Wednesday, October 19, 2011

Đọt Chuối Non

Đọt Chuối Non


Bí mật bản Sonata “Mưa” và mối tình thầm lặng của Brahms

Posted: 19 Oct 2011 03:00 PM PDT

 

Bản Sonata cho Violin Số 1 cung Sol trưởng, Op. 78 của Brahms còn được gọi là bản Sonata "Mưa" vì trong chương đầu và chương cuối bản Sonata này ông sử dụng giai điệu bài hát Regenlied ("Bài hát mưa") cũng do chính ông sáng tác. Ngoài ra, nhịp điệu đều đặn và âu yếm của chương giữa cũng làm người nghe liên tưởng đến mưa.

Brahms đề tặng bản Sonata này cho Clara Schumann, vợ của nhạc sỹ Robert Schumann. Sau khi Schumann mất, hai người vẫn giữ một tình bạn trong sáng, nhưng ta có thể cảm nhận được tình yêu mãnh liệt của ông dành cho bà qua bản nhạc. Brahms đã viết cho Joachim, bạn ông, "Tôi thường phải cố gắng lắm để không lặng lẽ vòng tay quanh nàng."

Sau khi chơi bản Sonate này, Clara đã viết cho Brahms, "Bản nhạc làm tôi không thể không bật khóc vì hạnh phúc."


Filed under: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa Tagged: Nhạc Xanh, Video & PPS, Văn Hóa

Hại nhau vì cái bánh vẽ

Posted: 19 Oct 2011 03:00 PM PDT

Chào các bạn,

Bánh vẽ là bánh vẽ ra trên giấy, không phải bánh thật. Không ăn được. Chỉ có thể nói và tán hưu tán vượn về nó.

Theo đinh nghĩa như thế thì tất cả mọi dự định, mọi toan tính, mọi đích điểm tương lai của chúng ta đều là bánh vẽ, nói thì được, nhưng ăn không được.

Vậy nghĩa là sao?

Nghĩa là ta có, và nên có, những giấc mơ tương lai, dự định tương lai, đích điểm tương lai, để làm động lực cho ta tiến tới. Nhưng dù sao tương lai vẫn là bánh vẽ, cho nên đừng lấy bánh vẽ của ta mà làm hại người khác hay làm hại chuyện thật của ta lúc này.

Như là:

• Tối ngày cố đuổi theo tương lai mà chẳng để tâm đến vợ con một chút nào.

• Chỉ vì sự nghiệp tương lai của mình mà đâm lau lưng bạn bè.

• Nhà nước vì các viễn ảnh tương lai của đất nước mà hành hạ dân lúc này.

• Người làm cách mạng vì các hình ảnh tương lai mà gây đổ máu ngập trời lúc này.

• Người làm tôn giáo vì viễn ảnh của nước Trời trị vì thế gian mà gây chiến tranh lúc này.

Tương lai luôn luôn là một cái bánh vẽ. Có giá trị rất ít. Nếu mơ ước tương lai rất quan trọng để thúc đẩy ta tiến tới, thì đó cũng chỉ là quan trọng với ta, chẳng quan trọng gì với người khác. Không thể lấy cái bánh vẽ để làm hại nhau được.

Sống thật là "sống ở đây lúc này". Nếu ngày nào ta cũng sống thật tròn đầy cho ngày đó, thì đương nhiên là những ngày của tương lai khi đến thì cũng sẽ được tròn đầy. Và sống tròn đầy là lo lắng và làm việc cho chính mình cũng như cho mọi người quanh mình. Thế giới chẳng chỉ mình ta.

Chúc các bạn một ngày sống thật.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com


Filed under: Trà Đàm Tagged: trà đàm

Hầu chuyện thi hào họ Nguyễn Tiên Điền

Posted: 19 Oct 2011 02:59 PM PDT

 
Trong những ngày bão lũ miền trung vừa qua, cứ đêm đêm, tôi ngồi trên mạng để tìm tim tức-hình ảnh về thảm cảnh của lũ cùng tấm lòng của cả nước hướng về miền trung…Đêm càng sâu, vài vùng quê Hà Tĩnh mà tôi từng được biết và thậm chí biết rõ vì nhiệm vụ công tác, lại càng hiển hiện mồn một trong tâm tưởng, giờ lại như thêm xoáy sâu bởi dòng lũ cuốn, bởi mặt nước đục ngầu mênh mông mấp mé nóc bao ngôi nhà ọp ẹp- trên đó là những thân hình co ro bám víu chờ cứu trợ, những ánh mắt người già tuyệt vọng, những bàn tay con trẻ hoảng loạn giơ ra từ các viên ngói dỡ… Giữa lúc miên man và nhức nhối với bao hình ảnh, ấn tượng, nghĩ ngợi, cảm xúc hỗn độn khó tả, đột nhiên, tôi dường như được nghe thấy một tiếng nói thâm trầm âm u từ một chốn nào xa xôi lắm… Những lời thốt ra từ gan ruột của một người đàn ông đứng tuổi, giọng vùng Nghi Xuân thuộc phủ Đức Quang, trấn Nghệ An xưa- lúc mơ hồ tựa sương khói giữa không trung, lúc như dao sắt nung đỏ đặt trong hồn… Tôi thảng thốt, không hiểu mình mơ hay tỉnh…

Cuộc đối thoại tưởng tượng này chắc không làm ai phật lòng.

 

- Cậu đừng hoảng hốt lên như thế… Bản thân ta đâu có gì đáng sợ… cả những gì cậu sẽ nghe thấy đêm nay cũng vậy…

- Vâng…vâng…thưa…thưa cụ…thưa đại thi hào…

- Sinh thời, mọi người vẫn gọi ta là “Thanh Hiên Nguyễn tiên sinh”…

Đêm nay, ta không chỉ đến trò chuyện với cậu, ta còn đến với tất cả những ai mà ta có thể tìm thấy dù chỉ một thoáng tri âm… Ta đã từng sống nhiều trong cảnh “Ai tri âm đó mặn mà với ai”, từng trăn trở không hiểu ba trăm năm sau nữa có người nào rỏ lệ cho ta- đúng hơn là khóc cùng ta trước nỗi khổ đau của nhân quần hay không…

- Vâng, thưa cụ… thưa Thanh Hiên Nguyễn tiên sinh… Không phải đợi đến ba trăm năm đâu ạ…

