Friday, October 14, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Câu chuyện thật về Sad Movies

Posted: 14 Oct 2011 01:08 PM PDT

 

Đôi khi có những câu chuyện được người ta tưởng tượng ra, y như thật. Sad Movies cũng là một câu chuyện như thế.

Sad Movies được nhạc sĩ Loudermilk sáng tác từ câu chuyện của một cô bạn. Cô này kể lại, sau khi cô xem bộ phim Spartacus tại rạp, người ta đã bất ngờ bật đèn lên và cô phát hiện người phụ nữ bên cạnh cô đang khóc. Người phụ nữ ấy chỉ nói: "Sad movies make me cry" (phim buồn làm tôi khóc). Chỉ là một câu chuyện nhỏ không có ý nghĩa nhưng Loudermilk với trí tưởng tượng phong phú đã biến nó thành một câu chuyện về …nhân tình thế thái.

Được phát hành năm 1961, Sad Movies của nhạc sỹ John D. Loudermilk gắn liền với tên tuổi của ca sỹ Sue Thompson.

Sad Movies là tiếng thở dài thất vọng của một con người khi phát hiện sự giả dối vây quanh mình trong xã hội. Bài hát thể hiện khao khát của một con người được sống giữa những người người hơn, tốt hơn, tử tế hơn nhưng không được. Phần nhạc mang tính kể chuyện, tiết tấu mang tính châm biếm. Riêng khúc điệp khúc nghe như tiếng than vãn, càng nghe càng thấy buồn "Ôi, phim buồn luôn làm tôi khóc". Đấy là tiếng khóc của một con người trung thực dù không muốn nhưng phải chứng kiến sự giả dối. Cái hay của bài hát là câu này có thể hiểu theo nghĩa đen (phim ở rạp buồn nên tôi khóc) hay nghĩa bóng (người ta giả dối, đóng phim, đời là phim, nên tôi khóc) thì đều ăn nhập với phần lời còn lại.

Ngày xưa mình thường nghe qua bản tiếng Pháp: “Quand le film est triste”, hôm nay các bạn nghe lại Sue Thompson hát nhé:

SAD MOVIES

Sad movies always make me cry.

He said he had to work, so I went to the show alone.
They turned down the lights and turned the projector on.
And just as the news of the world started to begin,
I saw my darling and my best friend walking in.

Although I was sitting right there they didn'n see me.
And so they both sat right down in the front of me.
And when he kissed her lips then I almost died.
And in the middle of the colour cartoon I started to cry.

Oh Sad movies always make me cry
Sad movies always make me cry

And so I got on up and slowly I walked on home,
And Mama saw the tears and said "Baby what is wrong".
And so just to keep from telling her a lie,
I just said "Sad movies makes me cry".

Oh Sad movies always make me cry
Sad movies always make me cry
Sad movies always make me cry
Sad movies always make me cry…

 


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Cầu nguyện cho nhau

Posted: 14 Oct 2011 01:06 PM PDT

Chào các bạn,

Các tôn giáo thường có dạy người ta cầu nguyện cho nhau—cầu nguyện xin bình an, sức khỏe, hạnh phúc cho bố mẹ, anh chị em, bạn bè, người thân… Vợ có chồng ra trận thường cầu nguyện cho chồng mỗi ngày. Bạn ta bị bệnh, ta cầu nguyện hàng ngày cho bạn…

Ki tô giáo đẩy cầu nguyện đến mức tối đa—khác với Phật giáo nói đến 84 nghìn pháp môn, Ki tô giáo chỉ có một pháp môn là cầu nguyện. Và trong truyền thống công giáo, có từ "hiệp thông" (in communion with), cùng thông cảm, cùng cầu nguyện cho nhau và/hoặc với nhau về một vấn đề nào đó.

• Tạm gác các yếu tố siêu nhiên qua một bên, trong bài "Cầu nguyện, Tư duy tích cực, và Luật Hấp Dẫn" chúng ta đã nói đến hai lợi điểm của cầu nguyện.


1. sự cầu nguyện tự chính nó giúp cho người cầu nguyện có được tâm thanh tịnh, yêu ái, hy vọng, tích cực về tất cả mọi sự và tất cả mọi người. Đó là một năng lượng tích cực vĩ đại mà bình thường rất khó cho chúng ta tạo ra với đủ mọi thứ tham sân si, hỉ nộ ái ố ai lạc dục trong tâm ta.
Năng lượng tích cực này tự chính nó tạo ra những điều tích cực cho người cầu nguyện. Và nếu một người cầu nguyện đúng cách như thế thường xuyên thì năng lượng tích cực tạo ra rất nhiều, đủ sức đánh bạt được các năng lượng tiêu cực do tham sân si thỉnh thoảng đưa đến.

Ta có thể thấy cuộc đời của người có nhiều năng lượng tích cực như thế đương nhiên là sẽ nhiều hạnh phúc và thành công.

2. Cầu nguyện tức là sử dụng Luật Hấp Dẫn ở mức độ mạnh mẽ nhất, bởi vì lòng tin trong cầu nguyện làm mạnh mẽ tư tưởng về điều người ta cầu nguyện, nếu người ta chú tâm cầu nguyện vào điều đó, như "xin cho con thành công trong công việc" hay "xin cho con được hạnh phúc gia đình".

• Và khi ta cầu nguyện cho bạn ta, như là bạn ta đang có điều đau khổ, ta cầu nguyện cho bạn ấy được bình an, ta làm được một số điều quan trọng:

1. Thấy bạn mình khổ quá, mà đôi khi mình chẳng có cách gì giúp được, mình rất xót xa. Cầu nguyện cho bạn cũng chính là xoa dịu cơn đau của mình, vì mình đã làm được một điều – cầu nguyện – cho bạn thay vi ngồi đó xót xa mà chẳng làm được gì cả.

2. Khi mình nói với bạn là mình cầu nguyện cho bạn, thì thông thường đó là điều ấm áp nhất mà mình có thể đưa đến trái tim của bạn, vì cầu nguyện là liên kết với nhau, gần nhau, ở mức độ sâu thẳm nhất của trái tim. Đôi khi đi chới với nhau không cho người ta cảm giác ấm áp băng biết người kia cầu nguyện cho mình.

Nói tóm lại, cầu nguyện cho bạn là cách an ủi và hỗ trợ tinh thần rất hiệu quả, khi mình chẳng biết cách nào hơn nữa.

Khi bạn gặp khó khăn mà biết mình cầu nguyện cho bạn hàng ngày, bạn cũng có được cảm tưởng là bạn không "đi biển mồ côi một mình", cũng giảm được một chút cô dơn.

• Khi bạn ta có một vấn đề mà ta và nhiều người khác cùng "hiệp thông" cầu nguyện về vấn đề đó thì,

1. Ta tạo được cộng hưởng tích cực do hậu quả cộng hưởng của nhiều nguồn nặng lượng tích cực tạo ra từ nhiều cá nhân.

2. Giúp cho mọi người cùng thêm hăng hái vì ai cũng biết được là có nhiều người đồng hành trên con đường với mình.

Cầu nguyện có ảnh hưởng rất tốt và rất mạnh trong quan hệ con người. Nếu bạn quen cầu nguyện thì nên dùng thường xuyên. Nếu các bạn chưa quen cầu nguyện cũng nên học.

Mỗi tôn giáo có ngôn ngữ cầu nguyện hơi khác nhau. Nhưng chẳng ai cấm bạn dùng ngôn ngữ riêng của bạn để tâm sự với ông bạn quý của bạn là “Ông Trời”. Hay “Bà Trời.”

