. Hiện tại, cảng Cái Mép – Thị Vải của Vũng Tàu đã được một số tàu mẹ các nước đến ăn hàng. Xét về mọi mặt, đây là cảng biển có nhiều lợi thế hơn cả để phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế. Thế nhưng, Tp.HCM và Long An cũng đòi đầu tư để cảng của mình thành trung chuyển quốc tế! Trong khi nguồn lực đầu tư của đất nước vào cơ sở hạ tầng vốn đang vô cùng khan hiếm. Câu chuyện thu hút đầu tư nước ngoài của các tỉnh cũng là một ví dụ khác. Mặc dù đã có quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư, thế nhưng, thực tế, các địa phương vẫn làm theo kiểu “mạnh ai nấy làm”. Ngoài các chính sách thu hút đầu tư của nhà nước, nhiều tỉnh đã phá rào, đưa thêm nhiều quy định khuyến khích đầu tư, từ ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế và giảm tiền thuê đất. Cuộc khảo sát do Bộ Tài chính tiến hành năm 2006 tại 48 tỉnh, thành phố cho thấy có tới 32 tỉnh (chiếm 2/3) ban hành thêm các văn bản pháp lý trái luật nhằm quy định các ưu đãi đặc biệt để thu hút các dự án đầu tư. Theo khảo sát này, có 18 tỉnh vi phạm các quy định về ngân sách, 21 tỉnh đưa ra những ưu đãi về đất đai nằm ngoài những quy định của chính sách đất đai quốc gia, 11 tỉnh vi phạm quy định về thuế thu nhập DN và nhiều tỉnh có nhiều hơn 2 vi phạm. Hầu hết các tỉnh đưa ra các khuyến khích rất hào phóng về phí sử dụng đất, mở rộng thời kì miễn giảm thuế lên tới 10-20 năm. Rút cuộc, cuộc đua của các tỉnh không mang lại lợi ích chung cho cả nền kinh tế. Quy hoạch tổng thể bị xới tung, cày nát. Đến nỗi có chuyên gia đã phải kêu lên rằng: cuộc đua thu hút FDI giữa các tỉnh chẳng khác nào cuộc “chạy đua xuống đáy”, khi các tỉnh hoặc là cùng chạy, hoặc là cùng chờ. Nói như TS Vũ Minh Khương, ĐHQG Singapore, cách làm này tạo nên sự phát đạt cho một vài người nhưng lại gây hại cho sự phát triển chung của đất nước. Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác “Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích sự phối hợp và hợp tác giữa các địa phương, các ngành”, GS Michael Porter khuyến nghị. “Các vùng và địa phương cần được khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và vị trí đặc thù của địa phương”. Nhìn tổng thể quốc gia, đã tới lúc Việt Nam cần nghiêm túc thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam mà thế giới sẽ biết tới. Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, đó là mục tiêu mà Việt Nam cần hướng tới, nếu muốn thực sự định vị mình ở một vị trí cao hơn trong xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu. Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |
No comments:
Post a Comment