- Phải, ta đã biết điều đó…Và ta còn được biết thêm, trong thời buổi của cậu, không thiếu người có ít nhiều chữ nghĩa mà lắm tự trọng, lại “dư nước mắt khóc người đời xưa” phải ôm mối hận giống ta, phải chịu cảnh “Thân lươn bao quản lấm đầu / Chút lòng liêm sỉ từ sau xin chừa”… Dù sao thì với loại người đáng thương và cũng rất đáng trọng này, ta sẽ lập thêm danh sách vào bản Văn chiêu hồn buồn thảm của ta, nó sẽ là Chiêu hồn thập nhất loại chúng sinh chẳng hạn! À, nói tới Văn chiêu hồn, ta cảm thông với nỗi thất vọng của cậu khi định làm phim về Chùa Diệc ở thành phố Vinh- ngôi chùa duy nhất đã lưu giữ văn bản của thiên Quốc âm này mà từ đó, nhờ thầy Lê Thước mọi người mới được biết tới, nhưng khi tìm đến nơi thì chùa đang bị dỡ ra ngổn ngang để trùng tu. Chẳng hiểu Chùa Diệc có rơi vào thảm cảnh tựa rất nhiều di tích khác hay không? Ta hy vọng sẽ không phải rỏ lệ máu lần nữa dưới mồ sâu để viết chiêu hồn cho Chùa Diệc…

- Thưa Thanh Hiên Nguyễn tiên sinh, theo thiển ý của con thì có nhiều điều đáng lo hơn ạ, ví như chuyện người dân Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh hiện đang sống trong cảnh màn trời chiếu nước thực thương tâm…

( Hình như có tiếng thở dài nhẹ )

- Ai dám quả quyết rằng: cái cảnh ngộ đau lòng ở miền trung đó không có mối quan hệ nhân quả nào với việc hành xử vô đạo, vô văn hóa đối với di sản quá khứ, đối với tài sản thiên nhiên, và đối với thân phận của chính đồng bào mình? Không phải là cậu cũng vừa nhìn thấy hàng đống gỗ quý bị chặt vô tội vạ trôi từ thượng nguồn sông Cả về vùng lũ đấy sao, chúng đâu phải để dùng làm cột đình chùa mà để làm giàu cho bao kẻ bất lương sống bằng máu của rừng!… Hồi ta trở về quê sau nhiều năm gió bụi trốn chạy chui lủi, ta có lên núi Hồng để tạm lánh thời cuộc nhiễu nhương biến động. Dù sống trong cảnh “đói không tìm ra cái ăn, rét không tìm ra cái mặc”, còn “sách chỉ dùng để kê lưng cho khỏi đau xương”, ta cũng đã được ngao du sơn thủy nơi non xanh nước biếc mê hồn, tự làm nhà để ở ẩn, tự xưng là Phường săn núi HồngNhà chài biển Nam…Trong thời đau đớn nhất đó của ta- “Hồng Lĩnh vô gia, huynh đệ tán”- dưới chân Hồng Lĩnh gia đình không còn, anh em ly tán, ta đã viết được thiên Đoạn trường tân thanh tâm đắc cũng nhờ rất nhiều ở vùng non nước cẩm tú này!…

- Vâng, có một chiều thu trên quê hương cụ, con lặng ngắm núi Hồng sông Lam và chợt nghĩ: phải chăng đây chính là một trong những ngọn nguồn sinh ra những viên ngọc thi ca như thế này của nước Việt: “Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”…

- Đừng ngắt lời ta!… Chao, khi đó trên dải Hồng Lĩnh và khắp núi non vùng Châu Hóa rừng vẫn bạt ngàn rậm rịt!… Ta không thích chốn quan lại vào luồn ra cúi, nên mấy lần xin về mà cậu cháu Nguyễn Hành của ta gọi đó là “dũng thoái”; nhưng dù sao ở các thời Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức cũng có những bộ luật nghiêm khắc với việc bảo vệ rừng đầu nguồn…

Quê hương Tiên Điền của ta, vào đầu thời Lê còn là bãi bồi hoang vu, người thưa thớt, nằm ven bờ sông Cả – Lam Giang, mang cái tên buồn thảm Vô Điền (không ruộng), U Điền (ruộng hoang dại). Họ Nguyễn Tiên Điền ta vốn gốc ở huyện Thanh Oai xứ Đoài. Cụ tổ ta, Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm- cháu của trạng nguyên Nguyễn Thiến thời nhà Mạc là người đầu tiên vào Tiên Điền cuối thế kỷ XVI để sinh cơ lập nghiệp, hướng dẫn cư dân trong vùng đắp đê, ngăn mặn, biến mảnh đất cằn nơi đây thành cánh đồng xanh tốt… Còn ta nhận lời ra làm quan triều Nguyễn, trước hết là vì sinh kế, nhưng khi đã buộc phải làm “phụ mẫu chi dân” thì chỉ còn biết tìm mọi cách để xứng với cái danh vị ấy! Điều này có căn rễ từ phụ thân ta, một vị quan nhất phẩm qua các triều đại; không chỉ là một vị quan công chính thanh liêm mà còn là một người người cha mẫu mực, đã khổ công dạy dỗ rèn cặp con cái nên người! Trong nhà Tư Văn do cha ta dựng có đôi câu đối đáng nhớ: Lễ nghĩa môn đăng học thường chi/ Cương thường chi huấn ghi văn dạ ( Lễ nghĩa thì phải chăm học/ Đạo cương thường phải luôn ghi nhớ. ) Đàn tế và bia đá tưởng niệm ông nội ta- cụ Nguyễn Quỳnh do cha ta và con cháu dòng họ Nguyễn Tiên Điền dựng có chữ khắc trên đầu bia: Hồng nguyên tuấn lưu – Nguồn lớn dòng mạnh. Hai bên mặt bia có câu đối: Cảm thời tuy nhật nguyệt /Truyền ngữ thử giang sơn (Khi tưởng nhớ đến cứ dõi trông vầng nhật nguyệt/ Những lời truyền dạy sống mãi với núi sông này). Ta luôn luôn tự hào về dòng họ, về gia đình, và vì vậy lại càng thêm xót xa trước sự suy đồi của phong hóa, của đạo lý từ trong tế bào gia đình tới thượng tầng xã hội – suốt trong thời của ta cho đến tận thời của cậu! Chuyện mua bán bằng cấp chức vụ trắng trợn, chuyện không ít kẻ có quyền thế lẽ ra phải biết xót thương dân thì lại tàn nhẫn cưỡng bức dân lành, đổi trắng thay đen, chỉ chăm chăm vơ vét cho bản thân, rồi chuyện mẹ hành hạ con như kẻ thù, con giết cha, thầy hãm hiếp trò… khiến những cánh bướm chết khô muốn vĩnh viễn yên thân cũng phải rùng mình vụt bay khỏi sách của ta, và ta thì suýt nữa phải viết “Phản chiêu hồn” cho chính ta khi muốn đội mồ vùng dậy kêu trời!