Dĩ nhiên là khi nói đến các tác động tốt của cầu nguyện, ta luôn hiểu ngầm là cầu nguyện với trái tim yêu ái. Vì cầu nguyện kiểu "Con xin Trời Đất Thánh Thần cho chúng nó chết sớm" thì không thành, vì năng lượng tiêu cực rất yếu, như là bóng đêm. Chỉ năng lượng tích cực mới mạnh mẽ như ánh sáng trong đêm: "Cả bóng đêm của toàn vũ trụ không thể che mất ánh sáng của một que diêm".

Chúc các bạn một ngày tĩnh tâm cầu nguyện.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Các bạn không thể ghét gốc rễ của một cây mà không ghét chính cây đó” – Malcom X

Posted: 14 Oct 2011 01:05 PM PDT

 

Các bạn thân mến

Tuần trước chúng ta đã đã đọc một bài giới thiệu dài dòng về chế độ nô lệ và sự phân biệt chủng tộc đối với người da đen trong lịch sử cận-hiện đại của Hoa Kỳ. Chúng ta đã biết về Martin Luther King, là 1 trong 2 người được xem là đóng góp nhiều nhất cho sự xoá bỏ phân biệt chủng tộc, thông qua bài diễn văn nổi tiếng thế giới "tôi có một giấc mơ" rung động lòng người

Hôm nay chúng ta có dịp biết về người khác, sống cùng thời, cùng địa điểm và có cùng chí hướng với ông: Malcolm X. Điểm giống nhau của King và MalcolmX là họ đều mong muốn giải phóng người da đen. Tuy nhiên nếu triết lý của King là: hãy làm cho người da trắng cảm nhận họ đã đánh cắp gì từ người da đen, từ đó làm họ rung động và mở lòng ra với người da đen, thì triết lý của Malcolm cực đoan hơn: nếu người da trắng có các không gian dành riêng cho họ, thì người da đen cũng sẽ liên kết chặt chẽ trong cộng đồng của mình (và mặc xác người da trắng cho đến khi nào họ chủ động muốn người da đen mở lòng mình), vì không có lý gì mà người da đen phải đi xin xỏ người da trắng!

Đường lối của Malcolm đi đến sát lằn ranh giữa bạo động và bất bạo động, từ năm 1952 đến 1964, ông liên tục tuyên truyền rằng người da đen bản chất là vượt trội hơn hẳn người da trắng, người da đen là khởi thuỷ của loài người, người da trắng là chủng tộc của quỷ!!! (White people were a race of devils). Ông đề xuất tách nước Mỹ ra làm 2 phần : 1 phần của người da trắng và phần kia của người da đen tạm thời cho đến khi người Mỹ gốc Phi quay về châu Phi sinh sống!

Ông cũng rất cố gắng cho thành lập tổ chức thống nhất châu Phi với mong muốn lục địa này vươn lên ngang hàng với các lục địa khác.

Ông không đồng ý với đường lối của King, ông gọi King là "thằng bù nhìn của chính quyền da trắng" (stooges for the white establishment) và ông gọi cuộc tuần hành Washington là "trò hề ở Washington" , 1 trò diễu hành của đám da trắng trước 1 ông tổng thống đã chết từ 100 năm trước mà lúc còn sống ông cũng chẳng thích người da đen.

Rõ ràng, tuy Malcolm đã làm được điều mình muốn là khơi dậy ý thức tự hào của người da đen, nhưng ông đang đào sâu hơn sự thù hận giữa 2 chủng tộc. Và theo ý kiến của Kiệt, chuyện này sẽ dẫn đến bạo động vì 2 nhóm người vốn đã không ưa gì nhau

Chúng ta hãy cũng đọc một trong những bài diễn văn cuối cùng của Malcolm, để cảm nhận bầu nhiệt huyết của ông dành cho người da đen, sự khinh thường của ông với người da trắng và cách ông kêu gọi người da đen đoàn kết trong "tình huynh đệ". Trong bài diễn văn này nhắc đến Hồi Giáo rất nhiều, vì trong suy nghĩ của Malcolm xem Hồi Giáo là cách để giúp người da đen đoàn kết chặt chẽ để tự giải phóng mình dưới khái niệm tình huynh đệ của tôn giáo này.

Về tác giả (nguồn Wikipedia)

Malcolm X (tên thật Malcolm Little; sinh ngày 19 tháng 5, 1925 – 21 tháng 2, 1965), còn có tên khác là El-Hajj Malik El-Shabazz) là một tu sĩ Hồi giáo Mỹ gốc Phi, phát ngôn viên cho tổ chức Quốc gia Hồi giáo.

Sau khi từ bỏ Quốc gia Hồi giáo năm 1964, Malcolm X tham dự lễ Hajj tại Mecca và theo nhánh Sunni trong đạo Hồi. Ông thành lập công ty Tu viện Hồi giáo và Tổ chức Mỹ gốc Phi thống nhất. Năm sau, Malcolm X bị ám sát tại Washington Heights, trong ngày đầu tiên của cuộc họp mặt Tuần lễ Huynh đệ Quốc gia.

(Nguyễn Mai Anh Kiệt giới thiệu)

 

…I am not a racist in any form whatsoever. I don’t believe in any form of racism. I don’t believe in any form of discrimination or segregation. I believe in Islam…

…Tôi không phải một người phân biệt chủng tộc dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi không tin vào bất kỳ hình thức nào của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Tôi không tin vào bất kỳ hình thức kỳ thị hay chia tách nào. Tôi tin vào Đạo Hồi…

… Elijah Muhammad had taught us that the white man could not enter into Makkah in Arabia, and all of us who followed him, we believed it…

…Elijah Muhammad đã dạy chúng ta rằng người da trắng không thể bước chân vào Thánh đường Mecca ở Ảrập, và tất cả chúng ta những người đi theo ông ấy, chúng ta tin vào điều đó…

So when I got over there and went to Makkah and saw these people who were blond and blue-eyed and pale-skinned and all those things, I said, “Well!” But I watched them closely. And I noticed that though they were white, and they would call themselves white, there was a difference between them and the white one over here. And that basic difference was this: in Asia or the Arab world or in Africa, where the Muslims are, if you find one who says he’s white, all he’s doing is using an adjective to describe something that’s incidental about him, one of his incidental characteristics; so there’s nothing else to it, he’s just white.

Cho nên khi tôi đến đó và bước vào Thánh đường Mecca và thấy những người này, những người tóc vàng và mắt xanh và làn da trắng và tất cả những điều đó, tôi đã nói "À!". Nhưng tôi quan sát họ kỹ càng. Và tôi để ý thấy rằng mặc dù họ là người da trắng, và họ gọi mình là người da trắng, có sự khác biệt giữa họ và những người da trắng ở đây. Và điều khác biệt cơ bản đó là: ở Châu Á và thế giới Ả-rập hay ở Châu Phi, nơi những người Hồi Giáo ở, nếu các bạn thấy một người nào đó nói anh ta là người da trắng, đó là anh ta chỉ sử dụng một tính từ mô tả một điều gì đó tình cờ về anh ta, một trong những đặc tình cờ của anh ta; như vậy, chẳng có gì hơn vậy về điều đó cả, đơn giản anh ấy là một người da trắng.

But when you get the white man over here in America and he says he’s white, he means something else. You can listen to the sound of his voice — when he says he’s white, he means he’s a boss. That’s right. That’s what “white” means in this language. You know the expression, “free, white, and twenty-one.” He made that up. He’s letting you know all of them mean the same. “White” means free, boss. He’s up there. So that when he says he’s white he has a little different sound in his voice. I know you know what I’m talking about.

