Đọt Chuối Non |
- All I Want for Christmas is You — 7-year-old Rhema Marvanne
- Bạn có đủ khả năng để sống bất bạo động?
- Hạnh phúc đúng như vậy
- Thầy Hậu của trẻ đường phố
- ‘Đổi đường lối quan trọng hơn nhân sự’
- Hà Nội và Mỹ đối thoại nhân quyền
| All I Want for Christmas is You — 7-year-old Rhema Marvanne Posted: 13 Dec 2010 01:25 PM PST All I Want For Christmas Is YouSongwriters: Afanasieff, Walter; Carey, Mariah; I don’t want a lot for Christmas I just want you for my own I don’t want a lot for Christmas I don’t need to hang my stocking I just want you for my own Oh I won’t ask for much this Christmas I won’t make a list and send it ‘Cause I just want you here tonight Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa |
| Bạn có đủ khả năng để sống bất bạo động? Posted: 13 Dec 2010 01:25 PM PST Chào các bạn, Cho nên khi nói về sống bất bạo động, mỗi chúng ta có hai lực chống. Lực đầu tiên là chính mình—mình chỉ muốn bạo động, đánh lại cho hả giận; lực thứ hai là chính xã hội mình đang phục vụ–nhiều người trong xã hội đó không chấp nhận một "người điên", một "kẻ hèn" trong cuộc sống. Và không phải chỉ trong đời sống chính trị. Sống bất bạo động trong đời sống bình thường hàng ngày cũng bị các lực chống như vậy. Ví dụ: Một cậu sinh viên ngồi uống nước với bạn gái bị mấy chàng cùng bàn khiêu khích kiểu "nhìn đểu". Nếu cậu ấy kéo cô gái đi nơi khác, rất có thể là nàng sẽ bỏ cậu vì "hèn". Và nếu một nhóm bạn trai bị kiêu khích muốn đánh nhau mà một cậu nhất định khuyên các bạn bỏ qua, đừng đánh nhau, thì có thể cậu sẽ bị tống ra khỏi nhóm vì "hèn". Cho nên cuộc sống bất bạo động đòi hỏi dũng cảm. Dũng cảm để sống bất bạo động trong một thế giới lấy bạo động là cách thức cư xử "anh hùng" hàng ngày. Nếu bạn không tự tin và can đảm để chịu khinh thường và ruồng bỏ, bạn không thể sống bất bạo động. Hơn nữa, có nhiều loại bạo động. Chỉ không bạo động bằng vũ lực mà thôi thì chưa đủ. Có ít nhất là 3 loại bạo động: 1. Bạo động bằng vũ lực, tức là tay chân và vũ khí. 2. Bạo động bằng ngôn ngữ hạ nhục, khêu gợi thù ghét căm phẩn. và 3. Bạo động thầm lặng trong tâm. Nếu không dùng tay đánh ai, không cầm súng bắn ai, nhưng ta luôn lải nhải các lời nói tạo thù hận, viết bài để làm cho người đọc căm phẩn và thù hận, chuyển tải các bài viết chuyên về căm phẩn và thù hận, thì đó là bạo động bằng ngôn ngữ. Loại bạo động này còn nguy hại hơn cả bạo động bằng vũ khí, vì nó có tiềm năng hủy hoại tim óc của nhiều con người. Nếu lời nói hiền dịu của các thánh nhân làm tốt thế giới bao nhiêu, thì các lời tạo ác độc của của các ác nhân cũng làm hại thế giới bấy nhiêu. Cho nên, cẩn thận khi nói, khi viết, khi chuyển tải tài liệu. Nhưng không bất bạo động bên ngoài thôi thì cũng chưa đủ. Tâm là chủ. Nếu bên ngoài ta nhịn nhục, nhưng bên trong thì thù hận dai dẵng, "muốn cho trời đánh nó chết đi!", thì đó rất là bạo động. Tâm mà đầy thù hận ganh ghét thì đó là sống với cả một đại dương bạo động trong lòng. Đây là còn bạo động hơn cả mọi loại bạo động bên ngoài, vì tâm là mẹ, một tâm bạo động sẽ sinh ra bao bạo động khác theo thời gian. Cho nên muốn sống bất bạo động bạn phải có đủ tự tin và can đảm để đứng vững trước mọi mạ li ruồng bỏ của người đời, và một tâm tĩnh lặng, để có thể bất bạo động toàn diện trong ngoài. Chúc các bạn một ngày bất bạo động. Mến, Hoành © copyright 2010 Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm |
| Posted: 13 Dec 2010 01:04 PM PST Thích Thái Hòa Thất vọng là do ta, chứ không phải do người khác. Do ta không hiểu được tâm và cảnh của ta đang sống đều là vô thường. Ta không hiểu vô thường là chân lý của mọi sự hiện hữu là ta chưa hiểu gì cả, và ta không có khả năng tin rằng, mọi sự hiện hữu đều là vô thường, là ta chưa có niềm tin nào đáng để trân quý cả. Ngày hôm qua người ấy nói với ta rất mực chân thực, nhưng ngày hôm nay cái rất mực chân thực ấy không còn. Vì sao? Vì không gian và thời gian đã chuyển dịch và đã đổi mới, nên ngôn ngữ cũng phải chuyển dịch và đổi mới theo. Nếu ta thông minh, thì ta không nên tin vào lời nói của người, mà hãy tin vào sự vô thường ngay ở nơi lời nói ấy. Không có lời nói nào là không vô thường. Nếu không có vô thường, ta sẽ không bao giờ có ngôn ngữ và lời nói. Tin vào lời nói của người khác mà không tin vào sự vô thường nơi lời nói của họ, là một sự tin tưởng không thông minh. Thông thường ta bị thất vọng và khổ đau là do ta quá tin tưởng vào những lời nói đầy hứa hẹn của người khác, mà ta quên rằng, mọi ngôn ngữ của hứa hẹn, chúng vô thường một cách nhanh chóng còn hơn cả nước đổ xuống dốc, khi gặp những duyên mới. Mọi thứ ngôn ngữ phát khởi từ nhận thức có giá trị giúp cho ta nghe để hiểu hơn là giúp cho ta nghe để tin. Nhưng mọi thứ mật ngữ được phát ra từ thiền định vô lượng nghĩa, thì có giá trị giúp cho ta tin hơn là hiểu. Tin là để hội nhập với sự hiểu biết toàn diện, với thực tại không hai mà mọi nhận thức của ta không thể dự phần để giúp ta hội chứng. Và ta cũng có thể tin rằng, mọi ngôn ngữ được diễn tả từ "thực tại không hai" là ngôn ngữ thường tại. Ngôn ngữ ấy không khởi hiện từ nhận thức ngã tính mà từ tự tính vô ngã viên thành. Ngôn ngữ khởi hiện từ tự tính vô ngã viên thành hay từ trí tuệ hoàn hảo là những ngôn ngữ không ngôn ngữ, và vì ngôn ngữ không ngôn ngữ, nên bất cứ cái gì cũng đều có thể trở thành ngôn ngữ để biểu diễn thực tại. Ta hãy tin vào mọi ngôn ngữ diễn tả thực tại là ngôn ngữ không ngôn ngữ là ta có niềm tin chân thực đối với mọi người ngay ở trong cuộc sống nầy. Và ngay trong cuộc sống nầy hạnh phúc của ta tròn đầy. Ta không cần phải ra đi để kiếm tìm hạnh phúc hay trở về để có hạnh phúc, mà ở, đi hay về, hạnh phúc đều có mặt trong ta một cách tròn đầy trong những phong thái ấy. Chúng có mặt một cách tự nhiên như hư không có mặt đối với mọi sự hiện hữu. Và chúng tồn tại một cách như nhiên, như hư không bất hoại đối với mọi thời gian. Hư không chưa từng đi, nhưng hư không có mặt cùng khắp đối với tất cả. Hư không chưa từng về, nhưng hư không không hề đánh mất bản nguyên của nó. Hư không chưa từng sinh, nhưng mọi sự sinh đều nương từ nơi nó mà