- Thưa cụ… thưa Thanh Hiên Nguyễn tiên sinh! Con hiểu nỗi niềm của tiên sinh khi kêu gọi hồn của Khuất Nguyên đừng trở về nơi ai ai cũng là kẻ gian nịnh hãm hại trung thần như Thượng quan, nơi đâu đâu cũng có sông Mịch La để Tam Lư đại phu phải trẫm mình phẫn uất… Dù vậy, con cũng thấy run người trước những lời lẽ nghiêm khắc chất chứa căm giận của Người… Nhưng… Vì đâu nên nỗi ạ?

- Cậu hỏi như vậy thì tức đã có sẵn câu trả lời, nhưng cậu cũng mắc vào cái thói thường của người đời là sợ mang họa vào thân! Cậu thử nhìn lại mình đi, cũng mang tiếng là trí thức đấy nhưng có thoát được vòng tục lụy của phường “giá áo túi cơm”, của bầy người “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi” không?!

( Sau một lúc im lặng )

Cậu đừng vội tự ái! Ngay cả ta thời làm Tri phủ Thường Tín, làm Cần chánh điện học sĩ, rồi làm Hữu Tham tri bộ lễ cũng nhiều khi phải “cười khóc theo đời buổi loạn lạc” (tiếu đề tuẫn tục can qua tế ), phải nương vào cái lý “mọi người say chỉ mình ta tỉnh” của cụ Khuất Nguyên để lẩn tránh những điều ngang tai trái mắt, thực ra là mua lấy hai chữ “yên bình” cho bản thân! Chẳng lẽ “Chữ Trinh còn một chút này/ Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan”? Nhưng muốn làm “một viên ngọc trong đá giữ nguyên được bộ mặt thật” ( thái phác bất toàn chân diện mục) thì khó xiết bao! Ta cảm thông với cậu lắm…

- Vâng, con cảm ơn cụ… cảm ơn Thanh Hiên Nguyễn tiên sinh…

- Đừng vội cảm ơn ta! Ta đã nói hết đâu! Không lẽ cứ hèn nhát buông tay đứng nhìn rồi thở than? Ta vốn chỉ là kẻ bị giam trong lồng cũi không tìm được phóng khoáng tự do (Thử thân dĩ tác phàn lung vật/ Hà xứ trùng tầm hãn mạn du?), và chỉ còn sống bằng nỗi thất vọng: “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên/ Hùng tâm sinh khí lưỡng mang nhiên” – Tráng sĩ đầu bạc ngẩng nhìn trời, lòng bi đát/ Hùng tâm và sinh kế, cả hai đều mờ mịt như nhau… Đó là số phận của ta, số phận của cả Đất Nước lúc bấy giờ! Còn thời của cậu giờ khác xa thời của ta lắm rồi! Cậu đương sống trong một thế giới mà ở đó mọi giá trị đều có thể và cần được kiểm nghiệm, sàng lọc khắt khe giữa thanh thiên bạch nhật- điều mà lúc sinh thời ta chưa thể nghĩ tới! Và mong rằng nỗi xót đau bi phẫn của ta sẽ trở thành một sức mạnh tinh thần hữu ích dành cho hậu thế – trong đó có cậu! Hãy nuôi chí chim bằng! Và hãy đừng bao giờ để nguội lạnh lòng xót thương trước nỗi bất hạnh của đồng loại, đồng bào! Có thế, cậu mới góp được thiết thực mồ hôi trí não của cậu vào một đại nghiệp khả dĩ làm cho cái cảnh lũ chồng lũ đau đớn kia cùng bao nỗi thương tâm khác phải lùi dần vào dĩ vãng!

- Thưa Thanh Hiên Nguyễn tiên sinh! Tháng trước về quê hương của cụ, con được nhà thơ trẻ Vân Huyền- một người của dòng họ Nguyễn Tiên Điền đưa tới thăm bến Giang Đình… Dòng sông Lam ngày đêm soi bóng núi Hồng Lĩnh như còn văng vẳng nỗi u hoài của cụ gửi trong bao vần thơ viết trên bến sông này: “Bách niên đa thiểu thương tâm sự ” – Cuộc đời trăm năm biết bao chuyện thương tâm… Nhưng, chính cụ khi xa quê hương cũng lại từng viết: “Thi thành thảo thụ giai thiên cổ”-  Bài thơ làm xong, cỏ cây (nơi này) cũng trở thành bất tử… Con thấm hiểu: nỗi lo lắng thương đời mênh mông, niềm trăn trở trĩu nặng đối với vận mệnh giống nòi của cụ đã khiến sự nghiệp văn chương của cụ trở thành bất tử, và cũng góp phần làm bất tử sông núi quê hương Việt Nam…

- Ta không cảm ơn cậu bởi những lời tụng ca quen thuộc đó đâu! Nhưng ta và cậu phải ngàn lần cảm ơn sông núi quê hương của chúng ta…

                                                             Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn

Những câu trích để trong ngoặc kép đều là thơ chữ Hán và thơ Quốc âm của Nguyễn Du


Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa

Đi bụi xứ Cam – Phần 2

Posted: 19 Oct 2011 02:59 PM PDT

 

1.      Tinh mơ – Chào Angkor ta đến!

Ngủ một đêm ngon giấc sau ngày khởi hành cuồng chân trên xe bus, sáng thứ bảy 3 đứa tôi thức dậy sớm từ tận 4h để lo ăn sáng dưới nhà khách và lên xe tuk tuk đi tham quan một ngày khu di tích Angkor. Vì khu du lịch này chỉ có bán 2 loại vé tham quan, 20$ cho 1 ngày và 60$ cho 3 ngày liên tiếp nên chúng tôi mua vé đi một ngày và phải bắt đầu từ lúc sáng sớm để kịp ngắm cảnh mặt trời mọc ở đền Angkor Wat nổi tiếng. Khách sạn gọi dùm một anh lái tuk tuk đến đón chúng tôi lúc 5h sáng, và chỉ cần thỏa thuận chi phí bao xe cả ngày thì chúng tôi khởi hành. Anh lái đó sẽ chở chúng tôi đến đúng mấy nơi mà chúng tôi chọn và ở ngoài chờ khi chúng tôi vào trong xem cảnh, giống như dịch vụ thuê xe du lịch bình thường thôi nhưng không cao cấp bằng. Nhưng dù sao, mỗi thứ có cái hay riêng, đến Campuchia mà không sử dụng xe tuk tuk để đi du lịch thì cũng xem như chưa biết gì về Cam :-)