Nhưng khi các bạn gặp người da trắng ở đây, ở Mỹ, và anh ta nói rằng anh ta là người da trắng, anh ta còn có ý gì đó khác. Các bạn có thể lắng nghe giọng điệu của anh ấy – khi anh ta nói rằng anh ta là người da trắng, anh ta có ý rằng anh ta là xếp. Đúng vậy. Đó là ‎ nghĩa của từ "da trắng" ngôn ngữ này. Các bạn biết thành ngữ "tự do, da trắng, và hai mươi mốt". Người da trắng đã sáng tạo thành ngữ đó. Anh ta cho các bạn biết tất cả những điều đó đều có cùng ý nghĩa. "Da trắng" nghĩa là tự do, là xếp. Anh ta đứng trên cao kia. Cho nên khi anh ta nói anh ta là người da trắng anh ta có một chút khác biệt trong giọng nói. Tôi biết là các ban biết đều mà tôi đang nói.

…But despite the fact that I saw that Islam was a religion of brotherhood, I also had to face reality. And when I got back into this American society, I’m not in a society that practices brotherhood. I’m in a society that might preach it on Sunday, but they don’t practice it on no day — on any day. And so, since I could see that America itself is a society where there is no brotherhood and that this society is controlled primarily by racists and segregationists — and it is — who are in Washington, D.C., in positions of power…

…Nhưng dù tôi đã thấy Hồi giáo là một tôn giáo của tình huynh đệ, tôi cũng đã phải đối diện với thực tế. Và khi tôi quay trở lại xã hội Mỹ này, tôi không còn trong xã hội thực hành tình huynh đệ. Tôi ở trong xã hội mà người ta thuyết giảng về tình huynh đệ vào Chủ Nhật, nhưng họ chẳng thực hành nó ngày nào – bất kỳ ngày nào. Và rồi, vì tôi có thể thấy rằng nước Mỹ chính nó là một xã hội không có tình huynh đệ và chính xã hội này đang bị kiểm soát chủ yếu bởi những người phân biệt chủng tộc và chia tách – và chính họ – những người ở Washington D.C., ở vị trí cầm quyền…

…now what effect does this have on us? Why should the Black man in America concern himself — since he’s been away from the African continent for three or four hundred years — why should we concern ourselves? What impact does what happens to them have upon us? Number one, first you have to realize that up until 1959 Africa was dominated by the colonial powers. And by the colonial powers of Europe having complete control over Africa, they projected the image of Africa negatively. They projected Africa always in a negative light: jungles, savages, cannibals, nothing civilized. Why then naturally it was so negative [that] it was negative to you and me, and you and I began to hate it. We didn’t want anybody telling us anything about Africa, much less calling us Africans. In hating Africa and in hating the Africans, we ended up hating ourselves, without even realizing it. Because you can’t hate the roots of a tree and not hate the tree. You can’t hate your origin and not end up hating yourself. You can’t hate Africa and not hate yourself.

…bây giờ, điều đó có ảnh hưởng gì đến chúng ta? Tại sao người da đen ở Mỹ nên quan ngại về chính mình – vì anh ta đã rời xa lục địa Phi Châu từ ba hay bốn trăm năm nay – tại sao chúng ta nên quan ngại về chính chúng ta? Điều xảy ra với họ có tác động gì đến chúng ta? Điều số một, trước tiên các bạn phải nhận ra rằng cho đến 1959, Châu Phi vẫn cón bị ngự trị bởi các lực lượng thực dân. Và bởi vì các lực lượng Châu Âu hoàn toàn kiểm soát Châu Phi, họ đã đưa ra hình ảnh Châu Phi rất tiêu cực. Họ nhìn về Châu Phi luôn trong ánh sáng tiêu cực: rừng rú, hoang dã, ăn thịt người, chẳng có gì văn minh. Đó là tại sao sau đó, một cách tự nhiên, Châu Phi rất tiêu cực đến nỗi Châu Phi tiêu cực đối với các bạn và tôi, và các bạn và tôi bắt đầu ghét Châu Phi. Chúng ta không muốn bất kỳ người nào nói với chúng ta về Châu Phi, và lại càng không muốn ai gọi chúng ta là người Châu Phi. Từ việc ghét Châu Phi và ghét ngươi Châu Phi, chúng ta rốt cuộc ghét chính mình, mà không nhận ra được cả điều đó. Bởi vì các bạn không thể ghét gốc rễ của một cây mà không ghét chính cây đó. Các ban không thể ghét nguồn gốc của mình mà rốt cuộc không ghét chính mình. Các bạn không thể ghét Châu Phi mà không ghét chính mình.

You show me one of these people over here who have been thoroughly brainwashed, who has a negative attitude toward Africa, and I’ll show you one that has a negative attitude toward himself. You can’t have a positive attitude toward yourself and a negative attitude toward Africa at the same time. To the same degree that your understanding of and attitude toward Africa becomes positive, you’ll find that your understanding of and your attitude toward yourself will also become positive. And this is what the white man knows. So they very skillfully made you and me hate our African identity, our African characteristics…

Các bạn chỉ cho tôi một trong những người ở đây đã được tẩy não kỹ lưỡng, có thái độ tiêu cực về Phi Châu, và tôi sẽ chỉ cho các bạn một người có thái độ tiêu cực về chính anh ta. Các bạn không thể có một thái độ tích cực về mình mà đồng thời lạicó một thái độ tiêu cực về Phi Châu. Cùng mức độ mà sự hiểu biết và thái độ của các bạn đối với Phi Châu trở nên tích cực, sự hiểu biêt và thái độ của các bạn về chính mình cũng sẽ trở nên tích cực. Và đó là điều mà người da trắng biết. Vì vậy, một cách rất khéo léo, họ đã khiến cho các bạn và tôi ghét bản chất Phi Châu của mình, ghét các đặc tính Phi Châu của mình…

…One of the things that made the ‘Black Muslim’ movement grow was its emphasis upon things African. This was the secret to the growth of the ‘Black Muslim’ movement. African blood, African origin, African culture, African ties. And you’d be surprised, we discovered that deep within the subconscious of the Black man in this country, he’s still more African than he is American. He thinks that he’s more American than African, because the man is jiving him, the man is brainwashing him every day…

…Một trong những điều khiến cho phong trào "Hồi Giáo Da Đen" lớn mạnh là phong trào này nhấn mạnh vào những điều Phi Châu. Đây là bí mật cho sự lớn mạnh của phong trào "Hồi Giáo Da Đen". Dòng máu Phi Châu, nguồn gốc Phi Châu, văn hóa Phi Châu, ràng buộc Phi Châu. Và các bạn có thể ngạc nhiên là chúng ta đã khám phá ra rằng sâu thẳm trong tiềm thức của người da đen ở đất nước này, anh ta vẫn là người Phi Châu hơn là người Mỹ. Anh ta nghĩ rằng anh ta Mỹ nhiều hơn Phi vì anh ta đang lừa dối mình, anh ta đang tẩy não mình mỗi ngày…

…Just because you’re in this country doesn’t make you an American. No, you’ve got to go farther than that before you can become an American. You’ve got to enjoy the fruits of Americanism. You haven’t enjoyed those fruits. You’ve enjoyed the thorns. You’ve enjoyed the thistles…

…Chỉ việc các bạn ở đất nước này không khiến các bạn thành người Mỹ. Không, các bạn phải tiến xa hơn thế trước khi các bạn trở thành người Mỹ. Các bạn phải thưởng thức những thành tựu của phong cách Mỹ. Các bạn phải thưởng thức những thành tựu này. Các bạn phải thưởng thức những khó khăn này. Các bạn phải thưởng thức những gai góc này…

…I say again that I’m not a racist, I don’t believe in any form of segregation or anything like that. I’m for the brotherhood of everybody, but I don’t believe in forcing brotherhood upon people who don’t want it. Long as we practice brotherhood among ourselves, and then others who want to practice brotherhood with us, we practice it with them also, we’re for that. But I don’t think that we should run around trying to love somebody who doesn’t love us.