biểu hiện. Hư không chưa từng diệt, nhưng mọi sự hủy diệt là hủy diệt để ẩn tàng nơi nó. Cũng vậy, vọng thức hiện khởi từ vọng tâm thì có đến, có đi, có sinh, có diệt, chứ đại tâm chẳng có đến, chẳng có đi, chẳng có sinh, chẳng có diệt gì cả, chúng thường vắng lặng mà soi chiếu cùng khắp và soi chiếu cùng khắp, nhưng thường vắng lặng. Ai sống với tâm ấy, thì ở đâu và lúc nào cũng hạnh phúc và vĩ đại. Đời sống vĩ đại đến với con người không phải từ những công trình đồ sộ hay từ những quyền lực ngất trời, mà đến với họ từ nơi đại tâm của chính họ. Nếu con người không sống với đại tâm, thì nó chỉ là những loài sâu bọ của trái đất. Ta hãy tin như vậy, ta hãy thực hành đúng như vậy là ta có hạnh phúc và vĩ đại đúng như vậy. Thích Thái Hòa Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm |
| Posted: 13 Dec 2010 01:04 PM PST Dù Hậu chưa một ngày đứng lớp, chưa một ngày giảng bài, nhưng nhiều đứa trẻ lang thang cơ nhỡ được Hậu giúp đỡ đều gọi người giáo dục viên đường phố này là thầy Hậu. Thầy Hậu không chỉ dạy điều hay lẽ phải mà còn là chỗ dựa tinh thần cho các em.
Người ốm, nước da ngăm đen hay chạy xe Cub 50 đến các khu ổ chuột – nơi ở của những đứa trẻ nghèo, lang thang cơ nhỡ để bầu bạn. Đó chính là phác thảo về Nguyễn Trung Hậu, 23 tuổi, giáo dục viên của dự án Bình Minh tại TP Cần Thơ. Trần Thanh Thế, một đồng nghiệp, nói về Hậu: "Cái được nhất của Hậu là rất nhiệt tình. Những ca khó thường người khác bỏ chứ Hậu nhất định đeo đến cùng". Bạn của trẻ đường phố Giữa năm 2009, đang đi qua đường Trần Hưng Đạo, Hậu dừng xe khi thoáng thấy một cậu bé ngồi co ro trên vỉa hè, tay cầm sổ dò vé số. Giác quan nghề nghiệp mách bảo Hậu đến bắt chuyện với cậu bé đang run lên vì đói và sợ. "Hôm qua em bị trấn lột gần 100 tờ vé số nên không dám về nhà vì sợ bị đòn. Tối em nằm ngủ ở ghế đá trong khi bụng đói mà không có tiền mua đồ ăn", cậu bé vừa khóc vừa kể cho Hậu nghe câu chuyện của mình. Cho cậu bé ăn no, Hậu chở em về đến tận nhà và nói chuyện với bố mẹ em. Cả gia đình gặp nhau vừa mừng vừa tủi. Bất kể ngày đêm, có điện thoại ở đâu đó báo tin là Hậu lại cùng chiếc Cub 50 lên đường. Những điểm nóng về trẻ em có nguy cơ bị bỏ học cao hay nơi các em lang thang cơ nhỡ sinh sống là nơi Hậu có mặt thường xuyên nhất. Cả ngày Hậu tất tả đi đến các khu ổ chuột để trò chuyện và tìm hiểu cảnh ngộ của những trẻ cơ nhỡ, đêm xuống lại lang thang cùng trẻ bụi đời đi "thực tế" đường phố. Dự án nhân đạo Dự án Bình Minh là tên gọi của dự án Hội nhập xã hội nghề nghiệp cho trẻ có hoàn cảnh đường phố tại Q.Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Dự án đi vào hoạt động từ tháng 9-2006 trên cơ sở hợp tác giữa Sở Lao động-thương binh & xã hội TP Cần Thơ và Tổ chức Terre des hommes Foundation Lausanne (Thụy Sĩ). Mục tiêu của dự án là hỗ trợ thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn thông qua việc hỗ trợ học chữ, học nghề và giới thiệu việc làm, giúp làm giấy tờ tùy thân, tổ chức các hoạt động vui chơi… Người cùng cảnh ngộ Là con út trong một gia đình đông anh em với