Xe đưa chúng tôi đi đến cổng cách khách sạn chừng 20'' ngồi xe thì dừng lại để 3 đứa vào mua vé. Angkor là một trong những kì quan nổi tiếng của thế giới nên việc quản lí du lịch ở đây cũng có khác, mỗi chúng tôi phải đưa hộ chiếu ra cho phòng vé kiểm tra rồi đứng xoay người vào chiếc camera trong phòng chụp hình in lên vé. Chừng 2 phút sau thì mỗi đứa nhận một tấm vé trên có ghi tên mình và hình chụp, ghi là Vé tham quan 1 ngày có giá trị trong ngày đó (Nếu là vé tham quan 3 ngày thì sẽ có ghi từ ngày nào đến ngày nào để bảo vệ ở mỗi khu vực biêt được mà quản lí, tránh mấy tên gian lận đi chuồn:-) ) Tôi thấy có một điều cũng khá hay là chính phủ Cam cho dân được vào Angkor miễn phí không tốn tiền, có thể đó cũng là chính sách khuyến khích dân đến làm tại khu du lịch đông hơn nữa để tăng cường dịch vụ thu hút khách (nhưng nếu vậy thì tôi học vài tiếng Cam gỉa làm người của họ đi free chắc cũng được :-) )

Sau khi có vé rồi thì đám tụi tôi bắt đầu tung tăng lên đường vào khu du lịch (tôi nói "lên đường" vậy là bởi khu này rất rộng, so trên bản đồ chắc cũng đến bằng tỉnh Bình Dương của mình, thế nên mới có vụ đi tham quan cả 3 ngày thì cũng chưa chắc thăm được hết các ngôi đền của nó). Trời còn rất sớm, mới tờ mờ sáng và còn đậm hơi sương, xe chúng tôi đi qua mấy khu rừng cây cối không rậm rạp lắm, mọc lưa thưa, mát rượi và quang đãng. Có ngồi trên xe tuk tuk với chỗ ngồi rất thoải mái, không bị bọc trong kính bịt bùng như xe hơi, đi qua những hàng cây xanh gió lùa mát lạnh dưới nền trời xanh đen vẫn lấp lánh sao và con trăng khuya thấp thoáng rượt sau những tán lá, mới thấy được cái thú của chuyến đi đến miền hoang dã và bình yên.

Đến Angkor Wat vào lúc 6h kém, chúng tôi háo hức theo đoàn người vào trong thăm một trong những ngôi đền cổ nhất thế giới mà tôi vẫn nghe danh từ thời học Sử thế giới và Lịch sử văn minh nhân loại. Khi cùng lớp lớp người du lịch đi vào khu đền, chúng tôi im lặng đi bên nhau ngắm nhìn những di tích và tận hưởng cái phút giây tận mắt nhìn thấy những điều vĩ đại có thể một người chỉ nhìn thấy duy nhất trong cuộc đời. Angkor Wat nói riêng và cả những nơi sau mà chúng tôi đến đều tạo cho người ta cái cảm giác hoài cổ muốn trở về thời Đế vương Đế thích ngày xưa với những thành quách và tượng thần uy nghi trên những ngôi đền cao trong một khoảng không gian vô cùng rộng lớn. Sờ vào tường thành đá mát lạnh và hít thở mùi đất, mùi đá từ ngàn xưa làm tôi quên mất mình đang ở thế kỉ 21 với điện toán, với công nghệ bậc cao mà như đang quay ngược về quá khứ của đất nước người Khmer một thời vang bóng. Người Campuchia xưa kiến tạo nền văn hóa Khmer với những cung cách hoàng tộc và đế vương vô cùng tôn kính, thấy rõ qua những hình tạc nghi lễ trên các bức tường đá nghiêm trang và cách bố trí các đền thờ nhỏ trong cả khu nhà bằng đá với vô số tượng, tháp khổng lồ. Khó biết dùng lơì nào để miêu tả được cái kì vĩ ở nơi ấy.

Khi đi ra khỏi những tòa đền rộng quá đỗi và cao ngời ngợi trên những bậc thềm chúng tôi leo đến mỏi chân, 3 đứa ra ngoài ngắm cảnh mặt trời lên. Chọn một chỗ ngồi ở một cửa đền nằm trên cao, cách mặt đất khoảng 20m, có view nhìn toàn cảnh Angkor tận phía xa trải dài đến ngút mắt, chúng tôi ngồi nghỉ mệt và ngắm những tia nắng đầu tiên bắt đầu lấp lóe sau đỉnh ngôi đền lớn nhất, từng chút một bừng ra và phút chốc trải dài cả vùng đất rộng. Cảnh vật yên bình và đẹp như  tranh với màu nắng vàng dịu trên sân cỏ úa thênh thang, lấp lánh trên những tàn cau cao trồng giáp vòng bức tường thành dài đã cổ, và sừng sững  một cách "mộc" những ngôi đền đá cao to, hùng hồn và vĩ đại.

Có thể nói đến lúc đó, dù chỉ mới nhìn thấy một phần của Angkor mà ai cũng thầm thán phục, tôi đã thấy rất hài lòng với chuyến đi mà mình cất công hoạch định.

Nghĩ lại thấy có nhiều người nói Angkor rất giống Huế của mình, tôi thấy cũng đúng vì cả hai đều cổ, đều mang một sắc màu xám của đá và tường thành như nhau, với khung cảnh đồng quê bên ngoài xanh mát dịu trộn lẫn cái nắng vàng hiu hắt, trầm buồn của hơi xưa. Nhưng chỉ tiếc một điều thành cổ Huế của ta chưa bằng đến một phần tư cái hùng vĩ của những ngôi đền Angkor mà đến tận nơi xem tôi mới hằng tin nổi.

Bên ngoài  tường thành Angkor được bao bọc bởi một cái hồ rộng xây hình chữ nhật , không trồng sen như hồ bọc Hoàng thành Huế của mình, nhưng nước sạch trong và cũng êm đềm như Huế.

Kết thúc Angkor Wat, chúng tôi tiến thẳng đến khu đền Ta Prohm, nơi nổi tiếng với những gốc cây cổ thụ to và hùng vĩ mà Angelina Jolie có lần đến quay phim hanh động "Tomb Raider".