…Tôi lặp lại rằng tôi không phải một người phân biệt chủng tộc. Tôi không tin vào bất kỳ hình thức chia tách nào hay bất kỳ điều gì như vậy. Tôi ủng hộ tình huynh đệ giữa mọi người, nhưng tôi không tin vào việc áp đặt tình huynh đệ lên đầu những người không muốn tình huynh đệ. Chừng nào chúng ta còn thực hành tình huynh đệ giữa chúng ta, và rồi có những người muốn thực hành tình huynh đệ với chúng ta, chúng ta cũng sẽ thực hành tình huynh đệ với họ, chúng ta ủng hộ điều đó, Nhưng tôi không nghĩ rằng chúng ta nên chạy lòng vòng cố gắng yêu ai đó không yêu chúng ta.

(Quỳnh Linh dịch)

Đọc toàn bài diễn văn tại http://www.blackintime.info/remembering-malcolm.html

 


Filed under: Các diễn văn làm thay đổi thế giới, Lịch sử, Văn Hóa Tagged: các diễn văn làm thay đổi thế giới, Lịch sử, Song ngữ, Văn Hóa

Lịch sử Ngày Cây Gậy Trắng – History of the White Cane Day

Posted: 14 Oct 2011 01:04 PM PDT

 

Dịch từ History of White Cane Safety Day
của Philip Strong

Cây Gậy Trắng không chỉ là một công cụ có thể dùng để đạt được sự tự lập; nó còn là biểu tượng của người công dân khiếm thị trong xã hội chúng ta. Để tôn vinh biết bao thành đạt của những người Mỹ khiếm thị và để nhìn nhận ý nghĩa của cây gậy trắng trong việc thúc đẩy tinh thần tự lập, chúng ta mừng ngày 15 tháng Mười hàng năm là "Ngày Cây Gậy Trắng."

Ngày nay cây gậy trắng vừa là công cụ cho người khiếm thị vừa là biểu tượng của người khiếm thị, thế nhưng ngày xưa thì không phải như thế.

Xuyên suốt dòng lịch sử các loại gậy đã tồn tại như một công cụ hỗ trợ đi lại cho người khiếm thị. Các ghi chép từ thời Kinh Thánh cho thấy cây gậy của người chăn chiên đã được dùng như một công cụ hữu hiệu trong những chuyến bộ hành đơn độc. Người khiếm thị đã dùng gậy để dò những chướng ngại trên đường đi.

Suốt nhiều thế kỷ, "cây gậy" chỉ được dùng làm công cụ đi lại. Mãi tới thế kỷ 20 và cho đến hiện nay, cây gậy mới được khuyến khích cho người khiếm thị sử dụng như một dấu hiệu để báo cho người khác biết sự hiện diện của mình.

Vai trò mới của cây gậy trắng bắt nguồn vào những thập niên giữa hai cuộc Thế chiến, khởi đầu ở châu Âu rồi lan tới Bắc Mỹ. James Biggs quê ở Bristol (nước Anh) cho rằng ông là người đã sáng kiến ra cây gậy trắng vào năm 1921. Sau một tai nạn đã tước mất thị giác của ông, nhiếp ảnh gia này đã phải thích nghi với môi trường sống của mình. Do cảm thấy bị đe doạ về lượng xe cộ gia tăng quanh nhà mình, Biggs quyết định sơn trắng cây gậy của ông để những người lái xe có thể trông thấy ông rõ hơn.

Tuy nhiên phải mất mười năm sau cây gậy trắng mới khẳng định được sự hiện diện của mình trong xã hội. Tháng Giêng năm 1931, Guilly d’Herbemont đã phát động một kế hoạch nhằm mở ra phong trào cây gậy trắng khắp nước Pháp dành cho người khiếm thị. Chiến dịch ấy được các báo của Anh tường thuật và đã dẫn tới một kế hoạch tương tự khắp Vương quốc Anh do Hiệp Hội Các Doanh Nhân tài trợ. Tháng Năm năm 1931, trong các chương trình phát thanh, đài BBC đã đề nghị cấp gậy trắng cho những người khiếm thị, để Cây gậy trắng được công nhận rộng rãi như một biểu tượng cho biết một ai đó là người khiếm thị. Tại Bắc Mỹ việc du nhập cây gậy trắng được quy cho Hiệp Hội Quốc Tế Lion. Năm 1930, một thành viên của Hiệp Hội Lion đã quan sát một người đàn ông khiếm thị sử dụng cây gậy màu đen đang cố băng qua một con đường nhiều xe cộ. Nhận thấy gậy màu đen rất khó để người lái xe thấy được, Hiệp Hội Lion đã quyết định sơn gậy màu trắng để các tài xế đang lái xe có thể nhìn thấy nó rõ hơn. Năm 1931, Hiệp Hội Quốc Tế Lion khởi xướng một chương trình quốc gia nhằm cổ vũ người khiếm thị sử dụng cây gậy trắng. Suốt hai thập niên 1920 và 1930, người khiếm thị đã đi với cây gậy được cầm chéo đúng tư thế, và cây gậy trắng bắt đầu mang tính biểu tượng của một sự nhận dạng. Khi các cựu chiến binh khiếm thị của Thế chiến II trở về Mỹ, kiểu dáng và cách sử dụng cây gậy trắng được cải tiến trong nỗ lự tạo cơ hội cho các cựu chiến binh tham gia vào cuộc sống đời thường tại quê nhà. Tiến sĩ Richard Hoover đã phát triển "cây gậy dài" hay còn gọi là "Phương pháp đi gậy của Hoover". Những cây gậy trắng này được thiết kế để sử dụng như một thiết bị đi lại và đưa cây gậy trở về với vai trò ban đầu là một công cụ để di chuyển, nhưng vẫn duy trì vai trò biểu tượng của nó như một sự minh định tính tự lập của người khiếm thị.

Trong suốt thời kỳ này, cây gậy trắng bắt đầu được đưa vào chính sách của chính phủ như một biểu tượng của người khiếm thị.

Sắc lệnh Cây Gậy Trắng đầu tiên được thông qua vào tháng Mười hai năm 1930 tại Peoria, Illinois. Nhờ đó người khiếm thị nào sử dụng cây gậy trắng để đi lại đều nhận được sự bảo vệ và nhường đường. Năm 1935, Michigan bắt đầu nâng cây gậy trắng lên làm biểu tượng của người khiếm thị. Ngày 25 tháng Hai năm 1936, một sắc lệnh được thông qua để thành phố Detroit thừa nhận cây gậy trắng. Để ủng hộ sắc lệnh mới này, một cuộc biểu tình được tổ chức ở Toà Thị Chính nơi người khiếm thị được trao tặng gậy trắng. Năm sau, Donald Schuur đã soạn một dự luật và đệ trình lên Cơ quan Lập pháp của tiểu Bang. Đề nghị đó đã đem lại cho người mang Gậy Trắng sự che chở trong khi đi lại trên các đường phố ở Michigan. Thống đốc Frank Murphy đã ký thông qua luật này vào tháng Ba năm 1937.