thu nhập bấp bênh từ tiền lương hưu giáo viên tiểu học của mẹ và tiền công của ba đi phụ hồ, Hậu phải gác lại ước mơ bước vào giảng đường ĐH sau khi tốt nghiệp phổ thông, đi làm công nhân đóng gói sản phẩm. Một năm sau Hậu gặp một thành viên của dự án Bình Minh và trở thành giáo dục viên từ đó. Công việc của Hậu là tiếp xúc, tìm hiểu, giúp đỡ và hỗ trợ về mặt học hành và cả tìm nơi học nghề cho các em có gia đình khó khăn hoặc trẻ lang thang… Tăng Kim Dung, một học viên đang học làm tóc, bày tỏ: "Cũng muốn học nghề để đi làm nhưng không có tiền đóng học phí. May gặp anh Hậu hướng dẫn chọn nghề rồi dự án hỗ trợ tiền học". Kim Dung đã học xong nghề tóc và chuẩn bị đi làm thêm để có vốn mở một tiệm làm tóc nhỏ cho riêng mình ở nhà. Còn Thạch Tô Ny, 16 tuổi, bơ vơ vì hai người anh đi tù trong khi bố mẹ lên TP.HCM mưu sinh. Ny được Hậu giúp làm chứng minh nhân dân, hỗ trợ tìm công việc làm thạch cao phù hợp với tuổi để có thể trang trải cuộc sống. "Nhờ anh Hậu mà em có việc để làm, tối lại được đi học văn hóa để biết đọc, biết viết", Ny nói. Nhà gần cơ quan nhưng cơm bụi là bữa ăn thường ngày của Hậu. Nói về công việc của mình, Hậu bày tỏ: "Mình cũng như các bạn, may mắn hơn là còn có gia đình. Cùng cảnh ngộ mà, giúp nhau để các em có cơ hội như bao bạn đồng trang lứa khác". Theo Phi Long Filed under: Chứng Nhân, Mỗi ngày 1 tin sáng Tagged: Chứng Nhân, Tin sáng |
| ‘Đổi đường lối quan trọng hơn nhân sự’ Posted: 13 Dec 2010 01:03 PM PST TS Tréglodé nói thay đổi nhân sự không quan trọng bằng chuyển đổi đường lối tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XI Một chuyên gia từ Pháp bình luận về khả năng thích ứng của Đảng Cộng sản Việt Nam và cho rằng còn phải mất nhiều thời gian, tiến trình dân chủ hóa mới đến. Phân tích vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam trước kỳ đại hội của Đảng vào đầu năm 2011, Tiến sĩ Benoit de Tréglodé, Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Đương Đại của Pháp (IRASEC, Bangkok), đã đưa ra dự đoán của mình về xu thế thay đổi dân chủ trong và ngoài đảng cầm quyền. Ông cũng bình luận về vai trò của Trung Quốc và Phương Tây, hai xu hướng bên ngoài đang tác động tới đường hướng của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam từ Đổi mới tới nay. Thế nhưng trước hết Tiến sỹ Tréglodé bình luận về khả năng thích ứng của Đảng Cộng sản Việt Nam khi nhìn vào đường lối và diễn từ chính trị của họ: Tiến sỹ Tréglodé: Điểm quan trọng đầu tiên để hiểu vị trí của Đảng Cộng sản Việt Nam từ một nửa thế kỷ qua là khả năng thích nghi đáng kinh ngạc của nó. Có nghĩa là đảng luôn luôn thích ứng với nhiều biến cố trong từng giai đoạn. Về mặt sử học, một điều rất quan trọng là phải hiểu được vị trí của đảng này trong xã hội Việt Nam. Người ta nghiên cứu tư duy, diễn từ và chủ đề mà nó lựa chọn. Chẳng hạn trong một giai đoạn trước đây, Đảng có tên gọi là Đảng Lao động hồi những năm 1950-1960. Sau thống nhất đất nước và đổi mới, mỗi một giai đoạn, đảng đều biến đổi để thích ứng với tình hình cụ thể trong từng thời điểm.