Đợt đi rừng Nam Cát Tiên chơi với mấy đứa bạn lớp đại học tôi cũng đã thấy vài gốc cây cổ thụ có tên Knia to đến mấy vòng tay người ôm, nhưng nhìn rất bình thường nếu so sánh với những gốc cây ở Ta Prohm. Loài cây cổ thụ trồng chủ yếu ở đây, kì dị hơn những thứ tôi từng thấy khi được trồng "trên nóc" những ngôi đền, rể của nó có đến mấy chục nhánh thả dài từ nóc đền đến tận nền sân đất cứ như ôm vào và chực nuốt ngôi đền vào bụng nó. Du khách tới xem ai cũng bấm máy ảnh liên tục không ngừng và đua nhau đứng vào chụp ảnh với những cái rể đó cứ như chụp với người khổng lồ J Một điều lạ nữa là dù rễ to nhưng thân những loài cây này lại rất đẹp, giống cây bách hương có da cây màu trắng sữa, nhánh tỏa ra ở chóp đầu uốn éo theo những đường cong xinh trông như một cây bon sai được phóng hình lớn :-)

Cũng phải kể đến một chi tiết khi chúng tôi đi chơi ở những khu đền Angkor nổi tiếng, đó là đi đâu chúng tôi cũng gặp một nhóm những người khuyết tật chơi nhạc ở khu vực du lịch, nhạc hòa tấu với đủ đàn tranh, bầu, sáo, và violin, cùng một số nhạc cụ nữa mà tôi không biết tên, hay mặc đồng phục bà ba màu tím, đa số là nam. Nhóm mấy người chơi nhạc thường trải chiếu hoặc ngồi trong một chòi tranh trước mặt có đặt một thùng tiền quyên góp từ thiện và một bảng thông tin giới thiệu họ là nạn nhân của nội chiến Khmer đỏ (hay chế độ Pôn Pốt diệt chủng những năm 79, 80). Họ chơi nhạc rất hay và có ở nhiều nơi nên chúng tôi có cơ hội nghe đi nghe lại nhiều lần mấy đoạn symphony theo phong cách đồng quê Campuchia khá đặc biệt.

Sau Taprohm chúng tôi còn đi Preah Khan,  một khu đền khác có cảnh cũng tương đồng nhưng không có gì đặc biệt lắm gây ấn tượng với tôi.

2.      Cút bắt – Chờ người nhập bọn!

Đi tham quan đến trưa thì chúng tôi đến đền Bayon, thuộc quần thể Angkor Thom nằm trong một khuôn viên (cũng rộng bao la) hình chữ nhật. Đúng 12h chúng tôi đã đến đứng chờ 3 người bạn Việt Pháp tôi gặp hôm trước trên đường tới Seam. Câu chuyện hẹn nhau của chúng tôi cũng khá vui. Số là tối hôm đó lúc chia tay ai nấy về khách sạn ở bến xe, nhóm đó còn muốn gặp lại Clo và tôi để đi chơi chung ở Angkor nguyên ngày thứ Bảy và hẹn hò đi chung nữa khi về Sài Gòn, nhưng 3 người này chẳng ai xài sim điện thoại Campuchia để liên lạc và cả hai bên đều chẳng biết khách sạn của nhau ở chỗ nào, có gần nhau không và cũng chẳng biết chỗ nào ở Seam để hẹn gặp mặt. Vậy là anh bạn người Pháp Jean Phillippe mới hỏi add facebook của Clo để tối về chat hẹn nhau gặp tại khu du lịch, hai anh chị bàn tính cách sao đó rồi Clo mới bảo tôi trưa 12h gặp họ ở cổng đền Bayon nơi lối vào khu Angkor Thom, cũng là điểm dừng cuối của chúng tôi trong ngày như dự định.

Chuyện vui nằm ở cái sự trớ trêu khi chúng tôi ngồi chờ ở cổng Đông đền Bayon và họ chờ ở cổng Tây khu đền, phía bên kia cách nhau gần 300m chạy xe giáp vòng. Chờ hơn 15' thấy trễ chúng tôi bèn bảo anh tài chạy vòng quanh xem chừng để tìm họ, dè đâu lúc đó họ cũng làm như vậy, thế là bên này chạy nửa vòng tròn qua bên kia thì nhóm bên kia cũng chạy vòng qua đây kiếm chúng tôi như chơi trò cút bắt, rốt cuộc không thấy nhau nên đành đường ai nấy tiếp tục cuộc hành trình. Đến khi về Sài Gòn nghe lại chuyện rượt đuổi kiếm nhau chúng tôi còn mắc cười quá xá.  Người ta nói  "hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng"" mà, không tìm được nhau ở Cam nhưng về Sài Gòn còn gặp lại thì ắt cũng là cái duyên :-)

3.      Angkor Thom – về nguyên sơ đền đá!

Tạm gác qua chuyện người, quay trở lại chuyện vào đền Angkor Thom, cảm xúc ngạc nhiên của tôi đã có bớt lắng xuống sau những giờ du ngoạn ở Angkor Wat và khu Preah Khan vô cùng ấn tượng, vì Bayon đối với tôi cũng tương tự hai nơi kia, nhưng vẫn góp thêm vào cái cảm giác "khủng"" của tôi khi được thấy mấy tác phẩm vĩ đại của người xưa còn lưu lại. Chỗ này còn có một nét đặt trưng khác những nơi kia nằm ở những ngôi đền được xây cao thật cao với những bậc thang đá cheo leo dẫn đến cổng trên đầu xa tít tắp, ngước lên nhìn cũng thấy mỏi, đừng nói leo. Lối lên bằng đá khá trơn, mà cũng rất dốc nên du khách phải rất cẩn thận dọ dẫm từng bước kẻo trợt ngã thì tiêu J Lúc lên cao dù mệt nhưng rất phấn khích, cảm giác như đang …trèo núi đá, lên đến nơi rồi cũng thấy hài lòng vì có thể nhìn bao quát toàn cảnh khu vực xinh đẹp và hùng vĩ bao quanh, đồng thơi đền trên cao, làm bằng những tảng đá lớn lại có nhiều khoảng trống thông khí, gió lùa vào mát lạnh  làm tôi thấy dễ chịu hết sức.

Tuy nhiên, lúc đi lên hứng chí bao nhiêu thì lúc xuống thì cũng "của đáng tội" :P Tôi cũng như nhiều người khác vốn sợ độ cao, khi đứng từ trên và lần từng bước chân tựa vào bậc thang bên dưới, nếu không chịu mở mắt ra nhìn thì dễ dàng bị trợt, mà mở mắt ra nhìn thì.. đến sợ vì phía dưới như một cái hố sâu làm mình tưởng như chuẩn bị hẫng bước, vừa chóng mặt vừa toát mồ hôi hột cả lên.

Cuối cùng thì cũng đặt chân xuống được mặt đất an toàn như ai, lúc đó khoảng 3h trưa và Hiệp, Clo cùng tôi đứa nào cũng lả người ra vì mệt (tại đi quá nhiều và trèo quá khí thế :D ) Nhắm chừng đến thăm được chừng đó nơi nổi tiếng kể cũng đủ, và một số ngôi đền khác đặc trưng phong cách của Angkor, chúng tôi lên xe về nhà khách nghỉ ngơi và chuẩn bị đi dạo phố đêm buổi tối.

Tạm biệt Angkor và những ngôi đền cổ xưa một thời vang bóng. Chúng tôi dừng hành trình khám phá nét cổ của Campuchia và bắt đầu quay sang nét mới của Cam dành cho khách viễn phương ở những vùng du lịch.