Trong những năm đầu thập niên 1960, một số tổ chức và cơ quan phục hồi chức năng của các tiểu bang chuyên phục vụ những công dân Mỹ khiếm thị đã hối thúc Quốc Hội công bố ngày 15 tháng Mười hàng năm là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng ở tất cả năm mươi tiểu bang. Sự kiện này đánh dấu giây phút đỉnh điểm trong chiến dịch lâu dài của phong trào người khiếm thị có tổ chức để giành được sự nhìn nhận của các tiểu bang cũng như của cả nước đối với cây gậy trắng. Ngày 6 tháng Mười năm 1964, một nghị quyết chung của Quốc Hội số HR 753 được ký kết thành luật uỷ quyền cho Tổng thống Mỹ để công bố ngày 15 tháng Mười hàng năm là "Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng". Nghị quyết qui định:"Theo quyết định của Thượng viện và Hạ viện, mỗi năm Tổng Thống được trao quyền để công bố ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng, và kêu gọi dân chúng Mỹ cử hành ngày này bằng những nghi lễ và hoạt động phù hợp."

Vài tiếng đồng hồ sau khi quốc hội thông qua nghị quyết này, Tổng Thống Lyndon B. Johnson được ghi danh trong sử sách là người đầu tiên công bố ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng. Lời công bố của Tổng thống nhấn mạnh ý nghĩa của việc sử dụng cây gậy trắng vừa là một công cụ vừa là một biểu tượng. Trong bài công bố đầu tiên về Cây Gậy Trắng, tổng thống Johnson đã ca ngợi người khiếm thị về tinh thần tự chủ và lòng quyết tâm ngày càng sống tự lập và xứng đáng với nhân phẩm. Ông nói: "Cây gậy trắng trong xã hội chúng ta đã trở thành một trong những biểu tượng nói lên khả năng tự đi lại của người khiếm thị. Việc sử dụng cây gậy làm tăng phong thái nhã nhặn cũng như cơ hội cho người khiếm thị di chuyển trên các đường phố của chúng ta."

Trong hầu hết các năm kể từ năm 1964, các Tổng thống đã công bố ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng.

Ngày 15 tháng Mười năm 2000, Tổng thống Bill Clinton một lần nữa nhắc nhớ chúng ta về lịch sử của cây gậy trắng như một công cụ và như một biểu tượng của sự khiếm thị: "Được huấn luyện thích đáng, những người sử dụng cây gậy trắng có thể đi lại thoải mái và an toàn hơn nhờ dò biết được vị trí của lề đường, các bậc, các vỉa hè không bằng phẳng, và những chướng ngại khác trên đường đi. Cây gậy trắng đã mang lại cho họ sự tự tin để tự mình đi tới trường, tới nơi làm việc và tham gia đầy đủ hơn vào các sinh hoạt của cộng đồng. Nó nhắc cho chúng ta nhớ rằng rào cản duy nhất đối với người khuyết tật chính là thái độ và thói quen kỳ thị mà xã hội chúng ta rất hay đặt trên đường đời của họ. Khi cử hành Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng, 2001, chúng ta hãy ôn lại lịch sử của cây gậy trắng, nét nổi bật của nó như một công cụ và một biểu tượng xuyên suốt lịch sử; một cây gậy của sự tự chủ. Chúng ta cũng hãy hồi tưởng những sự kiện đã cho phép chúng ta mừng ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng."

Mái Ấm Thiên Ân

 

History of White Cane Safety Day

Philip Strong
AMERICAN COUNCIL OF THE BLIND
www.acb.org

The white cane is not just a tool that can be used to achieve independence; it is also a symbol of the blind citizens in our society. To honor the many achievements of blind and visually impaired Americans and to recognize the white cane’s significance in advancing independence, we observe October 15 of each year as “White Cane Safety Day.” Today, the white cane works both, as a tool for the blind as well as a symbol, but this has not always been the case.

Throughout history, the cane, staff, and stick have existed as traveling aids for the blind and visually impaired. Dating back to biblical times records show that a shepherd’s staff was used as a tool for solitary travel. The blind used such tools to alert them to obstacles in their path.

For centuries, the “cane” was used merely as a tool for travel and it was not until the twentieth century that the cane, as we know it today, was promoted for use by the blind as a symbol to alert others to the fact that an individual was blind.

This new role for the white cane had its origins in the decades between the two World Wars, beginning in Europe and then spreading to North America. James Biggs of Bristol claimed to have invented the white cane in 1921. After an accident claimed his sight, the artist had to readjust to his environment.

Feeling threatened by increased motor vehicle traffic around his home, Biggs decided to paint his walking stick white to make himself more visible to motorists.

It was not however until ten years later the white cane established its presence in society. In February 1931, Guilly d’Herbemont launched a scheme for a national white stick movement for blind people in France. The campaign was reported in British newspapers leading to a similar scheme being sponsored by rotary clubs throughout the United Kingdom. In May 1931 the BBC suggested in its radio broadcasts that blind individuals might be provided with a white stick, which would become universally recognized as a symbol indicating that somebody was blind or visually impaired. In North America the introduction of the white cane has been attributed to the Lion’s Clubs International. In 1930, a Lion’s Club member watched as a blind man attempted to make his way across a busy street using a black cane. With the realization that the black cane was barely visible to motorists, the Lion’s Club decided to paint the cane white to increase its visibility to oncoming motorists. In 1931, the Lion’s Club International began a national program promoting the use of white canes for persons who are blind Throughout the 1920s and 1930s, blind persons had walked with their canes held diagonally in a fixed position, and the role of the white cane took on a symbolic role as an identifier. But when the blind veterans of World War II returned to America, the form and the use of the white cane was further altered in an attempt to help return veterans to participatory lifestyles at home. Doctor Richard Hoover developed the “long cane” or “Hoover” method of cane travel. These white canes are designed to be used as mobility devices and returned the cane to its original role as a tool for mobility, but maintained the symbolic role as an identifier of blind independence.

During this period, the white cane began to make its way into government policy as a symbol for the blind.

The first special White Cane Ordinance was passed in December 1930 in Peoria, Illinois. It granted blind pedestrians protections and the right-of-way while carrying a white cane. In 1935, Michigan began promoting the white cane as a visible symbol for the blind. On February 25, 1936, ordinance was passed for the City of Detroit recognizing the white cane. To promote the new ordinance, a demonstration was held at City Hall where the blind and visually impaired were presented with white canes. The following year, Donald Schuur wrote the provision of a bill and had it proposed in the State Legislature. The proposal gave the carrier of the White Cane protection while traveling on the streets of Michigan. Governor Frank Murphy signed the bill into law in March 1937.

During the early 1960′s, several state organizations and rehabilitation agencies serving the blind and visually impaired citizens of the United States urged Congress to proclaim October 15 of each year to be White Cane Safety Day in all fifty states. This event marked a climatic moment in the long campaign of the organized blind movement to gain state as well as national recognition for the white cane. On October 6, 1964, a joint resolution of the Congress, HR 753, was signed into law authorizing the President of the United States to proclaim October 15 of each year as “White Cane Safety Day”. The resolution read “Resolved by the Senate and HR. that the President is hereby authorized to issue annually a proclamation designating October 15 as White Cane Safety Day and calling upon the people of the United States to observe such a day with appropriate ceremonies and activities.” Within hours of passage of the congressional resolution, President Lyndon B. Johnson went down in history as the first to proclaim October 15, as White Cane Safety Day. The Presidential proclamation emphasized the significance of the use of the white cane as both a tool and as a visible symbol. In the first White Cane Proclamation President Johnson commended blind people for the growing spirit of independence and the increased determination to be self-reliant and dignified. He said in part: “A white cane in our society has become one of the symbols of a blind person’s ability to come and go on his own. Its use has promoted courtesy and opportunity for mobility of the blind on our streets and highways.”