Chẳng hạn, phương châm của Đảng không giống với luận điệu mà họ đưa ra cách đây hai chục năm. Từ thời điểm sụp đổ của Bức tường Berlin và khối Đông Âu, Đảng này đã không quyết định giống như các đảng cộng sản khác ở Đông Âu để thay đổi tên gọi của mình, hay thay đổi một cách đáng kể hệ tư tưởng của đảng. Nó chỉ quyết định đơn giản là sửa đổi lập trường để đồng thời tôn trọng quan hệ ‘đồng minh’ với Đảng Cộng sản Trung Quốc và đồng thời tính toán trải qua từng giai đoạn khác nhau làm sao duy trì được quyền lực nói chung và quyền lực mà tầng lớp cao nhất của đảng lâu nay vẫn nắm giữ. Mục tiêu cuối cùng và tối thượng của Đảng Cộng sản Việt Nam có thể nói là duy trì quyền lực mà đảng này và các thành viên chóp bu của nó đã nắm được từ hơn nửa thế kỷ qua. Vì vậy có thể nói, trong vòng 20 năm trở lại đây, chúng ta có thể thấy có một thay đổi trong phương châm tỏ ra thiên hơn về quốc gia dân tộc của đảng. Tức là từ một đảng rất quốc tế chủ nghĩa, chuyển sang một đảng tỏ ra rất 'quốc gia dân tộc', 'rất yêu nước'. Có một quá trình chuyển đổi từ một đảng với tư tưởng Hồ Chí Minh, vốn trộn lẫn trong đó nhiều yếu tố như tinh thần, đạo đức, văn hóa Khổng Nho, chuyển sang tinh thần phòng thủ, tự bảo vệ chủ thuyết như hiện nay. Dường như đây là một trong những yếu tố giải thích vì sao họ đứng vững tới nay. Đồn đoán nhân sự BBC: Có thể dự đoán được gì về thay đổi lãnh đạo của đảng ở Đại hội XI tới đây, nhất là với một số nhân vật cao cấp như các ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng hay Phùng Quang Thanh…? Tiến sỹ Tréglodé: Thông thường trước ngưỡng những sự kiện quan trọng của như đại hội đảng CSVN, vẫn diễn ra các đồn đoán, dự đoán khác nhau, mà các chi tiết thay đổi từng tháng một. Vai trò phân tích sử học về đảng phái chính trị của chúng tôi không nhất thiết phải tập trung vào việc bàn xem ai sẽ chiếm giữ ba vị trí tạm gọi là tam đầu chế trong đảng cộng sản ở Việt Nam. Hiện có những đồn đoán khá rõ ràng rằng Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, cũng như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh là những người sắp rời khỏi các vị trí của mình hiện nay, vì lý do giới hạn tuổi tác. Ông Nguyễn Tấn Dũng được cho là sẽ tiếp tục cương vị Thủ tướng Chính phủ hiện nay của ông. Sau đó, người ta cũng bàn về việc ai sẽ kế vị các chức vụ mà các ông Triết và Mạnh để lại. Người ta cũng nói tới khả năng ông Nguyễn Phú Trọng, đương kim Chủ tịch Quốc Hội, sẽ trở thành Tổng Bí thư, kế vị ông Mạnh, mặc dù ông Trọng về mặt tuổi tác cũng đã 66 tuổi. Tuy nhiên như đã nói, những đồn đoán hay giả thuyết này không ở trọng tâm, hay không thực quan trọng đối với cách đặt vấn đề và nghiên cứu của chúng tôi. Điều quan trọng hơn là đại hội đảng lần thứ XI tới đây có thực sự đem lại đổi mới nào thực sự về mặt tư duy cũng như cải tổ thực sự từ bên trong đảng hay là không. BBC: Có thể dự đoán ra sao về tương lai của đảng cộng sản trong trung hạn cũng như dài hạn. Liệu sẽ diễn ra một ngày mà ĐCS cùng tồn tại với nhiều đảng phái khác ở Việt Nam, trong một nền chính trị đảng phái đa nguyên và dân chủ?