(Còn tiếp…)

Ngọc Vũ

 


Filed under: Văn Hóa Tagged: Văn Hóa

Lãi suất tín dụng đen lên đến 40% một tháng

Posted: 19 Oct 2011 02:59 PM PDT

VNEXPRESS
Tín dụng đen với lãi suất lên tới 30-40% một tháng, đang tái xuất vào dịp cuối năm tại một số huyện ngoại thành Hà Nội.
> Tín dụng đen tràn về quê/ Lãi suất ngân hàng giảm nhẹ với doanh nghiệp khỏe

Người dân có nhu cầu vay tiền
Khó tiếp cận vốn ngân hàng là một trong những nguyên nhân khiến người dân tìm đến tín dụng đen. Ảnh minh họa: Hoàng Hà.

Tại một số địa phương ở ngoại thành Hà Nội như huyện Đan Phượng, Sơn Tây, lãi suất đơn cao nhất cho các khoản vay ngắn hạn đã lên tới 10.000 đồng một triệu mỗi ngày, tương đương với 30% một tháng và 360% một năm. Nhưng phổ biến hơn cả vẫn là mức 5.000-6.000 đồng một triệu một ngày, tương đương với khoảng trên dưới 200% một năm (khoảng gần 20% một tháng), gần gấp đôi so với hồi giữa năm.

Cuối năm ngoái, lãi suất chỉ 0,15% một ngày, tương ứng 4,5% một tháng, 54% một năm. Nhưng vì có nhiều người vay mà không trả, nên các chủ cho vay đều tăng lãi suất lên cao. Ngoài Hạ Mỗ, các xã khác thuộc huyện Đan Phượng như Thượng Mỗ, Đan Phượng, Hồng Hà… cũng có nhiều đối tượng cho vay nặng lãi. Cá biệt, tại xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, những ngày gần đây có hiện tượng cho vay với lãi suất 30-40% một tháng (360-480% một năm) mà thủ tục khá đơn giản: Chỉ cần chứng minh nhân dân và có địa chỉ nhà, đất.

Anh Quang ở xã Hạ Mỗ (Đan Phượng, Hà Nội) là đầu mối cho vay kể, cuối năm, nhu cầu trả nợ cùng với các hoạt động vay mượn, tệ nạn cờ bạc tăng cao khiến cho lãi suất nhanh chóng đội lên.

Ngoài ra, các ngân hàng ở đây đang hạn chế cho vay trong khi nhu cầu về tiền của người dân vẫn ngày càng lớn cũng là nhân tố đẩy lãi suất lên cao. Trong khi đó, giá đất ở ngoại thành đang lên, nhưng người vay nóng để mua đất cũng không quá băn khoăn về khả năng trả nợ. “Nếu không có tiền mặt, họ sẵn sàng bán đất để trả lãi, hoặc để cho ‘trùm’ đến siết nợ bằng đất cát, nhà cửa nên hiện tượng vay mượn diễn ra tràn lan”, anh Quang cho biết.

Việc các “trùm” cho vay huy động lẫn nhau cũng khiến cho độ vênh lãi suất ngày càng lớn. Có những món tiền lúc đầu lãi chỉ khoảng 3.000 đồng một triệu một ngày, nhưng qua tay 2-3 người khác, mức lãi bị đội lên 5.000-7.000 đồng, thậm chí cả 10.000 đồng. Thêm vào đó, một số trường hợp vay xong không có khả năng chi trả, nên người có tiền cũng đẩy lãi suất lên cao để lọc ra những khách hàng thật sự cần tiền.

Đối tượng của tín dụng đen ở vùng ngoại ô, nông thôn thường chia làm 2 nhóm, hoặc những người cần tiền ngay để đầu tư, làm ăn nhưng không có nguồn vay, hoặc những con nợ, con bạc muốn vay để trả nợ, đánh bạc. Với nhóm khách hàng thứ nhất, nguyên nhân khiến họ tìm đến vay tín dụng đen với lãi suất “cắt cổ” là do không tiếp cận được các nguồn vốn khác, trong đó có ngân hàng.

Với nhóm đối tượng thứ hai, họ có thể đi vay với lãi suất cao để chi trả các khoản nợ nần, cờ bạc… phát sinh trước đó, hoặc dùng tiền để đánh bạc. Nếu cho nhóm này vay, người có tiền sẽ gặp rủi ro cao, nên thường các “trùm” áp dụng lãi suất thấp nhất cũng đã 5.000 đồng một triệu một ngày (15% một tháng, 180% một năm), cao có khi gấp đôi: 30% một tháng, 360% một năm để kìm chân khách.

Lãnh đạo một ngân hàng thương mại tại Hà Nội bày tỏ, khách hàng ưu tiên của đơn vị này trước đây thường là những người kinh doanh bất động sản. Nếu cho vay cá nhân cũng phải là người có thu nhập, tài sản cầm cố đủ để chi trả các khoản vay đúng hạn và đủ kiên nhẫn chờ thủ tục của ngân hàng vì hoạt động thẩm định tài sản mất thời gian. Ngoài ra, yếu tố quan trọng nhất là người đi vay phải chứng minh được mục đích sử dụng nguồn vốn. “Ngân hàng cũng làm kinh doanh, nên phải nhìn thấy khách hàng tiềm năng của mình chứ không cho vay tràn lan được", ông nói.

Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội, ông Trần Quốc Hùng cho biết, hoạt động vay nợ diễn ra giữa các cá nhân với nhau, không qua tổ chức nào nên rất khó để xử lý, trừ phi những đối tượng này có đơn trình báo đến cơ quan chức năng.

Mặt khác, những vấn đề giữa người đi vay và cho vay thuộc tranh chấp dân sự, nên cũng khó để cơ quan thanh tra ngân hàng có thể có chế tài can thiệp vì nó diễn ra hàng ngày trên thị trường. Còn nếu xét đây là quan hệ pháp luật, thì cơ quan quản lý không phải là thanh tra ngân hàng. Ông Hùng cũng đưa ra lời khuyên với những người đi vay, nên tìm đến ngân hàng vì tại đây, hoạt động tín dụng đảm bảo về pháp lý.

Về việc người dân khó tiếp cận vốn vay, ông Hùng cho biết, trong bối cảnh này, các ngân hàng cũng có thể kén khách hàng hơn, song không vì thế mà mọi cửa đối với người dân đều bị “bịt”. “Nếu chứng minh được mục đích sử dụng và minh bạch hồ sơ, người dân vẫn có thể tiếp cận được vốn ngân hàng”, ông Hùng nói.