During most years since 1964, the President has proclaimed October 15 as White Cane Safety Day.

On October 15, 2000, President Bill Clinton again reminded us of the history of the white cane as a tool, and its purpose as a symbol of blindness: “With proper training, people using the white cane can enjoy greater mobility and safety by determining the location of curbs, steps, uneven pavement, and other physical obstacles in their path. The white cane has given them the freedom to travel independently to their schools and workplaces and to participate more fully in the life of their communities. it reminds us that the only barriers against people with disabilities are discriminatory attitudes and practices that our society has too often placed in their way. As we observe White Cane Safety Day, 2001, let us recall the history of the white cane, its emergence as a tool and a symbol through history; a staff of independence. Let us also recall the events that have permitted us to celebrate October 15 as White Cane Safety Day.”

 


Filed under: Trà Đàm, Văn Hóa Tagged: Song ngữ, Văn Hóa

Mục tiêu dài hạn

Posted: 14 Oct 2011 01:03 PM PDT

 

You must have long range goals to keep you from being frustrated by short range failures.

Charles C. Noble

 

Bạn phải có những mục tiêu dài hạn để giúp mình không bị nản chí bởi những thất bại ngắn hạn.

Thủy Y Sinh dịch

 

                        

 


Filed under: Danh Ngôn Tagged: Danh Ngôn, Song ngữ

Zuccotti Park Cleanup Canceled, Occupy Wall Street Protesters Claim Victory — Occupy Wall Street Park Cleaning Postponed

Posted: 14 Oct 2011 01:02 PM PDT

 


Occupy Wall Street Park Cleaning Postponed

Esmé E. Deprez, Joel Stonington and Chris Dolmetsch – Oct 14, 2011

Wall Street Protesters Arrested After Park Closing Postponed

Wall Street Protesters Arrested After Park Closing Postponed

Scott Eells/Bloomberg

New York City Police Department officers clash with a protester from the Occupy Wall Street movement in Zuccotti Park in New York, on Oct. 14, 2011.

New York City Police Department officers clash with a protester from the Occupy Wall Street movement in Zuccotti Park in New York, on Oct. 14, 2011. Photographer: Scott Eells/Bloomberg

A confrontation between Occupy Wall Street demonstrators and New York City police was avoided after Brookfield Office Properties Inc. postponed cleaning its Zuccotti Park in Lower Manhattan, where the protesters have been camping out for almost a month.

"Brookfield believes they can work out an arrangement with the protesters that will ensure the park remains clean, safe, available for public use and that the situation is respectful of residents and businesses downtown," Deputy Mayor Caswell Holloway said in an e-mail today.

Protesters vowed to "defend the occupation" after police said they wouldn't allow them to return with sleeping bags and other gear following the cleaning, under rules set by the private park's owner.

Demonstrators formed cleanup crews that swept and mopped through the night as crowds gathered ahead of the owner's planned move. More than 3,000 people had gathered at the site, according to an e-mail from Patrick Bruner, an Occupy Wall Street spokesman.

"I've slept here, and the conditions are more sanitary than my own apartment," said Max Hodes, 28, from Brooklyn, who said he's a member of the protesters' crew that swept and scrubbed the area last night. "We have a moral imperative to stay here," he said, standing next to brooms and buckets.

Spreading Globally

The Occupy Wall Street protest that began Sept. 17 has spread to cities including Denver, Boston and San Francisco. Demonstrations against widening income disparity are planned across the Asia-Pacific region tomorrow as protesters organizing via social media from Tokyo to Sydney join London in the movement.

"Many people are very inspired by what's happening around the world, and I know there are 1,300 people on Facebook saying they're coming," a spokesman for planned demonstrations in Sydney, Josh Lees, said today by telephone.

While New York's protesters are being allowed to stay at their encampment, officials in other cities aren't as tolerant. Near the Colorado state Capitol in Denver, hundreds of protesters were told to vacate a park or risk arrest, the Associated Press reported. In Trenton, New Jersey, protesters were ordered to remove tents from their encampment near a war memorial.

New York Arrests

In New York, 14 protesters were arrested today, including those who stood or sat in the street, Paul Browne, a police spokesman, said in an e-mail. Others taken into custody included individuals who overturned trash baskets or hurled bottles, Browne said. At least one demonstrator was detained after he knocked over a police scooter, he said.

More than 700 demonstrators in New York have been arrested since the protests began, mostly on disorderly conduct charges. Mayor Michael Bloomberg has said he supports the protesters' free-speech rights as long as they don't violate the law.

Brookfield, a New York-based real-estate developer, had said earlier that crews would close sections of the park for cleaning beginning at 7 a.m. New York time to relieve "unsanitary conditions." In a letter to the city last night, Brookfield Chief Executive Officer Ric Clark said the cleanup would be postponed "a few days while we attempt to work out an arrangement with the protesters."

The developer put off the work after receiving calls from elected officials, Bloomberg, founder and majority owner of Bloomberg News parent Bloomberg LP, said on his weekly radio appearance on WOR.

Quality of Life

State Senator Daniel Squadron, a Democrat who represents Lower Manhattan, including the Zuccotti Park neighborhood, said he spoke with Clark last night, urging Brookfield to delay the cleanup.

"The stakeholders must come together to find a solution that respects the protesters' fundamental rights, while addressing the legitimate quality-of-life concerns in this growing residential neighborhood," Squadron said in a statement.

Stephen Levin, 30, a City Council member from the 33rd District in Brooklyn, said the gathering of thousands at Zuccotti Park "made the difference."

"This park has become a symbol of this movement," Levin said. "The fact that it's a block from Wall Street with thousands of people here, you can't ignore it."

Brookfield agreed to create the park at the intersection of Broadway and Liberty Street, near the World Trade Center site, as a public amenity open 24 hours a day, year-round.

Protesters have been camping there since the demonstration began. The park has become a sea of backpacks, blue tarps and sleeping bags, which the occupants rolled up and stacked in piles during daylight.

"I work in retail, and it's impossible to find a real job — you just get jobs that are for high-school kids," said Adam Natera, 24, from Queens, who said he arrived last night and was prepared to be arrested in support of "economic justice." "It's just awesome what's going on here."

To contact the reporters on this story: Esme E. Deprez in New York at edeprez@bloomberg.net; Joel Stonington in New York at jstonington@bloomberg.net; Chris Dolmetsch in New York at cdolmetsch@bloomberg.net

To contact the editor responsible for this story: Mark Tannenbaum at mtannen@bloomberg.net


Filed under: Thế giới, Trang tiếng Anh Tagged: Thế giới, trang tiếng Anh

TQ lại phản đối dự án dầu Việt Ấn — Miến Điện tiến gần Ấn Độ, xa Trung Quốc

Posted: 14 Oct 2011 01:01 PM PDT

TQ lại phản đối dự án dầu Việt-Ấn

Người phát ngôn Lưu Dân Minh
Trung Quốc đã nhiều lần phản đối Việt Nam cùng các nước khai thác dầu ở Biển Đông

Ngay sau khi Việt Nam và Ấn Độ ký thỏa thuận cùng thăm dò dầu khí, người phát ngôn Trung Quốc một lần nữa khẳng định chủ quyền “không thể chối cãi” của nước này đối với nguồn tài nguyên ở Biển Đông.