Tiến sỹ Tréglodé: Trong 20 năm qua đã có nhiều quan sát và phân tích nước ngoài luận bàn về mở cửa chính trị của Việt Nam. Theo đó nhiều người khi đó cho rằng chính sách mở cửa kinh tế sẽ dần tác động tới mở cửa về chính trị. Tuy vậy, qua năm tháng, người ta thấy có sự trái ngược với dự đoán này. Cuộc đổi mới từ những năm 1980 của Việt Nam đã đem lại một số cởi mở về mặt xã hội, nhưng đã không đem lại một sự cải tổ căn bản, gốc rễ về hệ thống chính trị, nhất là so với hiện tượng và xu hướng khá phổ biến có sự điều chỉnh, hiện đại hóa về chính trị của nhiều nhà nước ở khu vực Đông Nam Á. Người ta không thấy nhất thiết có sự liên hệ trong trường hợp của Việt Nam, mà theo đó, quá trinh biến đổi nội bộ thể chế phải trải qua một cơn khủng hoảng về mở cửa. Thể chế chính trị của VN không còn hoàn toàn giống với chính nó hồi những năm 1990, thế nhưng đồng thời, chắc chắn rằng có một sự tái sản xuất, sự tái tục về thế hệ quyền lực cũng như về tầng lớp cao cấp nắm quyền của đảng. Gần đây người ta nhắc nhiều tới các vụ bắt giữ các nhà bất đồng chính kiến, các blogger, các nhà hoạt động về nhân quyền vốn xảy ra thường xuyên hơn ở Việt Nam. Thời gian một năm trở lại trước Đại hội đảng, hiện tượng xảy ra nhiều hơn thường lệ các vụ bắt giữ thể hiện một nền chính trị nội bộ với những khẳng định về quyền lực, ảnh hưởng, quyền lực độc tôn, kể cả về tinh thần, giữa một đối thủ cạnh tranh này so với đối thủ khác trong nội bộ, cũng như trong xã hội. Hiện tượng bắt bớ cũng như thể hiện quyền lực này không chỉ xảy ra trước thềm Đại hội đảng lần thứ XI mà có thể nói là sự lặp lại một kịch bản đã xảy ra trước thềm các đại hội một vài năm trước đây như Đại hội đảng lần thứ IX hay thứ X. Vấn đề đặt ra ở đây là liệu những sự kiện và cách thức này ở thời điểm năm 2010 có thể tạo ra những ảnh hưởng và tác động ra sao tới toàn thể xã hội. Và tôi thấy rằng mặc dù đã xuất hiện một số yếu tố mới trong hai chục năm từ Đổi mới, với sự xuất hiện của một tầng lớp trung lưu mới ở đô thị có giáo dục và học vấn tốt hơn, mặc dù có sự bàn luận tự do hơn ở Việt Nam ở trên đường phố, các quán café, nhà hàng với việc người dân Việt Nam hiện nay tỏ ra phê phán nhiều hơn đối với các tầng lớp lãnh đạo (họ phát biểu nhiều hơn về các chủ đề chính trị, họ ít tỏ ra sợ hơn so với trước đây), nhưng tầng lớp lãnh đạo vẫn luôn luôn tỏ ra xa cách, vẫn có một khoảng cách và khác biệt rộng lớn như người ta vẫn nói giữa, tầng lớp lãnh đạo đảng và nhân dân. Theo quan điểm riêng của tôi, dân chủ và quá trình dân chủ hóa từ bên trong ở Việt Nam vẫn còn cần lâu dài về mặt thời gian để có thể đạt được. Về tâm thế, quá trình này vẫn đang có những diễn tiến, nhưng tôi thấy về mặt nguyên tắc và căn bản, biến đổi thể chế ở Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng xảy ra, để dẫn dắt nhân dân với những yêu cầu cao vốn đòi hỏi thay đổi và cải tổ từ bên trong một cách lâu dài. Phần thứ nhì cuộc phỏng vấn với Tiến sĩ Benoit de Tréglodé sẽ được đăng trong những ngày tới. BBC cũng đang giới thiệu các bài liên quan tới Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam dự kiến vào tháng 1/2011. Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin |
| Hà Nội và Mỹ đối thoại nhân quyền Posted: 13 Dec 2010 01:03 PM PST Đại sứ Michalak hài lòng về quan hệ quốc phòng nhưng ‘tiếc cho tình trạng nhân quyền’ của Việt Nam Giới chức Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu đối thoại hàng năm về nhân quyền hôm thứ Hai, vài ngày sau khi đại sứ Mỹ ở Hà Nội ‘tỏ ý tiếc cho tình trạng nhân quyền ở Việt Nam”. Đại diện phía Mỹ là phụ tá ngoại trưởng lo về nhân quyền và lao động, Michael Posner, đã hội đàm với thứ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh. Tại một cuộc họp báo tuần trước nhân ngày Nhân quyền Quốc tế, Đại sứ Mỹ tại Hà Nội Michael Michalak nói nước ông vẫn lo ngại về thực trạng nhân quyền của Việt Nam. Đại sứ Mỹ ghi nhận trong năm 2010, “hơn 24 người bị bắt, và 14 người khác bị kết án vì biểu lộ quan điểm theo phương cách hòa bình”. “Không ai lại phải bị vào tù chỉ vì bất đồng với chính sách chính phủ, hay bị gán nhãn khủng bố vì muốn đóng góp thêm vào việc hoạch định chính sách,” đại sứ Mỹ viết trên trang web của sứ quán. Ông Michalak gọi năm 2010 là năm chứng kiến “sa sút lớn về tự do internet”. Ông trích dẫn việc chặn Facebook, tin tặc đánh phá các trang web, hạn chế gia tăng đối với các quán cà phê internet và blog, dùng phần mềm để theo dõi đối kháng. Đại sứ Mỹ tuy vậy khen ngợi rằng trong ba năm vừa qua, ông “chứng kiến cải thiện lớn về tự do tôn giáo”. Nhưng ông nói việc nhà chức trách dùng vũ lực trong những vụ như ở Đồng Chiêm và Cồn Dầu “gây nghi ngờ về quyết tâm cai trị bằng pháp luật của Việt Nam và gây tổn hại cho một Việt Nam mà lẽ ra có hình ảnh tích cực về tự do tôn giáo”. Đối tác Trong thời gian gần đây Washington nhiều lần chỉ trích Việt Nam về nhân quyền mặc dù muốn cải thiện quan hệ ngoại giao và quân sự với Hà Nội. Hoa Kỳ ủng hộ lập trường của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền trong Biển Đông, trong khi các sĩ quan Việt Nam được mời lên thăm hàng không mẫu hạm. Quân đội hai nước cũng có kế hoạch huấn luyện chung. Trả lời các câu hỏi của độc giả trang tin VnExpress trong buổi giao lưu trực tuyến ngày 06/12, ông Michalak nói: "Tôi cho rằng, cả Ngoại trưởng Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates đều cho rằng an ninh hàng hải là cực kỳ quan trọng đối với Hoa Kỳ. "Hoa Kỳ tin rằng phải có tự do hàng hải ở vùng biển Đông Nam Á và trên thế giới là rất quan trọng.” "Chúng tôi mong các tranh chấp được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, xây dựng lòng tin và dựa trên luật biển quốc tế…" ông Michalak được dẫn lời nói. Hiện Việt Nam đang là một trong những nước Đông Nam Á được Hoa Kỳ trợ giúp nhiều nhất. Năm 2009 là năm đầu tiên Việt Nam có tên trong chương trình tài chính quân sự nước ngoài của Hoa Kỳ và khoản trợ giúp đầu tiên là 500.000 USD. Tuy nhiên quan hệ an ninh quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được đánh giá là kém xa quan hệ kinh tế. Filed under: Thông Tin Tagged: Thông Tin |
| You are subscribed to email updates from Đọt Chuối Non To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google Inc., 20 West Kinzie, Chicago IL USA 60610 | |
No comments:
Post a Comment