Tuệ Minh


Filed under: Phát triển kinh tế Tagged: Phát triển kinh tế

Nga giao tên lửa phòng thủ cho Việt Nam

Posted: 19 Oct 2011 02:53 PM PDT

Chiến đấu cơ Sukhoi Su-30MK2
Nga cung cấp nhiều vũ khí và trang thiết bị quốc phòng cho Việt Nam

Tin cho hay Nga vừa giao hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion thứ hai cho Việt Nam theo hợp đồng ký từ năm 2005.

Hãng tin Nga Interfax dẫn nguồn quân sự nói hôm thứ Ba 18/10 rằng việc chuyển giao hệ thống phòng thủ cơ động có trang bị tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont được thực hiện “vào tuần trước”.

Như vậy, hai tập đoàn xuất khẩu vũ khí hàng đầu của Nga là Rosoboronexport và NPO Mashinostroyeniya đã hoàn tất hợp đồng mà Nga ký với Việt Nam hồi năm 2005, bao gồm hai hệ thống phòng thủ bờ biển Bastion.

Hệ thống Bastion đầu tiên mà Việt Nam mua của Nga đã được giao hàng từ giữa năm ngoái.

Mới đây, truyền thông Nga cũng loan tin Việt Nam đang tiến hành đàm phán với chính phủ Nga nhằm ký thêm hợp đồng mới để mua thêm hệ thống Bastion, số lượng chưa công bố.

Với trang thiết bị hiện đại này, khả năng phòng thủ bờ biển của Việt Nam sẽ được nâng cao đáng kể, nhất là trong bối cảnh diễn biến trên biển đang có nhiều phức tạp khó lường.

Tạp chí quốc phòng có uy tín Jane’s Defence thì nói hợp đồng đang thương thảo sẽ được thực hiện bằng vốn tín dụng của Nga.

Loạt hàng mới có thể sẽ được cung cấp vào khoảng năm 2013-2014.

Tăng khả năng phòng thủ

Báo Nga nói hệ thống Bastion là “thành tựu” của công nghiệp sản xuất tên lửa Nga, có khả năng tiêu diệt các loại chiến hạm từ tàu đổ bộ, tàu vận tải yểm trợ, cụm tàu chiến và máy bay thuộc nhóm tấn công, cũng như diệt các mục tiêu hạm tàu đơn lẻ ở cự ly đến 300 km.

Bastion còn có thể bảo vệ một khu vực bờ biển trải dài tới 600 km. Hãng thông tấn nhà nước Trung Quốc, Tân Hoa Xã, đã nhận định Việt Nam sẽ đặt hai hệ thống Bastion này tại bờ biển miền Trung để đối phó với đe dọa trên Biển Đông.

Hệ thống phòng thủ BastionBastion được cho là ‘thành tựu lớn’ của công nghiệp chế tạo vũ khí của Nga

Hệ thống Bastion gồm 4 xe mang phóng tự hành K-340P ( mỗi xe mang 2 ống phóng TPS chứa đạn tên lửa); 2 xe điều khiển K380P MBU (trọng tải 25 tấn trên khung xe MZKT- 65273) có thể chuẩn bị chiến đấu chỉ trong vòng 3 đến 4 phút; 4 xe chở đạn K-342P TZM (trên khung xe MZKT-7930) được trang bị cần cẩu có trọng tải 5,9 tấn dùng để tiếp đạn cho xe K-340P và các thiết bị hỗ trợ kỹ thuật và huấn luyện chiến đấu khác.

Ngoài cấu hình cơ bản vừa nêu, khách hàng có thể lựa chọn cấu hình tổ hợp với số lượng xe mang phóng, xe điều khiển và xe chở đạn tùy theo nhu cầu.

Đạn tên lửa hành trình siêu âm bám biển dùng động cơ phản lực tĩnh K310 Yakhont

Tên lửa Bastion-P có hai loại hành trình bay cơ bản: hành trình bay tầm thấp có tầm bắn xa khoảng 120km, và hành trình bay cao thấp hỗn hợp có tầm bắn xa khoảng 300km.

Các đơn đặt hàng dồn dập mà báo chí loan tải cho thấy kế hoạch gấp rút tăng cường năng lực phòng thủ và hải quân của Việt Nam.

Mới đây, trong chuyến thăm Hà Lan hồi tháng Chín, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã ngỏ ý muốn mua bốn tàu hộ tống lớp Sigma của nước này.

Hải quân Việt Nam năm ngoái đã tiếp nhận hai tàu hộ tống Gepard-3.9 từ Nga.

Quân đội Việt Nam cũng đã đặt sáu tàu ngầm hạng Kilo và nhiều chiến đấu cơ Su-30MK2 từ quốc gia đồng minh cũ.

Việt Nam còn đặt mua nhiều tên lửa Brahmos của Ấn Độ và hỏa tiễn tầm ngắn Extra của Israel.


Filed under: Quốc phòng, Trà Đàm Tagged: Quốc phòng

Chính sách Biển Đông của VN và TQ

Posted: 19 Oct 2011 02:53 PM PDT

Lê Quỳnh

BBC, Manila

Tiến sĩ Trần Trường Thủy
Tiến sĩ Trần Trường Thủy hiện làm việc ở Học viện Ngoại giao tại Hà Nội

Nhà nghiên cứu duy nhất của Việt Nam tại hội thảo Biển Đông ở Manila phân tích những thay đổi gần đây trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc và Việt Nam.

Tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông tại Học viện Ngoại giao Việt Nam ở Hà Nội, nhấn mạnh chính sách của Trung Quốc mang tính “thử và đẩy”, dựa trên phản ứng của các nước.

Tiến sĩ Trần Trường Thủy: Từ khi ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 giữa Trung Quốc và Asean, Trung Quốc đã thi hành chính sách gây cảm tình (charm offensive) để thu phục nhân tâm các nước Asean theo chiến lược láng giềng tốt.

Nhưng hai, ba năm gần đây, Trung Quốc có điều chỉnh vì họ mạnh lên và cũng vì nhân tố chính trị nội bộ. Tình hình nóng lên, ví dụ việc cấm đánh bắt cá, ngăn tàu khảo sát. Trung Quốc công khai hóa đường lưỡi bò không chỉ về ngoại giao, trên giấy tờ mà cả trên thực tế là thi hành kiểm soát theo phạm vi đường lưỡi bò. Họ tăng cường các biện pháp đơn phương như cấm đánh bắt cá, công bố dự án đầu tư thăm dò dầu khí 30 tỷ đôla, đầu tư dàn khoan nước sâu. Mà những vùng nước sâu ở Biển Đông chắc chắn không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Hải Nam.