Tập đoàn dầu khí nhà nước Ấn Độ ONGC vừa chính thức ký kết một thỏa thuận khai thác dầu khí thời hạn ba năm với PetroVietnam.

Thỏa thuận này cùng một loạt các thỏa thuận khác được ký hôm thứ Tư ngày 12/10 sau các cuộc hội đàm giữa Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang và Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh ở New Delhi.

Theo đó, ONGC dự định sẽ bắt đầu thăm dò dầu khí vào năm tới trong hai lô ngoài khơi Việt Nam, mà Trung Quốc nói là thuộc chủ quyền của họ.

Từ khi thông tin về dự án chung này được loan báo hồi tháng trước, Trung Quốc đã lên tiếng phản đối thông qua nhiều kênh chính thức.

Mới nhất, trong buổi họp báo thường kỳ hôm thứ Sáu 14/10, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Duy Minh tuyên bố rằng Trung Quốc “có chủ quyền không thể chối cãi” đối với khu vực Biển Đông.

Ông Lưu nói với các nhà báo: “Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với Nam Hải (Biển Đông) và các vùng biển phụ cận. Lập trường của chúng tôi về điều này luôn rõ ràng và dứt khoát.”

Ông nói Bắc Kinh ghi nhận thông tin về dự án Việt-Ấn và “hy vọng các bên liên quan sẽ đóng góp cho sự phát triển hòa bình và ổn định” ở khu vực.

Bắc Kinh và Hà Nội cũng vừa ký một thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản nhằm tìm giải pháp cho tranh chấp Biển Đông.

Tuy nhiên điều đó không cản trở truyền thông Trung Quốc đăng tải các bình luận mạnh mẽ hơn lên án việc hợp tác dầu khí chung giữa Việt Nam và Ấn Độ.

Tờ Nhân dân Thời báo cho rằng đằng sau dự án thăm dò dầu khí này là “động cơ chính trị mạnh mẽ”.

Hiện Việt Nam chưa đưa ra bình luận gì về phản đối của Trung Quốc, nhưng Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang trước chuyến đi Ấn Độ đã khẳng định Việt Nam hoan nghênh các tập đoàn của Ấn Độ và các nước khác đầu tư vào lĩnh vực dầu khí ở thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam và hứa bảo vệ lợi ích của các công ty này.

Trước đó New Delhi cũng đã bác bỏ phản đối của Trung Quốc về việc ONGC thăm dò dầu khí, nói đây vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam và tuyên bố thêm rằng Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải.

 

 

Chủ tịch Thein Sein hội kiến Thủ tướng Manmohan Singh
Miến Điện nói Ấn Độ không hề kém quan trọng với họ so với Trung Quốc

Ấn Độ đã trải thảm đỏ đón tiếp Chủ tịch Miến Điện Thein Sein hôm thứ Sáu ngày 14/10 trong chuyến thăm chính thức của ông đến Ấn Độ trong bốn ngày.

Ông sẽ có cuộc hội đàm trong ngày với Thủ tướng nước chủ nhà Manmohan Singh và hai nước sẽ ra bản Tuyên bố chung sau đó.

Đi cùng Chủ tịch Thein Sein là 13 bộ trưởng trong chính phủ.

Đối với New Delhi, đây là cơ hội kết chặt mối quan hệ với nước láng giềng, vốn vẫn đang chịu ảnh hưởng mạnh từ Bắc Kinh, đối thủ chính của Ấn Độ trong khu vực.

Chủ tịch Thein Sein đến Ấn Độ hôm thứ Tư 12/10 và đã dành hai ngày thăm viếng các di tích Phật giáo trước khi đến New Delhi.

Phát biểu trong một cuộc họp báo vào sáng nay khi Chủ tịch Thein Sein đặt chân đến New Delhi, Harsh Shringla, một quan chức phụ trách Miến Điện trong Chính phủ Ấn Độ, cho biết Delhi sẵn sàng giúp đỡ Naypidaw xây dựng nền dân chủ vốn còn đang trong giai đoạn phôi thai.

Một phái đoàn các nghị sĩ Miến Điện cũng đã nhận được lời mời đến thăm Ấn Độ, ông cho biết.

Chuyến thăm của Chủ tịch Thein Sein là cơ hội để hai nước xem xét các hợp tác về an ninh, ông nói thêm. Miến Điện đã đảm bảo với Ấn Độ là họ không cho phép sử dụng lãnh thổ của họ cho các hoạt động thù nghịch chống Ấn Độ.

Thuận theo ý dân

Chuyến thăm này diễn ra sau khi Miến Điện quyết định đình chỉ công trình đập thủy điện Myitsone mà Trung Quốc đầu tư đến 3,6 tỷ đôla.

Lý do mà Chủ tịch Thein Sein đưa ra trong thư gửi Quốc hội nước này là 'bảo vệ môi trường' và nhất là 'thuận theo ý dân'.

Động thái này của chính phủ Miến Điện đã khiến Trung Quốc tức giận và chỉ trích công khai – một việc mà lâu nay rất hiếm khi xảy ra.

Chủ tịch Thein Sein và phu nhân
Chủ tịch Thein Sein và phu nhân đã dành hai ngày chiêm bái các thánh tích Phật giáo

Công trình thủy điện Myitsone nằm trên thượng lưu sông Irrawaddy mà Trung Quốc đã ký thỏa thuận với chính quyền quân sự Miến Điện vào năm 2002 để cùng khai thác. Trong đó Trung Quốc góp vốn, còn Miến Điện góp tài nguyên.

Hai nước dự tính sẽ xây chặn dòng chảy và xây dựng bảy con đập lớn để phát điện trong thời hạn 50 năm.

Nhiều nhà phân tích cho rằng những động thái gần đây của Miến Điện cho thấy chính quyền dân sự non trẻ của quốc gia này đang mong muốn rũ bỏ hình ảnh một quốc gia lệ thuộc vào Trung Quốc và mở cửa đối với các quốc gia phương Tây vốn vẫn đang duy trì lệnh cấm vận vũ khí áp đặt lên chế độ độc tài quân sự.

Ấn Độ bắt đầu mối liên hệ với chính phủ quân sự Miến Điện vào giữa những năm 1990 trong các lĩnh vực an ninh và năng lượng khi nước này đang tìm cách cân bằng ảnh hưởng chiến lược ngày càng tăng của Trung Quốc ở Miến Điện.

Động thái này của Ấn Độ đã bị nhiều nước chỉ trích. Tổng thống Mỹ Barack Obama trong chuyến thăm Ấn Độ năm 2010 đã than phiền là Ấn Độ đã không nói chuyện với Miến Điện về những vi phạm nhân quyền của nước này.

Tuy nhiên, Ấn Độ biện minh rằng cách tiếp cận của họ đã giúp khởi động một số bước đi cải cách của Thein Sein khi ông lên cầm quyền.

Ông đã đối thoại trực tiếp với lãnh đạo đối lập là bà Aung San Suu Kyi vốn bị chính quyền quân sự giam lỏng trong nhiều năm.

Đáng chú ý hơn, trước thềm chuyến thăm Ấn Độ, Miến Điện đã loan báo phóng thích hàng ngàn tù nhân, trong đó các tù nhân chính trị và những nhà bất đồng chính kiến.

Hiện tại, kim ngạch thương mại giữa Miến Điện với Ấn Độ và Trung Quốc cũng chênh lệch đáng kể.

Miến Điện trao đổi thương mại với Ấn Độ trị giá 1,2 tỷ đô la vào năm 2010, trong khi con số này với Trung Quốc là 4,4 tỷ đô la. Trung Quốc cũng là quốc gia hiện đầu tư nhiều nhất vào Miến Điện.

Không có cạnh tranh

Rõ ràng Ấn Độ đang nhận thấy có nhiều cơ hội cho họ dưới chính phủ của Chủ tịch Thein Sein.

Cựu đại sứ Ấn Độ ở Miến Điện G. Parthasarathy cho biết chính phủ mới của nước này có vẻ như đang tìm cách tạo nhiều 'không gian' cho ngoại giao hơn, trong đó sẽ có nhiều không gian hơn cho Ấn Độ.

“Mối quan hệ của chúng tôi với Trung Quốc là mạnh mẽ, nhưng chúng tôi cũng có nhiều hợp tác với Ấn Độ,. Do đó không có gì khác biệt trong cách tiếp cận của chúng tôi với Trung Quốc và Ấn Độ”
Ko Ko Hlaing, người đứng đầu nhóm cố vấn của Chủ tịch Thein Sein

"Chúng ta vẫn phải chờ xem liệu những dấu hiệu mở của gần đây [của Miến Điện] có dẫn tới cải cách kinh tế nhiều hơn hay không," ông nói.

Tuy nhiên Parthasarathy cũng nói rằng Miến Điện sẽ vẫn luôn duy trì mối quan hệ gần gũi với một siêu cường mới nổi như Trung Quốc.

Vishnu Prakash, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Ấn Độ, cho biết vẫn có đủ chỗ cho vai trò của cả Trung Quốc và Ấn Độ trong sự phát triển tương lai của Miến Điện.

"Chẳng có cạnh tranh gì ở đây cả. Quan hệ giữa các nước không phải là một trò chơi mà một bên được tất cả còn bên kia không có gì," ông trả lời khi được hỏi có phải Ấn Độ và Trung Quốc đang cạnh tranh nhau ở Miến Điện hay không.

Lâu nay Bắc Kinh luôn là đồng minh thân thiết của Naypyidaw và đã giúp nước này tránh khỏi những nỗi hổ thẹn trên trường quốc tế với lá phiếu phủ quyết tại Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc cũng như giúp nước này hạn chế tác động của các lệnh cấm vận của phương tây bằng các quan hệ thương mại, mua bán vũ khí.

Trả lời phóng viên BBC, Ko Ko Hlaing, người đứng đầu nhóm cố vấn cho Chủ tịch Miến Điện, đánh giá chuyến đi đầu tiên của ông Thein Sein đến Ấn Độ có ý nghĩa rất quan trọng đối với Miến Điện.

"Miến Điện nằm giữa hai cường quốc khu vực – Ấn Độ và Trung Quốc. Ngài Chủ tịch đã đi thăm Trung Quốc và bây giờ là Ấn Độ," ông nói.

Tuy nhiên ông cũng phủ nhận ý kiến cho rằng đối với Miến Điện mối quan hệ với Trung Quốc quan trọng hơn với Ấn Độ.

"Mối quan hệ của chúng tôi với Trung Quốc là mạnh mẽ, nhưng chúng tôi cũng có nhiều hợp tác với Ấn Độ," ông nói, "Do đó không có gì khác biệt trong cách tiếp cận của chúng tôi với Trung Quốc và Ấn Độ.

Ác mộng bắt đầu

Trên một bài bình luận mới đây trên tờ Tín báo Tài Kinh Tân văn (Hongkong Economic Journal), nhật báo tiếng Hoa hàng đầu của Hong Kong, Trịnh Khiết, chuyên gia bình luận thời sự của Đài truyền hình Phượng Hoàng, đã gọi quyết định tạm dừng đập thủy điện Myitsone là 'sự bắt đầu của cơn ác mộng trong mối quan hệ Trung Quốc – Miến Điện'.

"Quyết định này không chỉ khiến phía Trung Quốc có thể phải hứng chịu tổn thất kinh tế nặng nề, mà còn khiến quan hệ hợp tác hữu nghị Trung Quốc – Miến Điện bị bao phủ mây đen," bài báo viết.

Truy tìm nguyên nhân, tác giả bài báo cho biết đây là sự tích tụ từ lâu của nhiều vấn đề.

Thứ nhất, đó là sự quay ngoắt đột ngột của chính phủ do dân bầu ở Miến Điện vốn 'bỗng nhiên coi trọng dân ý' và ra sức thay đổi sự thống trị độc quyền của chính quyền quân sự trong suốt hơn 20 năm qua, chẳng hạn như mở cửa cho báo chí nước ngoài, dỡ bỏ lệnh cấm các trang web nước ngoài, quốc hội được công khai thảo luận cải cách dân chủ…

Người Miến Điện lưu vong về nước Chính phủ dân sự đã mời những người chống đối chính phủ lưu vong về nước.

Thứ hai, Chủ tịch Thein Sein đang muốn thoát khỏi 'cảnh khốn cùng' bởi sự cô lập của cộng đồng quốc tế, cũng như cần phương Tây dỡ bỏ các chế tài.

"Sự thâm nhập không ngừng của phương Tây khiến Chính quyền Thein Sein buộc phải đưa ra một lựa chọn nào đó giữa 'Trung Quốc' và 'phương Tây'".

Bài báo nhắc lại tình nghĩa của Trung Quốc đối với Miến Điện: những lúc nước này khó khăn nhất, Trung Quốc thậm chí không thèm để ý đến sự lên án của cả cộng đồng quốc tế, cung cấp cho Miến Điện các loại viện trợ kinh tế.

Tuy nhiên, chính phủ Thein Sein sau khi cân nhắc thiệt hơn, đã quyết định tách dần khỏi Trung Quốc xét trong tình hình hiện nay khi mà họ cảm thấy khó có thể chịu nổi những áp lực chính trị cả bên trong lẫn bên ngoài.

Thứ ba, đó là sự bất mãn của dân chúng Miến Điện khi mà Trung Quốc được cho là sẽ tiêu thụ đến 80% tổng lượng phát điện của đập Myitsone trong khi người dân Miến Điện chẳng được hưởng lợi bao nhiêu.

"Dư luận Miến Điện cho rằng ưu thế tiền vốn của Trung Quốc và ưu thế tài nguyên của Miến Điện không thể bổ trợ cho nhau, ngược lại còn khiến Miến Địên phải trả giá đắt," bài viết nhận định.

Bên cạnh đó là sự chống đối của tổ chức 'Cứu sông Irrawaddy' mà đầu não hậu thuẫn chính bà Aung San Suu Kyi. Bài bình luận gọi tổ chức này là nhằm mục đích ngăn cản sự hợp tác Trung Quốc – Miến Điện với danh nghĩa bảo vệ môi trường.

Tác giả than phiền rằng các chính phủ được bầu ra một cách dân chủ hay được dựng lên thông qua cách mạng dân chủ đều bắt đầu điều chỉnh quan hệ với Trung Quốc.

Chính phủ Miến Điện hiện nay, lên cầm quyền hồi tháng Ba năm nay, là một chính phủ dân sự sau nhiều năm cầm quyền của nhóm độc tài quân sự.

Tuy nhiên chính phủ này vẫn phải được sự hậu thuẫn của phe quân sự. Bản thân Chủ tịch Thein Sein cũng từng là một vị tướng.


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

No comments:

Post a Comment