“Các bước đi của Trung Quốc mang tính thử và đẩy. Họ điều chỉnh chính sách và xem phản ứng các nước thế nào. “

Các bước đi của Trung Quốc mang tính thử và đẩy. Họ điều chỉnh chính sách và xem phản ứng các nước thế nào. Nếu thuận thì đẩy tiếp, nếu bị phản ứng thì điều chỉnh. Sau Diễn đàn An ninh khu vực (ARF) 17, khi Ngoại trưởng Mỹ Clinton can thiệp vào vấn đề Biển Đông, Trung Quốc phản ứng mạnh một thời gian nhưng sau đó cũng điều chỉnh lại cho mềm mỏng hơn.

Điều chỉnh một giai đoạn ngắn, nhưng các sự kiện sau đó cho thấy Trung Quốc cứng rắn trở lại như vụ cắt cáp và các vụ việc về tàu cá, dầu khí khác. Đến khi gặp phản ứng của các nước liên quan và của cộng đồng quốc tế, TQ lại tiếp tục điều chỉnh. Trong hai, ba tháng gần đây, đã ít sự kiện xảy ra hơn. Trung Quốc đồng ý ký với Asean bản hướng dẫn thực thi DOC [tháng Bảy 2011], hay cũng không có nhiều thông tin Trung Quốc bắt giữ ngư dân, hay có hành động cản phá trực tiếp hoạt động dầu khí của các nước khác như trước đây, tất nhiên là họ vẫn có phản đối ngoại giao và bài viết cứng rắn của báo chí.

BBC: Như vậy phải chăng Thỏa thuận vừa ký giữa Việt Nam và Trung Quốc về vấn đề trên biển có thể đặt trong bối cảnh Trung Quốc điều chỉnh chính sách cho mềm hơn sau khi bị phản ứng các nước?

Nếu so với các quan điểm trước đây thì Trung Quốc cũng có một số điều chỉnh. Thỏa thuận Sáu điểm về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển cho thấy hai bên cam kết giải quyết các tranh chấp bằng đàm phán thương lượng, dựa trên luật pháp quốc tế, có tính đến yếu tố lịch sử và quan tâm của các bên. Nếu xem kỹ điểm thứ ba sẽ thấy Trung Quốc có điều chỉnh . Tức là những tranh chấp chỉ giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đàm phán hai nước. Nhưng những vấn đề liên quan các nước khác, phải đàm phán với các nước đó. Đây là điểm mà Việt Nam rất kiên định và như thế các nước Asean mới an tâm.

Cử tọa tại hội thảo về Biển Đông ở Manila

Đó cũng có thể nói là bước tiến của Trung Quốc vì từ trước đến giờ, Trung Quốc chỉ kiên quyết đàm phán song phương kể cả những vấn đề có tranh chấp nhiều nước.

Có những điểm tích cực khác như hai nước thỏa thuận tham vấn Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần và khi cần thiết, tức là khi có căng thẳng cũng có cơ chế để giải quyết tức thì. Bổ trợ cho cơ chế ấy là thiết lập đường dây nóng. Cơ chế mà Trung Quốc và Việt Nam có được, nếu tôi không nhầm thì là lần đầu tiên ở cả châu Á. Năm ngoái có va chạm trên biển giữa Nhật và Trung Quốc liên quan đến bắt giữ thuyền trưởng tàu cá . Một trong những nhân tố làm leo thang căng thẳng là giữa Trung Quốc và Nhật Bản không có cơ chế nói chuyện trực tiếp với nhau khi cần thiết.

Việc ký kết thỏa thuận thể hiện hai nước cam kết giải quyết vấn đề một cách hòa bình và muốn cho thế giới thấy có tiến bộ trong quá trình đàm phán Biển Đông.

BBC:Trong bài phát biểu, anh nói chính sách Biển Đông của Việt Nam cũng có những điều chỉnh. Anh có thể cho biết rõ hơn?

“Liên quan quy chế pháp lý của các vị trí (hình thái địa chất) ở Hoàng Sa, Trường Sa, qua các báo cáo ranh giới ngoài, nhiều học giả kết luận là Việt Nam không coi các vị trí ở Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo và do đó không có các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có tối đa 12 hải lý lãnh hải.”

Chính sách của Việt Nam có những cái bất biến, nhưng cũng có những điều chỉnh. Ví dụ, chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa là bất biến.

Về quan điểm đối với các vùng biển, Việt Nam có chủ quyền đối với các vùng nội thủy và lãnh hải tính từ đường cơ sở, và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa, cả đoạn 200 hải lý và đoạn kéo dài như các báo cáo ranh giới ngoài của riêng Việt Nam và báo cáo chung giữa Việt Nam và Malaysia.

Liên quan quy chế pháp lý của các vị trí (hình thái địa chất) ở Hoàng Sa, Trường Sa, qua các báo cáo ranh giới ngoài, nhiều học giả kết luận là Việt Nam không coi các vị trí ở Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo và do đó không có các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có tối đa 12 hải lý lãnh hải. Đây là bước điều chỉnh trong quan điểm của Việt Nam đối với các vùng biển và cũng phù hợp với Công ước LHQ về luật biển 1982. Thực tế, các vị trí nói chung ở Hoàng Sa, Trường Sa đa số không có đời sống kinh tế riêng, nên theo Công ước luật biển, thì chúng không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hầu như mọi nước Asean ven Biển Đông đều thống nhất với quan điểm này. Nó tạo thành lập trường chung của Asean – tất nhiên khác với lập trường của Trung Quốc.

BBC:Sau bài thuyết trình của anh, một chuyên gia Trung Quốc, đại sứ Trần Sỹ Cầu đứng lên phản bác một số điểm. Anh nghĩ thế nào?

Dĩ nhiên cái nhìn của Trung Quốc thì khác. Họ xem mình có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và có quyền theo đường lưỡi bò, nên mọi hành động của các nước trong đường lưỡi bò vi phạm quyền của Trung Quốc.

Phản ứng của ông đại sứ cũng là quan điểm công khai của chính phủ khi họ không công nhận Hoàng Sa có tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hay họ cho rằng Trung Quốc không muốn mở rộng vùng tranh chấp. Nhưng nếu đọc các văn bản, công hàm, tuyên bố của Trung Quốc gần đây, có thể thấy họ muốn tối đa hóa khu vực tranh chấp khi xem các vị trí Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo, và có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Như thế, tranh chấp từ các đảo sẽ mở rộng ra rất lớn.

Bài trình bày của tôi cho thấy Trung Quốc muốn mở rộng khu vực tranh chấp trên cả đường lưỡi bò. Nhưng đường lưỡi bò không có giá trị pháp lý, như trong các thảo luận ở Hội thảo này, tất cả đại biểu đều không hiểu đường lưỡi bò là gì.


Filed under: Biển Đông Tagged: Biển Đông

No comments:

Post a Comment